Cơ sở của nguyên tắc “ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” và vấn đề chống chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa giáo điều trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam a mở đầu Thống nhất giữa lý[.]
Trang 1Cơ sở của nguyên tắc “ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” và vấn đề chống chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa giáo điều trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam.
a- mở đầu
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Đó là một nội dung có vị trí đặc biệt quan trọng trong học thuyết Mác Bởi vì, khắc phục những hạn chế trong học thuyết nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình, triết học Mác đã đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, phân tích làm rõ vai trò của thực tiễn đối với hoạt động nhận thức và mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức, cải tạo thế giới của con người Chính từ đó đã tạo nên bước chuyển biến cách mạng triệt để nhất trong lịch sử triết học nhân loại, đặt nền móng cơ sở khoa học cho nguyên tắc “ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” định hướng cho việc nhận thức những vấn
đề lịch sử xã hội Và là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt thực tiễn cách mạng của các chính Đảng vô sản Nhấn mạnh điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây đã từng chỉ rõ :“ Thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Với
ý nghĩa đó, tôi chon đề tài:Cơ sở của nguyên tắc “ Thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn” và vấn đề chống chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ
Trang 2nghĩa giáo điều trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam làm tiểu luận môn Triết học Mác - Lênin
Để nhận thức và vận dụng đúng quan điểm trên, trước hết chúng ta cần nhận thức cơ sở lý luận khoa học triết học mác xít của nó
b – nội dung 1- Nhận thức về cơ sở của nguyên tắc “ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn”
Chúng ta biết rằng, thực chất phát triển của triết học nhân loại là quá trình đấu tranh của hai trào lưu triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm nhằm giải quyết vấn đề cơ bản Khi giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản, Triết học Mác – Lênin đã đưa phạm trù thực tiễn vào học thuyết nhận thức luận, phân tích làm rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn tạo nên bước chuyển biến cách mạng triệt để nhất trong lịch sử triết học nhân loại Từ đó đặt nền móng khoa học định hướng cho việc nhận thức những vấn đề lịch sử xã hội, là nguyên tắc chỉ đạo thực tiễn cách mạng của chính Đảng vô sản nói chung và Đảng cộng sản Việt nam nói riêng
Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn là những hoạt động vật chất, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Từ khái niệm về thực tiễn như đã nêu cho thấy, thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích của con ngưòi; là hoạt động đặc thù của xã hội Nên thực tiễn gắn liền với sự phát triển của xã hội
Trang 3Là hoạt động vật chất có mục đích của con người, nên thực tiễn trước hết là những hoạt động vật chất cảm tính của con người -bằng sức mạnh vật chất để con người cải tạo, biến đổi các đối tượng nhằm thoả mãn nhu cầu của mình Do vậy, thực tiễn luôn vận động, biến đổi theo sự vận động của lịch sử
Thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội, vì đây là hoạt động của con người không tách rời điều kiện môi trường xã hội Đó là hoạt động của vô vàn cá nhân gắn với các điều kiện môi trường xã hội
cụ thể, những nấc thang phát triển của lịch sử
Thực tiễn được biểu hiện bởi nhiều hình thức sinh động Khái quát thực tiễn được biểu hiện trên ba hình thức cơ bản nhất, đó là: Lao động sản xuất vật chất; đấu tranh chính trị xã hội và nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ Trong đó lao động sản xuất vật chất là cơ bản và quyết định Nói cách khác, hoạt động của đông đảo quần chúng là nhân tố cơ bản nhất biểu hiện sự phát triển của thực tiễn
