1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc hòa bình

108 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc hòa bình
Tác giả Phạm Ngọc Việt
Trường học Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh và sự cần thiết phải tìm hiểu các yếu tố tác đ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, tháng 10 năm 2017

Phạm Ngọc Việt

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH & BẢNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu 7

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam 7

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu tại các nước 10

1.2 Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành xây dựng 13

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành xây dựng 21

1.3.1 Nhóm yếu tố khách quan 21

1.3.2 Nhóm yếu tố chủ quan 24

1.4 Phương pháp nghiên cứu và số liệu 29

1.4.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành xây dựng 29

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu 33

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤTKINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH ĐỊA ỐC HÒA BÌNH 36

2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình36 2.1.1 Sự ra đời, quá trình hình thành và phát triển 36

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình 43

2.2 Cơ cấu tài sản – nguồn vốn của công ty giai đoạn 2006-2016 44

2.3.Thực trạng sản xuất kinh doanhcủa công ty giai đoạn 2006-2016 47

2.4 Mô tả số liệu và phương pháp thực hiện 53

Trang 3

2.4.1 Mô tả thống kê 53

2.4.2 Mô tả hệ số tương quan 53

2.4.3 Xây dựng mô hình ROA 54

2.4.4 Xây dựng mô hình ROE 64

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 73

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦNXÂY DỰNG VÀ KINH DOANH ĐỊA ỐC HÒA BÌNH 74

3.1 Chính sách của nhà nước và một số kiến nghị đối với nhà nước 74

3.2 Một số kiến nghị và giải pháp cho công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình 76

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 4

WACC : Chi phí vốn bình quân gia quyền

ROA : Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE : Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

TDTA : Tỷ lệ nợ trên tổng vốn

TDTE : Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

STDTA : Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng vốn

LTDTA : Tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng vốn

SIZE : Quy mô của doanh nghiệp

GROWTH : Tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản

TANG : Tỷ trọng tài sản cố định trong tổng tài sản NHNN : Ngân hàng nhà nước

TCTD : Tổ chức tín dụng

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP và ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn

2006 – 2016 22

Biểu đồ 1.2: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát giai đoạn 2006 – 2016 23

Biểu đồ 1.3: So sánh tỷ lệ nợ của ngành xây dựng và một số nhóm ngành khác tại Việt Nam 25

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tài sản của công ty giai đoạn 2006 – 2016 44

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nợ phải trả của công ty giai đoạn 2006 – 2016 45

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn vốn của công ty giai đoạn 2006 – 2016 46

Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ nợ/ VCSH và nợ/ TTS của công ty giai đoạn 2006 – 2016 47

Biểu đồ 2.5: Kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn 2006 – 2016 49

Biểu đồ 2.6: Hiệu quả kinh doanh của công ty giai đoạn 2006 – 2016 52

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH & BẢNG

Hình 1.1: Phương trình Dupont 16

Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu đề nghị 30

Bảng 1.1: Mô tả các biến 31

Bảng 2.1: Hệ số tương quan giữa hai biến 53

Bảng 2.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 54

Bảng 2.3: Mô hình hồi quy ROA 55

Bảng 2.4: Kiểm định Ramsey RESET (Mô hình ROA) 59

Bảng 2.5: Kiểm định White Heteroskedasticity (Mô hình ROA) 59

Bảng 2.6: Kiểm định Jarque-Bera (Mô hình ROA) 60

Bảng 2.7: Kiểm định Breusch-Godfrey (Mô hình ROA) 61

Bảng 2.8: Mô hình hồi quy phụ TDTA & SIZE 61

Bảng 2.9: Mô hình hồi quy phụ TDTA & GROWTH 62

Bảng 2.10: Mô hình hồi quy phụ TDTA & TANG 62

Bảng 2.11: Mô hình hồi quy phụ SIZE & GROWTH 62

Bảng 2.12: Mô hình hồi quy phụ SIZE & TANG 63

Bảng 2.13: Mô hình hồi quy phụ GROWTH & TANG 63

Bảng 2.14: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 64

Bảng 2.15: Mô hình hồi quy ROE 65

Bảng 2.16: Kiểm định Ramsey RESET (Mô hình ROE) 68

Bảng 2.17: Kiểm định White Heteroskedasticity (Mô hình ROE) 69

Bảng 2.18: Kiểm định Jarque-Bera (Mô hình ROE) 70

Bảng 2.19: Kiểm định Breusch-Godfrey (Mô hình ROE) 70

Bảng 2.20: Mô hình hồi quy phụ TDTE& SIZE 71

Bảng 2.21: Mô hình hồi quy phụ TDTE & GROWTH 71

Bảng 2.22: Mô hình hồi quy phụ TDTE & TANG 72

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh và sự cần thiết phải tìm hiểu các yếu tố tác động, mức độ tác động của các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tác giả đã lựa chọn một doanh nghiệp điển hình trong ngành xây dựng với đề tài nghiên cứu

“Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng

và kinh doanh địa ốc Hoà Bình” nhằm đánh giá và đưa ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp này, từ đó làm cơ sở nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành xây dựng Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là

hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh, xác định các yếu tố tác động tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố tài chính của doanh nghiệp tác động đến hiệu quả kinh doanh Từ đó đề xuất các kiến nghị để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình.Đối tượng nghiên cứu

là các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình

Tại Việt Nam và trên thế giới cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả kinh doanh của ngành xây dựng nói riêng, ví dụ như đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Lê Thanh Tuyền thực hiện năm 2013, “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam” của Võ Thị Tuyết Hằng năm 2015,

“Nghiên cứu các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Đỗ Dương Thanh Ngọc năm 2011, “Vận dụng mô hình toán kinh tế phân tích

Trang 8

hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty xây dựng Lũng Lô” của Lưu Vũ Tâm năm 2009, “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh” của Weixu vào năm 2005, “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn, quyền sở hữu và hiệu quả kinh doanh của công ty” của Dimitris Margaritis và Maria Psillaki vào năm 2007 Các đề tài này đều ước lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các biến độc lập tác giả đưa vào mô hình phân tích là Cơ cấu vốn, quy mô (Tài sản), tốc độ tăng trưởng của doanh thu, đầu tư tài sản cố định, quản trị

nợ phải thu khách hàng, rủi ro kinh doanh, thời gian hoạt động của doanh nghiệp,

kỳ thu tiền bình quân, vốn, lao động Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu khác nhau, từ đó các tác giả đưa ra những kết luận khác nhau về chiều hướng tác động cũng như mức độ tác động của các nhân tố độc lập tới hiệu quả kinh doanh (nhân tố phụ thuộc)

Hiệu quả kinh doanh được tính dựa vào tỷ số giữa Kết quả kinh doanh và Phương tiện tạo ra kết quả

Kết quả (lợi nhuận,doanh thu )

Hiệu quả =

Phuơng tiện (chi phí,tài sản,doanh thu,VCSH )

Trong công thức này kết quả kinh doanh thường là lợi nhuận hoặc doanh thu, trong đó nhà phân tích có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu lợi nhuận (lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận trước thuế và lãi vay, lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận gộp).Phương tiện tạo

ra kết quả cũng được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như tài sản (tổng tài sản, từng loại tài sản), tổng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu, chi phí, thậm chí là doanh thu (trong trường hợp kết quả kinh doanh thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận) Hai chỉ tiêu được tác giả lựa chọn để đưa vào mô hình nghiên cứu trong luận văn này là Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) và Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu(ROE)

Tỷ suất sinh lời tài sản =

Lợi nhuận sau thuế

x 100%

Tổng tài sản bình quân

Trang 9

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) cho thấy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tức là khoản lãi được tạo ra từ nguồn vốn đầu tư (tài sản), chỉ tiêu này được sử dụng trong nội bộ của doanh nghiệp để theo dõi tình hình sử dụng tài sản theo thời gian hoặc theo dõi hoạt động của doanh nghiệp trong tình hình chung của ngành và so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh

Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau

Tỷ suất sinh lời

vốn chủ sở hữu =

Lợi nhuận sau thuế

x 100%

Vốn cổ phần thường Hiệu quả của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính Trong đó chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả tài chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu, có nghĩa là công ty

đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn chủ sở hữu với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Các yếu tố tác động tới hiệu quả kinh doanh được chia làm 2 nhóm: nhóm yếu tố khách quan là các yếu tố có tính chất vĩ mô, doanh nghiệp không kiểm soát được bao gồm Môi trường kinh tế, Lạm phát, Tỷ giá hối đoái, Yếu tố luật pháp Nhóm yếu tố chủ quan

là các yếu tố thuộc về doanh nghiệp như Cơ cấu vốn, Công nghệ, máy móc thiết bị, Quy mô của doanh nghiệp, Năng lực quản trị tài chính doanh nghiệp

Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu là mô hình hồi quy bội, biến phụ thuộc

là biến HQKD được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE; biến độc lập bao gồm các biến

tỷ lệ nợ, quy mô của doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản và tỷ trọng TSCĐ trên tổng tài sản Trong đó biến tỷ lệ nợ được đại diện bởi các chỉ số: tỷlệ nợ trên tổng vốn, tỷ lệ nợ trên VCSH, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng vốn và tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng vốn Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính quý đã được kiểm toán của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình trong khoảng thời gian

11 năm từnăm 2006 – 2016

Trang 10

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH ĐỊA ỐC HÒA BÌNH

Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh địa ốc Hòa Bình thành lập vào ngày 27/09/1987, bắt đầu hoạt động với việc thiết kế và thi công một số công trình nhà ở tư nhân Đội ngũ tuy còn non trẻ nhưng với trình độ chuyên môn, khả năng sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao đã được các chủ đầu tư hài lòng, ngợi khen và không ngần ngại giới thiệu những khách hàng mới.Năm 2006: Hòa Bình chính thức niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và trở thành nhà thầu xây dựng tổng hợp đầu tiên tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt, mở ra cơ hội để Hòa Bình phát triển lên tầm cao mới

Công ty Cổ phần Hòa Bình được thành lập với mục đích: Cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất, nhanh chóng nhất và tiện ích nhất trong ngành xây dựng và địa ốc Tạo lập một môi trường làm việc mang lại hiệu quả cao nhất nhằm phát huy một cách toàn diện tài năng của từng cán bộ công nhân viên.Ngành nghề kinh doanh chính: Thiết kế và xây dựng dân dụng, công nghiệp, cầu đường, công trình giao thông, hệ thống cấp thoát nước, san lấp mặt bằng Sản xuất, mua bán vật liệu xây dựng, hàng trang trí nội thất, dịch vụ kinh doanh và sửa chữa nhà

Giai đoạn 2006-2016 Tổng tài sản của công ty đã tăng 86 lần từ mức 133 tỷ đồng (2006) và đạt mức 11.449 tỷ đồng vào cuối năm 2016.Tài sản ngắn hạn thường xuyên cao gấp nhiều lần tài sản dài hạn và chiếm tới 86% tổng tài sản, đây cũng là đặc thù của các doanh nghiệp ngành xây dựng, quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài.Tài sản dài hạn chủ yếu tập trung ở Tài sản cố định hữu hình, chiếm tới 70% tài sản dài hạn do đặc thù ngành xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, những nguyên vật liệu ban đầu của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố định của ngành khá cao

Trang 11

Đặc thù ngành có công nợ cao do đó Nợ ngắn hạn của công ty chiếm tới 92.3% tổng nợ và chiếm 77.6% tổng nguồn vốn tại thời điểm cuối năm 2016 Trong

đó chủ yếu tập trung ở các khoản vay ngân hàng, phải trả người bán ngắn hạn và người mua trả tiền trước.Tổng nợ thường xuyên duy trì ở mức cao so với vốn chủ

sở hữu, thời điểm cuối năm 2016 chiếm tới 84% tổng nguồn vốn, do đặc thù của ngành có tính chiếm dụng vốn và sử dụng vốn vay cao.Ưu điểm của việc sử dụng

nợ là có thể tiết kiệm được thuế bởi vì chi phí nợ là chi phí hợp lý được khấu trừ khỏi phần lợi nhuận trước thuế Trong khi đó chi phí VCSH không có được ưu điểm này, vì cổ tức là yếu tố chi phí sau thuế Chính vì vậy mà giá trị doanh nghiệp được tăng lên là nhờ lợi ích từ lá chắn thuế

Kết quả mô hình hồi quy ROA theo các biến độc lập TDTA, SIZE, GROWTH, TANG:

Trang 12

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH

Doanh nghiệp có thể tiếp tục đầu tư vào tài sản cố định bằng các nguồn vốn khác như phát hành trái phiếu doanh nghiệp với lãi suất cố định, hạn chế rủi ro lãi suất cho vay tăng hoặc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi cho cổ đông hiện hữu để huy động vốn từ thị trường chứng khoán Từ đó, doanh nghiệp vẫn có thể gia tăng tỷ lệ vay nợ và nguồn vốn đầu tư vào tài sản cố định, hiệu quả kinhdoanh tăng nhưng rủi ro lại được kiểm soát do giảm được sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng Bên cạnh đó tác giả có đề xuất các kiến nghị đối với Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ cho hoạt động động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng như: ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiệu quả là vấn đề cơ bản và then chốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một hình thái kinh tế - xã hội Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế tiến hành sản xuất kinh doanh phải đặt mục tiêu hiệu quả lên hàng đầu cùng với nâng cao năng suất và chất lượng Hiệu quả là sự kết hợp giữa các đầu vào khan hiếm như lao động, nguồn vốn, máy móc… với kết quả trung gian hoặc kết quả cuối cùng, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực…) để đạt được mục tiêu xác định Cần phân biệt ranh giới giữa khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

là những gì doanh nghiệp đạt được sau một thời kỳ sản xuất, kinh doanh nhất định, đây cũng là mục tiêu mà doanh nghiệp hướng tới và cần đạt được trong thời kỳ này Kết quả được biểu hiện bằng những đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm được như

số lượng sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận, thị phần… hoặc có thể là những đại lượng định tính như chất lượng sản phẩm, thương hiệu và uy tín doanh nghiệp, sự hài lòng của khách hàng… Như vậy, kết quả là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp cần đạt tới Mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên

cơ sở những nguồn lực sẵn có, để đạt được mục tiêu này các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng quản trị của mình bằng nhiều phương pháp khác nhau.Khi doanh nghiệp thu về lợi nhuận cao nhất, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, thỏa mãn tối đa nhu cầu về hàng hóa – dịch vụ của xã hội trong điều kiện các nguồn lực hiện có bị giới hạn thì khi đó doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả Như vậy, mục đích chính của sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đây là mục tiêu trước mắt, lâu dài và thường xuyên của hoạt động sản xuất kinh doanh Có rất nhiều các yếu tố tác động đến kết quả kinh doanh, chi phí kinh doanh, từ đó tác động tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố này có thể xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp, có tính quốc tếnhư: các xu hướng kinh tế - chính trị trên thế giới, các chính sách bảo hộ và mở cửa của các quốc gia, hiệp định, hiệp ước song phương và đa phương, tình hình chiến tranh, sự bất ổn về

