1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình

59 737 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Đức Lữ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 359,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào, vốn đều được xem là yếu tố không thể thiếu, không có vốn thì không hoạt động kinh doanh được, khi có vốn rồi thì điều đầu tiên mà doanh nghiệp phải đối phó là làm thế nào để có được lợi nhuận, sử dụng như thế nào để đồng vốn có hiệu quả, đây mới là sự quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp

Đối với một nền kinh tế mới vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá như nước ta hiện nay, việc sử dụng vốn là mối quan tâm của các nhà lãnh đạo và của các doanh nghiệp Do

đó, đi tìm lời giải về việc sử dụng vốn hay nói cách khác là các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là vấn đề mang tính thời

sự và thiết thực đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực thương mại vận tải, Công ty Thương mại vận tải Trường Giang đương nhiên không nằm ngoài

xu thế này Trong quá trình thực tập tại Công ty Thương mại vân tải Trường Giang, được sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giao hướng dẫn cũng như các cán bộ trong Công ty, em đã bước đầu được làm quen với thực

tế, nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vận dụng

lý luận vào thực tiễn và từ thực tiễn làm sáng tỏ hơn những lý luận được nghiên cứu trong nhà trường Qua đó, em đã chú trọng đi sâu nghiên cứu đề

tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Thương mại vận tải Trường Giang” – một trong những vấn đề, mà theo em, có ảnh hưởng trực

Trang 2

tiếp đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị trường quốc tế.

Chuyên đề tốt nghiệp gồm ba chương:

Chương I: Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế

thị trường

Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty thương mại

vận tải Trường Giang

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty

thương mại vận tải Trường Giang

Bằng những kiến thức thu thập được trong thời gian học tập ở trường

và những kiến thức có được qua học hỏi thầy cô, bạn bè, các cán bộ phòng

Kế toán Tài chính thuộc Công ty Thương mại vận tải Trường Giang, đặc biệt

là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo PGS.TS.Lê Đức Lữ - em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong Công ty, các thầy cô giáo trong khoa và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của mình

Trang 3

CHƯƠNG I: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.Vốn của doanh nghiệp

1.1.1.Vai trò của vốn trong doanh nghiệp

a Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh đều với mục đích là sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ để trao đổi với các đơn vị kinh tế khác nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận Nhưng

để tiến hành sản xuất kinh doanh thì cần thiết phải có vốn Vậy vốn là gì ?

Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm về vốn, và mỗi khái niệm đều có những ưu điểm khác nhau, tuỳ điều kiện, mục đích nghiên cứu mà người ta có thể tiếp cận vốn dưới góc độ nào

Theo các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn dưới góc độ hiện vật, vốn là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh Đây là cách hiểu phù hợp với trình độ quản trị còn sơ khai, nó rất đơn giản, dễ hiểu nhưng chưa đầy đủ và chưa phản ánh hết mặt tài chính của vốn

Theo quan điểm của Mác dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn (tư bản) là giá mang lại từ giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa của Mác có tầm khái quát lớn, tuy nhiên trong bối cảnh lúc

đó khi mà nền kinh tế chưa phát triển, Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế Và tiền chỉ được gọi là vốn khi được dùng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với mục đích là lợi nhuận Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản trị và sử dụng vốn, nhưng quan điểm này lại mang tính trừu tượng, do đó hạn chế ý nghĩa nhất là đối với các vấn đề như hạch toán, phân tích tình hình quản trị và sử dụng vốn của doanh nghiệp

Trang 4

Theo Paul-Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển

đã kế thừa quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và chia yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra làm ba loại :đất đai, lao động và vốn Theo ông, vốn là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Khái niệm này không đề cập đến các loại tài sản khác, các giấy tờ có giá trị có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Do đó cũng không phản ánh đầy đủ mặt tài chính của vốn

Theo một số nhà tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người có

cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chi cho các chững khoán của công ty Quan điểm này đã đề cập đến mặt tài chính của vốn, khuyến khích các nhà đầu tư tăng cường đầu tư, mở rộng và phát triển sản xuất Song nó có hạn chế là không nói rõ nội dung và trạng thái của vốn trong quá trình phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hiểu theo nghĩa rộng, một số quan điểm lại cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản trị và tác nghiệp của cán

bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, các lợi thế về cạnh tranh như vị trí, uy tín của doanh nghiệp trên thương trường Quan điểm này có ý nghĩa rộng trong việc khai thác đầy đủ mọi hình thức của vốn trong nền kinh tế thị trường nhưng việc xác đình và quản trị vốn theo quan điểm này rất khó khăn, phức tạp nhất là khi trình độ quản trị chưa cao và hệ thống pháp luật chưa thực sự hợp lý và hoàn thiện như nước ta hiện nay

Cũng có quan điểm lại cho rằng: Vốn kinh doanh là giá trị của các tài sản hiện có của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tìên, nhưng quan điểm

Trang 5

này mới dừng lại ở mặt hình thái của vốn mà không phản ánh trạng thái, mục đích của vốn nên cũng không thuận lợi cho phân tích kinh tế

Như vậy , các quan điểm về vốn ở trên một mặt đã thể hiện được vai trò của vốn trong những điều kiện cụ thể với những yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể Nhưng mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên góc độ hạch toán và quản trị, các quan điểm đó còn gây khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị vốn hiệu quả

Có thể nói, vốn sản xuất kinh doanh là tiền đề cho mọi quá trình đầu

tư và sản xuất kinh doanh ; là quỹ tiền tệ đặc biệt, là tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện tồn tại một nền sản xuất hàng hoá -tiền tệ, khái niệm về vốn sản xuất kinh doanh phải thể hiện những vấn đề sau :

-Nguồn gốc sâu xa của vốn sản xuất kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân được tái đầu tư (khác vốn đất đai, vốn nhân lực )

-Trạng thái vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất ( tài sản cố định, tài sản dự trữ) và tài sản tài chính (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các chứng khoán, tín phiếu ) là cơ sở đề ra biện pháp quản trị vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả

-Mối quan hệ mật thiết giữa vốn và các nhân tố khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ( đất đai, lao động).Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải sử dụng tiết kiệm , hợp lý và hiệu qủa vốn

-Mục đích của quá trình đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận Vấn đề này sẽ định hướng cho quá trình quản trị kinh doanh nói chung và quản trị vốn nói riêng

Từ các vấn đề trên, có thể định nghĩa: Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất hay tài sản tài chính được các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp bỏ ra, đẩu tư phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm tối

đa hoá lợi nhuận

Trang 6

b Vai trò của vốn trong doanh nghiệp

Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh với bất kỳ quy mô nào cũng cần có một lượng vốn nhất định, nó là điều kiện tiền đề cho sự ra đời

và phát triển của doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập Ngược lại, việc thành lập doanh nghiệp không thể thành lập được Trường hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản, giải thể, sát nhập… Như vậy vốn có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp Vón không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất diễn

ra thường xuyên liên tục

Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp không ngừng phải cải thiện máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hoá công nghệ… tất cả những yếu tố này muốn đạt được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn

Trang 7

Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Để tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải được sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi, đảm bảo vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển Đó

là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng phạm vi sản xuất, thâm nhập vào thị trường tiềm năng từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường

Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng vốn tiết kiệm có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

1.1.2.Các loại vốn trong doanh nghiệp

1.1.2.1 Phân loại vốn theo nguồn gốc

a Vốn chủ sở hữu

Là vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư tự góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ

Tuỳ loại hình doanh nghiệp mà một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn:

- Đối với doanh nghiệp nhà nước nguồn vốn hoạt động do Nhà nươc cấp hoặc đầu tư lên Nhà nước là chủ sở hữu vốn

- Đối với các doanh nghiệp liên doanh, liên kết chủ sở hữu vốn là các thành viên tham ga góp vốn hoặc các cá nhân tham gia hùn vốn

- Đối với các công ty cổ phần thì chủ sở hữu vốn là các cổ đông

Trang 8

- Đối với các doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu vốn là các cá nhân hoặc một hộ gia đình.

Vốn chủ sở hữu bao gồm

- Vốn góp do các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng để thành lập hoặc

mở rộng kinh doanh và được sử dụng vào mục đích kinh doanh Số vốn này có thể được bổ sung, tăng thêm hoặc rút bớt trong quá trình kinh doanh

- Lợi nhuận chưa phân phối (lãi lưu giữ): đây là kết quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh Số lợi nhuận này trong khi chưa phân phối được sử dụng cho kinh doanh và coi như một nguồn vốn chủ sở hữu

- Vốn chủ sở hữu khác: là số vốn chủ sở hữu có nguồn gốc từ lợi nhuận để lại ( các quỹ doanh nghiệp, các khoản dự trữ theo điều lệ,

dự trữ theo luật định…) hoặc các loại vốn khác (xây dựng cơ bản, chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái, nguồn kinh phí…)

b Vốn nợ

Vốn nợ là khoản vốn đầu tư ngoài vốn chủ sở hữu được hình thành

từ nguồn vốn đi vay, đi chiếm dụng của các cá nhân, đơn vị tổ chức trong và ngoài nước và sau một thời gian nhất định,doanh nghiệp phải trả cho người cho vay cả gốc lẫn lãi.Phần vốn này,doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định(Như thời hạn sử dụng,lãi suất,thế chấp, )nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn nợ luôn được ưu tiên chi trả trước vốn chủ sở hưũ trong bất cứ hoàn cảnh nào đặc

Trang 9

biệt doanh nghiệp khó khăn về tài chính Doanh nghiệp càng sử dụng vốn vay càng nhiều thì độ rủi ro càng cao nhưng để phục vụ sản xuất kinh doanh thì đây là nguồn vốn rất lớn tùy thuộc vào khả năng thế chấp, tình hình sản xuất kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp.

Vốn nợ của doanh nghiệp gồm hai loại:

Nợ ngắn hạn: là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòng một chu kì hoạt động kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm Các khoản nợ này được trang trải bằng tài sản lưu động hoặc bằng các khoản nợ ngắn hạn phát sinh Nợ ngắn hạn bao gồm: vay ngắn hạn, thương phiếu phải trả, tiền phải trả cho người bán, người nhận thầu, thuế

và các khoản phải nộp ngân sách, lương, phụ cấp phải trả cho công nhân viên, các khoản nhận kí quỹ, kí cược ngắn hạn và các khoản phải trả ngắn hạn khác

Nợ dài hạn: là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên một năm, bao gồm: Vay dài hạn cho đầu tư phá triển, nợ thế chấp phải trả, thương

phiếu dài hạn, trái phiếu phải trả, các khoản nhận kí cược, kí quỹ dài hạn, các khoản phải trả dài hạn khác

Thông thường, một doanh nghiệp đều nên phối hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo nhu cầu vốn của doanh nghiệp cũng như bảo đảm

nguyên tắc phân tán rủi ro trong đầu tư Kết cấu hợp lý của hai nguồn vốn này tuỳ thuộc đặc điểm ngành doanh nghiệp đang hoạt động, quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp và tình hình chung của nền kinh tế đất nước

1.1.2.2 Phân loại vốn theo đặc điểm luân chuyển vốn

a Vốn cố định

Trang 10

VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư, ứng trước về TSCĐ, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.

Quy mô của VCĐ quyết định quy mô của TSCĐ nhưng các đặc điểm của TSCĐ lại ảnh hưởng tới sự vận động và công tác quản trị VCĐ Vì vậy, muốn quản trị VCĐ hiệu quả thì phải quản trị , sử dụng hiệu quả TSCĐ Từ mối quan hệ này, ta có thể khái quát những nét đặc thù của VCĐ như sau:

-VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh do TSCĐ có thể phát huy trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên VCĐ-hình thái biểu hiện của nó cũng được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh tương ứng

-VCĐ được luân chuyển dần từng phần khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần và kéo theo giá trị tài sản đó cũng bị giảm đi Theo đó, VCĐ cũng được tách làm hai phần:

+Một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức khấu hao TSCĐ Tức là trong quá trình sử dụng và bảo quản, TSCĐ

bị hao mòn Bộ phận giá trị của TSCĐ tương ứng với mức hao mòn mà

nó được chuyển dịch dần dần vào giá trị sản phẩm, gọi là khấu hao TSCĐ

+ Phần còn lại của VCĐ được “cố định” trong TSCĐ Việc quản trị VCĐ và TSCĐ trên thực tế là một công việc rất phức tạp Để giảm nhẹ khối lượng quản trị, về kế toán tài chính người ta có những quy định thống nhất về tiêu chuẩn giới hạn về giá trị và thời gian sử dụng một TSCĐ Hiện nay, ở nước ta một tư liệu lao động là TSCĐ phải đồng thời

Trang 11

thoả mãn hai điều kiện: Giá trị tối thiểu từ 10 triệu đồng Việt nam và thời hạn sử dụng ít nhất là 1 năm.

Để quản trị VCĐ hiệu quả, cần nghiên cứu kết cấu và phân loại VCĐ

* Cơ cấu của vốn cố định

Là tỷ trọng của từng loại VCĐ so với tổng toàn bộ VCĐ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ lệ trong cơ cấu vốn là một chỉ tiêu động mang tính biện chứng và phụ thuộc nhiều nhân tố như: khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư, phương hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh, trình độ trang

bị kỹ thuật, quy mô sản xuất Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn Khi nghiên cứu vốn cố định phải nghiên cứu trên hai góc độ là: nội dung kế hoạch và quan hệ mỗi bộ phận so với toàn bộ Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được một cơ cấu hợp lý phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp và với trình độ phát triển khoa học-kỹ thuật

* Phân loại vốn cố định

Có nhiều cách phân loại TSCĐ:

+ Căn cứ và hình thái bíểu hiện

Trang 12

- TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh

- TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh

+ Căn cứ theo quyền sở hữu

- TSCĐ doanh nghiệp tự có

- TSCĐ doanh nghiệp thuê ngoài

- TSCĐ doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho đơn vị khác

b Vốn lưu động:

VLĐ của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ và vốn lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp tiến hành thường xuyên, liên tục

Khác với VCĐ, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất Trong quá trình sản xuất kinh doanh VLĐ được luân chuyển không ngừng qua ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và tiêu thụ VLĐ chu chuyển nhanh hơn VCĐ Trong mỗi giai đoạn đó VLĐ được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là hình thái hiện vật hay hình thái giá trị