Lý luận là hệ thống tri thức từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất ,tất nhiên; những mối liên hệ mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng khách quan Như vậy, lý luận thực chất là
hệ thống tri thức được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, dựa trên hoạt động của các nhà lý luận Do đó lý luận luôn được bổ sung, phát triển bởi những kinh nghiệm mới của thực tiễn
Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn và lý luận có mối liên hệ với nhau, luôn chuyển hoá lẫn nhau Trong quan hệ và tác động đó, thực tiễn đóng vai trò quyết định, là cơ sở hình thành tri thức lý
Trang 4luận, động lực thức đẩy nhận thức – lý luận phát triển; là mục đích
và là cơ sở để kiểm tra tính chân lý của nhận thức
Đúng vậy, bản chất nhận thức về thực chất là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là quá trình hình thành hệ thống tri thức từ hoạt động thực tiễn của con người, từ đó khái quát nên các quan điểm lý luận Như vậy, lý luận là hệ thống tri thức biểu hiện bởi những khái niệm, phạm trù, nguyên lý được
hệ thống hoá từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động vốn có diễn ra trong thế giới
Khẳng định thực tiễn là cơ sở của lý luận, triết học Mác đã chỉ
rõ, từ hoạt động thực tiễn, con người tác động vào các quá trình của thế giới làm cho các sự vật, quá trình vật chất khách quan bộc
lộ những thuộc tính bản chất bên trong, từ đó con người khái quát thành lý luận, tìm ra các quy luật vận động của chúng Hay, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người xác lập nên những tri thức
về các quy luật vận động của đối tượng được cải tạo, do đó thực tiễn luôn là cơ sở chủ yếu, trực tiếp và là động lực của nhận thưc lý luận
Đúng vậy, con người để bảo đảm sự sinh tồn đã tiến hành cải tạo, chinh phục thế giới Do đó con người đã sáng tạo ra các công
cụ, phương tiện tác động và cải tạo các đối tượng vật chất bắt chúng bộc lộ ra những thuộc tính bản chất, những thuộc tính bên trong, các quy luật vận động tất yếu, nhờ đó con người nhận thức Bằng các thao tác của tư duy, con người khái quát các tri thức kinh nghiệm thực tiễn thành hệ thống lý luận Và tương ứng với những
Trang 5thực tiễn mới lại đặt ra nhiệm vụ cho nhận thức và thúc đẩy nhận thức con người nâng lên Nên thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức lý luận
Không chỉ là cơ sở chủ yếu, trực tiếp, là động lực của nhận thưc lý luận, thực tiễn còn là mục đích của nhận thức lý luận, là căn
cứ về tính chân lý của lý luận Bởi vì, nhận thức không có mục đích
tự thân mà xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, như Ph Ăng ghen đã chỉ rõ, "Cũng như tất cả các khoa học khác, toán học sinh ra từ nhu cầu thực tiễn của con người, từ sự đo đạc diện tích và sự đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và chế tạo cơ khí " Điều đó chứng tỏ, mọi tri thức lý luận có nguồn gốc từ nhu cầu thực tiễn Lý luận luôn lấy hoạt động thực tiễn, nâng cao tính hiệu quả trong cải tạo thế giới của con người làm mục đích Tri thức
lý luận được xác định là đúng đắn, khoa học chỉ khi nó phù hợp với bản chất, quy luật vận động của đối tượng, đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra Con người vận dụng lý luận vào thực tiễn cải tạo thế giới qua đó kiểm định tính đúng - sai của lý luận; kiểm định giá trị chân lý của những tri thức lý luận của mình
Thực tiễn là căn cứ kiểm định giá trị chân lí cuả lý luận nhưng không phải là căn cứ duy nhất, vì con người còn kiểm định giá trị chân lý của lý luận bằng phương thức tư duy lôgíc, nhưng nó luôn
là cơ sở khách quan của lý luận Vì vậy việc đánh giá lý luận phải bám sát sự phát triển của thực tiễn
Thực tiễn là cơ sở của lý luận, đòi hỏi khi thực tiễn đã thay đổi, những lý luận phản ánh thực tiễn trở thành lạc hậu, cần phải được khái quát kinh nghiệm thực tiễn mới để bổ sung và phát triễn Vì