Trang 14

chính trị, tốc độ phát triển của các nền kinh tế… ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, đầu tư ra nước ngoài cũng như lựa chọn và sử dụng các yếu tố đầu vào phải nhập khẩu của doanh nghiệp Môi trường kinh tế - chính trị trong khu vực và quốc tế ổn định là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Môi trường chính trị - kinh tế - xã hội trong nướclà tiền đề cho việc phát triển, mở rộng các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp,

tổ chức – cá nhân trong và ngoài nước Môi trường này bao gồm Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ thuật sản xuất tạo ra hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động Doanh nghiệp sản xuất gì, kinh doanh gì, sản xuất bằng cách nào, bán cho ai, nguồn vốn lấy ở đâu… đều phải dựa vào các quy định của pháp luật Doanh nghiệp chấp hành quy định của nhà nước, thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, xã hội và với người lao động như nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên, các chính sách bảo hiểm, lương, thưởng cho người lao động… Luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp lên kết quả, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Môi trường kinh tế bao gồm các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, lãi suất, lạm phát, tỷ giá, thu nhập bình quân đầu người… là các yếu tố tác động trực tiếp tới nguồn lực của doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, các chính sách hỗ trợ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đầu vào dễ dàng hơn và chi phí thấp hơn, giữ ổn định sự biến động của tiền tệ, tỷ giá… sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngược lại.Môi trường xã hội bao gồm thực trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục tập quán… tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả kinh doanh thông qua yếu tố con người

mà doanh nghiệp sử dụng Nếu tỷ lệ thất nghiệp thấp, người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn công việc thì chi phí sử dụng kao động của doanh nghiệp sẽ cao, trong khi kết quả kinh doanh không thay đổi sẽ làm hiệu quả giảm xuống và ngược lại

Trang 15

Tuy nhiên nếu tỷ lệ thất nghiệp cao có thể dẫn tới các vấn đề khác về kinh tế như chi tiêu tiêu dùng giảm, tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp hoặc dẫn đến các vấn đề xã hội như mất an ninh chính trị, do vậy làm hiệu quả kinh doanh giảm Trình độ văn hóa, lối sống, tập quán tác động tới khả năng đào tạo, tiếp thu kiến thức, chất lượng chuyên môn, trình độ nhận thức và ý thức của đội ngũ lao động, ảnh hưởng tới kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cũng như cầu

về sản phẩm của doanh nghiệp từ đó tác động tới hiệu quả kinh doanh Các yếu tố xuất phát từ nội tại doanh nghiệp như: bộ máy quản trị, năng lực tài chính, việc huy động và sử dụng vốn, công nghệ, con người, cách thức quản lý con người, tài sản, chế độ đãi ngộ, chất lượng sản phẩm, dịch vụ… tác động trực tiếp tới kết quả và hiệu quả kinh doanh Các doanh nghiệp hoạt động thời buổi kinh tế thị trường, bộ máy quản trị doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp mình Chiến lược kinh doanh được ban quản trị xây dựng một cách hợp lý dựa trên những nền tảng sẵn có là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả Bộ máy quản trị với cơ cấu phù hợp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, cơ chế phối hợp hành động hợp lý, đội ngũ nhân lực có năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đúng kế hoạch đã được xác định trước Lao động là một yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, mọi quá trình hoạt động của doanh nghiệp đều phụ thuộc vào nhân tố này Lao động tác động trực tiếp lên năng suất, chất lượng sản phẩm, tốc độ tiêu thụ sản phẩm, quản lý chi phí,… từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh Nếu coi chất lượng lao động là điều kiện cần để tiến hành sản xuất kinh doanh thì việc tổ chức, phân công công việc hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả Công tác tổ chức cán bộ, nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiệm vụ, kế hoạch, phương án sản xuất, kinh doanh, tuy nhiên công tác tổ chức lao động cần tuân theo những nguyên tắc chung, sử dụng đúng người, đúng việc, quyền lợi, trách nhiệm rõ ràng để công việc được thực hiện nhanh và hiệu quả, phát huy tinh thần độc lập sáng tạo của từng cá nhân, từ đó hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ

Trang 16

được nâng cao.Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, gia tăng đầu tư áp dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến

để tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn, giảm chi phí, nâng cao năng suất Tài chính doanh nghiệp tác động trực tiếp tới uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp đối với khách hàng, đối tác và các đơn vị liên quan trong quá trình kinh doanh, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tốc độ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, khả năng huy động các nguồn lực với chi chí tối ưu, do đó tác động trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh Chất lượng, tính chất của sản phẩm, dịch vụ đang trở thành một công cụ quan trọng để doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường Sản phẩm với chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại doanh số cao, từ đó kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn Tiêu thụ sản phẩm là một khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định tới các khâu khác của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có tiêu thụ được hay không mới là điều quan trọng nhất Tốc độ tiêu thụ nó quyết định tốc

độ sản xuất và nhịp độ cung ứng nguyên vật liệu Cho nên nếu doanh nghiệp tổ chức được mạng lưới tiêu thụ sản phẩm phù hợp với thị trường và các chính sách tiêu thụ hợp lý khuyến khích người tiêu dùng sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng và chiếm lĩnh được thị trường, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng vòng quay của vốn, góp phần giữ vững và đảy nhanh nhịp độ sản xuất cũng như cung ứng các yếu tố đầu vào nên góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Cơ sở vật chất đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời của tài sản

Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tàu sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, nó thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi…Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý bao nhiêu

Trang 17

thì càng góp phần đem lại hiệu quả cao bất nhiêu Điều này thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi được bố trí hợp

lý, nằm trong khu vực có mật độ dân cư lớn, thu nhập về cầu về tiêu dùng của người dân cao…và thuận lợi về giao thông sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô hình rất lớn đó là lợi thế kinh doanh đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và phát triển, bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, do đó sẽ có nhiều thay đổi lớn về môi trường hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành xây dựng bởi đây là ngành đi tiên phong, tạo thế và lực cho công cuộc đổi mới Sự thay đổi to lớn về môi trường kinh doanh, sự hội nhập, công nghệ phát triển có thể đồng thời tạo ra những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp ngành xây dựng Thách thức lớn nhất đó chính là sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, với các đối thủ mạnh hơn về vốn, về công nghệ, về tri thức, khôn ngoan hơn trong việc sử dụng vốn, cách thức quản lý tài sản, nhân lực Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như vậy, làm thế nào để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, tạo ra doanh thu lợi nhuận cho doanh nghiệp Đây

là một câu hỏi lớn và không dễ trả lời đối với các doanh nghiệp trong nước nói chung và doanh nghiệp ngành xây dựng nói riêng

Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh và sự cần thiết phải tìm hiểu các yếu tố tác động, mức độ tác động của các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tác giả đã lựa chọn một doanh nghiệp điển hình trong ngành xây dựng với đề tài nghiên cứu

“Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng

và kinh doanh địa ốc Hoà Bình” nhằm đánh giá và đưa ra các giải pháp giúp nâng

Trang 18

cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp này, từ đó làm cơ sở nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành xây dựng

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh, xác định các yếu tố tác động tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố tài chính của doanh nghiệp tác động đến hiệu quả kinh doanh từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình

3 Đối tượng và phạm vinghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu: công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phầnmở đầu, mục lục, danh mục các bảng, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài chia làm 03 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình

Chương 3: Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hoà Bình

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam

1.1.1.1 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam của Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013)

Tại Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành nghề khác nhau, ví dụ như luận văn “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013) Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa một số lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tiến hành thiết kế mô hình nghiên cứu

Các biến được đưa vào nghiên cứu:

+ Cơ cấu vốn

+ Quy mô (Tài sản)