Có thể thấy rằng VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp nhiểu khó khăn và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hay gián đoạn Để quản trị VLĐ tốt, cần nghiên cứu kết cấu và phân loại VLĐ

* Cơ cấu vốn lưu động

Là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm trong tổng số VLĐ ở những doanh nghiệp khác nhau, kết cấu vốn lưu động không giống nhau Xác định được cơ cấu VLĐ hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm và

có hiệu quả VLĐ

Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VLĐ thì cần thiết phảI tiến hành phân loại vốn khác nhau

Trang 13

+ Căn cứ vào phương pháp xác định vốn người ta chia vốn thành:

- VLĐ định mưc: là số VLĐ cần thiết tối thiểu thường xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: vốn dự trữ, vốn trong sản xuất và thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến

- VLĐ không định mức: là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính định mức được

+ Căn cứ và nguồn hình thành:

- VLĐ tự có: là số vốn doanh nghiệp được Nhà nước cấp, VLĐ từ

bổ sung lợi nhuận, các khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn

- VLĐ đi vay: đây là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể

sử dụng để đáp ứng nhu cầu về VLĐ thường xuyên cần thiết trong kinh doanh Có thể vay vốn ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoặc

có thể vay vốn của các đơn vị, tổ chức và các cá nhân khác trong

và ngoài nước

Mỗi doanh nghiệp cần xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý

Trang 14

Sự khác nhau cơ bản giữa VCĐ và VLĐ là : nếu như VCĐ tham gia vào quá trình sản xuất như tư liệu lao động thì VLĐ là đối tượng lao động Nếu như VLĐ tạo ra thực thể của sản phẩm hàng hoá thì VCĐ là phương thức để dịch chuyển VLĐ thành sản phẩm hàng hoá Mặt khác nếu như VLĐ được kết chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm hàng hoá và thu hồi được ngay sau khi doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá còn VCĐ tham gia nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh và kết chuyển và giá trị sản phẩm hàng hoá dưới hình thức khấu hao.

1.2.Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.2.1.Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn

Mặc dù có rất nhiều các quan điểm khác nhau về vấn đề hiệu quả song có thể khẳng định trong nền kinh tế thị trường hiệu quả là công cụ để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận

Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rất rộng rãi trong cả lĩnh vực kinh tế xã hội và kỹ thuật Song ở đây chúng ta chỉ xem xét hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh ( hiệu quả kinh doanh ) Hiệu quả kinh doanh

là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực(lao động, thíêt bị, máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định

có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào Vì vậy có thể mô tả bằng công thức:

+ Hiệu quả kinh doanh: H = K/C

Trong đó : K:Là kết quả đạt được

C:hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả

Trang 15

Như vậy, hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào qui mô, tốc độ biến động của từng nhân tố.

Hiệu quả kinh doanh cũng là một phạm trù phức tạp, và khó xác định tính toán bởi cả phạm trù kết qủa và hao phí nguồn lực gắn với một thời kỳ

cụ thể đều khó xác định một cách chính xác

Từ các vấn đề trên suy ra hiệu quả sử dụng vốn là một bộ phận của hiệu quả kinh doanh, nó phản ánh trình độ lợi dụng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm mục tiêu xác định Hiệu quả sử dụng vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả thu được với số vốn bình quân đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất đinh

Và hai loại chỉ tiêu trên được xem xét với yếu tố đầu vào là vốn cố định và vốn lưu động

* Bản chất hiệu quả sử dụng vốn

Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng, cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù kết quả và hiệu quả sử dụng vốn

Kết quả sử dụng vốn bao giờ cũng là mục tiêu mà doanh nghiệp hướng tới, có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật cụ thể như m, lít, kg hay đơn vị giá trị như triệu đồng, ngoại tệ Kết quả sử dụng vốn cũng có thể phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn định tính của doanh nghiệp như uy tín, danh tiếng, chất lượng sản phẩm Nhưng không chỉ có kết quả định tính mà kết quả định lượng của một thời kỳ kinh

Trang 16

doanh nào đó thường là rất khó xác định bởi nhiều lý do như kết quả không chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh mà còn là sản phẩm dở dang, bán thành phẩm , Hơn nữa, hầu như quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lại tách rời quá trình tiêu thụ nên ngay cả sản phẩm sản xuất xong ở một thời kỳ nào đó cũng chưa thể khẳng định được liệu sản phẩm đó có tiêu thụ được không và bao giờ thì tiêu thụ và thu được tiền về nên nó cũng lại tách rời quá trình tiêu thụ.

Trong khi đó, hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực vốn Trình độ lợi dụng nguồn lực vốn không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối, chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực vốn tạo

ra kết quả đó Cũng cần tránh nhầm lẫn giữa phạm trù hiệu quả với phạm trù

mô tả sự chênh lệch giữa kết quả và vốn Chênh lệch giữa kết quả và vốn luôn là số tuyệt đối, phạm trù này phản ánh mức độ đạt được của vốn nên cũng mang bản chất kết quả của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh và không bao giờ phản ánh trình độ lợi dụng nguồn lực vốn Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả sử dụng vốn là phương tiện để doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu đó

Mặt khác, hao phí nguồn lực vốn của một thời kỳ trước hết là hao phí

về mặt hiện vật, cũng có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật hay đơn vị giá trị Tuy nhiên, thông thường người ta hay xác định bằng đơn vị giá trị vì

nó mang tính so sánh cao hơn Việc xác định hao phí nguồn lực trong một thời kỳ là một vấn đề không đơn giản, không đơn giản ngay ở sự nhận thức

về vấn đề này: Hao phí nguồn lức vốn này được đánh gía thông qua phạm trù chi phí kế toán hay chi phí sản xuất kinh doanh? Chỉ có phạm trù chi phí sản xuất kinh doanh mới phản ánh tương đối đầy đủ chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra Nhưng việc có tính toán được chi phí kinh doanh

Trang 17

trong từng thời kỳ kinh doanh ngắn hay không cũng như có tính toán được chi phí kinh doanh tới từng bộ phận hay không còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học quản trị chi phí kinh doanh.

Cũng cần chú ý rằng hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ lợi dụng nguồn lực vốn trong một thời kỳ kinh doanh nào đó cũng hoàn toàn khác với việc so sánh sự tăng lên của kết quả với sự tăng lên của sự tham gia các yếu

tố đầu vào

Vậy, bản chất của pham trù kết quả và hiệu quả sử dụng vốn là hoàn toàn khác nhau Kết quả là mục tiêu còn hiệu quả sử dụng vốn là phương tiện để doanh nghiệp đạt mục tiêu đó trong một thời kỳ nhất đinh

*Mục đích phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhằm mục đích thông tin giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn, kịp thời

- Xác lập được một cơ cấu vốn hợp lý

- Giúp cho các nhà quản trị đánh giá được tình hình thực tế về vấn

đề sử dụng vốn

- Từ đó tìm ra những mặt yếu kém, chưa có hiệu quả cụ thể đến từng

bộ phận và xem xét, phát hiện ra những nguyên nhân để tìm ra những biện pháp khắc phục

Tuy nhiên để phân tích hiệu quả sử dụng vốn là đúng, xác thực và phát huy được những mục đích trên thì cần quán triệt một số nhiệm vụ sau:

+Thông tin thu thập để phân tích được lấy từ cả hai nguồn; từ bên trong như các báo cáo tài chính, báo cáo thực hiện kế hoạch, tài liệu về định mức của doanh nghiệp và nguồn thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp như

Trang 18

báo cáo về tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp khác đặc biệt cùng ngành, tài liệu thống kê các vấn đề có liên quan của ngành.

+Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thích hợp

+Sử dụng các phương pháp đánh giá kết hợp với các chỉ tiêu đã xây dựng

+Lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thích hợp

+Cung cấp thông tin đánh giá đến cán bộ quản trị doanh nghiệp

1.2.2.Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng vốn

1.2.2.1.Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng tổng vốn

* Hệ số doanh lợi của tổng vốn = (lợi nhuận thuần + lãI trả vốn vay)/tổng tài sản

+ Ý nghĩa:hệ số doanh lợi của vốn cho biết cứ đầu tư một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận( gồm cả lãi trả vốn vay) Chỉ tiêu này càng cao thì có thể khẳng định hiệu quả sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp càng cao Nhưng nếu lãi trả vốn vay là quá lớn thì cũng cần xem xét lại bởi thực chất, lãi trả vốn vay cũng là chi phí kinh doanh

* Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh = doanh thu/tổng tài sản

+ Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết, tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng trong kỳ sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn càng quay được nhiều vòng trong kỳ

và hiệu quả sử dụng vốn càng cao

1.2.2.2.Các chỉ thiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng vốn cố định

Các chỉ tiể đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ thường sử dụng là:

Trang 19

Sức sản xuất của VCĐ = Doanh thu thuần/ VCĐ bình quân + Ý nghĩa: Sức sản xuất của VCĐ cho biết cứ một đồng VCĐ đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ sức sản xuất của VCĐ càng cao và hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao.

h Hệ số đảm nhiệm của VCĐ =VCĐ bình quân /Doanh thu thuần + Ý nghĩa: Hệ số đảm nhiệm cho biết để tạo được một đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng VCĐ để đầu

tư vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết kiệm được VCĐ và hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao

n Hiệu suất sử dụng VCĐ = Lợi nhuận thuần/VCĐ bình quân + Ý nghĩa: Hiệu suất sử dụng VCĐ cho biết cứ đầu tư một đồng VCĐ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao

t Suất hao phí của VCĐ =VCĐ bình quân/ lợi nhuận thuần

+ Ý nghĩa: Suất hao phí cho biết để tạo được một đồng lợi nhuận thuần thì doanh nghiệp phảI bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết kiệm được VCĐ nên hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao

1.2.2.3.Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Các chỉ tiêu đánh gía hiệu sử dụng VLĐ thường được sử dụng là:

C Số vòng quay của VLĐ =doanh thu thuần/VLĐ bình quân

+ Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết VLĐ của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng trong kỳ sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng

Trang 20

cao, chứng tỏ VLĐ trong kỳ càng quay vòng nhanh nên hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao.

