xuất, tỷ suất lợi nhận kinh tế ròng giữa các vụ nuôi; so sánh giữa lợi ích thu được vàchi phí bỏ ra giữa các tác nhân trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi.4.2.2 Phương pháp phân tích chuỗi
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế, ngành nôngnghiệp cũng như các ngành khác trong cả nước đã có nhiều khởi sắc Từ một nướclương thực không đủ ăn, chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thếgiới Nhiều mặt hàng nông sản nước ta đã vượt mức kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USDtrong đó ngành thủy sản ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò là ngành kinh tếmũi nhọn của quốc gia [25]
Theo báo cáo của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) kimngạch xuất khẩu thủy sản năm 2014 đạt 7,84 tỷ USD tăng 16,5% so với cùng kỳnăm trước Đây là mức xuất khẩu kỷ lục của ngành thủy sản Trong đó, tôm nuôi làđiểm sáng trong bức tranh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt tăng trưởng caonhất 26,9% Trong năm 2014 mặt hàng nuôi trồng được đánh giá nổi bật nhất là tômnước lợ Năm 2014, tận dụng bối cảnh thị trường các nước như Thái Lan, TrungQuốc chưa hồi phục, dưới sự chỉ đạo từ các cấp chính quyền, các địa phương tiếptục phát triển mạnh nuôi tôm chân trắng, tôm vụ 3 thâm canh ở những vùng phùhợp Do đó, năm 2014 sản lượng thu hoạch tôm đều tăng so với cùng kỳ, ngànhnuôi tôm cả nước có sự phát triển vượt bậc Tính đến hết năm 2014, cả nước ướcđạt thả nuôi được 685.000 ha tôm nước lợ (đạt 102,2% kế hoạch) trong đó diện tíchnuôi tôm sú 590.000 ha, tôm thẻ chân trắng 95.000 ha, sản lượng thu hoạch 660.000tấn (đạt 120% kế hoạch và tăng 20,4% năm 2013 [26]
Quảng Trạch là một tỉnh nằm phía Bắc tỉnh Quảng Bình, huyện có hệ thốnggiao thông thuận tiện và sông ngòi kéo dài kết hợp với cửa biển tạo điều kiện thuậnlợi cho phát triển ngành thủy sản Để khai thác tiềm năng kinh tế biển, phát huy thếmạnh về biển, ao hồ, sông ngòi để phát triển thủy sản, tiếp tục xây dựng ngành thủysản thành ngành kinh tế mũi nhọn Đẩy mạnh đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và xuấtkhẩu thủy sản, huyện đã xây dựng đề án phát triển thủy sản giai đoạn 2006 – 2010
và giai đoạn 2011 – 2015 Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm nói
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2riêng trong những năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng và tăng trưởngkhá nhanh về năng suất và sản lượng, đã đẩy mạnh ứng dụng những tiến bộ khoahọc kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa
và đa dạng đối tượng nuôi cũng như hình thức nuôi [4]
Trong những năm gần đây, diện tích nuôi tôm của huyện Quảng Trạch giảmđáng kể (giảm 21,63 ha), tuy nhiên sản lượng tôm nuôi lại tăng lên, các hộ nuôi tômtheo hình thức thâm canh ngày càng nhiều đã làm tăng năng suất tôm Trong chuỗicung đầu vào và đầu ra của tôm, giữa các doanh nghiệp tư nhân (DNTN), các đại lýbán thức ăn, nhà thu gom và các hộ gia đình đã có những hình thức hợp tác, nhưngvẫn còn nhỏ và chưa thực sự hợp tác để cùng tạo ra các sản phẩm tối ưu thỏa mãnnhu cầu người tiêu dùng cuối cùng Dòng thông tin trong chuỗi nghèo nàn, đặc biệt làthông tin về giá, đã cản trở việc điều chỉnh quá trình sản xuất và chế biến sản phẩmnhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Một vấn đề đặt ra đối với ngànhsản xuất tôm ở huyện Quảng Trạch là đối mặt với nhiều thách thức, trong đó mâuthuẫn lợi ích giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị sản phẩm là một trong những vấn
đề nổi cộm, thường xuyên đe dọa sự bền vững của lĩnh vực sản xuất này; vai trò vàmối quan hệ cũng như sự phân chia lợi ích/chi phí giữa các nhóm chủ thể trong toànchuỗi chưa thực sự hợp lý để phát triển ngành sản xuất tôm ở tỉnh [8]
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã chọn đề tài “Phân tích chuỗi cung sản phẩm
tôm nuôi của các nông hộ tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài
Trang 3- Đánh giá thực trạng chuỗi cung sản phẩm tôm trên địa bàn huyện Quảng Trạch,tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung sản phẩm Tôm nuôi trên địabàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chuỗi cung/chuỗi giá trịsản phẩm tôm nuôi xét trong mối quan hệ mật thiết với hiệu quả kinh tế và khả năngcạnh tranh của ngành hàng sản phẩm tôm nuôi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Thời gian nghiên cứu: số liệu thứ cấp 2012 – 2014, số liệu sơ cấp năm 2013Trong điều kiện thời gian và năng lực có hạn nên bản thân chỉ đi sâu nghiêncứu 2 xã nuôi tôm tiêu biểu trên địa bàn huyện
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin
4.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin kinh tế - xã hội của tỉnhQuảng Bình nói chung và huyện Quảng Trạch nói riêng, gồm: Quy hoạch phát triểnkinh tế - xã hội liên quan của huyện Quảng Trạch giai đoạn 2010- 2020; báo cáo củacác cấp, ngành, đơn vị các cấp liên quan đến ngành tôm nuôi; báo cáo tổng kết sảnxuất, kinh doanh của ngành nông nghiệp, công thương và các báo cáo chuyên ngànhliên quan khác trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2014
4.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
- Chọn mẫu điều tra:
Thu thập số liệu sơ cấp thông qua điều tra hộ nuôi tôm và các nhóm đối tượngliên quan như cơ sở cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm Tùy theo các đối tượng để
có những phương pháp lấy mẫu khác nhau nhằm chọn ra những mẫu mang tính đạidiện và phù hợp nhất Ở đây, nghiên cứu lựa chọn hai phương pháp lấy mẫu cơ bản
là chọn theo chủ ý và chọn ngẫu nhiên theo hệ thống
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4Tổng số mẫu đã tiến hành điều tra là 60 mẫu, gồm: Hộ nuôi tôm 45 hộ trêntổng số 93 hộ nuôi tôm; 1 công ty cung ứng giống tôm; 3 đại lý cung cấp thức ăn; 2
cơ sở cung cấp thuốc thú y thủy sản; 2 người thu gom lớn; 3 người thu gom nhỏ; 4
bán lẻ; Điều tra, khảo sát:
Sau khi mẫu nghiên cứu được xác định, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn điềutra hộ nuôi và các đối tượng liên quan trong chuỗi Việc điều tra được thực hiệnphỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi cấu trúc và bán cấu trúc được thiết kế sẵn.Nội dung phiếu điều tra, khảo sát gồm những phần chính như sau:
- Thông tin chung về tình hình cơ bản của hộ/ đối tượng nghiên cứu: Tuổi,giới tính, trình độ, nghề nghiệp, số nhân khẩu, thu nhập…
- Thông tin cơ bản về cơ sở vật chất và cung ứng đầu vào cho hoạt động củacác tác nhân
- Thông tin về thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm
- Thông tin về chi phí đầu tư và lợi nhuận
- Mục thông tin đánh giá mức độ liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi
- Mục thông tin đề xuất những cải thiện trong chuỗi tôm nuôi Phần này sửdụng thang điểm Likert từ 1 đến 5 điểm, trong đó điểm 1 là điểm số quan trọng nhấtcần cải thiện trong chuỗi và điểm 5 là điểm số ít quan trọng đối với hộ
4.2 Phương pháp phân tích số liệu
4.2.1 Phương pháp thống kê kinh tế
Đề tài nghiên cứu đã áp dụng phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh
để phân tích số liệu điều tra Thực hiện phân tích số liệu được sử dụng trên phần mềmMicrosoft Excel và SPSS
- Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng trong luận văn để phân tíchnhững đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếptới quá trình hoạt động của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
- Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp này dùng để so sánh các chỉtiêu biến động theo thời gian và không gian Cụ thể so sánh sự biến động diện tích,năng suất, sản lượng tôm nuôi qua các năm; so sánh giá trị sản xuất, chi phí sản
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5xuất, tỷ suất lợi nhận kinh tế ròng giữa các vụ nuôi; so sánh giữa lợi ích thu được vàchi phí bỏ ra giữa các tác nhân trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi.
4.2.2 Phương pháp phân tích chuỗi cung
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích chuỗi cung để mô tả hệ thốngcác tác nhân trong chuỗi và mối liên kết ngang, liên kết dọc trong chuỗi; phản ánhđược sự tác động phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân trong chuỗi; xác định cácnhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng quá trình hoạt động của chuỗi, quá trìnhtạo giá trị điểm bắt đầu đến khi kết thúc chuỗi sản phẩm Nghiên cứu việc phân chialợi ích của các tác nhân trong chuỗi, xác định những tác nhân chi phối chính trongchuỗi và những tác nhân cản trở hoạt động của chuỗi
4.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia đã được áp dụng trong đề tài nghiên cứu luận vănthông qua các cuộc tiếp xúc, phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia là cán bộ quản lý,chuyên môn về lĩnh vực thủy sản và ngành hàng tôm đang công tác tại một số cơquan cấp tỉnh, huyện và cán bộ xã Thông tin thu thập được là những ý kiến góp ýcho đề tài nghiên cứu, cung cấp số liệu và đưa ra những nhận định ảnh hưởng tớiphát triển nuôi tôm và tới chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở địa phương
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi Chương 2: Thực trạng chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi tại huyện Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Phần III: Kết luận và kiến nghị
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI CUNG
SẢN PHẨM TÔM NUÔI
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG SẢN PHẨM
1.1.1 Nguồn gốc chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là một giai đoạn phát của lĩnh vực logistic (hậu cần) Ban đầu,logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa
là công tác hậu cần Đến cuối thế kỷ 20, Logistic được ghi nhận như là một chứcnăng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong khu vực sảnxuất lẫn trong khu vực dịch vụ Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dươngghi nhận logistics đã phát triển qua ba giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Phân phối
Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằmđảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu quả nhất.Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau: Vận tải, phân phối, bảo quảnhàng hoá, quản lý kho bãi, bao bì, nhãn mác, đóng gói
+ Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vàocùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và phân phối sản phẩm
+ Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng
Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan
hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng Khái niệmquản trị dây chuyền chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợpchặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quannhư các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin [7]
1.1.2 Khái niệm chuỗi cung ứng
Khái niệm về chuỗi cung ứng hiện nay đối với các nhà quản trị Việt Nam vẫncòn khá mơ hồ và hầu như chưa được quan tâm đúng với tầm quan trọng của nó
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 7Ngược lại, trên thế giới thì “chuỗi cung ứng là một tài sản chiến lược” Các công tydẫn đầu như Wal – Mart và Dell hiểu rằng chuỗi cung ứng có thể là một sự khácbiệt mang tính sống còn Họ liên tục tìm ra những cách thức để tạo thêm giá trị và
mở rộng các ranh giới của hiệu quả hoạt động Và họ luôn phải sàng lọc chuỗi cungứng của mình để có thể luôn đi trước một bước trong cạnh tranh Họ biết rằng lợithế cạnh tranh ngày hôm nay sẽ là hàng rào cản bước đối thủ vào ngày mai [7].Vậy, chuỗi cung ứng là gì? Tại sao các tập đoàn trên thế giới lại coi trọng nónhư vậy?