+ Tốc độ tăng trưởng của doanh thu

+ Đầu tư tài sản cố định

+ Quản trị nợ phải thu khách hàng

+ Rủi ro kinh doanh

+ Thời gian hoạt động của doanh nghiệp

Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 45 công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian 3 năm từ năm 2010 – 2012, phương pháp sử dụng để ước lượng tham số của mô hình là phương pháp bình phương bé nhất Kết quả nghiên cứu: biến quản trị nợ phải thu, đầu tư tài sản cố định, cơ cấu vốn, rủi ro kinh doanh

Trang 20

có ảnh hưởng nghịch đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, trong khi tốc độ tăng trưởng lại ảnh hưởng thuận chiều Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm

1.1.1.2 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam của Võ Thị Tuyết Hằng (2015)

Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ngành xây dựng với luận văn “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam” của Võ Thị Tuyết Hằng Trong luận văn tác giả đã chỉ ra được các nhân tố tác động tới hiệu quả sản xuất kinh doanh:

+ Cấu trúc nguồn vốn

+ Quy mô doanh nghiệp (Tài sản)

+ Đầu tư tài sản cố định

+ Tốc độ tăng trưởng của doanh thu

+ Kỳ thu tiền bình quân

Dữ liệu tính toán được tác giả thu thập từ các báo cáo tài chính của các công

ty thuộc ngành xây dựng niêm yết trên 2 sàn chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong thời gian từ 2010-2013 Danh sách tất cả công ty niêm yết thuộc ngành dựa từ bảng doanh nghiệp cùng ngành trên trang web vietstock.vn Tiêu chuẩn NAICS 2007 là căn cứ tham khảo để Vietstock xây dựng hệ thống cũng như nguyên tắc phân ngành, yếu tố “Cơ cấu doanh thu” là yếu tố ưu tiên để xem xét Mẫu nghiên cứu là 104 doanh nghiệp có đầy thông tin báo cáo tài chính từ năm 2010-2013 trong số tổng thể 107 doanh nghiệp ngành Xây dựng Ở nghiên cứu này

sử dụng dữ liệu bảng liên quan đến cả mặt quy mô không gian và thời gian, do đó tác giả sẽ thực hiện kết hợp 2 mô hình ước lượng; mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằngtỷ lệ nợ/ VCSH, kỳ thu tiền bình quân tỷ lệ nghịch đến hiệu quả kinh doanh Quy mô và

Trang 21

tốc độ tăng trưởng tài sản tác động thuận đến hiệu quả kinh doanh, trong khi đó tỷ

lệ nợ ngắn hạn và tỷ trọng tài sản cố định không tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất xây dựng

1.1.1.3 Nghiên cứu các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam của Đỗ Dương Thanh Ngọc (2011)

Mục tiêu của tác giả trong nghiên cứu này là xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tài chính tác động tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu, xác định chiều hướng và mức độ tác độngcủa các yếu tố tài chính tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Mô hình

và giả thuyết nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận về hoạt động, sản phẩm xây dựng, đặc thù của các doanh nghiệp ngành xây dựng, các chỉ số đánh giá hiệu quả kinh doanh, các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh và một số nghiên cứu có liên quan trên thế giới Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp trong ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó sử dụng số liệu của 40 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các số liệu được truy xuất từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu từ năm 2006 - 2010 Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp định lượng và phương pháp định tính Trong phương pháp định lượng, tác giả sử dụng công cụ kinh tế lượng hồi quy để thực hiện ước lượng, kiểm định mô hình bằng phần mềm SPSS 11.5 và từ đó xác định được các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả kinh doanh

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các biến xem xét (tỷ lệ nợ TDTA/ TDTE/ STDTA/ LTDTA, quy mô doanh nghiệp - SIZE, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản - GROWTH, tỷ trọng tài sản cố định - TANG) thì có 1 biến tác động đến hiệu quả kinh doanh được đo lường bởi chỉ số ROA là biến tỷ lệ nợ (TDTA/ TDTE/ STDTA) Trong đó biến tỷ lệ nợ có tác động rất mạnh theo chiều âm (-) đến hiệu quả kinh

Trang 22

doanh Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng phù hợp với một số kết quả nghiên cứu

có liên quan trên thế giới và phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010

1.1.1.4 Vận dụng mô hình toán kinh tế phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty xây dựng Lũng Lô của Lưu Vũ Tâm (2009)

Đề tài sử dụng bộ số liệu của công ty xây dựng Lũng Lô từ năm 2005 đến

2008 Để hoàn thành đề tài, chuyên đề đã sử dụng phân tích kinh tế, phân tích thống

kê và mô hình kinh tế lượng Phần mềm được sử dụng trong phân tích là Eviews Tác giả đưa vào mô hình hồi quy sản lượng Q theo các yếu tố đầu vào là tư bản K

và lao động L Bảng kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ giữa sản lượng và lao động Theo phương trình hồi quy, khi lao động tăng 1 đơn vị và tư bản không đổi thì sản lượng tăng 93.81419 đơn vị; khi tư bản tăng 1 đơn vị và lao động không đổi thì sản lượng tăng 0.740232 Vậy nguồn vốn và lao động có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng xây dựng vì quá trình hoàn thiện công trình xây dựng diễn ra trong thời gian dài, yêu cầu vốn đối ứng lớn và số lượng lao động dồi dào

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu tại các nước

1.1.2.1 Nghiên cứu của Weixu (2005)

Weixu thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh” vào năm 2005 Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 1.130 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải, ngoại trừ các công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, công ty tài chính

Các biến được đưa vào mô hình nghiên cứu như sau:

+ Biến phụ thuộc (Biến HQKD): tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE)

+ Biến độc lập (Yếu tố tác động): tỷ lệ nợ/ VCSH (D), tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản (GROWTH), quy mô công ty (SIZE)

Weixu nghiên cứu tác động của biến tỷ lệ nợ và một số biến khác đến biến HQKD, trong đó tác giả xây dựng 3 mô hình: quan hệ tuyến tính, quan hệ phi tuyến bậc 2 và quan hệ phi tuyến bậc 3 Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Trang 23

+ HQKD bị tác động rất lớn bởi biến tỷ lệ nợ HQKD có mối tương quan mạnh phi tuyến bậc 2, bậc 3 khi tỷ lệ nợ < 100% Tỷ lệ nợ có tác động dương (+) đến HQKD khi ở mức tỷ lệ nợ thấp và tác động âm (-) khi ở mức tỷ lệ nợ cao

+ HQKD không có tương quan mạnh với tỷ lệ nợ dài hạn, lý do là các công

ty ở Trung Quốc thích sử dụng nợ ngắn hạn hơn là sử dụng nợ dài hạn

+ Biến SIZE có tác động dương (+) đến HQKD khá mạnh ở mô hình tuyến tính, còn mô hình phi tuyến thì SIZE không có tác động

+ Biến GROWTH không có tác động đến HQKD ở cả 3 mô hình

1.1.2.2 Nghiên cứu của Dimitris Margaritis và Maria Psillaki (2007)

Dimitris Margaritis & Maria Psillaki thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa

cơ cấu vốn, quyền sở hữu và hiệu quả kinh doanh của công ty” vào năm 2007 Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các công ty ở Pháp thuộc các lĩnh vực sản xuất công nghiệp truyền thống như: ngành dệt may, dược phẩm và lĩnh vực công nghiệp phát triển như máy tính, nghiên cứu và phát triển Biến được đưa vào mô hình cũng tương tự như nghiên cứu của Weixu nhưng có thêm các biến yếu tố tác động: tỷ trọng tài sản cố định (TANG), tỷ trọng tài sản lưu động (INT), cấu trúc vốn sở hữu (OWN)

Trong khi Weixu chỉ nghiên cứu tác động một chiều giữa biến tỷ lệ nợ và một số yếu tố tác động đến HQKD thì Dimitris Margaritis & Maria Psillaki thực hiện nghiên cứu 2 chiều, 2 mô hình hồi quy được họ xây dựng như sau: mô hình 1 -

tỷ lệ nợ và các yếu tố tác động đến HQKD; Mô hình 2 - HQKD và các yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ Kết quả nghiên cứu cho thấy:

+ Mối quan hệ nhân quả giữa tỷ lệ nợ và HQKD của doanh nghiệp cho thấy HQKD tác động đến tỷ lệ nợ và ngược lại tỷ lệ nợ cũng có tác động đến HQKD

+ Mô hình 1: tỷ lệ nợ có mối quan hệ tuyến tính và mối quan hệ bậc 2 với HQKD Tỷ lệ nợ có tác động dương (+) đến HQKD khi tỷ lệ nợ ở mức nợ trung bình

+ Mô hình 2: HQKD có tác động dương (+) đến tỷ lệ nợ và sự tác động này

có ý nghĩa khi tỷ lệ nợ ở mức nợ từ thấp đến trung bình

Trang 24

1.1.2.3 Nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007)

Trong khi Weixu, Dimitris Margaritis & Maria Psillaki thực hiện nghiên cứu các yếu tố tài chính tác động đến HQKD xét trên phương diện tài chính (các chỉ số tài chính dựa trên sổ sách, báo cáo tài chính của doanh nghiệp) thì Zeitun & Tian vào năm 2007 đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến HQKD trên cả 2 phương diện là tài chính và thị trường Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện từ năm

1989 – 2003 của 167 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman – Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính

Trên phương diện tài chính – biến HQKD được đại diện bởi chỉ số: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Trên phương diện thị trường – biến HQKD được đại diện bởi các chỉ số: tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần và giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản (Tobin’s Q); tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần trên giá trị sổ sách của vốn cổ phần (MBVR) Biến yếu tố tác động cũng tương tự như những nghiên cứu trước và có đưa thêm một số biến vào mô hình như: mức sai lệch của dòng tiền trong 3 năm qua (STDVCF), thuế thu nhập (TAX), tỷ trọng tài sản cố định (TANG), khủng hoảng chính trị (POLITICAL CRISIS) và ngành nghề kinh doanh (INDUST)

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

+ Các yếu tố có tác động đến HQKD bao gồm: tỷ lệ nợ (D), tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản (GROWTH), quy mô công ty (SIZE), thuế (TAX), ngành nghề kinh doanh (INDUST), tỷ trọng tài sản cố định (TANG) Trong đó, biến tỷ lệ

nợ có tác động mạnh nhất, kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó

+ Các yếu tố có tác động dương (+) đến HQKD gồm: GROWTH, SIZE, TAX + Tỷ trọng tài sản cố định có tác động âm (-) đến HQKD Công ty có tỷ trọng tài sản cố định cao thì HQKD thấp do các công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà không cải tiến được HQKD

+ Yếu tố ngành nghề kinh doanh có tác động mạnh đến yếu tố HQKD ở một

số lĩnh vực sau: bất động sản, dịch vụ giáo dục, hóa học và dầu mỏ, thuốc lá

Trang 25

1.1.2.4 Nghiên cứu của Onaolapo & Kajola (2010)

Vào năm 2010, Onaolapo & Kajola thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến HQKD Nghiên cứu của các tác giả cũng giống với những nghiên cứu trước đó của Weixu, Dimitris Margaritis & Maria Psillaki và chỉ nghiên cứu biến HQKD dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE Biến yếu tố tác động cũng tương tự, gồm: SIZE, TANG, GROWTH, vòng quay tài sản (TURN), số năm thành lập của công ty (AGE), ngành nghề kinh doanh (IND)

Dữ liệu nghiên cứu gồm 30 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 2001 – 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy:

+ Mức độ giải thích của mô hình hồi quy đa biến (R2 hiệu chỉnh) ở mức khá:

R2ROA = 35.5% và R2ROE = 47%

+ Tỷ lệ nợ tác động âm (-) với HQKD

+ TURN tác động dương (+) tới ROA, ROE

+ SIZE và AGE tác động dương (+) đến ROE

+ TANG tác động âm (-) tới ROA, tức là công ty có tỷ lệ TSCĐ càng cao thì hiệu quả HQKD càng thấp, kết quả này ngược với lý thuyết nhưng lại giống với nghiên cứu của Zeitun & Tian

+ Yếu tố ngành nghề kinh doanh có tác động đến HQKD, cụ thể:

• Ngành rượu bia, thực phẩm và đồ uống, ngành hóa học, ngành in ấn và xuất bản, ngành thuốc lá, ngành máy tính và thiết bị văn phòng có tác động mạnh đến HQKD - ROA

• Ngành rượu bia, thực phẩm và đồ uống, ngành xây dựng, ngành thuốc lá có tác động mạnh đến HQKD - ROE

1.2 Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành xây dựng

Hiệu quả kinh doanh được phân tích theo công thức:

Kết quả (lợi nhuận,doanh thu )

Hiệu quả =

Phuơng tiện (chi phí,tài sản,doanh thu,VCSH )

Trang 26

Trong công thức này kết quả kinh doanh thường là lợi nhuận hoặc doanh thu, trong đó nhà phân tích có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu lợi nhuận (lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận trước thuế và lãi vay, lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận gộp)

Phương tiện tạo ra kết quả cũng được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như tài sản (tổng tài sản, từng loại tài sản), tổng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu, chi phí, thậm chí

là doanh thu (trong trường hợp kết quả kinh doanh thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận)

Do có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cũngnhư phương tiện tạo ra kết quả đó nên có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh HQKD của doanh nghiệp và mỗi chỉ tiêu

đó sẽ thể hiện một ý nghĩa nhất định

a)Hiệu quả cá biệt: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt được xây dựng cho

từng quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực được sử dụng với kết quả mà doanh nghiệp đạt được

Hiệu suất sử dụng tài sản = Giá trị sản xuất

Tổng tài sản bình quân

Hiệu suất sử dụng TSCĐ =

Giá trị sản xuất Nguyên giá bình quân TSCĐ

Số CNSX bình quân năm

Giá trị sản xuất VLĐ bình quân

b)Hiệu quả tổng hợp: Các chỉ tiêu này thể hiện khả năng sử dụng một cách

tổng hợp tất cả các nguồn lực để tạo ra kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 27

 Phân tích khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận

trên doanh thu =

Lợi nhuận trước thuế

x 100%

DT thuần + DT hoạt động tài chính + Thu nhập khác

Tỷ suất lợi nhuận trên

doanh thu thuần (SXKD) =

Lợi nhuận thuần SXKD

x 100% Doanh thu thuần

Tỷ suất lợi nhuận

hoạt động SXKD =

Lợi nhuận thuần SXKD + Khấu hao TSCĐ

x 100% Doanh thu thuần SXKD

 Phân tích khả năng sinh lời tài sản

• Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời tài sản = Lợi nhuận sau thuế x 100%

Tổng tài sản bình quân

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Với những tài sản có sẵn doanh nghiệp có thể tạo ra những giá trị gì? Doanh nghiệp càng tạo ra nhiều giá trị dựa trên một nguồn lực sẵn có thì càng cho thấy năng lực quản lý của mình Do đó, tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) là kết quả tổng hợp những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả của các yếu

tố đầu vào sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh, kết quả của nỗ lực mở rộng thị trường tiêu thụ, gia tăng doanh số và sử dụng hợp lý các loại chi phí Điều này được thể hiện thông qua sơ đồ phương trình Dupont

Cách phân tích này còn chỉ ra phương hướng nâng cao sức sinh lời tài sản của doanh nghiệp Cụ thể: chênh lệch về hiệu quả kinh doanh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc là kết quả tổng hợp ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất

sử dụng tài sản, thể hiện qua công thức:

ROA = AH LN/DT + AHDT/TS

Trang 28

AH LN/DT là ảnh hưởng của sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Thực chất đây là ảnh hưởng của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí Nó chỉ liên quan chủ yếu đến vấn đề tiêu thụ, vấn đề bán hàng tại doanh nghiệp và được tính theo công thức sau :

AH LN/DT = HDT/TS1 x (HLN/DT1 - HLN/DT0)

AHDT/TS là ảnh hưởng của sự thay đổi của tỷ suất doanh thu trên tài sản Đây chính là hiệu quả của quá trình quản lý và sản xuất của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tổ chức tốt việc sản xuất, tiết kiệm vốn thì số vòng quay vốn tăng, hiệu quả này sẽ tăng lên

AH DT/TS = HLN/DT0 x (HDT/TS1 - HDT/TS0) Với HLN/DT 0, 1 là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của kỳ gốc, kỳ phân tích

HDT/TS 0,1 là tỷ suất của doanh thu trên tài sản của kỳ gốc, kỳ phân tích

Hình 1.1: Phương trình Dupont

KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA TÀI SẢN

DOANH THU/

TÀI SẢN

DOANH THU TÀI SẢN

TÀI SẢN DÀI HẠN

TÀI SẢN NGẮN HẠN

Trang 29

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) cho thấy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tức là khoản lãi được tạo ra từ nguồn vốn đầu tư (tài sản), chỉ tiêu này được sử dụng trong nội bộ của doanh nghiệp để theo dõi tình hình sử dụng tài sản theo thời gian hoặc theo dõi hoạt động của doanh nghiệp trong tình hình chung của ngành và so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh

Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn Patricia Fairfield và Teri Lombardi Yohn đã thực hiện một nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi của tài sản Họ đã chứng minh được rằng phân tích sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của tài sản có vai trò quan trọng trong việc dự báo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai

Tuy nhiên, ROA cũng có nhược điểm khi nhà quản lý không đồng thời là chủ

sở hữu doanh nghiệp, họ được chủ sở hữu thuê nên mục tiêu hoạt động trong ngắn hạn có thể không song hành với mục tiêu của chủ sở hữu Khi sử dụng ROA để đánh giá hiệu quả hoạt động, nhà quản lý sẽ thực hiện phương án gia tăng lợi nhuận cao nhất và sử dụng ít tài sản nhất, muốn vậy họ có động cơ gia tăng tử số (lợi nhuận) và giảm bớt mẫu số (tài sản) của ROA Điều này dẫn đến khích lệ các quyết định trong ngắn hạn, nhưng có thể dẫn đến hậu quả không tốt về hoạt động của công ty trong dài hạn Doanh nghiệp cắt giảm chi phí thì có thể hy sinh các hoạt động đầu tư trong tương lai như chi phí nghiên cứu phát triển, thay đổi phương pháp khấu hao Điều này cải thiện được lợi nhuận hoạt động trong kỳ nhưng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm, mất thị phần và giảm khả năng sinh lợi trong tương lai Nhà quản lý cũng có thể cắt giảm chi phí trong năm bằng cách cắt giảm chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị trong năm, điều này cải thiện được lợi nhuận từ

Trang 30

hoạt động kinh doanh, tuy nhiên có thể dẫn đến phải tiêu tốn nhiều chi phí sửa chữa hoặc phải thay thế máy móc thiết bị trong tương lai Doanh nghiệp tìm cách tăng cường thu hồi công nợ phải thu, giảm số ngày bán chịu; giảm hàng tồn kho có thể dẫn đến giao hàng không đúng hạn, không chủ động trong sản xuất khi thực hiện kế hoạch; không chú trọng trong việc đầu tư tài sản cố định có thể dẫn đến chất lượng sản phẩm có vấn đề, những quyết định này có thể dẫn đến mất khách hàng trong tương lai

• Tỷ suất sinh lợi kinh tế của tài sản (RE)

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) đã phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên kết quả về lợi nhuận còn chịu tác động bởi thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc nguồn vốn Vì vậy, để thấy rõ thật sự hiệu quả của hoạt động thuần kinh tế ở doanh nghiệp, còn có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi kinh tế của tài sản

RE = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay x 100%

Tổng tài sản bình quân

Nói đến hiệu quả doanh nghiệp các nghiên cứu trên thế giới đều dùng thuật ngữ “Firm Performance” khái niệm này là một vấn đề gây tranh cãi về tài chính chủ yếu là do ý nghĩa đa chiều của nó Nghiên cứu về hoạt động doanh nghiệp xuất phát

từ lý thuyết tổ chức và quản lý chiến lược (Murphy, Trailer &Hill 1996): Hiệu quả hoạt động đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp (Chakravarthy, 1986) Các biện pháp hiệu suất hoạt động, chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng doanh

số bán hàng và tăng trưởng thị phần, cung cấp một định nghĩa rộng hơn về hiệu suất khi họ tập trung vào các yếu tố cuối cùng dẫn đến hoạt động tài chính (Hoffer

&Sandberg, 1987)

Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty

mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt

Trang 31

động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị trường vốn Ví

dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao và các hoạt động lúc đó chỉ tiêu đo lường theo giá trị thị trường không cung cấp một thông tin chính xác Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên VCSH (ROE) hoặc lợi nhuận trên đầu tư (ROI) Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã được sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu (ví

dụ, Mehran (1995), và Ang, Cole &Line (2000))

Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, chẳng hạn như giá mỗi cổ phiếu với thu nhập trên mỗi cổ phiếu (P/E) (Abdel Shahid, 2003), tỷ số giá thị trường của VCSH trên giá trị

sổ sách của VCSH (MBVR), và Tobin Q Hai biện pháp kế toán, ROA và ROE, được sử dụng như là chỉ tiêu cho hoạt động của công ty, và ba chỉ tiêu hoạt động thị trường là P/E, MBVR, và Q Tobin Hiệu quả hoạt động đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất

Tỷ suất sinh lời

đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn chủ sở hữu với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Đây là một chỉ

số được sử dụng để dễ so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề với quy mô khác nhau, hoặc giữa các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khác nhau, hoặc giữa nhiều hoạt động đầu tư khác nhau như tiền gửi tiết kiệm, bất động sản,

Trang 32

chứng khoán, vàng, ngoại tệ, dự án kinh doanh chính vì vậy nó sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định tài trợ nhanh chóng

Nhược điểm lớn nhất của chỉ số ROE là nó có thể dễ dàng bị bóp méo bởi các chiến lược tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp Ví dụ, nhà quản trị có thể dự đoán được vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của doanh nghiệp có khả năng bị ảnh hưởng và suy giảm nên doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư vào dư nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt tích trữ, và chính những hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được đáng kể chỉ số ROE Trong khi đó chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sản được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh Chỉ số này xác định công ty có thể tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình Không giống ROE, đo lường tỷ suất sinh lợi của tài sản ROA bao gồm tất cả các loại tài sản của một doanh nghiệp, nghĩa là tổng tài sản được sử dụng chứ không phải là tài sản thuần (bao gồm vốn cổ đông, vốn hình thành từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch

do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá, các quỹ dự trữ phát triển dự phòng) Ví dụ như lượng tiền mà doanh nghiệp có được do vay nợ sẽ được cân bằng với một trách nhiệm tương ứng với một khoản nợ phải trả Chính vì vậy, chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản được dùng đánh giá việc sử dụng toàn bộ số tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh mà không cần quan tâm đến nguồn gốc từ vay nợ hay từ vốn chủ sở hữu David Lindo tin rằng tỷ suất sinh lợi của tài sản là chỉ số tài chính tốt nhất được sử dụng để đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được

và khoản đầu tư vào các tài sản cần thiết để đạt được lợi nhuận đó

Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh khác nhau mà mức độ đầu tư vào tài sản mà doanh nghiệp cần sử dụng khác nhau Ví dụ như đối với các doanh nghiệp sản xuất thiết bị lớn như sản xuất ô tô thì cần một khối lượng tài sản hữu hình lớn trong khi đó một doanh nghiệp quảng cáo hay sản xuất phần mềm máy tính chỉ cần một lượng thiết bị tối thiểu và do đó có thể tạo ra được tỷ suất ROA cao hơn Tuy nhiên trong trường hợp kinh doanh thất bại, các doanh nghiệp có nhiều tài sản hữu hình lớn có thể chuyển đổi thành tiền trong khi một doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là các tài sản trí tuệ sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó mặc dù chỉ tiêu tỷ suất

Trang 33

lợi nhuận trên tài sản (ROA) làm cho công việc phân tích cơ bản trở nên dễ dàng hơn, giúp nhà đầu tư nhận ra cơ hội cổ phiếu tốt và giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra nhưng việc sử dụng chỉ tiêu nên áp dụng trong việc so sánh đánh giá các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh

Như vậy, trong nghiên cứu này, tác giả nhận thấy việc sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng là phù hợp và chính xác nhất

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành xây dựng

1.3.1 Nhóm yếu tố khách quan

1.3.1.1 Môi trường kinh tế

Đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh

tế vĩ mô Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của ngành sẽ tăng cao

do nhu cầu xây dựng được mở rộng Ngược lại, tình hình sẽ tồi tệkhi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng sẽ bị trì trệ vì người dân không còn bỏ nhiều tiền

ra để xây dựng nhà cửa, chính phủ không mở rộng đầu tư vào các công trình cơ sở

hạ tầng như cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện Điều này làm cho doanh số, lợi nhuận của ngành Xây dựng sụt giảm nhanh chóng Việt Nam là nước

có nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, đo đó sự phát triển của nền kinh tế có tác động trực tiếp đến sự phát triển của ngành xây dựng Trong giai đoạn 2006 –

2016, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân duy trì ở mức 6.38%/năm, trong khi đó tốc

độ tăng trưởng ngành công nghiệp – xây dựng bình quân ở mức 7.38%/năm Chi tiết tốc độ tăng trưởng của GDP và ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2006 –

2016 được thể hiện thông qua biểu đồ 1.1 sau:

Trang 34

Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP và ngành công nghiệp – xây dựng

giai đoạn 2006 – 2016

(nguồn: Tổng cục thống kê)

Kinh tế tăng trưởng sẽ dẫn đến tới nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, khu

đô thị, nhà ở, khu công nghiệp, cao ốc văn phòng tăng cao, nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cũng tăng lên Trong những năm vừa qua, Việt nam bắt đầu tăng trưởng trở lại sau thời gian suy thoái 2008-2013, một phần do ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế thế giới, phần còn lại do nguyên nhân nội tại của nền kinh tế trong nước đã phát triển nhanh và nóng trong giai đoạn 2005-2007 Trong giai đoạn suy thoái 2008-2013 tốc độ tăng trưởng GDP sẽ giảm xuống, kéo theo nguồn vốn đầu tư, nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng dân dụng giảm Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng

1.3.1.2 Lạm phát

Khi lạm phát ở mức cao, giá cả leo thang, giá nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất như xi măng, sắt thép … sẽ tăng lên dẫn đến giá thành công trình tăng cao hơn mức dự kiến Tỷ số lạm phát năm 2008: 19.89%, năm 2009: 6.52%, năm 2010: 11.75% và 2011 tiếp tục tăng mạnh lên mức 18.13% Lạm phát ở mức 2 con

Trang 35

số do giá cả các loại mặt hàng đều gia tăng đã gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp nói chung và ngành xây dựng nói riêng Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn Sốlượng, chủng loại vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến

độ thi công Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ Chi phí vật tư xây dựng chiếm 60-70% giá thành xây lắp, chỉ cần một sự biến đổi nhỏ về giá cả có thể làm cho chi phí của công trình thay đổi đáng kể Vì vậy khi lạm phát xảy ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với các doanh nghiệp, chi phi thực tế hoàn thành sẽ cao hơn nhiều so với lúc lập dự toán đấu thầu, dẫn đến việc công trình bị đội vốn so với dự tính, thậm chí có thể bị đình trệ, tạm dừng thi công khi gặp khó khăn về nguồn vốn

Biểu đồ 1.2: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát giai đoạn 2006 – 2016

(nguồn: Tổng cục thống kê)

1.3.1.3 Tỷ giá hối đoái

Trong lĩnh vực xây dựng, một số nguyên vật liệu phải nhập khẩu và chiếm một tỷ trọng tương đối cao Ví dụ như tỷ lệ sắt thép chiếm khoảng 20% trong công trình xây dựng nhà ở và chiếm gần 40% trong công trình xây dựng công nghiệp Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam mới sản xuất được 50% phôi thép, 50% quặng,

8.17 8.50

6.23

5.32

6.78 5.89 5.03 5.42 5.98

18.13

6.81 6.54

Trang 36

30% thép phế, còn lại đều phải nhập khẩu Do vậy hoạt động của doanh nghiệp phần nào chịu ảnh hưởng của biến động tỷ giá giữa VND với các loại ngoại tệ 1.3.1.4 Yếu tố luật pháp

Pháp luật và môi trường pháp luật có tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp, Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật đất đai và các pháp luật khác có liên quan Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như cơ chế quản lý hiện vẫn đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện nên

sự điều chỉnh có thể xảy ra Ngoài ra, các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách về xây dựng cơ bản, đất đai, phát triển các khu đô thị, cơ sở hạ tầng… còn chồng chéo, thiếu tính ổn định và nhất quán, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược và chính sách kinh doanh

ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng tồn tại thông tin bất cân xứng, chi phí giao dịch và thuế thu nhập

Lý thuyết Modigliani & Miller (1963) trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ cấu vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp Ưu điểm của việc sử dụng nợ là có thể tiết kiệm được thuế bởi vì chi phí nợ là chi phí hợp lý được khấu trừ khỏi phần lợi nhuận trước thuế Trong khi đó chi phí VCSH không có được ưu điểm này, vì cổ tức là yếu tố chi phí sau thuế Chính vì vậy mà giá trị doanh nghiệp được tăng lên là nhờ lợi ích từ lá chắn thuế

Trang 37

Theo lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, khi một doanh nghiệp bắt đầu vay nợ, doanh nghiệp có lợi thế về thuế Chi phí nợ thấp kết hợp với lợi thế về thuế sẽ làm cho chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng Tuy nhiên, khi tỷ

lệ giữa nợ và VCSH tăng, buộc các chủ sở hữu phải tăng lợi tức yêu cầu của cổ đông (nghĩa là chi phí VCSH tăng) Đồng thời, ở mức tỷ lệ nợ và VCSH cao, chi phí nợ cũng tăng bởi khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn) Vì vậy, ở mức tỷ lệ nợ và VCSH cao hơn, WACC sẽ tăng Do đó,

lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu cho rằng, cơ cấu vốn có tác động đến WACC và giá trị công ty hay nói khác đi có một tỷ lệ nợ tối ưu, ở đó WACC của doanh nghiệp là nhỏ nhất và giá trị của doanh nghiệp lớn nhất

Như vậy, theo lý thuyết Modigliani & Miller và lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu chúng ta có thể thấy được việc lựa chọn và sử dụng vốn như thế nào sẽ có tác động đến HQKD của doanh nghiệp Hay nói một cách khác là tồn tại mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và HQKD của doanh nghiệp Tỷ lệ nợ trên VCSH của ngành xây dựng được so sánh với các ngành khác tại Việt Nam thông qua biểu đồ 1.3 sau:

Biểu đồ 1.3: So sánh tỷ lệ nợ của ngành xây dựng và một số nhóm ngành

khác tại Việt Nam

(nguồn www.stockbiz.vn, Ngân hàng nhà nước Việt Nam )

Công nghiệp

Xây dựng Thương

mại

Vận tải và viễn thông

Dịch vụ khác

Dư nợ (tỷ đ) Nợ/VCSH

Trang 38

Biểu đồ này cho thấy ở Việt Nam, ngành xây dựng là ngành có tỷ lệ nợ/VCSH cao nhất, bình quân ở mức 91% Do đó, đối với các doanh nghiệp trong ngành xây dựng thì mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và HQKD càng trở nên chặt chẽ,

rõ ràng hơn.Ngành xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, những nguyên vật liệu ban đầu của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố định của ngành khá cao Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Hơn nữa, quá trình hoàn tất hồ sơ thi công cũng như thống nhất phê duyệt quyết toán giữa chủ đầu tư và nhàthầu thường mất nhiều thời gian, dẫn tới tình trạng chủ đầu tư chậm thanh toán cho các doanh nghiệp xây dựng,

từ đó công nợ của các doanh nghiệp xây dựng rất cao.Nguồn vốn để duy trì hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam hiện nay chủ yếu là từ đi vay nên chính sách tiền tệ và biến động của lãi suất ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động ngành Xây dựng

1.3.2.2 Công nghệ, máy móc thiết bị

Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa doanh thu thuần và toàn

bộ chi phí bỏ ra Thông thường để tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp tập trung vào vấn đề cắt giảm chi phí Tuy nhiên, trong thực tế các biện pháp này rất khó thực hiện Bởi lẽ, doanh nghiệp không thể cắt giảm chi phí mà vẫn giữ nguyên được chất lượng sản phẩm Hơn nữa, quan niệm cạnh tranh bằng giá cả gần đây đã được thừa nhận là không còn phù hợp và các doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề cạnh tranh bằng khác biệt hóa sản phẩm Chính vì vậy để lợi nhuận không ngừng tăng lên đòi hỏi doanh nghiệp chẳng những không cắt giảm chi phí mà còn phải tăng chi phí lên Với nguyên vật liệu tốt hơn, lao động có tay nghề cao hơn, máy móc công nghệ hiện đại hơn, doanh nghiệp sẽ giảm đi được lượng hao phí nguyên vật liệu/năng lượng/thiết bị trên từng sản phẩm và đây là điều kiện để có những sản phẩm với số lượng, chất lượng cao hơn, giá thành hạ

Năng lực về máy móc thiết bị thi công quyết định lợi thế cạnh tranh Áp dụng khoa học công nghệ đem lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Công nghệ

Trang 39

tiên tiến, hiện đại góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm hao phí lao động, nguyên nhiên vật liệu làm hạ giá thành sản phẩm xây dựng và nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng Đứng trên giác độ của người sửdụng chất lượng công trình là mối quan tâm hàng đầu bởi đem lại sự an tâm khi họ sử dụng Đối với chủ đầu tư, khi gọi thầu từ các doanh nghiệp xây dựng thì bên cạnh chất lượng, họ quan tâm nhiều đến giá cả Để giải quyết bài toán nâng cao chất lượng công trình, hạ giá thành sản phẩm thì công nghệ là yếu tố đóng vai trò then chốt để tạo nên thế mạnh kinh tế của công ty Việc phát triển ứng dụng khoa học công nghệ bên cạnh nguồn nhân lực có trình độ và kinh nghiệm thì đầu tư vào công nghệ, năng lực máy móc thiết bị là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý Thiết bị thi công là yếu tố rất quan trọng đối với việc thi công các công trình xây dựng Chi phí máy thi công thường chiếm từ 15% - 20% giá thành xây dựng công trình Thiết bị thi công không những

có ảnh hưởng đến chiến lược đấu thầu về mặt giá thành xây dựng mà còn ảnh hưởng đến năng lực uy tín của nhà thầu cũng như ảnh hưởng đến kỹ thuật, công nghệ, phương án thi công

Như vậy một trong những biện pháp để tăng HQKD là không ngừng đầu tư vào công nghệ, máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, phương pháp tổ chức quản lý… thì mới giảm được chi phí, nâng cao năng lực sản xuất, từ đó tăng chất lượng sản phẩm và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình

1.3.2.3 Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp có thể được hiểu là quy mô nguồn vốn, quy mô tài sản, quy mô mạng lưới tiêu thụ… Mô hình lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô hay còn gọi là lợi nhuận tăng dần theo quy mô được thể hiện khi chi phí bình quân trên một sản phẩm sản xuất ra sẽ giảm dần theo mức tăng của sản lượng sản phẩm Lợi thế kinh tế theo quy mô có được bởi các lý do sau:

+ Giảm thiểu chi phí cố định: chi phí cố định là các chi phí máy móc thiết bị

và một số các yếu tố đầu vào để duy trì hoạt động của doanh nghiệp Chi phí cố định phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có sản xuất hay không, chi phí cố định không thay đổi theo mức sản lượng, nó bắt đầu từ những mức sản lượng thấp và không

Trang 40

tăng cùng với mức tăng của sản lượng Vì vậy khi sản lượng tăng, doanh nghiệp sẽ đạt được tính kinh tế nhờ quy mô Vì các chi phí cố định này có thể chia cho một số lượng nhiều hơn các đơn vị sản phẩm và như vậy nó làm giảm chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm

+ Hiệu quả của tính chuyên môn hóa, khi quy mô sản xuất của doanh nghiệp tăng thì doanh nghiệp sẽ thuê thêm lao động Mỗi người công nhân có thể tập trung vào một công việc cụ thể và giải quyết công việc đó hiệu quả hơn, từ đó góp phần làm giảm chi phí bình quân Đồng thời do chuyên môn hóa nên việc đào tạo người lao động cũng tiết kiệm thời gian và chi phí đào tạo hơn

Bên cạnh đó các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín, thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tốt hơn (ví dụ như dễ dàng huy động hơn, mức vay cao hơn, lãi suất vay thấp hơn) 1.3.2.4 Năng lực quản trị tài chính doanh nghiệp

Các hoạt động chủ yếu mà người phụ trách về tài chính của doanh nghiệp phải làm là dự báo và lên kế hoạch tài chính, phân tích các dự án để ra quyết định đầu tư dài hạn, phân tích các nguồn tài trợ sẵn có để quyết định phương án huy động vốn Để làm tốt chức năng này, nhà quản trị tài chính cần những hiểu biết về thị trường vốn và thị trường tiền tệ Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều nhà quản trị tài chính thiếu kinh nghiệm, do đó các quyết định tài chính còn nhiều bất cập:

+ Doanh nghiệp sử dụng hoàn toàn VCSH, do đó không khai thác được lợi thế của lá chắn thuế và đòn bẩy tài chính để nâng cao HQKD

+ Doanh nghiệp không xác định được nguồn vốn vay, sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư tài sản dài hạn, do đó thiếu hụt nguồn vốn kinh doanh

+ Doanh nghiệp áp dụng một chính sách tín dụng thương mại (bán chịu) khá thoải mái khiến cho dòng vốn của mình bị người mua chiếm dụng trong khi doanh nghiệp phải đi vay và trả lãi cho ngân hàng

+ Doanh nghiệp đang trong thời kỳ tiền nhàn rỗi, không biết đầu tư vào đâu đành để tiền mặt tại quỹ hoặc gửi tiết kiệm ngân hàng dẫn đến lãng phí cơ hội kinh doanh v.v…

Ngày đăng: 23/02/2023, 17:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w