V Mức đảm nhiệm của VLĐ =VLĐ bình quân/ doanh thu thuần.+ Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết để tạo được một đồng doanh thu thuần doanh nghiệp phảI bỏ ra bao nhiêu đồng VLĐ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết kiệm được VLĐ, do đó hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao

t Số ngày bình quân của một vòng luân chuyển VLĐ =365/số vòng quay của VLĐ

+ Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để VLĐ quay được một vòng quay Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ VLĐ càng quay vòng nhanh và hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao

v Hiệu suất sử dụng VLĐ = lợi nhuận thuần/ VLĐ bình quân + Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ đầu tư một đồng VLĐ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao

1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của

doanh nghiệp

1.3.1.Các nhân tố chủ quan

- Chu kỳ sản xuất và kỹ thuật sản xuất:

Đây là một đặc điểm quan trọng gắn trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu chu kỳ ngắn doanh nghiệp sẽ thu hồi

Trang 21

vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại nếu chu

kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay tăng thêm

Các đặc điểm riêng có về kỹ thuật tác động liên tục tới một số chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định như hệ số đổi mới, máy móc thiết bị, hệ số sử dụng về thời gian về công suất

Nếu kỹ thuật sản xuất đơn giản doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy móc thiết bị nhưng lại phải luôn đối hó với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu của khách hàng ngày càng cao về sản phẩm

Do vậy doanh nghiệp dễ tăng doanh thu, lợi nhuận trên vốn cố định nhưng khó giữ được lâu dài Nếu kỹ thuật sản xuất phức tạp, trình

độ trang bị máy móc thiết bị cao, doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh song đòi hỏi công nhân có tay nghề, chất lượng nguyên vật liệu cao sẽ làm giảm lợi nhuận trên vốn cố định

- Đặc điểm của sản phẩm:

Sản phẩm của doanh nghiệp là nơi chứa đựng chi phí và việc tiêu thụ sản phẩm mang lại doanh thu cho doanh nghiệp, qua đó quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dùng, nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹ như rượu, bia thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh và qua

đó giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Hơn nữa máy móc thiết bị dùng

Trang 22

để sản xuất ra những sản phẩm này có giá tị không quá lớn, do vậy doanh nghiệp có điều kiện đổi mới Ngược lại nếu sản phẩm có vòng đời dài, có giá trị lớn như ô tô- xe máy… việc thu hồi vốn sẽ mau hơn.

- Trình độ tổ chức kinh doanh:

Đây cũng là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Quá trình sản xuất của doanh nghiệp phải trải qua

ba giai đoạn là cung ứng, sản xuất và tiêu thụ

Cung ứng là quá trình chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, lao động nó bao gồm hoạt động mua và dự trữ Một doanh nghiệp tổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh tức là doanh nghiệp đó đã xác định được lượng lao động cần thiết và doanh nghiệp đã biết kết họp tối ưu các yếu tố đó Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả kinh doanh thì chất lượng hàng hoá đầu vào phải đảm bảo, chi phí mua hàng giảm đến mức tối ưu Còn mục tiêu của dự trữ là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, không bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh nên để đồng vốn có hiệu quả thì phải xác định mức dự trữ hợp lý để tránh trường hợp dự trữ quá nhiều dẫn đến ứ đọng vốn và tăng chi phí bảo quản

Khâu sản xuất (đối với các doanh nghiệp thương mại không có khâu này) Trong giai đoạn này phải xắp xếp dây chuyền sản xuất cũng như công nhân sao cho sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả nhất khai

Trang 23

thác tối đa công suất, thời gian làm việc của máy đảm bảo kế hoạch sản xuất sản phẩm.

Tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp phải xác định giá bán tối ưu đồng thời phải có những biện pháp thích ứng để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng Khâu này quyết định đến doanh thu, là cơ sở để doanh nghiệp tái sản xuất

- Trình độ sản xuất:

Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo

Vai trò của người lãnh đạo trong quá trình sản xuất kinh doanh

là rất quan trọng Sự điều hành quản lý và sử dụng vốn hiệu quả thể hiện

ở sự kết hợp một cách tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết đồng thời nắm bắt các cơ hội kinh doanh, đem lại cho doanh nghiệp

sự tăng trưởng và phát triển

Trình độ tay nghề của công nhân lao động

Nếu công nhân sản xuất có tay nghề cao phù hợp với trình độ công nghệ của dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc thiết bị sẽ tốt hơn, khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Trang 24

Để sử dụng tiềm năng lao động có hiệu quả nhất, doanh nghiệp phải có một cơ chế khuyến khích vật chất cũng như trách nhiệm một cách công bằng sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn và ngược lại

-Trình độ quản lí:

Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Công cụ chủ yếu để theo dõi quản lý sử dụng vốn là hệ thống kế toán - tài chính Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa ra các số liệu chính xác giúp cho lãnh đạo nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp nói chung, cũng như việc sử dụng vốn nói riêng, trên cơ sở đó ra quyết định đúng đắn Mặt khác, đặc điểm hạch toán kế toán nội bộ doanh nghiệp luôn gắn với tính chất tổ chức sản xuất của doanh nghiệp nên cũng tác động đến quản lý vốn Vì vậy, thông qua công tác kế toán

mà thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp sớm tìm ra những điểm tồn tại để có biện pháp xử lý giải quyết

Trang 25

doanh thu, quản lý sử dụng máy móc thiết bị và tác động tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Môi trường sản xuất:

Môi trường tự nhiên: có tác động không nhỏ đến công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các điều kiện về khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, sự ổn định cuả thời tiết, thiên tai lũ lụt ảnh hưởng trực tiếp đến công việc sản xuất sản phẩm, bảo quản sản phẩm, bảo trì thiết bị máy móc phục vụ quá trình sản xuất Yếu tố mùa vụ cũng tác động lớn đến kế hoạch sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp

Môi trường xã hội: các phong tục tập quán ảnh hưởng đến cả quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Thói quen tiêu dùng của các tầng lớp xã hội cũng tác động đến công việc sản xuất của doanh nghiệp

- Chính sách phát triển kinh tế của nhà nước:

Các chính sách phát triển kinh tế và của chính phủ có tác động lớn đến công việc sản xuất kinh doanh của công ty Sự ổn định của đường lối phát triển tạo lên sự ổn định và yên tâm cho việc kinh doanh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Hành lang pháp lý và chính sách thúê của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp đến vịêc sản xuất kinh doanh và kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp

-Tiến bộ khoa học kĩ thuật:

Tiến bộ của khoa học kỹ thuật có tác động rất lớn đến chất lượng của sản phẩm nhưng cũng gây sức ép cho doanh nghiệp trong việc đổi mới trang thiết bị máy móc trang thiết bị sản xuất

Trang 26

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY THƯƠNG MẠI VẬN TẢI TRƯỜNG GIANG 2.1.Khái quát về công ty thương mại vận tải trường giang

ạ Lịch sử hình thành

Với việc phát triển một nền kinh tế thị trường mở cửa, tốc độ phát triển kinh tế luôn đạt ở mức cao và thành phần kinh tế đa dạng đã làm cho nước ta dần thoát khỏi một nước nghèo và vững chắc từng bước tiến lên và trở thành một nền kinh tế quan trọng trong khu vực cũng như trên thế giới

Hoà cùng vào sự phát triển mạnh mẽ đó thì Giao thông Vận tải đóng một vai trò cực kì quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước, nó được ví như là mạch máu trong việc luân chuyển hàng hoá và dịch vụ Không có Giao thông Vận tải thì không thể có một nền kinh tế phát triển được

Trang 27

Với vai trò quan trọng của giao thông như vậy và được sự cho phép của Bộ Giao thông Vận tải năm 2002 công ty Thương mại và Vận tải Trường Giang được thành lập nhằm phục vụ cho công việc vận tải là chủ yếu và sau này còn mở rộng kinh doanh một số ngành nghề khác, tạo lên sự đa dạng chung của nền kinh tế và giả quyết việc làm cho nhiều công nhân với thu nhập ổn định.

Trụ sở côn ty được đặt tại thị trấn Minh Tân- Kinh Môn- Hải Dương

b Quá trình phát triển

Năm 2002 Công ty Thương mại và Vận tải Trường Giang được thành lập với số vốn ban đầu là 32 tỷ đồng và chủ yếu là hoạt động trong lĩnh vực vận tải đường Biển Trải qua thời gian hoạt động tính đến nay chưa đầy 6 năm nhưng công ty đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong cả phương thức hoạt động kinh doanh cũng như là quy mô của công ty đã phát triển mạnh mẽ

Với số vốn ban đầu 32 tỷ đồng thì đối với một công ty vận tải bình thường thì có thể coi là lớn nhưng với một công ty vận tải đường Biển thì số vốn đó chỉ là quá nhỏ bé, công ty chỉ có thể tập trung vào việc đóng tàu chở hàng còn trụ sở công ty hay bến bãi đều phải đi thuê

Ban đầu khi mới thành lập, công ty tập trung khai thác việc chở Than xuất khẩu sang Trung Quốc, với đội hình vận tải gồm 2 tàu có trọng tải 1200 tấn, 1 tàu có trọng tải 1500 tấn và 1 tàu có trọng tải 3000 tấn

Trang 28

Với việc kí được hợp đồng với các đối tác Trung Quốc cung cấp Than trong 5 năm lên trong giai đoạn này công ty phát triển rất ổn định Đây là giai đoạn nghành Than làm ăn thua lỗ, Than sản xuất ra mà không bán được lên nguồn Than công ty nhập vào rất dễ dàng hàng tháng trung bình 1 tàu có thể xuất được 3 chuyến hàng sang Trung Quốc.

Đến năm 2004 công ty quyết định thành lập thêm một đội vận tải trên đường bộ với việc mua về 14 xe vận tải có trọng tải 15 tấn phục

vụ cho việc chuyên chở hàng hoá trên bộ và cụ thể ở đây là chở thuê cho các công ty Than từ nơi khai thác ra các cảng Sông và cảng Biển và chuyên chở xi măng từ nhà máy xi măng Hoàng Thạch đến các đại lý trong các tỉnh lân cận

Năm 2005, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước thì ngành Giao thông Vận tải đóng vai trò cực kì quan trọng Nhận thấy vai trò cấp bách của giao thông trong việc phát triển nền kinh tế, với số vốn của công ty cùng với vốn vay dự án từ các Ngân hàng công ty đã đóng thêm hai tàu có trọng tải mỗi tàu là 8000 tấn để phục vụ việc vận chuyển hàng hoá tứ cảng Hải Phòng vào cảng Sài Gòn rồi sau đó lại trở hàng hoá

từ cảng Sài Gòn ra ngoài Bắc Đây đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của công ty, trước đây việc vận tải đường biển sang Trung Quốc thì chỉ khi đi có hàng còn khi về thì tàu chạy không rất lãng phí Bây giờ thì cả

đi và về phương tiện vận chuyển của công ty đều thực hiện việc chuyên chở hàng hoá

Tháng 6 năm 2007, cùng với sự phát triển đa dạng của nền kinh

tế, công ty quyết định mở thêm lĩnh vực kinh doanh, qua đó công ty đã xây dựng thêm một nhà máy chuyên sản xuất bao bì phục vụ cho việc đóng gói xi măng của nhà máy xi măng Hoàng Thạch và bán cho các đậi

Trang 29

lý có nhu cầu sử dụng bao bì ở địa phương Cũng trong thời điểm này tức

là hết thời gian hợp đồng 5 năm cung cấp Than cho các bạn hàng Trung Quốc, trong thời gian chờ đợi đàm phán kí kết hợp đồng cung cấp mới các tàu của công ty cũng được đưa về vận tải hàng hoá cho các cảng Sông và cảng Biển trong nước

Từ giữa năm 2007 cùng với các hợp đồng mới trong việc vận chuyển Than sang Trung Quốc với thời hạn 5 năm đã tạo điều kiện cho công ty có được sự ổn định trong hoạt động kinh doanh từ đó đưa ra những phương hướng hoạt động mới trong sự phát triển chung của nền kinh tế cả nước Dự tính trong năm 2008 công ty sẽ mở thêm một nhà máy cơ khí tại Sao Đỏ- Hai Dương, tạo thêm công ăn việc làm cho nhiều công nhân

Từ chỗ kinh là một công ty vận tải đơn thuần qua các giai đoạn phát triển hợp lí công ty đã trở thãnh một công ty thương mại thực thụ với đa dạng ngành nghề kinh doanh Điều đó cũng phù hợp với tình trạng phát triển chung của đất nước

c Hình thức kinh doanh

Như đã trình bày khái quát trong phần các giai đoạn phát triển của công ty thì hình thức kinh doanh chính của công ty là vận tải đường biển và đường bộ, trong đó vận chuyển hàng hoá với hợp đồng kí kết trong thời gian dài đóng vai trò quan trọng, nó tạo ra tính ổn định trong hoạt động kinh doanh của công ty Từ đó tạo tiền

đề cho sự phát triển đa dạng sang các ngành nghề chế biến, chế tạo sản xuất sau này của công ty

Ngày đăng: 18/12/2012, 09:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình hình tài chính của công ty qua các năm - Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình
Bảng 2 Tình hình tài chính của công ty qua các năm (Trang 37)
Bảng 1: Kết quả sản xuất kinh doanh trong 2 năm 2006-2007 - Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình
Bảng 1 Kết quả sản xuất kinh doanh trong 2 năm 2006-2007 (Trang 37)
Bảng 3. Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty thương mại vận tải Trường Giang - Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình
Bảng 3. Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty thương mại vận tải Trường Giang (Trang 39)
Bảng 6. Hiệu quả sử dụng vốn cố định - Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình
Bảng 6. Hiệu quả sử dụng vốn cố định (Trang 41)
Bảng 5: Cơ cấu Tài sản lưu động của công ty - Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình
Bảng 5 Cơ cấu Tài sản lưu động của công ty (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w