Ngày nay, để cạnh tranh thành công trên bất kỳ môi trường kinh doanh nào,các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải thamgia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó Bởi
lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịnh vụ cho khách hàng họ buộcphải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; cách thức thiết
kế, đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảoquản sản phẩm hoàn thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng hoặckhách hàng cuối cùng vì thực tế là nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩmcủa họ được sử dụng như thế nào trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng cho kháchhàng Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, mức độ kỳ vọng của kháchhàng ngày càng cao hơn đã ép các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều vàochuỗi cung ứng của nó Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong côngnghệ truyền thông và vận tải và yêu cầu về truy xuất nguồn gốc xuất xứ hàng hóa đãphát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý nó
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từmột hoặc nhiều nhà cung cấp, được sản xuất hoặc chế biến ở một hay một số nhàmáy, cơ sở và được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian, cuốicùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải thiện mứcphục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiện quả phải xem xét đến sự tương tác ởcác cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng cũng được xem nhưmạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8trung tâm phân phối; và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn khotrong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở.
Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng:
“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằmthực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bánthành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” [23]
M Porter (1990): “Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyênvật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chuyển biến và phânphối tới tay khách hàng cuối cùng” [21]
Theo Lee & Billington (1995): “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các phươngtiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩmtrung gian, tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó tới khách hàng thông qua
hệ thống phân phối” [7]
Chuỗi cung ứng được xem như một hệ thống xuyên suốt dòng sảnphẩm/nguyên liệu, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung cấp của nhà cung cấpxuyên qua các tổ chức, công ty trung gian nhằm đến với khách hàng của khách hànghoặc một hệ thống mạng lưới hậu cần giữa nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàngcuối cùng
Từ các quan điểm của các nhà nhiên cứu nổi tiếng nêu trên, chúng tôi thấy:+ Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh tham giatrực tiếp hoặc gián tiếp trong việc phục vụ nhu cầu khách hàng
+ Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung ứng mà cònliên quan đến vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng
+ Hoạt động của các tác nhân trong chuỗi tuy phức tạp và khác nhau nhưngcác thành viên luôn thống nhất về mục đích là phục vụ nhu cầu của khách hàng, coikhách hàng là trung tâm của các hoạt động
* Quản trị chuỗi cung ứng:
Quản trị chuỗi cung ứng là việc kiểm soát vật tư, thông tin, và tài chính trongquá trình các yếu tố này dịch chuyển từ nhà cung ứng đến người sản xuất đến ngườitiêu dùng cuối cùng Quản trị chuỗi cung liên quan đến việc điều phối và hợp nhất
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9các dòng dịch chuyển này bên trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệpvới nhau Mục đích quan trọng nhất của các hệ thống quản trị chuỗi cung ứng nhằmlàm giảm số lượng hàng hóa lưu kho.
Michael hugos trong cuốn “Essential of supply chain management” địnhnghĩa quản lý chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vậnchuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhanh và hiệu quảcác nhu cầu của thị trường Không chỉ bao gồm các hoạt động như thu mua, phânphối, bảo trì, quản lý tồn kho mà chuỗi cung ứng có marketing, phát triển sản phẩmmới, tài chính và dịch vụ khách hàng [22]
Cũng có những định nghĩa khác nhau như quản trị chuỗi cung ứng là việc kếthợp một cách hệ thống, chiến lược các chức năng kinh doanh truyền thống và sáchlược giữa các chức năng kinh doanh đó trong phạm vi một công ty và giữa các công tytrong chuỗi cung ứng nhằm mục đích cải thiện kết quả lâu dài của từng công ty và toàn
Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyênvật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơnđặt hàng và quản lý đơn đặt hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến kháchhàng cuối cùng [21]
Tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các hoạt động trong chuỗicung ứng một cách hiệu quả trên toàn hệ thống trong việc thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10* Chuỗi giá trị:
Theo GTZ Esch Born (2007): “Chuỗi giá trị là hệ thống các tổ chức kinh tếhoạt động kinh doanh có liên quan mật thiết với nhau và thực hiện các chức năngtrong chuỗi (sản xuất, chế biến, phân phối, bán buôn, bán lẻ) cho 1 sản phẩm cụ thể.Các đơn vị này cùng có trách nhiệm với nhau bở một loạt các hoạt động kinhdoanh Trong đó, sản phẩm được chuyển từ nhà sản xuất ban đầu tới người tiêudùng cuối cùng” [7]
Chuỗi giá trị giản đơn chỉ bao gồm các hoạt động chính trong các khâu cơbản từ khi bắt đầu đến kết thúc 1 sản phẩm
Chuỗi giá trị giản đơn có dạng như sau:
Sơ đồ 1.1: Sự liên kết tác nhân trong chuỗi giá trị giản đơn
Nguồn: Giáo trình chuỗi giá trị [20]
- Chuỗi giá trị mở rộng: Theo Michael Porter (1985), chuỗi giá trị mở rộng bao gồmcác hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh Các hoạtđộng chính là các hoạt động hướng tới chuyển đổi về mặt vật lý của sản phẩm vàquản lý sản phẩm từ khâu sản xuất đến kết thúc để cung cấp cho khách hàng Cáchoạt động bổ trợ thường là xây dựng cơ sở vật chất, bồi dưỡng nguồn nhân lực, pháttriển công nghệ , thu mua và tái chế sản phẩm [20]
- Sản xuất;
- Đóng gói;
- Vậnchuyển
Tiêuthụ
Phânphối
Thiết
kế
Sảnxuất
và tái chế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11Dòng hàng hóa (nguyên liệu, dịch vụ, sản phẩm)
Dòng thông tin, tài chính
Nhà cung ứng
đầu vào
Sơ đồ 1.2: Chuỗi giá trị mở rộng
Nguồn: Giáo trình chuỗi cung ứng [11]
Hậu cầnđến
Sản xuất Hậu cần
ra
Marketing Dịch vụ
kháchhàng
Kháchhàng
Hoạt động chính
Quản trị vật liệu cung ứng Quản trị phân phối sản phẩm
Quản trị chuỗi cung ứng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 12- Hậu cần đến và hậu cần ra ngoài là 2 khâu quan trọng và then chốt củachuỗi giá trị, đây chính là yếu tố tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng và lợi ích củanhà kinh doanh.
- Hậu cần đến liên quan đến nhận, lưu trữ, dịch chuyển sản phẩm
- Sản xuất là hoạt động chuyển nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng
- Hậu cần ra ngoài bao gồm các hoạt động lưu trữ, phân phối sản phẩm từnhà sản xuất đến khách hàng
- Marketing và bán hàng bao gồm các hoạt động quảng cáo, khuyến mại, lựachọn kênh, định giá
- Dịch vụ khách hàng bao gồm các hoạt động nhằm gia tăng và duy tu sản phẩm
1.1.3 Đặc điểm của chuỗi cung ứng
Trong các thị trường khác nhau, khách hàng có nhu cầu khác nhau, vì thế đểđáp ứng nhu cầu cho mỗi thị trường cần có các chuỗi cung ứng khác nhau, songchuỗi cung ứng đều có đặc điểm chung như sau: Chuỗi cung ứng được cấu tạo bởi 5thành phần cơ bản, các thành phần này là các nhóm chức năng khác nhau và cùngnằm trong dây chuyền cung ứng: Sản xuất, hàng tồn kho, vận chuyển, địa điểm,thông tin sản xuất như thế nào [11]
(1) Về sản xuất: Là yếu tố đầu chuỗi, nó thể hiện sản phẩm của nhà sản xuấtđáp ứng trên thị trường là bao nhiêu, khả năng tạo ra và lưu trữ sản phẩm của chuỗicung ứng Phân xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thànhphần này Trong quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đềcân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất củadoanh nghiệp
(2) Hàng tồn kho: là mắt xích trung gian nhưng đóng vai trò khá quan trọng Nócho biết lượng hàng tồn ở các giai đoạn khách nhau là bao nhiêu; loại nguyên vật liệu,sản phẩm nào hay tồn và tồn kho như thế nào là hợp lý, là việc hàng hóa sản xuất rađược tiêu thụ như thế nào Chính yếu tố sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của mộtdoanh nghiệp Nếu tồn kho ít, tức là sản phẩm của bạn được sản xuất ra bao nhiêu sẽtiêu thụ hết bấy nhiêu, điều đó chứng tỏ hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp ở mức cao
và lợi nhuận đạt mức tối đa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13(3) Địa điểm: là vị trí các nhà máy, các kho hàng, đặt vị trí kho hàng ở đâu làhiệu quả nhất, gần khách hàng nhất và đưa sản phẩm đến người tiêu dùng dễ nhất; làviệc tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào là địa điểm tiêu thụ tốtnhất? Đây chính là yếu tố quyết định sự thành công của dây chuyền cung ứng Định vịtốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
(4)Vận chuyển: Cách thức vận chuyển sao cho nhanh nhất, hiệu quả nhất.Yếu tố này cho biết vận chuyển như thế nào?, lượng bao nhiêu sao cho nhanh chóng
và linh hoạt; là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu, cũng nhưsản phẩm giữa các nơi trong dây chuyền chuỗi cung ứng Ở đây, sự cân bằng giữakhả năng đáp ứng nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọnphương thức vận chuyển
(5)Thông tin: Những thông tin gì cần được thu thập? Thông tin gì nên chiasẻ? Thông tin càng nhanh, càng chính xác sẽ giúp cho các thành viên trong chuỗiđưa ra những quyết định phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau Các thông tin cầnthiết gồm: giá cả các loại sản phẩm; đầu vào trên thị trường; chất lượng sản phẩm; ýkiến phản hồi của khách hàng
Trả lời những câu hỏi này, các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng sẽ đưa ranhững quyết định ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu của của toàn chuỗi Tuy nhiên, để trảlời được những câu hỏi trên, các doanh nghiệp phải ý thức rõ thị trường mà họ phục
vụ cũng như đối tượng khách hàng mà họ nhắm tới Sự năng động của chuỗi cungứng trong việc nắm bắt những tín hiệu thị trường sẽ giúp cho việc thỏa mãn nhữngnhu cầu khách hàng nhanh chóng và hiệu quả hơn
Chuỗi cung ứng cũng được đặc trưng bởi các tác nhân tham gia trong chuỗicung ứng Số lượng các tác nhân tham gia nhiều hay ít phản ánh quy mô của chuỗi.Thường có 2 hình thức sau:
* Với hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm công ty, các nhàcung cấp và khách hàng của công ty đó
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14Sơ đồ 1.3: Chuỗi cung ứng giản đơn
Nguồn: Giáo trình chuỗi cung ứng [11]
Chuỗi cung ứng mở rộng ngoài ba thành viên trên còn có thêm bà thành viênkhác đó là nhà cung cấp của các nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng, và toàn
bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty trong chuỗi cung ứng Các công tycung cấp dịch vụ này sẽ cung cấp dịch vụ hậu cần, tài chính, tìm hiểu thị trường, thiết
kế sản phẩm và công nghệ thông tin cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng
Sơ đồ 1.4: Chuỗi cung ứng mở rộng
Nguồn : Giáo trình chuỗi cung ứng [11]
1.1.4 Cấu trúc hoạt động của chuỗi cung ứng
Xét trên góc độ tổ chức, hoạt động của chuỗi cung ứng thể hiện qua sơ
Nhà sảnxuất
hàng
Kháchhàngcuốicùng
Dịch vụ cung cấp thuộccác lĩnh vực như:
- Hậu cần
- Tài chính
- Nghiên cứu thị trường
- Thiết kế sản phẩm
- Công nghệ thông tin
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15Sơ đồ 1.5: Các hoạt động của chuỗi cung ứng
Nguồn: Giáo trình Quản trị chuỗi cung ứng [11]
Bức tranh đơn giản nhất của chuỗi cung ứng là khi chỉ có một sản phẩm dịchchuyển qua một loạt các tổ chức, và mỗi tổ chức tạo thêm một phần giá trị cho sảnphẩm Lấy một tổ chức nào đó trong chuỗi làm qui chiếu, nếu xét đến các hoạt động
trước nó - dịch chuyển nguyên vật liệu đến - được gọi là ngược dòng; những tổ chức phía sau doanh nghiệp dịch chuyển vật liệu ra ngoài - được gọi là xuôi dòng.
Các hoạt động ngược dòng được dành cho các các nhà cung cấp Một nhàcung cấp dịch chuyển nguyên vật liệu trực tiếp đến nhà sản xuất là nhà cung cấp cấpmột; nhà cung cấp đảm nhiệm việc dịch chuyển nguyên vật liệu cho nhà cung cấpcấp một được gọi là nhà cung ứng cấp hai, cứ ngược dòng như vậy sẽ đến nhà cungcấp cấp ba rồi đến tận cùng sẽ là nhà cung cấp gốc Khách hàng cũng được phânchia thành từng cấp.[11]
Xét quá trình cung cấp xuôi dòng, khách hàng nhận sản phẩm một cách trựctiếp từ nhà sản xuất là khách hàng cấp một, khách hàng nhận sản phẩm từ kháchhàng cấp một chính là khách hàng cấp hai, tương tự chúng ta sẽ có khách hàng cấp
ba và tận cùng của dòng dịch chuyển này sẽ đến khách hàng cuối cùng
Với mục tiêu tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận; hoạt động chuỗicung ứng thực chất là sự hoạt động của các dòng chảy về sản phẩm, thông tin và tàichính Các dòng chảy này xuyên suốt trong chuỗi cung ứng, nó tạo ra chi phí vàdoanh thu cho các đơn vị tham gia
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16Dòng sản phẩm, dòng tài chính
Dòng thông tin
- Dòng sản phẩm : Bao gồm các loại sản phẩm, số lượng, tồn kho sản phẩm
từ đầu chuỗi cho tới khách hàng cuối cùng
- Theo dòng sản phẩm là dòng tài chính bao gồm giá cả, chi phí, lợi nhuậncủa từng thành viên và toàn chuỗi
- Dòng thông tin cho biết nhu cầu sản phẩm, phân phối, quảng bá và giớithiệu sản phẩm
Từ nguồn thông tin về nhu cầu của từng thành viên trong chuỗi cung ứng, cácdòng chảy trong chuỗi được bắt đầu từ nhà cung ứng các yếu tố đầu vào sản xuất chocác nhà sản xuất Người sản xuất cung cấp sản phẩm cho nhà phân phối ; các nhà bán
lẻ phân phối sản phẩm tới các khách hàng cuối cùng Đến đây khách hàng thanh toán
và hoạt động của chuỗi tạo lập được giá trị, tạo lợi nhuận và phân phối lại cho cácthành viên trong chuỗi Đồng thời có sự phản hồi thông tin của các thành viên trongchuỗi Các dòng chảy cứ liên tục như vậy trong chuỗi cung ứng tạo thành một hệ thống
có liên kết chặt chẽ
1.1.5 Bản chất kinh tế và nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi cung
Từ cách thức tiếp cận nghiên cứu chuỗi cung ở trên, ta có thể nhận thức đượcbản chất kinh tế của chuỗi cung như sau:
Trước hết, để đáp ứng yêu cầu của thị trường, bất kỳ chuỗi cung nào mà
doanh nghiệp tham gia phải đưa ra quyết định với tư cách cá nhân và tập thể liênquan đến hoạt động của mình trong năm yếu tố dẫn dắt: sản xuất, hàng tồn kho, địađiểm, vận chuyển, thông tin Mỗi yếu tố phải trả lời những yêu cầu đặt ra từ thịtrường Chẳng hạn, đối với sản xuất, thì sản xuất những sản phẩm gì? Số lượng baonhiêu? Và vào thời điểm nào? Đối với tồn kho, nên dự trữ loại hàng hóa nào trong
Nhà
cung cấp
NhàSản xuất
NhàPhân phối
Nhàbán hàng Kháchhàng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17từng giai đoạn của chuỗi cung? Hay với thông tin, nên thu thập những thông tin gì?Nên chia sẻ bao nhiêu thông tin? Thông tin càng nhanh và càng chính xác sẽ giúpcho các thành viên trong chuỗi đưa ra quyết định phù hợp với từng hoàn cảnh cụthể Tổng hợp tất cả các quyết định trên, doanh nghiệp sẽ xác định được năng suất
và hiệu quả của chuỗi cung trong doanh nghiệp Khả năng đáp ứng nhu cầu và cáchthức cạnh tranh của doanh nghiệp đều phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của chuỗicung [7] [14]
Thứ hai, về mặt lý thuyết, chuỗi cung hoạt động như một đơn vị cạnh tranh
riêng biệt và cố hữu, thực hiện việc mà nhiều doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệptích hợp dọc cố gắng đạt được và đã thất bại trong việc thực hiện mục tiêu này.Điểm khác biệt chính là các doanh nghiệp trong chuỗi cung hoàn toàn tự do trongviệc quyết định thâm nhập hoặc rời khỏi mối quan hệ chuỗi nếu mối quan hệ nàykhông còn mang lại lợi ích cho họ Đó chính là tổ chức thị trường tự do nhằm giúpchuỗi cung vận hành các khối liên kết dọc một cách có hiệu quả hơn Vì vậy, chuỗicung vận động và linh hoạt [11]
Thứ ba, các sản phẩm đến tay người tiêu dùng, phần lớn thông qua các khách
hàng trung gian trong chuỗi cung, có thể một vài trung gian hoặc có nhiều trunggian và thậm chí chuỗi cung có cấu trúc rất phực tạp Chúng ta nhận thấy chỉ có mộtnguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi, đó là khách hàng cuối cùng Khicác doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ra các quyết định kinh doanh mà khôngquan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này dẫn đến giá bán cho kháchhàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung thấp và điều này làm cho nhucầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng thấp Vì vậy, đòi hỏi phải liên kết giữa các tácnhân để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho người tiêu dùng [14]
Thư tư, chuỗi cung là năng động và liên quan đến dòng thông tin, sản phẩm
vật chất và tài chính nhất định giữa các giai đoạn khác nhau Ba dòng chảy trên sẽluân chuyển trong toàn chuỗi cung Khách hàng là thành tố tiên quyết của chuỗicung, vì mục đích then chốt cho sự tồn tại của bất kỳ chuỗi cung nào là để thỏa mãnnhu cầu khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó [11] Sự phối hợp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18chặt chẽ giữa dòng sản phẩm, dòng thông tin và dòng tài chính là vô cùng quantrọng trong chuỗi cung Đặc biệt là vai trò cầu nối của dòng thông tin, bởi nó ảnhhưởng lớn tới việc đáp ứng các nhu cầu khách hàng đúng lúc Tại một cửa hàng bán
lẻ, khách hàng sẽ được cung cấp các sản phẩm, giá cả và đầy đủ về thông tin (sảnphẩm, nhà sản xuất, khuyến mãi ) và ngược lại khách hàng sẽ thanh toán tiền sảnphẩm mà họ mua Nhà bán lẻ sẽ gửi thông tin liên quan đến việc bán hàng tới cácnhà phân phối sau khi nhận được hàng Nhà phân phối cũng sẽ trao đổi cho nhà bán
lẻ những thông tin về sản phẩm, giá cả Vòng tuần hoàn bắt đầu với việc nhậnnhững đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơnhàng của họ Cứ như vậy, dòng sản phẩm, tài chính và thông tin được luân chuyểntrong chuỗi cung [13]
Thứ năm, bất kỳ chuỗi cung nào cũng cần cân nhắc đến tính đáp ứng nhanh và
hiệu quả Đặc biệt trong điều kiện hiện nay nếu chỉ tập trung vào tính hiệu quả mà
bỏ qua tính đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng thì các công ty, các chuỗicung không thể thành công Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học côngnghệ, các công ty ngày càng chú trọng chuyên môn hóa vào các sản phẩm mà nóthực hiện tốt nhất để cạnh tranh được với các đối thủ khác Chính điều này đã thúcđẩy các công ty khác nhau liên kết lại với nhau cùng thực hiện các hoạt động trongchuỗi cung như sự liên kết của các công ty chịu trách nhiệm sản xuất với các công
ty vận chuyển, bán buôn, bán lẻ Theo đó, mỗi công ty có thể theo kịp tốc độ thayđổi và học được những kỹ năng mới cần thiết để cạnh tranh [14]
Thứ sáu, tác động Roi da (Bullwhip), một trong những tác động phổ biến nhất
trong chuỗi cung là hiện tượng có tên gọi “Roi da” Đó là hiện tượng khi có thay đổinhỏ về nhu cầu sản phẩm từ khách hàng, điều này sẽ chuyển thành những thay đổilớn hơn về nhu cầu ở các công ty cuối chuỗi cung Dao động hay tác động bắt đầukhi nhu cầu thị trường lớn mạnh tạo ra sự thiếu hụt sản phẩm Các nhà sản xuất vàphân phối gia tăng sản xuất và mức tồn kho để đáp ứng nhu cầu cung cấp sản phẩmlớn hơn mức nhu cầu đáp ứng Nhà sản xuất và phân phối không nhận ra việc cungcấp đang lớn hơn nhu cầu nên tiếp tục thiết lập việc cung cấp sản phẩm Và kết quả
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19lượng sản phẩm dư thừa quá lớn khi công ty nhận ra điều này Nhà phân phối gặpkhó khăn trong hàng tồn kho và làm giảm giá trị sản phẩm trên thị trường [14].
Để giải quyết tác động “Roi da” thì trước hết phải loại bỏ tất cả thời gianchậm trễ trong việc cung cấp hàng hóa và các luồng thông tin từ các chuỗi cung,điều này có thể đạt được bằng cách lập kế hoạch tốt hơn và sử dụng tốt hơn côngnghệ thông tin, cải thiện dịch vụ hậu cần Để đạt được mục tiêu trên, cách tốt nhất làchia sẻ dữ liệu giữa các công ty trong chuỗi cung Nhu cầu đó có thể là những con
số về mức tiêu thụ, dự đoán mức tiêu thụ, về những quyết định trong tất cả các công
ty, các thành viên của chuỗi cung Bởi sự thành công của từng thành viên, của mộtphần chuỗi cung sẽ góp phần tạo nên thành công của cả chuỗi cung Đó như mộtphản ứng dây chuyền [13]
Tóm lại, trên đây là những nội dung cốt lõi thuộc về bản chất kinh tế, cũng lànhân tố ảnh hưởng đến chuỗi cung; nó là nền tảng, cơ sở để nghiên cứu chuỗi cungcủa bất kỳ sản phẩm nào Tuy nhiên, mỗi chuỗi cung sản phẩm cụ thể do đặc điểmcủa quá trình tổ chức sản xuất chi phối tạo nên những có cấu trúc và những quátrình hoạt động của chuỗi cung sản phẩm cụ thể khác nhau
1.1.6 Phân biệt và mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
* Sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng:
+ Ở cấp độ tổ chức: Chuỗi giá trị rộng hơn chuỗi cung ứng vì nó bao gồmcác hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ Chuỗi cung ứng chỉ đề cập các hoạtđộng chính
+ Xét theo chức năng: Chuỗi cung ứng đề cập một loạt các chức năng của cáctác nhân tham gia chuỗi và mối liên kết giữa các tác nhân này theo các dòng sản phẩm,dịch vụ, thông tin và tài chính, từ nhà cung cấp đầu tiên tới khách hàng cuối cùng.Trong chuỗi cung ứng tập trung nhiều công tác hậu cần hơn là phát triển thị trường
Chuỗi giá trị cũng đề cập đến một loạt các chức năng của các tác nhân thamgia và mối liên kết giữa họ theo dòng sản phẩm, dịch vụ, thông tin, tài chính, đặcbiệt tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm của từng tác nhân Trong chuỗi giá trị ngoàicông tác hậu cần còn chú ý tìm hiểu thị trường và phân phối giá trị của các tác nhân
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20* Mối liên hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị:
- Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị có thể hợp nhất lại với nhau vì đều có cáctác nhân tham gia, vận chuyển và lưu trữ sản phẩm, quá trình tạo giá trị, trao đổithông tin, quá trình chi trả các tác nhân này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
- Mục đích cuối cùng của chuỗi cung ứng và giá trị là: Quá trình tạo giá trị sảnphẩm thông qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất phân phối
Sơ đồ 1.6: Chuỗi cung ứng hợp nhất (Nguồn: Taylor and Francis Group (2008), Introduction to Logistics
Engineering, London, New York.)
1.2 CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM TÔM NUÔI
1.2.1 Khái niệm chuỗi cung và quản lý chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
Theo King và Venturini (2005) cho rằng “Quan điểm chuỗi cung khuyếnkhích cách nhìn mang tính hệ thống rộng lớn về chuỗi- tập trung nhiều vào các mốiliên kết giữa các phân đoạn có tính chất kỹ thuật như là việc quản lý quá trình trongcác phân đoạn” [14] Vì vậy, một chuỗi cung trong nông nghiệp bao gồm tất cả cáckhâu từ cung cấp đầu vào, sản xuất, sau thu hoạch, bảo quản, chế biến, tiếp thị, phânphối, dịch vụ thực phẩm và chức năng tiêu thụ theo hướng từ “Trang trại đến nơichuyển giao” (“Farm-to-Fork”) liên tục cho một sản phẩm cụ thể (có thể là tiêu thụ
Người
cung cấp
Nhà phân phối
Nhà máy
Người bán buôn
Người bán lẻ Người tiêu dùng
Trang 21tươi, qua chế biến hoặc từ nhà cung cấp dịch vụ thực phẩm), bao gồm cả môi trườngthuận lợi bên ngoài Những chức năng này kết nối các chuỗi cung, yếu tố địa lý vàranh giới chính trị và thường liên quan đến một loạt các tổ chức thuộc khu vực tưnhân và công cộng [14] Nghiên cứu về chuỗi cung sản phẩm trong nông nghiệp -thực phẩm, Folkerts và Koehorst định nghĩa: Chuỗi cung là một tập hợp các công typhụ thuộc lẫn nhau làm việc chặt chẽ với nhau để quản lý dòng chảy của hàng hóa
và dịch vụ dọc theo chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm
để nhận giá trị tốt hơn từ khách hàng ở mức chi phí thấp nhất có thể [14]
Theo FAO (2011) chuỗi cung thủy sản: bao gồm tất cả các liên kết từ cácđiểm sản xuất (điểm khai thác hoặc trang trại trong trường hợp nuôi trồng thủy sản)
để đưa sản phẩm đến người dùng cuối hoặc tiêu dùng cuối cùng Do đó, chuỗi cung
có chứa một bộ phận thị trường hoặc các hệ thống tiếp thị Một hệ thống tiếp thịđược định nghĩa là chuỗi liên kết giữa nhà sản xuất/ nhà cung cấp và người tiêudùng/ người sử dụng, bao gồm tất cả các cơ chế, dòng chảy, giao dịch, dịch vụ vàcác nhà khai thác, trong đó xác định mối quan hệ lợi nhuận giữa sản xuất, cũng nhưcung cấp các sản phẩm vật chất Thông qua một hệ thống tiếp thị hoạt động baogồm thông tin về giá cả, tình hình thị trường, xu hướng, sở thích của người tiêudùng vv , cũng như các dòng sản phẩm vật chất, dòng tiền, tín dụng và quyền sởhữu [14]
Từ quan niệm chung về chuỗi cung của luận văn và tiếp cận các quan điểmcủa các nhà khoa học kinh tế về chuỗi cung sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp và
NTTS, chúng ta có thể hiểu chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi là: Hệ thống các tổ chức, con người, công nghệ, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan trong việc đưa sản phẩm tôm nuôi từ chủ thể nuôi tôm đến người tiêu dùng Các hoạt động của chuỗi cung là quá trình tạo giá trị nhằm chuyển nguồn tài nguyên nước, đất đai, con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản và các sản phẩm qua xử lý, chế biến hoàn chỉnh và tổ chức đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, quản lý chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi được hiểu là tập hợp các phương thức sử dụng để phối hợp hoạt động của hệ thống các tổ chức, con người,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22công nghệ, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan trong việc đưa sản phẩm tôm nuôi từ chủ thể nuôi tôm đến người tiêu dùng Các hoạt động của chuỗi cung chuyển nguồn tài nguyên nước, đất đai, con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản và các sản phẩm qua xử lý, chế biến hoàn chỉnh và tổ chức đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng với mục đích tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn chuỗi.
1.2.2 Các đặc điểm của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
Sự hình thành và phát triển của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi về cơ bản cũnggiống như sự hình thành và phát triển của các chuỗi cung sản phẩm của nhiều ngànhkhác Nuôi tôm là một trong những ngành NTTS, có những đặc điểm cơ bản củasản xuất nông nghiệp Tùy thuộc vào quan điểm tiếp cận khác nhau, các nhà khoahọc kinh tế đã đưa ra nhiều đặc điểm khác nhau, theo quan điểm quản lý chuỗi cungtrong nông nghiệp có thể phân thành 2 nhóm đặc điểm sau:
(a) Nhóm đặc điểm của sản phẩm tôm nuôi khi tham gia thị trường
- Đặc điểm về tổ chức sản xuất
Sự khác biệt lớn nhất của NTTS nói chung và nuôi tôm nói riêng so với chuỗicung sản phẩm phi nông nghiệp là trong sản xuất bao gồm rất đông người nuôi tômvới trình độ sản xuất, ý thức kinh doanh rất khác nhau Điều này làm cho chuỗicung trở nên phức tạp, dài và rất khó tạo ra sản phẩm tôm nuôi đồng nhất về chấtlượng và khả năng tự điều chỉnh quy mô nuôi tôm theo nhu cầu thị trường Đặcđiểm số lượng nông dân đông trong nuôi tôm cũng đòi hỏi phải có các hình thức tổchức sản xuất phù hợp để thu hút nông dân sản xuất ra sản phẩm tôm nuôi cùngkích cỡ, phẩm cấp và khối lượng theo nhu cầu thị trường Để tối ưu hóa lợi ích vàtính hiệu quả của toàn bộ chuỗi cung, mỗi thành viên của chuỗi phải thiết lập mốiquan hệ hợp tác chiến lược lâu dài và chia sẻ lợi ích Đây là vấn đề khó khăn, làthách thức lớn đối với quản lý chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi [14]
- Đặc điểm về tính mùa vụ và bảo quản khó khăn
Do tôm nuôi là sinh vật sống trong môi trường nước luôn mang tính thời vụ,dẫn đến chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi thường mang đặc điểm không liên tục và có
sự thay đổi rất nhanh khối lượng, chất lượng từ phía cung Vào vụ thu hoạch số
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23lượng sản phẩm tôm nuôi tăng nhanh, chất lượng cao và ngược lại khi hết vụ thuhoạch thì số lượng sản phẩm tôm nuôi giảm rất nhanh, chất lượng thấp Đặc điểmnày làm cho việc phân phối sản phẩm tôm nuôi trở nên rất khó khăn và giá cả không
ổn định Sự mất cân bằng này đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý hàng tồn kho
và dự báo nhu cầu để đáp ứng nhu cầu liên tục của khách hàng
Bên cạnh đó tôm nuôi là động vật thủy sinh, tươi sống, dễ bị hỏng, nhanhgiảm phẩm chất sau khi thu hoạch, thời gian lưu trữ ngắn, việc vận chuyển đi xa rấtkhó khăn và yêu cầu phải được chế biến, bảo quản trước khi vận chuyển Đặc điểmnày làm tăng chi phí và hạn chế sự phát triển mở rộng của chuỗi cung Vì vậy, tínhtoàn cầu hóa hạn chế, muốn phát triển được chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi toàn cầutới nhiều quốc gia và với không gian mở rộng, đòi hỏi các tác nhân tham gia chuỗicung từ các tác nhân cung cấp yếu tố đầu vào, nuôi tôm, chế biến phân phối sảnphẩm phải có công nghệ cao, thích hợp về nuôi trồng, chế biến bảo quản sản phẩmtôm nuôi [14]
- Đặc điểm về tác động của thời tiết, bệnh dịch và an toàn thực phẩm
Nuôi tôm chịu tác động mạnh bởi các nhân tố khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng vàcác nguồn tài nguyên khác như đất đai, nguồn nước Sự thay đổi những nhân tố này,nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến kếtquả và hiệu quả nuôi tôm và làm cho tính ổn định của chuỗi cung trở nên không bềnvững và biến động mạnh theo thời gian Ngoài ra sự phụ thuộc vào điều kiện tựnhiên đã làm cho việc nuôi tôm bị hạn chế bởi những điều kiện tự nhiên không phùhợp và việc nuôi tôm bị “khu vực hóa” mạnh mẽ, tập trung nhiều ở một số vùng cóthủy vực nuôi phù hợp, nuôi tôm nước lợ tập trung ở vùng ven biển, trong khinhững vùng khác lại thiếu hoặc không có Bên cạnh đó, khả năng vận chuyển khókhăn, chi phí cao, hạn chế khả năng phát triển các luồng sản phẩm tiêu thụ củachuỗi đến các vùng xa nơi nuôi tôm và tính toàn cầu bị hạn chế hơn nhiều so vớihàng hóa phi nông nghiệp [14]
Vấn đề dịch bệnh và yêu cầu về an toàn thực phẩm là cản trở lớn đến sự pháttriển chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi trên phạm vị quốc gia và toàn cầu bởi sản phẩm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24tôm nuôi là thực phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đời sống người tiêu dùng.Chính phủ các nước thường đặt ra những hàng rào kiểm soát chặt chẽ về vệ sinh antoàn thực phẩm đối với sản phẩm tôm nuôi nhập khẩu và không cho phép nhập khẩunhững lô hàng kém phẩm chất, có mầm bệnh hoặc có chứa chất độc hại quá mứccho phép Những biện pháp này là chính đáng và cần thiết, nhưng ảnh hưởng khôngthuận lợi đến toàn bộ chuỗi cung.
- Đặc điểm về chế biến và lưu giữ sản phẩm
Trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi, tôm hàng hóa muốn vận chuyển đếnnhững thị trường nằm cách xa nơi vùng nuôi thì sản phẩm không thể vận chuyểnbằng những phương tiện thông thường, mà phải thông qua các phương tiện vậnchuyển gắn với hình thức xử lý, chế biến thành hàng hóa khô hoặc đông lạnh, đónghộp bảo quản Công nghiệp chế biến đã phát triển đa dạng với nhiều thành tựu tolớn về kỹ thuật và các bí quyết công nghệ Tuy nhiên, để có được công nghệ chếbiến cao thì chi phí đầu tư sẽ rất lớn và từ đó giá thành sản phẩm đã qua chế biến sẽrất cao, làm cho hiệu quả của chuỗi cung có thể giảm, lợi ích của các tác nhân, nhất
là người nuôi tôm tham gia chuỗi bị ảnh hưởng tiêu cực và động lực tham gia có thể
sẽ mất đi Khi đó chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi có thể sẽ bị phá sản [14]
(b) Tính khác biệt vê sản phẩm tôm nuôi cũng như quá trình nuôi và tiêu thụ sản phẩm tôm nuôi tạo nên những đặc điểm riêng trong quá trình hình thành chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi.
- Việc tạo ra sản phẩm tôm nuôi và thực hiện tiêu thụ sản phẩm này phải trảiqua các quá trình có tính chất hoàn toàn khác nhau, đó là: quá trình nuôi tôm (thuộclĩnh vực sản xuất nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản), quá trình chế biến tôm (Sảnxuất công nghiệp) và quá trình tiêu thụ hàng hóa (thương mại), trong đó khâu nuôitôm đóng vai trò cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biếntôm và xuất khẩu sản phẩm chế biến tôm Trong khâu nuôi tôm mang tính thời vụcao, quá trình sản xuất có chu kỳ dài (từ 2 - 4 tháng), nếu không có sự kết hợp tốtthì quá trình nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tôm nuôi sẽ bị bất lợi khi xâm nhậpthị trường do không chủ động được toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng Để
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25thực hiện chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi, điều quan trọng là phải kết hợp cả 3 quátrình trên một cách hiệu quả, thông qua các hình thức liên kết, liên doanh [14].
- Đặc điểm của nuôi tôm chi phối nhiều đến quá trình tạo ra và nâng cao giátrị gia tăng sản phẩm Trong NTTS nói chung và nuôi tôm nói riêng chịu tác độngcủa hai yếu tố năng suất tự nhiên và năng suất xã hội Yếu tố năng suất tự nhiênđược tạo ra bởi các yếu tố đất đai, nguồn nước, thời tiết, khí hậu Điều này đặt ravấn đề lựa chọn con giống phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu, nguồnnước ở từng vùng; nếu biết khai thác triệt để các yếu tố lợi thế tự nhiên thì năng suất
tự nhiên sẽ có cơ hội phát huy tác dụng tốt, tạo cơ hội nâng cao sản lượng tôm nuôi
và kết quả là giá trị gia tăng cũng như lợi nhuận thu được ngày càng cao Mặt khác,đối tượng tôm nuôi là cơ thể sống ở môi trường nước, chịu tác động của quy luậtsinh học, để phát triển tôm phải trải qua quá trình lột xác, đòi hỏi chế độ nuôi dưỡngchuyên biệt mới đảm bảo năng suất sản phẩm Quy luật sinh học tạo nên “ngưỡng”sinh trưởng và phát triển tối đa cho mỗi loại tôm nuôi khác nhau trong quá trình tiếpnhận các yếu tố tạo nên sự sinh trưởng như nước, không khí, thức ăn Như vậy,quy luật sinh học sẽ tạo nên “ngưỡng” đầu tư hợp lý (không phải là đầu tư cao nhất)đối với từng loại tôm nuôi để đạt năng suất cao nhất sản phẩm tôm nuôi khôngđồng nhất, được phân ra nhiều loại và gắn với kích cỡ phẩm chất khác nhau, khókhăn trong việc đóng gói, chế biến Mỗi loại giá bán khác nhau, nên giá trị gia tăngcủa mỗi loại cũng khác nhau Vì vậy, cùng 1 tấn tôm nuôi thu hoạch nhưng giá bán
có thể chênh lệch giữa chúng rất cao Điều này đòi hỏi người nuôi phải tăng cườngđầu tư thâm canh, đầu tư khoa học kỹ thuật tốt để nâng cao kích cỡ, phẩm cấp củasản phẩm tôm nuôi [15]
- Đặc điểm cấu thành giá trị của sản phẩm tôm nuôi: Trong NTTS nói chung
và nuôi tôm nói riêng, tỷ trọng giá trị gia tăng trong giá một đơn vị sản phẩm khácao Tuy vậy, mức giá trị gia tăng của mỗi đơn vị thường thấp, do giá tôm thấp (sovới giá của hàng hóa phi nông nghiệp) và năng suất lao động trong lĩnh vực nàythấp Điều này đặt ra vấn đề để nâng cao giá trị gia tăng cần phải tiến đến nuôi tôm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26có giá trị kinh tế cao hơn và nâng cao năng suất lao động, diện tích mặt nước nuôitrồng trong nuôi tôm [15].
1.2.3 Nội dung phân tích mô hình chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
(1) Bản chất của phân tích mô hình chuỗi cung
Theo Chen và Paulraj (2004), khái niệm chuỗi cung đã được sử dụng mộtcách rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: quản lý hoạt động, marketing, quản
lý chiến lược, lý thuyết tổ chức và hệ thống thông tin quản lý [13] Nhiều nhà kinh
tế đã đề xuất những nội dung phân tích khác nhau của mô hình chuỗi cung, nhưngtập trung vào các vấn đề cơ bản sau: Các tác nhân tham gia chuỗi cung, quá trìnhchuyển hóa của dòng sản phẩm vật chất, quá trình tạo giá trị, quá trình chi trả, quátrình trao đổi thông tin và các mối quan hệ trong chuỗi Trong đó, quá trình tạo giátrị là quá trình quan trọng nhất và cũng là mục đích của chuỗi cung Vì thế, người tacòn gọi chuỗi cung là chuỗi giá trị [14]
(2) Nội dung phân tích mô hình chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
Từ bản chất của việc phân tích mô hình chuỗi cung, nội dung phân tích của
mô hình chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi tập trung vào những vấn đề sau:
Xác định các tác nhân tham gia chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi.
Xác định các tác nhân tham gia chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi, bao gồm cáctác nhân tham gia dòng thượng nguồn chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi cung cấp cácyếu tố đầu vào chủ yếu như: cơ sở sản xuất tôm giống, thức ăn cho tôm, dịch vụ đầuvào; đơn vị nuôi tôm - tác nhân trung tâm, các tác nhân tham gia dòng hạ nguồn,phân phối sản phẩm tôm nuôi như: thu gom, cơ sở chế biến và xuất khẩu tôm, ngườibán buôn, bán lẻ Mỗi tác nhân là một mắt xích, thực hiện các hoạt động trong từngcông đoạn tương ứng, trên cơ sở sử dụng các yếu tố nguồn lực của mình nhằm tạogiá trị cho sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng cuối cùng
Quá trình chuyển hóa của dòng sản phẩm vật chất
Quá trình chuyển hóa của dòng sản phẩm vật chất hình thành dòng sản phẩmvật chất Sản phẩm này chuyển động từ các nhà cung cấp đầu vào như tôm giống,thức ăn công nghiệp, thuốc thú y thủy sản, đến đơn vị nuôi tôm, đến người thu gom
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27và đến khách hàng cuối cùng hoặc đến các cơ sở chế biến thủy sản và xuất khẩu.Đây là dòng không thể thiếu được trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi Nó gắn liềnvới các hoạt động cơ bản và dịch vụ hỗ trợ [14] Theo lý thuyết điểm hạn chế(Theory of Constraint) của Goldratt dựa trên ý tưởng là toàn bộ hệ thống sẽ có ítnhất một điểm hạn chế gọi là điểm nghẽn, vì năng lực của mỗi phần trong hệ thống
là không giống nhau Dòng chảy sản phẩm qua nguồn lực ách tắc sẽ tạo thànhnhững điểm thắt cổ chai (bottlenecks) Để dòng chảy thông suốt, tránh lãng phí, đòihỏi tỷ lệ đầu vào của toàn bộ hệ thống được thiết lập dựa vào tỷ lệ đầu vào đạt được
ở những điểm tắc nghẽn Theo Goldratt, để cải thiện những điểm gây nghẽn trong
hệ thống, hãy bổ sung công suất vận hành (năng suất) của các hoạt động bị ngừngtrệ Do tỉ lệ sản lượng đầu vào của toàn hệ thống được thiết lập dựa theo sản lượngtại điểm gây nghẽn, nên việc cải thiện những điểm này sẽ làm gia tăng hiệu quả củatoàn hệ thống và tạo ra lợi nhuận đầu tư tốt nhất [14]
Quá trình tạo giá trị trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi.
Quá trình tạo giá trị là quá trình hoạt động của các tác nhân tạo ra và phân phốisản phẩm tôm nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng cuối cùng và cũng là mụctiêu của chuỗi cung Muốn đạt được mục tiêu này mỗi khách hàng trung gian trongchuỗi cung sản phẩm tôm nuôi phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trênchúng Khi làm điều này, họ sẽ tạo ra giá trị cho người tiêu dùng sản phẩm tôm nuôicủa họ [14]
Đơn vị sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo giá trị chochuỗi cung Mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh có những nguồn lực cần thiết có thể sửdụng để tạo giá trị Các nguồn lực này có thể vật chất (tôm giống, thức ăn, thuốc thú
y thủy sản) hay tự nhiên (đất đai, nguồn nước ), vốn và cả nhân lực Khả năng tậndụng tối đa các nguồn lực này phụ thuộc vào khả năng cải tiến, sáng tạo của đơn vịsản xuất kinh doanh (tác nhân) tham gia chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi Trong mộtđơn vị sản xuất kinh doanh có thể thấy cách tạo giá trị như [14]
Đơn vị sản xuất kinh doanh tạo ra giá trị thông qua các hoạt động ở bất kỳđiểm nào trong chuỗi cung như: cung cấp tôm giống, thức ăn công nghiệp, thuốc
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28thú y thủy sản, nuôi tôm, thu gom, chế biến sản phẩm (sấy khô, chiết suất, nhãnmác, bao bì, bảo quản, nâng cao hoàn thiện sản phẩm), phân phối và bán lẻ Đơn vịsản xuất kinh doanh sử dụng các nguồn tài nguyên và khả năng của mình để tạo ragiá trị cho các khách hàng trung gian và bằng cách làm như vậy sẽ tạo ra lợi nhuận.Giá trị được tạo ra chủ yếu qua hoạt động của đơn vị sản xuất kinh doanh, nhưng nó
sẽ được gia tăng thông qua các liên kết với khách hàng và nhà cung cấp đầu vào của
nó Việc liên kết với các nhà cung cấp đầu vào liên quan đến hoạt động mua đầuvào và hậu cần đầu vào Liên kết với khách hàng cũng liên quan đến việc bán sảnphẩm và hậu cần đầu ra
Liên quan đến giá trị gia tăng cần phân biệt thuật ngữ tạo giá trị và giá trịchiếm đoạt Tạo giá trị được hiểu là tổng giá trị ròng (tổng số kết quả trừ đi tổng sốđầu vào) được tạo ra trong một nỗ lực hợp tác giữa các tác nhân trong chuỗi cungsản phẩm; giá trị chiếm đoạt được hiểu là giá trị của phần lớn hơn cho một bên đơn
vị sản xuất kinh doanh tham gia làm giảm phần còn lại của các đối tác khác trong
“chiếc bánh giá trị” Tạo ra giá trị là một kịch bản mà các tác nhân tham gia chuỗicung cùng có lợi, thể hiện sự khác biệt giữa giá trị sản phẩm và chi phí HĐTGTđược sử dụng để làm ra sản phẩm đó; còn giá trị chiếm đoạt phụ thuộc vào mỗi tácnhân tham gia vào việc sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể, đặc biệt là khả năngthương lượng của mỗi tác nhân [14]
Như vậy, sự hợp tác giữa các đối tác là chìa khóa để tạo ra giá trị trong quản
lý chuỗi cung Sự hợp tác tồn tại khi các tác nhân trong chuỗi sẵn sàng cùng nhaulàm việc, nó cho phép các đối tác cùng nhau đạt được sự hiểu biết tốt hơn về nhucầu sản phẩm trong tương lai và thực hiện các chương trình thực tế hơn để đáp ứngnhu cầu đó Nó có thể tập trung vào việc sắp xếp các bên và sau đó nâng cao giá trịcủa các hoạt động kết hợp trong mạng lưới chuỗi cung [14]
Phân tích quá trình tạo giá trị gia tăng của từng công đoạn mà mỗi tác nhânthực hiện là xem xét chi phí HĐTGT của từng tác nhân để tạo giá trị gia tăng, đóchính là quá trình thực hiện lợi nhuận của mỗi tác nhân tham gia chuỗi cung sảnphẩm tôm nuôi So sánh tỷ lệ chi phí HĐTGT mà mỗi tác nhân đầu tư để thực hiện
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình với tỷ lệ lợi nhuận thu được của mỗitác nhân đó, tính toán mức độ thua thiệt, mức độ hưởng lợi bất hợp lý của mỗi tácnhân, đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp nhằm giải quyết tốt bài toán phân phối lợiích giữa các tác nhân tham gia chuỗi cung; từ đó, nâng cao hiệu quả kinh tế, khảnăng cạnh tranh và phát triển bền vững ngành hàng tôm nuôi ở địa phương.
Các dòng chảy và các mối quan hệ trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi.
Theo các chuyên gia Ngân hàng thế giơi (2008), chuỗi cung thực phẩm trongnông nghiệp là các mạng lưới có ba dòng chảy cơ bản xuyên suốt chiều dài củachuỗi là dòng sản phẩm vật chất, dòng thôn g tin và dòng tài chính [14] Vì vậy,chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi cũng tồn tại ba dòng chảy trên
Dòng sản phẩm vật chất là dòng chảy không thể thiếu trong bất kỳ chuỗi cungnào đã được đề cập ở phần trên
Sơ đồ 1.7 Mô hình chuỗi cung thực phẩm trong nông nghiệp
Nguồn: ARD, 2008
Dòng tài chính: dòng này lưu thông theo hướng ngược lại với dòng sản phẩmvật chất Đó là quá trình chi trả, các khoản tin dụng phải thu và phải trả, các khoảncho vay, lịch thanh toán trả nợ Việc tối ưu hóa dòng tài chính được thực hiện
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30mang tính riêng biệt trong mỗi liên kết của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi, hiếm khimột cách tổng thể Việc tối ưu hóa dòng tài chính này sẽ làm cho nó cải thiện đượclợi ích của mỗi tác nhân, nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi bộ phận và của toàn
bộ chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi [14] Dòng tài chính (dòng tiền) được đưa vàochuỗi bởi duy nhất người tiêu dùng khi họ đã nhận được sản phẩm tôm nuôi hoặcđầy đủ chứng từ hợp lệ Có thể thấy chính lợi nhuận đã liên kết các đơn vị kinhdoanh lại với nhau Chuỗi cung tạo nên chuỗi giá trị trong đó các tác nhân có cơ hộichia sẻ dòng tiền ở mức độ khác nhau, tùy vào vai trò và vị thế của mỗi tác nhân[14]
Quá trình trao đổi thông tin giữa các tác nhân tạo nên dòng thông tin trongchuỗi cung sản phẩm tôm nuôi Dòng này có tính hai chiều, trước tiên, là dòng hạnguồn từ phía khách hàng về phía trước chuỗi; mang những thông tin thị trường,đặc điểm sản phẩm, nhu cầu khách hàng, và những ý kiến phản hồi của khách hàngsau khi sử dụng sản phẩm tôm nuôi Thứ hai, là dòng thượng nguồn từ phía các nhàcung cấp; được nhận và xử lý thông qua bộ phận thu mua Các thông tin phản hồinày phản ánh tình hình hoạt động của thị trường nguyên liệu Nó được xử lý rất kỹtrước khi chuyển tới khách hàng Mức độ chia sẻ thông tin phụ thuộc đối tác đượcchọn lựa để chia sẻ, dạng thông tin và chất lượng thông tin Có nhiều dạng thông tintrong chuỗi cung; dạng thông tin chiến lược, chiến thuật, vận hành Những thôngtin được chia sẻ thường mang lại lợi ích cho các thành viên trong chuỗi cung sảnphẩm tôm nuôi; chia sẻ thông tin về vận chuyển hàng hóa sẽ giúp các tổ chức hậucần cải thiện mức độ phục vụ khách hàng, chia sẻ thông tin sản xuất và bán hànglàm giảm mức tồn kho Giá trị của thông tin là kịp thời và chính xác, nó phụ thuộcvào lợi ích mà các tác nhân có thể nhận được từ thông tin đó Giá trị không còn nếu
cơ hội đã qua Việc xử lý chậm hoặc trì hoãn chuyển giao thông tin theo dòngngược càng làm ảnh hưởng trầm trọng đến tốc độ đáp ứng của dòng sản phẩm tômnuôi theo chiều xuôi tới khách hàng, do vậy ảnh hưởng đến dòng tiền phía sau.Trong chuỗi cung này, dòng thông tin là dòng đi trước về mặt thời gian, nó xuyênsuốt mọi quá trình, ngay sau khi cả dòng sản phẩm tôm nuôi và dòng tiền đã thực
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31hiện hoàn tất Vì vậy, muốn quản lý được chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi thì phảiquản lý được dòng thông tin [14].
Các mối quan hệ trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
Thuật ngữ “quan hệ” (relation) hay “mối quan hệ” (relationship), theo tác giảBackstrand được sử dụng với nghĩa rộng hơn để chỉ ra bất kỳ liên kết nào giữa cáctác nhân có liên quan hay không liên quan đến các đối thủ đều là sự tương tác cạnhtranh hay hợp tác, do vậy mối quan hệ luôn tồn tại [14] Trong chuỗi cung sản phẩmtôm nuôi, mỗi tác nhân giữ mối quan hệ với những tác nhân khác theo chiều ngang
và cả chiều dọc Điều quan trọng là phải thiết lập các mối quan hệ giữa các tác nhântrong chuỗi và gắn nó vào mục tiêu chung của tổ chức [15] Các tác nhân trongchuỗi cung sản phẩm tôm nuôi nhận thức rõ hơn rằng họ có cùng những mục tiêuchung - đó chính là thỏa mãn khách hàng cuối cùng Vì thế họ không nên cạnh tranhvới nhau và nên hợp tác để thỏa mãn khách hàng cuối cùng [15] Điều này, nghĩa làđối thủ cạnh tranh không phải là các doanh nghiệp hoặc tổ chức khác trong chuỗicung mà chính là các doanh nghiệp ở chuỗi cung khác hay nói cách khác, các chuỗicung cạnh tranh với nhau chứ không phải là các doanh nghiệp - mỗi tác nhân trongtừng mắt xích [15]
Quan hệ hợp tác theo chiều dọc là quan hệ giữa các tác nhân ở các khâu khácnhau trong chuỗi cung nhằm chia sẻ trách nhiệm, nguồn lực, thông tin, tạo ra sựthống nhất trong kế hoạch hoạt động nhằm tối đa hóa giá trị gia tăng của chuỗi vàthúc đẩy nhanh tiến độ đáp ứng nhu cầu khách hàng cuối cùng, nâng cao năng lựctrạnh tranh Quan hệ hợp tác theo chiều ngang là quan hệ giữa các tác nhân trongcùng một khâu của chuỗi cung nhằm chia sẻ nguồn lực bổ sung để hoàn thiện sảnphẩm và hạ thấp chi phí [15] Để xác định các mức độ quan hệ giữa các tác nhântrong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ta dựa vào thang đo mức độ tích hợp Theothang đo này có thể xác định các mức độ quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi cácquan hệ, cực bên trái là mức độ tích hợp rất thấp, chỉ là mối quan hệ thị trường,mang tính cạnh tranh, cực bên phải là các tổ chức tích hợp dọc hoàn toàn theo chứcnăng, các mối quan hệ được kiểm soát chặt chẽ [15]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32Trên cơ sở mô hình phân tích hoạt động tạo giá trị trong chuỗi cung nôngnghiệp của tác giả Martin, Sandra; Jagadish, Ayyamani(2005) theo quan điểm giátrị trong khái niệm chuỗi giá trị của Porter và Mô hình phân tích chuỗi cung thựcphẩm trong nông nghiệp của các chuyên gia Ngân hàng thế giới (2008), luận án mô
tả nội dung mô hình chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi như Sơ đồ 1.8
Sơ đồ 1.8 Mô hình chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi [13].
Mô hình này cho thấy, dòng sản phẩm xuất khẩu trong chuỗi cung sản phẩmtôm nuôi chỉ giới hạn nghiên cứu ở các tác nhân trong nước, không nghiên cứu phầncòn lại của thế giới
Quá trình tạo giá trị là quá trình quan trọng nhất là những hoạt động gắn liềnvới những chức năng cụ thể của từng tác nhân trong mỗi mắt xích Quá trình nàyluôn gắn chặt với dòng sản phẩm vật chất, dòng tài chính và dòng thông tin trongchuỗi cung sản phẩm tôm nuôi, cũng như các dịch vụ hỗ trợ về hậu cần, tài chính và
kỹ thuật của các tổ chức tư nhân và công cộng
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
Trên cơ sở lý luận chung về chuỗi cung và chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi, sửdụng phương pháp tổng hợp ý kiến chuyên gia, các công trình nghiên cứu trong vàngoài nước liên quan đến chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi và nghiên cứu thực địa củatác giả Xác định một số nhóm nhân tố quyết định đến quá trình hoạt động củachuỗi cung sản phẩm tôm nuôi như nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên, nhóm nhân tố
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33thuộc về chủ thể nuôi tôm, nhóm nhân tố về thị trường, chính phủ và các cơ quanquản lý nhà nước, quản lý chuỗi cung và nhóm nhân tố về cơ sở hạ tầng và dịch vụ
hỗ trợ
(1) Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Tôm nuôi là động vật thủy sinh, quá trình sinh trưởng và phát triển phụthuộc vào điều kiện tự nhiên Thủy vực (ao nuôi) và các yếu tố tự nhiên khácchính là điều kiện tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm nóiriêng, điều kiện tự nhiên phù hợp và có chất lượng tốt, tôm sinh trưởng và pháttriển tốt, cho năng suất cao Chất lượng của thủy vực phụ thuộc vào sự phongphú và đa đạng của hệ sinh thái Có thể nói, thủy vực vừa là môi trường sống,vừa là nguồn cung cấp thức ăn, dưỡng khí cho tôm Các yếu tố về nguồn nước,
độ PH đất đai, độ PH nước, nhiệt độ và m ôi trường nuôi sẽ ảnh hưởng đến quátrình sản xuất giống, quá trình nuôi tôm, chất lượng sản phẩm tôm nuôi trongtiêu dùng sản phẩm tươi sống, cũng như chất lượng của sản phẩm chế biến Sứcsản xuất sinh học của đất đai, mặt nước phụ thuộc chủ yếu vào độ phì nhiêu củađất đáy và vùng bờ Vì vậy, cải tạo môi trường điều kiện tự nhiên trước hết là cảitạo đáy và vùng bờ của ao nuôi nhằm nâng cao năng suất Việc khai thác sử dụngđất đai mặt nước ven biển để nuôi tôm và sự phát triển của các ngành kinh tếkhác (chẳng hạn như ngành du lịch) cũng như những diễn biến bất thường củathiên tai, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, biến đổi khí hậu có ảnh hưởng đếnquá trình hoạt động của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi [4] [20]
(2) Nhóm nhân tố thuộc về chủ thể nuôi tôm
Chủ thể nuôi tôm là tác nhân trung tâm, duy nhất tạo ra sản phẩm tôm nuôiđáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả vàhiệu quả kinh tế của chủ thể nuôi tôm, ảnh hưởng đến quá trình hoạt động chuỗicung, ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế của tất cả các tác nhân khác trongchuỗi, bao gồm cả thượng nguồn và hạ nguồn Nhóm nhân tố thuộc về chủ thể nuôitôm bao gồm: nguồn nhân lực, quy mô diện tích đất mặt nước nuôi tôm, khả năng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34về vốn đầu tư, trình độ của người sản xuất (năng lực nhận thức về công nghệ- kỹthuật nuôi, về pháp luật và bảo vệ môi trường )
độ cung ứng các yếu tố đầu vào để sản xuất, thu gom, chế biến sản phẩm đáp ứngnhu cầu đó Giá cả là nhân tố quan trọng tác động đến việc phân phối các dòng sảnphẩm tôm nuôi trong chuỗi cung đến với các thị trường tiêu thụ trong nước và quốc
tế Xét trong điều kiện lợi thế cạnh tranh ngành hàng tôm, nếu nhu cầu tiêu thụ sảnphẩm tôm nuôi trong nước cao giảm bớt áp lực giải quyết lượng hàng tồn kho trongđiều kiện xuất khẩu khó khăn Trong thực tế ở nước ta, một khi sản phẩm tôm nuôi
bị ngừng nhập khẩu ảnh hưởng lớn đến chuỗi ngành hàng tôm, hộ nuôi tôm bán vớigiá thấp rơi vào tình trạng thua lỗ Các cơ sở chế biến thủy sản chuyển sang chếbiến các mặt hàng khác Thực tế cho thấy ở một số nước như Ản Độ, Trung Quốcnhu cầu tiêu thụ nội địa cao nên giảm áp lực cho hoạt động xuất khẩu khi có nhữngbiến cố bất lợi từ thị trường thế giới, do áp đặt các rào cản thương mại từ các chínhsách bảo hộ mậu dịch của một số nước nhập khẩu tôm
Trong quy hoạch phát triển ngành thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn cũng đã chỉ rõ mục tiêu ngành nuôi tôm ở nước ta là nuôi tôm để xuất khẩu Trongnhững năm qua, sản lượng tôm phân phối cho thị trường xuất khẩu chiếm 80% tổngsản lượng cung của cả nước [13] Do đó, việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu có ý nghĩasống còn đối với ngành hàng tôm nuôi Việc chiến lĩnh và mở rộng thị trường xuấtkhẩu tôm phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố như: chất lượng sản phẩm, thương hiệusản phẩm, nhu cầu của nước nhập khẩu, thị trường truyền thống, thị trường tiềm năng,một số chính sách trong thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tôm nuôi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35(4) Nhóm các nhân tố thuộc về chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước
Các chính sách của Chính phủ tác động trực tiếp tới ngành hàng tôm nuôi baogồm chính sách hỗ trợ lãi suất, chính sách tín dụng ưu đãi cho các hộ nuôi tôm,trang trại Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sản xuất và xuất khẩu tôm củaViệt Nam chịu tác động lớn từ thị trường thế giới về cả đầu vào và đầu ra cho sảnxuất thì chính sách của Chính phủ đóng vai trò quan trọng, giúp nâng cao năng lựcsản xuất và năng lực tham gia chuỗi cung toàn cầu cho các đơn vị kinh doanh, tạonền tảng để nâng cao lợi thế cạnh tranh Bên cạnh đó, chính sách còn có tác độngthúc đẩy nâng cao hiệu quả nuôi tôm, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm và điều tiết giá
cả thị trường [14]
Trên thực tế cho thấy quá trình thực thi chính sách không tốt ở các địaphương, ngành ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hoạt động của chuỗi cung sảnphẩm tôm nuôi Điều này biểu hiện ở việc thiếu quản lý nhà nước trong lĩnh vực sảnxuất và phân phối tôm giống, sản xuất thức ăn công nghiệp, thuốc thú y thủy sản, cả
về số lượng và chất lượng làm cho quá trình nuôi tôm ảnh hưởng đến năng suất, sảnlượng, hạn chế nguồn tôm nguyên liệu phục phục cho chế biến và xuất khẩu Việc
hỗ trợ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho các tác nhân trong chuỗi cung sản phẩmtôm nuôi có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc nâng cao trình độ kỹ thuật trongnuôi trồng, chế biến, bảo quản trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Năng lực về trình
độ chuyên môn của cán bộ quản lý trong các cơ quan nhà nước của ngành là nhân tốquan trọng thúc đẩy quá trình hoạt động của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi hướngđến mục tiêu cao cả của mình là tối đa hóa lợi nhuận toàn chuỗi [15]
(5) Nhóm các nhân tố về quản lý của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi
Các chuỗi cung được quản lý bởi một hay nhiều nhà lãnh đạo chuỗi (còn gọi
là trưởng chuỗi hay chủ chuỗi/kênh) người mà xác định nhu cầu thị trường và phốihợp các nguồn lực của chuỗi nhằm bảo đảm các nhu cầu này được đáp ứng Cácchuỗi (hay các khâu của chuỗi) có thể định hướng là chuỗi hợp tác hay chuỗi cơ hội.Những định hướng này thường bị chi phối bởi các lực lượng kinh tế chủ chốt có khảnăng định hướng cho ngành (hoặc một phần của ngành) trong phạm vi mà họ điều
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36hành [14] Do sự định hướng chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi khác nhau, các mốiquan hệ trong chuỗi có thể bao quát một chuỗi các quan hệ từ tích hợp dọc đến cạnhtranh Các dạng của mối quan hệ dọc theo chuỗi phụ thuộc vào định hướng củachuỗi hay của trưởng chuỗi, mà đến lượt nó, thường phụ thuộc vào lực lượng kinh
tế chủ yếu có khả năng điều khiển hành vi của chuỗi, trưởng chuỗi, và lĩnh vực mà
họ đang hoạt động như nuôi, thu mua, vận chuyển, làm sạch, lưu giữ, bảo quản chếbiến tôm [15]
Trong nền kinh tế thị trường các quy luật kinh tế luôn chi phối đến lợi ích củatừng tác nhân tham gia chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi, nếu mỗi tác nhân vì lợi íchriêng, không hợp tác với nhau, không có định hướng chuỗi cung thì nó trở thànhmột chuỗi cơ hội nơi mà các đối tác không hướng về khách hàng và không cùnglàm việc với nhau để tạo ra giá trị cho khách hàng cuối cùng [15] Khi các tác nhântrong chuỗi hợp tác với nhau, họ phải có được sự cam kết vững chắc, đảm bảo cácbên tuân thủ hợp đồng đã ký kết, không vì lợi ích trước mắt mà vi phạm hợp đồng.Việc này ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định của chất lượng sản phẩm tôm nuôi -một trong những vấn đề cốt yếu của sản phẩm Việt Nam Trong thực tế hiện nay,một số đơn vị không giữ vững cam kết của mình khi thấy lợi nhuận trước mắt quálớn, hay áp lực phải hoàn thành công việc quá cao Chính vì vậy, mỗi tác nhân đưa
ra các quyết định riêng không tuân thủ các cam kết làm cho chuỗi cung sản phẩmtôm nuôi rối loạn, mất định hướng, ảnh hưởng đến hoạt động của các khâu kháctrong chuỗi, tác động tiêu cực đến việc thực hiện mục tiêu chung của chuỗi cungsản phẩm tôm nuôi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37máy móc thiết bị do chi phí vận chuyển cao, và quá trình nuôi tôm của các chủ thểnuôi tôm, cũng như quá trình thu mua và phân phối sản phẩm của tác nhân trunggian về phía dòng hạ nguồn của chuỗi cung này Việc thiếu các phương tiện đónggói và làm đông lạnh của hộ thu gom, chế biến, bán buôn, bán lẻ gây khó khăn chocông việc bảo quản chất lượng sản phẩm, cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình hoạtđộng của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi [14].
Trên đây là 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của chuỗicung sản phẩm tôm nuôi Chúng bao gồm cả nhân tố thuộc tầm quản lý kinh tế vĩ
mô và những nhân tố thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế vi mô
1.3 KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG SẢN PHẨM TÔM NUÔI CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm về quản Ịý chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi của các quốc gia trên thê giới
1.3.1.1 Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước xuất khẩu lâu đời và lớn nhất trên thịtrường toàn cầu, với các sản phẩm chủ lực như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, Gầnđây nhất, Thái Lan đã có những động thái chiến lược mới nhằm “Chinh phục” thịtrường tôm thế giới Để nâng cao sản lượng, chất lượng cho các sản phẩm tôm vàxuất khẩu, từ năm 2004, Chính phủ Thái Lan đã chủ trương cấp quyền sử dụng mặtnước vùng ven biển trên phạm vi cả nước cho người nuôi trồng thủy sản [14].Người nuôi trồng được cung cấp nguồn tài chính thông qua một tổ chức tiếp thịnghề cá (Fish Marketing Organization) và tổ chức này sẽ đứng ra tổ chức các hoạtđộng tiếp thị sản phẩm Chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi được tổ chức liên hoàn khépkín từ khâu cung cấp giống đến việc tiêu thụ sản phẩm Các tác nhân trong chuỗicung thực hiện tốt các mối liên kết ngang (tham gia các câu lạc bộ, các hiệp hộigiống, chế biến thức ăn, chế biến và xuất khẩu tôm) và liên kết dọc dựa trên cáccam kết chặt chẽ từ khâu cung ứng đầu vào, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ sảnphẩm Người nông dân sẽ được tiếp cận những kinh nghiệm và kiến thức nuôi tômđầy đủ cũng như được cung cấp các loại giống tốt đảm bảo cho ra đời những sảnphẩm tôm chất lượng cao và an toàn Chính phủ khuyến khích người nuôi tôm bán
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38sản phẩm trực tiếp cho các công ty chế biến và xuất khẩu hoặc trực tiếp xuất khẩunhằm nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế nuôi tôm [14] Nguồn cung thức
ăn, nguyên liệu đầu vào cho mặt hàng tôm hoàn toàn nội địa, ngành công nghiệpchế biến đã có thời gian chuyển đổi sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao và tích lũykinh nghiệm quản lý chi phí đã giúp tối ưu hiệu quả chi phí trong chuỗi giá trị củangành công nghiệp chế biến thủy sản Thái Lan [14]
1.3.1.3 Bangladesh
Bangladesh là một trong 10 nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới, tôm xuấtkhẩu chủ yếu là tôm sú Các nền kinh tế địa phương của Bangladesh hội nhập chuỗicung tôm hàng hóa toàn cầu, dòng tiền đổ vào địa phương làm thay đổi rất nhiều vềcảnh quan văn hóa và xã hội ở nông thôn Do đó, tôm được coi là “vàng trắng” đốivới các cộng đồng địa phương ở Bangladesh Năm 2009 sản lượng tôm đạt 49,7ngàn tấn, năm 2011 đạt mức 50 ngàn tấn Nghề nuôi tôm ở Bangladesh đem lại thunhập cho hộ gia đình và các tác nhân tham gia chuỗi cung Có thể nhận thấy, chuỗicung sản phẩm tôm nuôi của Bangladesh rất phức tạp, các kênh tiêu thụ qua rấtnhiều trung gian từ người nuôi tôm bán cho người thu mua phụ, qua thu mua chínhđến các đại lý hoa hồng, chủ kho rồi mới đến các nhà máy chế biến- xuất khẩu [14].Năm 2008, tôm nhập vào EU phát hiện tôm chứa chất nitrofuran thì sản lượng xuấtkhẩu tôm của nước này giảm mạnh, các nước EU yêu cầu Bangladesh phải quản lýtốt chất lượng tôm Để khắc phục những hạn chế trên, Bangladesh đã thành lập Liênminh nuôi trồng thủy sản (gọi tắt BAA) BAA được thành lập để hội nhập ngànhnuôi trồng thủy sản và kết nối mọi thành phần, bao gồm người nuôi cá và tôm, chủtrại sản xuất giống, chủ nhà máy đông lạnh, nhà sản xuất thức ăn, các cơ sở chế biến
và các nhà xuất khẩu Hiện nay, Bangladesh đang tổ chức mô hình nuôi tôm theohợp đồng nhằm đảm bảo TXNG các sản phẩm- một trong những yêu cầu cơ bản củacác nước EU nhằm cải thiện các mối liên kết từ người nuôi đến nhà xuất khẩu đểnâng cao giá bán cho người nuôi tôm [14]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 391.3.2 Kinh nghiệm về quản lý chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở Việt Nam
Thực trạng chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở Việt Nam
Nghề nuôi tôm ở Việt Nam thực sự phát triển từ sau năm 1987 và nuôi tômthương phẩm phát triển mạnh vào những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ 20 Sự bùng nổcủa nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu vào năm 2000, khi chính phủ ban hànhNghị Quyết 09, cho phép chuyển đổi một phần diện tích lúa, làm muối năng suấtthấp, đất hoang hóa sang nuôi trồng thủy sản [8] Trong vòng 10 năm từ năm 2000đến 2009 sản lượng tôm nuôi tăng từ 93,5 ngàn tấn lên 413,3 ngàn tấn (tăng 4,4lần) Tôm được nuôi ở khắp các tỉnh ven biển trong cả nước Trong nuôi thủy sảnnước mặn, lợ, tôm là đối tượng mang lại giá trị xuất khẩu cao nhất Năm 2011 tổngkim ngạch xuất khẩu mặt hàng tôm đạt 2,4 tỷ USD tăng 17,64% so với năm 2010,trong đó tôm sú chiếm 59,7%, tôm thẻ chân trắng chiếm 29,3% trong tổng kimngạch xuất khẩu tôm Sản phẩm tôm của Việt Nam đã có mặt trên 91 quốc gia vàvùng lãnh thổ với 3 thị trường lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản, EU chiếm hơn 65% tổnggiá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam [10]
Tuy nhiên, sự phát triển ngành hàng tôm nuôi Việt Nam đang đứng trướcnhững thách thức rất lớn Chất lượng tôm giống thấp, giá thức ăn công nghiệp chotôm luôn tăng do thiếu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước Kỹ thuậtnuôi thấp do nuôi manh mún khó tạo điều kiện áp dụng kỹ thuật cao để có kết quảcao và bền vững Trong khâu thu mua, chế biến và xuất khẩu thì cạnh tranh khônglành mạnh, do nguồn nguyên liệu thiếu làm cho giá tôm nguyên liệu tăng từ, 01 đến1,5USD/kg so với các nước trong khu vực, một số nơi bơm chích tạp chất để tăngtrọng lượng làm cho sản phẩm chế biến kém chất lượng, làm mất uy tín bán tôm củaViệt Nam trên thị trường thế giới Giá tôm nguyên liệu tăng nhưng người nuôi tômkhông được hưởng lợi [10] Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, năm 2011khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 93 doanh nghiệp chế biến đônglạnh hoạt động mới 58,7 % so với công suất thiết kế, còn cả nước chỉ hoạt động từ50-70% công suất thiết kế Do đó, để đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu tôm thìViệt Nam phải tăng cường nhập khẩu tôm nguyên liệu [9] Thực trạng của chuỗi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 40cung sản phẩm tôm nuôi của Việt Nam thể hiện qua một số chuỗi cung sản phẩmtôm nuôi điển hình như:
- Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi tôm lớn nhất nước ta Qua nghiên cứuchuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở đây cho thấy: theo yếu tố đầu vào thì sự đóng góp
về chi phí HĐTGT cũng như phân chia lợi nhuận chưa hợp lý giữa các nhóm tácnhân Nếu tiêu thụ nội địa mà không qua cơ sở chế biến thủy sản thì người nuôiđóng vai trò quan trọng cả về chi phí HĐTGT (hơn 80%) và lợi nhuận thuần (81,9-88,9%) Nếu qua cơ sở chế biến thủy sản thì người nuôi đóng vai trò quan trọng vềchi phí HĐTGT (58,9-73,1%) nhưng cơ sở này hưởng hầu hết lợi nhuận thuần(97,04- 97,22%) Nhìn chung chuỗi cung khá phức tạp, mối liên kết giữa các tácnhân chưa cao, luồng thông tin rời rạc, các tác nhân có sự hỗ trợ của nhà nướcnhưng sự hỗ trợ chưa thỏa đáng [10]
- Chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở khu vực Tam Giang Cầu Hai tỉnh ThừaThiên - Huế gồm có kênh xuất khẩu, kênh tiêu thụ nội địa Chuỗi cung này thiếuđịnh hướng, các mối liên kết từ các tác nhân của chuỗi cung đầu vào với hộ nuôi làmối quan hệ mua bán thông thường, chưa có ràng buộc với nhau qua hợp đồng;mối liên kết giữa hộ nuôi với các tác nhân chuỗi cung đầu ra không mang tính hợptác, khó khăn trong quản lý chất lượng sản phẩm, VSATTP Qua phân tích chuỗicung sản phẩm tôm nuôi này cho thấy, nghề nuôi tôm còn nhiều hạn chế trên cácmặt kinh tế, xã hội và môi trường Như vậy, muốn phát triển nuôi tôm bền vữngcần phải có các giải pháp hữu hiệu để khắc phục những yếu tố làm trở ngại đếnquá trình thực hiện chuỗi cung; tăng cường các mối liên kết giữa các tác nhân, quyhoạch vùng nuôi và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là bệnh dịch bệnh và ônhiễm môi trường vùng đầm phá TG - CH [9].ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