Trang 6thực tiễn luôn bị quy định trong những không gian và điều kiện cụ thể, việc vận dụng lý luận định hướng cho thực tiễn phải dựa trên điều kiện vốn có của thực tiễn, tránh rập khuôn máy móc, tránh giáo điều Như điều Bác Hồ đã từng chỉ ra, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông
Lý luận là sản phẩm hoạt động nhận thức, là sự khái quát kinh nghiệm của thực tiễn, nhưng khi ra đời lý luận có vai trò to lớn đối với hoạt động thực tiễn Vì, có tri thức lý luận đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính quy luật tất yếu quá trình vận động của các quá trình vật chất Do vậy, lý luận khoa học đóng vai trò soi đường, dẫn dắt thực tiễn; vạch ra phương hướng, phương pháp cho hoạt động thực tiễn Hơn thế, lý luận khoa học khi được xâm nhập vào quần chúng, trở thành lực lượng vật chất vĩ đại, làm cho con người hoạt động mang tính tự giác Do có tri thức về đối tượng đã tạo lập tình cảm, niềm tin về sức mạnh cải tạo thực tiễn củaốch con người, nhằm giảm bớt những tự phát Như Bác Hồ đã chỉ rõ, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng
Quan điểm coi thực tiễn là cơ sở của nhận thức lý luận; lý luận
là kim chỉ nam soi đường cho thực tiễn trở thành nguyên tắc về sự thống thất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của chủ nghĩa Mác, vi phạm nguyên tắc đó sẽ sa vào bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
2 – Vận dụng nguyên tắc về sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn gắn với vấn đề chống chủ nghĩa kinh nghiệm,
Trang 7chủ nghĩa giáo điều trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bệnh kinh nghiệnm là căn bệnh coi thường lý luận, cường điệu kinh nghiệm thực tiễn, coi kinh nghiệm là tất cả, không chịu học tập lý luận và thường nhân danh thực tiễn để hạ thấp lý luận Biểu hiện của bệnh kinh nghiệm là coi nhẹ đội ngũ trí thức, dễ rơi vào lối suy nghĩa giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, còn trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, sự vụ, chắp vá, gặp chăng hay chớ, thiếu nhìn xa trông rộng Ngược lại, bệnh giáo điều về thực chất là trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn quá đề cao vai trò
lý luận, coi lý luận là nhất thành bất biến, là chân lý vĩnh cửu, xem thường thực tiễn; nắm lý luận chỉ dừng lại nguyên lý chung trừu tượng, vận dụng lý luận vào thực tiễn không chú ý đến các điều kiện lịch sử - cụ thể, hoàn cảnh khách quan của thực tiễn
Nghiên cứu về quan hệ giữa lý luận và thực tiễn như đã phân tích trên cho thấy, khi hình thành, tri thức được thể hiện ở hai trình
độ cơ bản là tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận với những đặc trưng riêng có
Tri thức kinh nghiệm là những tri thức được chủ thể thu nhận trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn Tri thức kinh nghiệm hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới Nó giúp cho con người kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình, giúp cho con người có được những quyết định nhanh chóng và đáng tin cậy trong một phạm vi nhất định, trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định
Trang 8Tuy nhiên, nhìn chung những tri thức kinh nghiệm thường chỉ mới là sự khái quát ban đầu trong một phạm vi hẹp, thường chỉ mới
là sự phản ánh sự vật trong những hoàn cảnh cụ thể, cục bộ, riêng biệt và trong nhiều trường hợp, tri thức kinh nghiệm chỉ mới phản ánh được cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên Chính vì vậy, tri thức kinh nghiệm chưa đi sâu vào bản chất và quy luật của sự vật, chưa tạo thành một hệ thống tri thức chặt chẽ Và cũng vì vậy, phạm vi áp dụng cũng như hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức kinh nghiệm thường
bị hạn chế trong một phạm vi hẹp
ở trình độ tri thức lý luận, tư duy đã vượt ra ngoài giới hạn của những tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát cao; nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất và quy luật của sự vật; nó có tính hệ thống chặt chẽ Chính vì vậy, phạm vi ứng dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức lý luận có một phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm Chỉ có những tri thức lý luận mới làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác hơn, tránh được tình trạng mò mẫm, tự phát
Tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận mặc dù có một số đặc điểm khác nhau, nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ
Nói đến mối quan hệ giữa trình độ kinh nghiệm và trình độ lý luận, về thực chất cũng là mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, là nói đến sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Điều
đó được phản ánh trên các mặt cụ thể:
Thứ nhất, kinh nghiệm thực tiễn có vai trò rất quan trọng đối với lý luận Kinh nghiệm là cơ sở tổng kết, khái quát thành lý luận Kinh nghiệm là căn cứ để chúng ta không ngừng xem xét lại, bổ
Trang 9sung sửa đổi, phát triển lý luận Tri thức lý lụân hình thành từ sự tổng kết, khái quát kinh nghiệm, nhưng lại phải thông qua tư duy trừu tượng của cá nhân nhà lý luận, cho nên nó cũng chứa đựng khả năng không chính xác, xa rời thực tiễn Vì vậy, tri thức lý luận phải được thể nghiệm trong thực tiễn để khẳng định, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện
Thứ hai, lý luận một khi đã được hình thành thì nó không phải thụ động mà nó có vai trò độc lập tương đối của nó Lý luận tác động trở lại với thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn,
dự báo tình hình và phương hướng hoạt động thực tiễn tương lai, v.v
Thực tiễn cách mạng nước ta chỉ rõ, thắng lợi của cách mạng
là sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn Việt Nam Đó là sự đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận
vô sản được Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện Người đã dày công bổ sung, hoàn thiện lý luận và làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác Từ
đó Người luôn nhắc nhở, học chủ nghĩa Mác là học tinh thần cách mạng, phương pháp của chủ nghĩa Mác; việc vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, phải phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của thực tiễn
Trên thực tế, quan điểm coi thực tiễn là cơ sở của hoạt động nhận thức như triết học Mác - Lênin đã dạy, hiện nay trong đội ngũ cán bộ ở nước ta có biểu hiện về sự vi phạm nguyên tắc đó Chẳng hạn, trước đổi mới, xét ở cấp độ vĩ mô khi xây dựng đường lối cải tạo XHCN, nhiều chủ trương chính sách chúng ta đã không xuất phát từ thực tiễn và điều kiện hiện có ở Việt Nam
Trang 10ở cấp độ vi mô, không ít cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở khi vận dụng đường lối chính sách, các mô hình kinh tế tiên tiến vào phát triển kinh tế địa phương đã bỏ qua điều kiện thực tế của địa phương, ngành Chẳng hạn, cán bộ các cấp khi nhận thức chủ trương, chính sách vẫn còn nặng về câu chữ, ít chú ý liên hệ vào thực tiễn ngành, địa phương Cụ thể, do quan niệm rằng, có nhiều
dự án quy hoạch đầu tư là có khả năng thu hút đầu tư phát triển, không quan tâm đến các lợi thế và điều kiện khả thi của dự án Vì vậy trên thực tế, trên phạm vi cả nước và địa bàn Thanh Hoá nhiều
dự án kinh tế treo không phát huy tác dụng và gây thất thoát, lãng phí về tiềm năng kinh tế xã hội
Bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong nhận thức và hoạt động cải tạo của đội ngũ cán bộ nước ta có nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản như:
- Do sự tác động và ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, đồng thời cơ chế quản lý hành chính quan liêu kéo dài trong nhiều năm của thời kỳ trước đổi mới ở nước ta đã tạo nên tâm lý tiểu nông, cường điệu kinh nghiệm, coi thường lý luận; lối tư duy kinh nghiệm, coi thường lý luận, thiếu hiểu biết cơ bản và non kém về tư duy lý luận của một bộ phận cán bộ còn phổ biến
Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản về bệnh kinh nghiệm và giáo điều của cán bộ ở nước ta chủ yếu là vi phạm nguyên tắc về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trên lập trường duy vật mác xít
Bệnh kinh nghiệm và giáo điều trong đội ngũ cán bộ ở nước ta biểu hiện chủ yếu như: