1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thị xã sầm sơn, tỉnh thanh hóa

111 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Ngô Đình Giao, Đỗ Hoài Nam, Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Trần Quế, Bùi Tất Thắng, Nguyễn Văn Phát
Trường học Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 862,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, kém phát triển, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vậtchất kỹ thuật nghèo nàn, kém phát triển, trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtcòn thấp Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là bước đi tất yếu mà dântộc Việt Nam phải trải qua, nhằm phát huy tốt nhất cơ hội của quá trình toàn cầuhoá và hội nhập kinh tế quốc tế Đây là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết vềvật chất kỹ thuật, về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơcấu nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững để huy động có hiệu quả nhất mọinguồn lực, tăng năng suất lao động thay đổi đời sống vật chất và tinh thần của nhândân Bất cứ quốc gia nào trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước đều đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngànhkinh tế

Mặt khác, trong giai đoạn đổi mới vừa qua nước ta đã đạt được những thànhtựu quan trọng rút ngắn đáng kể khoảng cách chênh lệch phát triển với các nướctrong khu vực và thế giới Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới,

đã tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức mới Điều này đòi hỏi nước ta phải

có quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng không những đáp ứng nhu cầuphát triển trong nước mà còn hoà nhập được với nền kinh tế trong khu vực và trênthế giới, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước phát triểntheo hướng công nghiệp hiện đại như đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra

Thanh Hoá là một tỉnh thuộc địa bàn Bắc Trung Bộ có nhiều tiềm năng pháttriển kinh tế xã hội Tuy nhiên, Thanh Hoá là nơi có điều kiện khí hậu thời tiết cònkhắc nghiệt, việc phát triển kinh tế - xã hội gặp nghiều khó khăn Vì vậy, việc xácđịnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Thanh Hoá theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá là điều cần thiết và quan trọng

Cùng với nhịp độ phát triển chung của tỉnh và cả nước, thị xã Sầm Sơn, tỉnhThanh Hoá cũng đang tìm hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế riêng cho mình Sauhơn 30 năm, kể từ ngày được thành lập (1981 – 2013), thị xã Sầm Sơn đang ngày

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

một đổi mới, phát triển đi lên, đáng tự hào, với nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xãhội đã thay đổi Do vậy hướng đi cũ cần được điều chỉnh cho phù hợp với tình hìnhthực tế hiện nay Mặt khác, việc xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là mộtviệc hết sức khó khăn phức tạp, đòi hỏi phải phù hợp với định hướng chung của tỉnh

và phù hợp với nguồn lực thực tế của thị xã; từ đó đưa ra các giải pháp thích ứngvới tình hình cụ thể của địa phương

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.

và một số luận văn cử nhân và cao học khác

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

- Võ Thị Thu Ngọc: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” luận văn thạc sĩkinh tế, Đại học Kinh Tế - Đại học Huế, năm 2011.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều nội dungquan trọng về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, các kết quả đạtđược đã có tác động nhất định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước vàcác địa phương Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá Vì vậy, trong giai đoạnhiện nay để phát triển kinh tế xã hội của thị xã đang rất cần các kết quả nghiên cứu cótính khoa học và thực tiễn làm cơ sở cho việc hoạch định phương hướng và giải phápphát triển kinh tế xã hội thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung

Phân tích và nêu ra được những cơ sở lý luận của chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành trên cơ sở đó phân tích và đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Mục tiêu cụ thể

+ Phân tích, đánh giá đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở thị

xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá từ năm 2006 đến 2013

+ Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnhquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chuyển dịchkinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

- Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xãSầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá từ năm 2006 – 2013.

- Đề ra quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục thực hiện chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề kinh tế chủ yếu của cơ cấu kinh tế ngành

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Địa bàn thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá

- Về thời gian: Nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xãSầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá từ năm 2006-2013 và đề xuất các định hướng, giải phápthúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá đến năm 2015 và 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đềtài đã sử dụng một số phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp thống kê kinh tế và thu thập thông tin, nhằm tổng hợp vàphân tích thống kê các tài liệu thu thập được về thực trạng cơ cấu kinh tế ngành vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn

- Phương pháp hệ thống, để khái quát hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của đềtài, cũng như để đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu để chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành của thị xã Sầm Sơn

- Số liệu trong đề tài chủ yếu là số liệu thứ cấp: sử dụng các phương phápphân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh, thống kê, đánh giá thông qua các tư liệu,sách tham khảo, các tạp chí chuyên ngành, báo cáo của phòng, sở, ban, ngành trongthị xã và cả tỉnh; niên giám thống kê, các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

6 Những đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá

- Đánh giá kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnhThanh Hoá trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2006- 2013 Đồng thời, chỉ ranhững tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

- Đưa ra quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đẩymạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá trongthời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kếtcấu thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngànhtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thị xã Sầm Sơn,tỉnh Thanh Hoá

Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thị xã Sầm Sơn, tỉnhThanh Hoá

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ,

HIỆN ĐẠI HOÁ

1.1 Cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành

1.1.1.1 Cơ cấu kinh tế

Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng thì cơ cấu hay kết cấu là mộtphạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng, là tập hợp những mối liên

hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các bộ phận cấu thành nên đối tượng đó trongmột thời gian nhất định

Theo quan điểm của Mác, cơ cấu kinh tế của một xã hội là toàn bộ những quan

hệ sản xuất phù hợp với quá trình sản xuất nhất định của lực lượng sản xuất vậtchất, cơ cấu là một sự phân chia về chất và tỷ lệ số lượng của những quá trình sản

xuất xã hội Các Mác cho rằng: “ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình,

con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của

họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy cũng hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội”.[22]

Từ những quan niệm về cơ cấu kinh tế nói trên có thể hiểu khái quát: “ Cơ cấukinh tế là một phạm trù kinh tế, nó bao gồm tổng thể các bộ phận cấu thành của nềnkinh tế quốc dân trong quá trình tái sản xuất xã hội như các ngành kinh tế (côngnghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế Các bộphận này gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ

về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhấtđịnh, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội cao Ở mỗi vùng, mỗi ngành lại

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

có cơ cấu riêng của nó phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cụthể” [14;6 ].

Trong tiếp cận cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải xem xét các yếu tố của lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất, trong trạng thái có tính tương đối ổn định, lịch sử cụthể, phát triển theo đúng các quy luật khách quan, nhất là mối quan hệ chứa đựngtrong đó quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất Chính tính tương đối ổn định này làm cho cơ cấu kinh tế biến đổi trong giớihạn cho phép, mà nếu vượt qua giới hạn đó, hệ thống kinh tế xã hội chuyển sangloại hình cơ cấu khác Từ sự phân tích trên có thể rút ra những khía cạnh không thểthiếu được khi tiếp cận khái niệm cơ cấu kinh tế, đó là:

- Cơ cấu kinh tế bao gồm các bộ phận cấu thành mối quan hệ biện chứng giữaquan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra thông qua mối quan hệ kinh tế giữa cácngành và nội bộ ngành, giữa các vùng kinh tế và giữa các thành phần kinh tế với nhau.+ Cơ cấu kinh tế được xem xét trên cả hai mặt định tính và định lượng củatừng yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa

+ Cơ cấu kinh tế được xem xét trong điều kiện lịch sử của mỗi nước, mỗi địaphương, mỗi ngành trong từng thời kỳ nhất định

+ Gắn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội được xác định trong từng thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa

Từ đó có thể rút ra khái niệm cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng

thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế gắn với trình độ công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với tính chất của mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận; gắn với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định; nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Cơ cấu kinh tế là hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển củalực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó Để đánh giá chính xác cơ cấukinh tế và ứng dụng đúng đắn cơ cấu đó vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

từng địa phương trong từng giai đoạn phát triển, cần lưu ý những đặc trưng sau của

cơ cấu kinh tế

Thứ nhất: Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan

Thứ hai: Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử

Thứ ba: Cơ cấu kinh tế có tính mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội

Thứ tư: Cơ cấu kinh tế mang tính thị trường và mở cửa

Cơ cấu kinh tế, xem xét trên cấp độ nền kinh tế quốc dân hay trên một vùnglãnh thổ, về mặt nội dung, là một hệ thống đa cơ cấu hợp thành, thường bao gồm:+ Cơ cấu ngành kinh tế (cơ cấu kinh tế ngành)

+ Cơ cấu vùng (hay lãnh thổ) kinh tế

+ Cơ cấu thành phần kinh tế

Với mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài, nội dung luận văn tập trung chủyếu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

1.1.1.2 Cơ cấu kinh tế ngành

Cơ cấu kinh tế ngành là xét nền kinh tế dựa trên cơ sở phân công lao động

xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thành các ngành nghề khác nhau Cơ cấu kinh tếngành là tổng thể các ngành của nền kinh tế quốc dân được hợp thành theo mộtquan hệ tỷ lệ về lượng, thể hiện mối quan hệ giữa các ngành và phản ánh trình độ

phát triển của nền kinh tế “ Cơ cấu kinh tế ngành là tổng thể các ngành kinh tế

quốc dân, trong mối quan hệ hữu cơ, tương tác lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành đó với nhau và với nền kinh tế quốc dân trong không gian, thời gian và những điều kiện kinh tế xã hội nhất định”[15;4] Như vậy, cơ cấu kinh

tế ngành phụ thuộc vào sự phân ngành kinh tế và sự phân chia này lại thay đổi theothời gian, tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế ngành được hiểu theo các nội dung sau:

+ Một là, số lượng các ngành kinh tế cấu thành Số lượng các ngành kinh tế

không cố định mà luôn hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội.Căn cứ vào tính chất của phân công lao động xã hội biểu hiện qua sự khác nhau về

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

quy trình công nghệ tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ có thể phân hệ thống kinh

Nhóm ngành dịch vụ ( khu vực III): Gồm các ngành thương mại, dịch vụ, dulịch, tài chính, bưu điện…

Trong cơ cấu kinh tế ngành, khu vực I và khu vực II là nhóm ngành sản xuấtvật chất, còn khu vực III thuộc nhóm ngành phục vụ sản xuất vật chất Trong mỗinhóm ngành sẽ có từng phân ngành nhỏ hơn

+ Hai là, mối quan hệ giữa các ngành Trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất

định, các ngành kinh tế có mối quan hệ liên kết, phối hợp, tương tác qua lại vớinhau theo những nội dung, cách thức nhất định và được biểu hiện ở các quan hệ về

số lượng tương quan về chất lượng Về số lượng, CCKTN thể hiện ở tỷ trọng củamỗi ngành trong tổng thể hệ thống kinh tế; về chất lượng, CCKTN phản ánh vị trí,tầm quan trọng của từng ngành và mối quan hệ tính chất tác động qua lại giữa cácngành với nhau

+ Ba là, sự hình thành CCKTN phản ánh khả năng khai thác các nguồn lực

hữu hạn hiện có Sự hình thành và phát triển các ngành kinh tế luôn dựa trên việckhai thác các nguồn lực hữu hạn của nền kinh tế, do đó CCKTN phản ánh quy mô

và tính hiệu quả của việc phân bố các nguồn lực hữu hạn vào các ngành sản xuấtriêng trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định

+ Bốn là, CCKTN luôn vận động và thay đổi theo từng thời kỳ phát triển Số

lượng các ngành cấu thành tổng thể hệ thống kinh tế và mối quan hệ giữa chúngbao giờ cũng được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Tuynhiên, số lượng các ngành không cố định và mối quan hệ giữa các ngành luôn thayđổi cùng với sự vận động và biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội Do vậy CCKTN

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

là phạm trù động, luôn luôn vận động, thay đổi theo từng thời kỳ phát triển và làdấu hiệu phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế.

Khi xem xét CCKTN người ta thường dùng các chỉ tiêu: Giá trị sản phẩm và

tỷ trọng giá trị sản phẩm của các ngành, tốc độ tăng trưởng chung và tốc độ tăngtrưởng của từng ngành và không chỉ dựa trên chỉ tiêu giá trị, mà còn phải phân tíchchỉ tiêu cơ cấu lao động, chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư…tổng hợp các chỉ tiêu đó phảnánh thực trạng cơ cấu kinh tế ngành

1.1.2 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Cũng như các sự vật, hiện tượng khác, sự phát triển của một nền kinh tế khôngchỉ thể hiện ở quy mô kết quả của các hoạt động kinh tế mà còn thể hiện ở sự thayđổi cấu trúc của nền kinh tế, trong đó bao hàm cả sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là “sự biến đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này

sang trạng thái khác trong một thời kỳ nhất định, phù hợp với điều kiện khách quan

và chủ quan đảm bảo cho sự phát triển nền kinh tế”.[13;12]

Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, các ngành kinh tế cũng khôngngừng vận động và phát triển dẫn đến sự thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mốiquan hệ tương tác giữa chúng trong nền kinh tế, đó chính là sự chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, trên thực tế là kết quả của mộtquá trình, trong đó sự vận động phát triển của bản thân các ngành dẫn đến sự thayđổi tương quan tỷ lệ và mối quan hệ vốn có của chúng trong nền kinh tế quốc dân

Như vậy, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự biến đổi và sự vận động,

phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương tác giữa chúng theo thời gian dưới tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội của đất nước và quốc tế nhất định”[11;27].

Xét trong một khoảng không gian và thời gian nhất định, do nhiều nguyênnhân khác nhau như sự thay đổi của nhu cầu thị trường, sự phát triển của khoa học -công nghệ hoặc do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

- Sự xuất hiện thêm một số ngành kinh tế mới hoặc mất đi của một số ngành

đã có dẫn đến sự thay đổi về số lượng và loại ngành trong nền kinh tế Sự thay đổinày chỉ có thể nhận biết được khi hệ thống phân loại ngành đã đủ chi tiết

- Sự không đồng đều về tốc độ quy mô và tăng trưởng của các ngành dẫn đến

sự thay đổi tương quan tỷ lệ và mối quan hệ giữa các ngành trong nền kinh tế Tăngtrưởng về quy mô và nhịp độ khác nhau của các ngành dẫn đến sự thay đổi cơ cấu

Sự biến đổi cơ bản kinh tế ngành và sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành là kết quả của

sự phát triển không đồng đều giữa các ngành sau mỗi giai đoạn

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành còn thể hiện ở sự thay đổi số lượng cácngành có liên quan với nhau làm thay đổi mối quan hệ tác động qua lại giữa cácngành trong nền kinh tế Mức độ tác động qua lại giữa các ngành này với ngànhkhác thể hiện thông qua quy mô mà nó cung cấp cho các ngành hay nhận được từcác ngành đó Những thay đổi này thường liên quan đến thay đổi về công nghệ sảnxuất sản phẩm hay khả năng thay thế cho nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội trongđiều kiện mới

- Sự tăng trưởng của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu ngành trong mỗi nềnkinh tế cho nên CDCCKTN xảy ra như là kết quả của quá trình phát triển, và đây làquy luật tất yếu Vấn đề đáng quan tâm là sự CDCCKTN diễn ra theo chiều hướngtốc độ như thế nào

Như vậy, có thể nói CDCCKTN là một quá trình mang tính khách quan bắtnguồn từ sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất dưới tác động của

sự phát triển lực lượng sản xuất và sự thay đổi của nhu cầu thị trường Tuy nhiên conngười trên cơ sở nhận thức các quy luật khách quan vẫn có thể có những tác động nhấtđịnh đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngànhnói riêng

1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1.1.3.1 Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hoá đã được nhân loại thừa nhận là con đường tất yếu đạt tới sựphát triển ở trình độ cao của mọi quốc gia Tuy nhiên lịch sử công nghiệp hoá của

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

các nước trên thế giới có quá trình lâu dài và trong những điều kiện khác nhau nên

có nhiều nhận thức khác nhau về công nghiệp hoá

Theo quan điểm của tổ chức phát triển nông nghiệp của Liên Hợp Quốc

(UNIDO) đã đưa ra một số định nghĩa như sau: “Công nghiệp hoá là một quá trình

phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao và đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về nền kinh tế xã hội” [14;8-9].

“Công nghiệp hoá không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn là thựchiện sự chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành kinh tế, từng lĩnh vực, từng vùng lãnh thổ

và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghệ tiên tiến, hiện đại” [14;9]

Ở Việt Nam, từ những năm 60 của thế kỷ XX Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với chủ trương chú trọng phát triểncông nghiệp nặng, công nghiệp truyền thống, coi nhẹ lĩnh vực chế biến, dịch vụ và

cả nông nghiệp Thời kỳ này công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa được đồng nhất vớiphát triển đại công nghiệp, cộng với cách làm nóng vội, chủ quan nên mặc dù cóđầu tư nhiều nhưng hiệu quả đạt được rất thấp

Từ cuối những năm 1980, cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, quanniệm về công nghiệp hoá ở Việt Nam cũng ngày càng được làm sáng tỏ hơn, phùhợp với điều kiện cụ thể của đất nước, trong bối cảnh khoa học – công nghệ pháttriển như vũ bảo và xu thế toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi côngnghiệp hoá (CNH) phải gắn với hiện đại hoá (HĐH), kết hợp với những bước tiếntuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội thuận lợi để hình thành nhữngngành mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học – công nghệ thế giới

Về bản chất, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm tiến hànhcông nghiệp hoá trong lịch sử và từ thực tiễn công nghiệp hoá ở Việt Nam thời kỳđổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt

động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo năng suất lao động xã hội cao” [9;25].

Về mục tiêu, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam có mụctiêu lâu dài là xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội trên cơ sởmột nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại, tạo ra lực lượng sản xuất mới vớiquan hệ sản xuất ngày càng tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộ công bằng, dân chủ,văn minh

Quan điểm đó của Đảng được xác định qua các kỳ Đại hội lần thứ VIII và tiếptục được khẳng định tại đại hội lần thứ IX, X và thứ XI là: “sớm đưa nước ta ra khỏitình trạng nước kém phát triển….đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triểnnền kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại vào năm 2020” [7;] Tiếp đến Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng cộngsản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyểnđổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tê –

xã hội từ sử dụng lao động thủ công là sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùngvới công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển củacông nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [10]

Để thực hiện mục tiêu tổng quát đó, mỗi giai đoạn phát triển cần thực hiện những mụctiêu cụ thể nhất định, trong những năm trước mắt chúng ta cần đẩy mạnh công nghiệphoá nông nghiệp nông thôn, phát triển nhanh các ngành xây dựng và dịch vụ, phát triểnkinh tế vùng và kinh tế biển

Về nội dung, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là quá trình pháttriển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hộitrên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựukhoa học – công nghệ hiện đại

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

Từ những nhận thức trên, Đảng ta đã nêu ra một số quan điểm về công nghiệphoá, hiện đại hoá như sau:

- Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khuvực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sảnphẩm trong nước

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phầnkinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

- Phải lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội

- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương ánphát triển, lựa chọn đầu tư, công nghệ, khai thác tối đa năng lực hiện có

- Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong mô hình công nghiệp hoá gồmnhững mô hình như: Mô hình công nghiệp hoá kiểu “cổ điển”; mô hình công nghiệphoá theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung; mô hình công nghiệp hoá thay thế nhậpkhẩu; mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu; mô hình “công nghiệp hoá,hiện đại hoá rút ngắn”

Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta không chỉ đơn thuần là sựphát triển công nghiệp thuần tuý mà là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết vềvật chất – kỹ thuật, về con người và khoa học – công nghệ, thúc đẩy cơ cấu kinh tếnhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năngsuất lao động, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và bền vững, tạo điều kiện nângcao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xãhội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

1.1.3.2 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa không chỉ đơn thuần là tăng tốc độ sản xuất công nghiệptrong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới công

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và phát triển bền vữngcủa toàn bộ nền kinh tế.

Do đó, mối quan hệ giữa CDCCKT và quá trình CNH, HĐH đất nước là mốiquan hệ biện chứng: vừa là nguyên nhân vừa là kết quả; vừa là nội dung vừa là biệnpháp Đối với nước ta hiện nay CDCCKT phải trên quan điểm CNH, HĐH

Vậy thế nào là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH?

Xét ở khía cạnh là một nội dung của CNH, HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành theo hướng CNH, HĐH là quá trình làm biến đổi các yếu tố của cơ cấu kinh

tế theo hướng đẩy mạnh các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ, ứng dụngrộng rãi công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại do chính sự pháttriển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra vào trong tất cả cáckhâu, các yếu tố, các quá trình sản xuất kinh doanh của các ngành, các lĩnh vực kinh

tế - xã hội nhằm khai thác tốt các lợi thế so sánh về tự nhiên, kinh tế - xã hội và cácđiều kiện thuận lợi do yếu tố thời đại tạo ra để đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh,phát triển bền vững, hiệu quả cao, hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới

Như vậy, có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp

hóa, hiện đại hóa là quá trình biến đổi hay cấu trúc lại các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế dựa trên nền tảng các nguồn lực với quy mô, tỷ trọng và trình độ khoa học – công nghệ nhất định; phù hợp với điều kiện khách quan của nền kinh tế nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.

Theo đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH bao gồmmột số nội dung sau đây:

- Xét trên góc độ hay nhóm ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế theo ngành phản ánhtrình độ phản ánh trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lựclượng sản xuất do đó phản ánh trình độ phát triển của một nền kinh tế Ở nước ta, sựphân chia các khu vực hoạt động kinh tế- xã hội gồm các khu vực I, khu vực II và khuvực III

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

- Xét trên góc độ nội bộ ngành Có thể nói, định hướng mô hình tăng trưởng –một nội dung cốt lõi của mô hình CNH, HĐH của nền kinh tế nước ta trong giaiđoạn tới vẫn là tăng trưởng dựa vào xuất khẩu Tuy hiện nay, sự phân biệt giữa các

mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu và mô hình thay thế nhập khẩu đang “mờdần”, song, đối với nước ta tăng trưởng hướng vào xuất khẩu vẫn là mô hình tăngtrưởng có khả năng đáp ứng tốt hơn mô hình thay thế nhập khẩu ở ba yêu cầu chủyếu Một là, yêu cầu hội nhập quốc tế Hai là, tiếp cận hiệu quả đến nền kinh tế dựatrên công nghệ hiện đại và có khả năng tự cải thiện năng lực cạnh tranh Ba là, sửdụng tốt các nguồn nội lực, nhất là các nguồn có lợi thế “tĩnh” nhưng trở thành bấtlợi trên quan điểm “động”

Phù hợp với mô hình tăng trưởng lựa chọn nói trên, định hướng CDCCKTNtheo hướng CNH, HĐH trong thời gian tới phải được thay đổi mạnh mẽ so với xuhướng thực tiễn đã và đang diễn ra

- Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành cần phải nhằm mục tiêu tạo nhiều việclàm và nâng cao thu nhập cho người lao động

Điều đầu tiên đối với sự CDCCKTN là phải tạo nhiều việc làm mới và phát huylợi thế nguồn nhân lực Lượng lao động tăng thêm từ nay đến năm 2015 chủ yếu làkhu vực nông thôn Vì vậy giải quyết việc làm ở nông thôn, chuyển một bộ phậnlớn lao động nông nghiệp ở nông thôn sang hoạt động trong các ngành nghề kháctại nông thôn, tại thành thị là đòi hỏi mà cơ cấu ngành kinh tế phải tính đến

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải đảm bảo ổn định chính trị - xã hội vàphát triển bền vững

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhanh chóng theo hướng CNH, HĐH trongđiều kiện hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới là cơ sở vững chắc để pháttriển kinh tế nhanh, nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh từng ngành, sản phẩm cũngnhư toàn bộ nền kinh tế Cơ cấu ngành thay đổi về chất dưạ trên đổi mới công nghệ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

sâu hơn và nhanh hơn nhằm tăng năng suất lao động xã hội , nâng cao chất lượngtăng trưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.

+ CDCCKTN theo mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu

Thực hiện chiến lược tăng trưởng nhanh, bền vững, lấy tăng trưởng xuất khẩulàm một trong những động lực chủ yếu vừa là đòi hỏi khách quan, vừa có khả nănghiện thực ở nước ta Bởi vì, “tăng trưởng hướng vào xuất khẩu” về thực chất là thựchiện mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” nhằm phát triển kinh tếnhanh và hiệu quả, thoát khỏi tình trạng tụt hậu, rút ngắn con đường đi lên nền kinh

tế hiện đại và chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

+ CDCCKTN phải dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh

và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

Khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh, bao gồm cả lợi thế so sánh “tỉnh” và lợithế so sánh “động” là một trong những yêu cầu xuyên suốt đối với quá trìnhCDCCKTN Để hội nhập sâu và hiệu quả vào kinh tế khu vực và quốc tế, trước mắtchiến lược cơ cấu kinh tế ngành phải dựa trên cơ sở nguồn lực trong nước về lựclượng lao động, dựa vào thế mạnh tài nguyên thiên nhiên, khai thác và chế biếnchúng cho cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài

1.1.3.3 Sự cần thiết và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa

- Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

+ Xuất phát từ tình hình, xu hướng chung của khu vực, thế giới

Trong mấy thập niên qua các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương đã tậndụng khá tốt những lợi thế so sánh để phát triển nền kinh tế của mình nên đã đạt tốc

độ tăng trưởng khá cao, làm cho khu vực này trở thành khu vực phát triển năngđộng nhất thế giới Nhờ đó đã phát triển những nước công nghiệp hoá mới, cónhững nước đã đứng vào hàng ngũ các nước có tốc độ tăng trưởng cao Cùng vớitốc độ tăng trưởng ở các nước này giá nhân công ngày càng tăng đã làm giảm khảnăng cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra bởi giá thành tăng Các nước kém

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

phát triển hơn lại có nhu cầu tiếp nhận các công nghệ có trình độ thấp để từng bướctham gia vào thị trường thế giới, tạo ra cơ may và tăng cường khả năng cạnh tranhtrên thị trường thế giới Sự gặp gỡ cung và cầu công nghệ trình độ thấp đã thúc đẩynhanh quá trình chuyển giao công nghệ và đầu tư trực tiếp vào các nước đang pháttriển làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở các nước này.

Mặt khác, sự đổi thay nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tạo ra nhữnglĩnh vực công nghệ mới, có hiệu quả cao đặc biệt là các công nghệ tiết kiệm tàinguyên , bảo vệ môi trường Việt Nam là một trong những nước đang phát triển,bên cạnh những thành tựu đạt được ở mọi lĩnh vực Tuy nhiên hiện nay chúng tacòn nhiều mặt còn hạn chế và chưa đạt được so với các nước trong khu vực và trênthế giới vì vậy trong tương lai chúng ta cần phải phấn đấu hơn nữa Một trongnhững giải pháp quan trọng là phải điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấungành cho phù hợp với tình hình kinh tế trong khu vực và trên thế giới theo hướngCNH, HĐH

+ Xuất phát từ yêu cầu trong nước

Mục tiêu CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ

sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiên tiến, phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Để thực hiện được mục tiêu trênđòi hỏi nước ta phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tếtheo hướng CNH, HĐH

- CDCCKTN nhằm đáp ứng được sự phân công lao động quốc tế, sớm đưaViệt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới, tạo cho chúng ta có được chỗ đứng vàthế mạnh trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

- Việt Nam đã gia nhập AFTA, WTO; việc tham gia vào các tổ chức này về

cơ bản sẽ mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội và cũng có nhiều thách thức Việc tậndụng các cơ hội và đối phó với những thách thức buộc chúng ta phải có chiến lượccông nghiệp hoá đúng đắn, có sự chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ nhằm thúc đẩy sựphát triển trong nước, đưa hàng hoá của chúng ta đủ sức cạnh tranh đối với hànghoá của các nước khác

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân mang lại nhiều cơ hội cho sự pháttriển công bằng Ta thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành sẽ mang lại điều này mộtcách tốt nhất, bởi nó tạo ra nhiều cơ hội làm việc và tạo điều kiện cho đông đảo chotầng lớp nhân dân tiếp cận cơ hội đó, từ đó sẽ làm cho đời sống của người dân vùngnông thôn ngày càng được cải thiện.

- Việt Nam là một nước đi sau trong phát triển, muốn đuổi kịp các nước khácmột cách nhanh chóng thì cần có chiến lược CNH, HĐH một cách đúng đắn, phải

có một cơ cấu kinh tế hợp lý, phải có một cơ cấu ngành đủ mạnh sẵn sàng tham giaphân công lao động quốc tế và cạnh tranh trên thị trường thế giới

- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên thế giới và ở Việt Nam

+ Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên thế giới

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi các yếu tố trong cấu trúc vàmối quan hệ của các yếu tố hợp thành nền kinh tế theo một chủ đích và phươnghướng xác định Quá trình CNH, HĐH với mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật cho nền kinh tế, tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế, đặc biệt là

- Chuyển từ nội bộ khu vực sản xuất vật chất chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu

từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp Xu hướng này chủ yếu ở các nước đangphát triển, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá

+ Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam

Nếu như trước thời kỳ đổi mới với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêukéo theo tình trạng lãng phí, hiệu quả kinh tế không cao, thì bước vào công cuộc đổimới quá trình CDCCKTN của nước ta đem lại những kết quả rất tích cực

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

Xu hướng biến đổi nội bộ ngành nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH là:chăn nuôi phát triển nhanh và trở thành một ngành chính, trong trồng trọt thì tỷtrọng giá trị sản phẩm lương thực giảm, giá trị sản phẩm cây công nghiệp tăng, songgiới hạn của sự vận động này phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và việc ứng dụngcác thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất.

Xu hướng biến đổi nội bộ ngành công nghiệp: CNH bắt đầu từ công nghiệpnhẹ đến các ngành công nghiệp nặng Chỉ đến khi các ngành công nghiệp nặngđược cơ khí hoá mới hoàn thành công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân Trong thờiđại ngày nay, quá trình công nghiệp hoá ở các nước kinh tế kém phát triển được tiếnhành dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong xu thế toàn cầuhoá kinh tế, việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp mũi nhọn nhằm phát huylợi thế quốc gia trong hệ thống phân công lao động quốc tế, mặt khác hình thànhmột cơ cấu công nghiệp đa ngành phục vụ các ngành công nghiệp mũi nhọn, thúcđẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển

Xu hướng biến đổi cơ cấu ngành dịch vụ : Tập trung phát triển các ngành dịch vụđầu vào và dịch vụ quá trình sản xuất, đây là những nhân tố quan trọng không thể thiếuđược đối với sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, ngành dịch vụ phát triển nhanh

1.2 Những nhân tố thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.1 Nhân tố về địa lý và tài nghuyên thiên nhiên

Các nhân tố tự nhiên bao gồm các nhân tố như vị trí địa lý, điều kiện khí hậu,thỗ nhưỡng, nguồn đất đai, nguồn tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng , tàinguyên nước…Đối với nền kinh tế kém phát triển, đang trong thời kỳ công nghiệphoá thì cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nói riêng chịu sự chi phốirất lớn của vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên Chính sự khác biệt về vị trí địa

lý và tài nguyên thiên nhiên đã tạo ra lợi thế so sánh của từng quốc gia, từng vùnglãnh thổ, cho phép hình thành nên những ngành nghề có tính cạnh tranh và hiệuquả cao Vì vậy, để nền kinh tế đạt hiệu quả cao cần thiết phải có chiến lược xây

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với những vị trí địa lý và tài nguyênthiên nhiên.

Là một nước nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nguồn tàinguyên tương đối phong phú, có đường bờ biển kéo dài nên Việt Nam có nhiều lợithế để phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, phát triển các ngành công nghiệp khaithác, chế biến khoáng sản có trữ lượng lớn, phát triển du lịch và các ngành dịch vụgắn với biển Mặt khác chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác hiệuquả các lợi thế tự nhiên cũng như cần phải chú trọng đến bảo vệ và cải tạo môitrường tự nhiên

1.2.2 Nguồn lực con người

Con người là yếu tố bền vững vô tận, là nhân tố cơ bản góp phần thúc đẩytăng trưởng và phát triển kinh tế Đó là con người có sức khỏe, có trí tuệ, có taynghề, có trình độ chuyên môn, có tổ chức chặt chẽ, có động lực và nhiệt tình trongcông việc

Nguồn nhân lực là yếu tố vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xãhội, do đó nguồn nhân lực có ảnh hưởng lớn đến quá trình tăng trưởng, phát triểnkinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nói riêng Các nhân tố vềdân số như mật độ dân số, quy mô dân số, tốc độ tăng dân số, tháp dân số có liênquan trực tiếp đến khả năng đảm bảo nguồn lao động và nhu cầu của thị trường, còn

số lượng và chất lượng lao động lại liên quan trực tiếp đến việc lựa chọn ngànhnghề và ngành nghề cần ưu tiên phát triển, do đó có tác động trực tiếp đến sự thayđổi và chuyển dịch cơ cấu các ngành trong nền kinh tế

Muốn phát huy nhân tố con người phải có hệ thống giáo dục, y tế…tốt Nhân

tố học vấn của con người không thể thông qua cơ chế thị trường mà hình thànhđược Thị trường tự nó không đủ khả năng cung cấp một nền giáo dục và đào tạođúng mức Do vây, Chính Phủ phải đóng vai trò chủ đạo trong việc đào tạo và sửdụng, tuyển chọn nhân tài

Vấn đề cần chú ý là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao Vì thế nâng cao

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

chất lượng nguồn lực con người có ý nghĩa sống còn đối với việc chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại.

1.2.3 Khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trình độphát triển và khả năng ứng dụng khoa học và công nghệ vào quá trình sản xuấtkinh doanh có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế.Khoa học công nghệ mới luôn luôn là động lực quan trọng đối với sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế

Khoa học và công nghệ phát triển cho phép nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, do đó tạo ra khả năng mở rộng và phát triểncác ngành nghề Sự tác động của khoa học công nghệ không chỉ tác động làm xuấthiện nhiều loại nhu cầu mới, làm thay đổi số lượng và cơ cấu nhu cầu của các ngànhdẫn đến sự thay đổi tốc độ phát triển của từng ngành mà còn cho phép các ngànhsản xuất kinh doanh phát hiện và khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ đó làm thayđổi số lượng ngành, phân ngành trong nền kinh tế

Khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động cao cho phép người lao động

có thể chuyển đổi nghề nghiệp theo hướng ai giỏi nghề gì thì làm nghề đố, từ đódẫn đến sự phân công lại lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng laođộng các ngành nghề phi nông nghiệp

1.2.4 Vốn đầu tư

Vốn là toàn bộ của cải vật chất được con người tích lũy lại và những của cải

tự nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản đã được cải tạo hoặc chế biến Vốn có thểbiểu hiện dưới hình thái hiện vật hoặc dưới hình thức tiền tệ Nguồn vốn có vai tròquyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung

và của một địa phương nói riêng Vốn tạo ra của cải vật chất góp phần đắc lực trongquá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, là yếu tốkhông thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội nói chung và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ngành nói riêng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

Không thể khai thác các nhân tố tác động ( kinh tế thị trường, các điều kiện

tự nhiên, các tiến bộ khoa học – công nghệ …) nếu không có nhân tố vốn đầu tư.Nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng vốn là nhân tố quan trọng đối với tăngtrưởng kinh tế Vốn đóng góp vào tăng trưởng sản lượng không chỉ một cách trựctiếp như một yếu tố đầu vào mà còn gián tiếp thông qua sự cải tiến kỹ thuật Hơnnữa thông qua cải tiến kỹ thuật thì kỹ năng của người lao động ngày càng đượcnâng cao và đến lượt nó sẽ làm tăng năng suất lao động giúp quá trình sản xuất trởnên có hiệu quả hơn

1.2.5 Nhân tố thị trường

Nhân tố thị trường bao gồm, thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường tiêuthụ sản phẩm Sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân phụ thuộc rất lớn vàothị trường các yếu tố đầu vào như: Thị trường vốn, thị trường vật tư, thiết bị , thịtrường sức lao động , thị trường khoa học công nghệ Quá trình thay đổi quy môsản xuất và cơ cấu sản phẩm của các ngành và đơn vị kinh tế phụ thuộc trực tiếpvào khả năng cung ứng, đảm bảo các yếu tố đầu vào của thị trường Vì vậy khi xâydựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhất thiết phải xem xét, đánh giá khảnăng đáp ứng các yếu tố đầu vào của thị trường

Nếu như thị trường các yếu tố đầu vào có vai trò quan trọng trong việc đápứng các yếu tố đầu vào để thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành thì thịtrường tiêu thụ sản phẩm lại có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của cả quátrình Thị trường tiêu thụ sản phẩm phản ánh trình độ và mức độ nhu cầu của xã hộiđối với sản phẩm và dịch vụ của các ngành kinh tế Chính quy mô, cơ cấu và cơ chếvận động của nhu cầu đã đặt ra những mục tiêu cho việc xây dựng và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ngành trong từng thời kỳ Vì vậy, cần thiết phải nhanh chóng nắm bắt

và kịp thời xử lý các thông tin của thị trường cả trong nước lẫn quốc tế để làm căn

cứ cho việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

1.2.6 Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ở Việt Nam thì vaitrò của Nhà nước có tác động rất lớn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, thể

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

hiện qua các chiến lược, quy hoạch và quyết định đầu tư phát triển các ngành mũinhọn của nền kinh tế.

Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết của mình thông qua hệ thống pháp luật,với các chính sách và một cơ chế quản lý nhất định Mục tiêu chiến lược và pháttriển kinh tế - xã hội từng thời kỳ bao gồm cả mục tiêu chiến lược và quy hoạchphát triển các ngành nghề kinh tế chính là cơ sở để từng ngành sản xuất xây dựngđịnh hướng và thực hiện có hiệu quả sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hệ thống cácchính sách kinh tế vĩ mô và pháp luật kinh tế được xây dựng một cách đồng bộ vàkhoa học sẽ có tác dụng định hướng và phát triển, điều tiết sản xuất, tạo điều kiện

và khuyến khích các ngành, các đơn vị kinh tế phát triển có hiệu quả

1.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở một số nước, địa phương trong nước và bài học rút ra đối với thị xã sầm sơn

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là nước có nhiều điểm giống nước ta về tính chất của sản xuấtnông nghiệp, bước chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hànghóa có định hướng của nhà nước Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 10%,tổng sản phẩm nội địa đạt 5.878 tỷ USD Sự tăng trưởng kinh tế phần lớn nhờ vàoviệc ngành sản xuất được rút quỹ đầu tư và việc các ngành công nghiệp trong nướccũng như các cơ sở hạ tầng được mở rộng

Vào cuối những năm 70 đầu năm 80 của thế kỷ XX Trung Quốc tiến hànhmột cuộc cải cách kinh tế với chủ trương: Cải cách và mở cửa Những vấn đề cơbản được đặt ra trong cải cách kinh tế của Trung Quốc là:

- Xây dựng thể chế kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc, chuyển đổi

cơ chế kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh theo hướng tự chủ kinh doanh và cạnhtranh thị trường

- Mở của với bên ngoài để tranh thủ nguồn vốn tài nguyên – kỹ thuật và kinhnghiệm quản lý của nước ngoài

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

- Xây dựng các đặc khu kinh tế ven biển ở nhiều tỉnh có điều kiện Thực hiện

đa phương hóa ngoại thương, phát triển kinh tế hướng ngoại

- Điều chỉnh và hợp lý hóa CCKT, phát triển ngành nông nghiệp nhằm tăngsản lượng một cách ổn định Tiếp tục phát triển ngành công nghiệp đi đôi với điềuchỉnh cơ cấu ngành công nghiệp Tập trung vào các ngành hàng cao cấp, côngnghiệp đồ điện và điện tử, công nghiệp chế tạo máy và thiết bị cho sản xuất nôngnghiệp, phát triển mạnh các xí nghiệp hương trấn để hỗ trợ thúc đẩy nông nghiệp vàcải tạo bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn

- Tăng nhanh các hoạt động ngành thương nghiệp, dịch vụ, ngân hàng – tàichính, du lịch ….do các thành phần kinh tế cùng thực hiện, phát triển mạnh cáccông ty tư nhân, hợp thức hóa nền nông nghiệp phân tán, khuyến khích các mô hình

tự nguyện sát nhập liên kết với nhau

- Phát huy ưu thế của các địa phương, đẩy mạnh phát triển kinh tế khu vực,hợp lý hóa CCKT toàn quốc theo chỉ đạo quy hoạch thống nhất của nhà nước

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là một nước công nghiệp mới phát triển, được xếp là nước có nềnkinh tế thị trường đứng thứ 11 trên thế giới Hàn Quốc đã chuyển đổi cơ cấu ngànhtheo hướng CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực: Tăng tỷ trọng côngnghiệp trong GDP từ 33,6% năm 1975 đến 43,25% năm 1995 và đến nay là 40,2%,tăng tỷ trọng ngành dịch vụ từ 42% GDP năm 1975 lên 50,9% năm 1995 và đến nay

là 54,6%, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP từ 60% xuống còn 24,5% vào năm

1975, 6,2% năm 1995 và chỉ còn 5,2% vào năm 2009 Có sự chuyển dịch nhanh cơcấu kinh tế ngành như trên là do :

- Hàn Quốc lựa chọn mô hình chuyển dịch CCKTN theo hướng CNH, HĐH

“ rút ngắn” : Rút ngắn thời kỳ xây dựng công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, nhanhchóng chuyển sang xây dựng cơ cấu ngành hướng về xuất khẩu Quá trình chuyểnđổi cơ cấu ngành của Hàn Quốc bắt đầu từ cơ cấu nông nghiệp sang cơ cấu côngnghiệp, từ công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn sang công nghiệp sử dụng côngnghệ cao nhưng với thời gian rút ngắn hơn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

- Lựa chọn cơ cấu ngành dựa trên lợi thế so sánh của đất nước Những năm

1960, để khai thác và sử dụng nguồn lao động dồi dào, Hàn Quốc phát triển mạnh cácngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động như dệt may, tơ sợi, dày dép và các sảnphẩm thuộc da Vào thập niên 1970 lựa chọn các ngành công nghiệp nặng và côngnghiệp hóa chất, ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao Đã chuyển đổi cơ cấucông nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn sang công nghiệp sử dụng công nghệ cao

- Thực thi linh hoạt chính sách tự do hoá thương mại nới lỏng các hạn chếđối với việc nhập các mặt hàng chế tạo, thực hiện tự do hoá nhập khẩu , giảm tỷ lệthuế quan bình quân từ 23,7% năm 1983 xuống 8,8% năm 1993, bỏ hàng rào phithuế quan đối với nhiều loại hàng hoá dịch vụ, kể cả dịch vụ tài chính, đơn giản hoácác thủ tục nhập khẩu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

- Đã từng bước thực hiện tự do hóa đầu tư nước ngoài Để tăng thu hút đầu

tư nước ngoài, Hàn Quốc tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, tạo hành langpháp lý, có chính sách ổn định tiền lương, giá thuê đất, ủng hộ, phát triển doanhnghiệp vừu và nhỏ; khuyến khích các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ, kỹ thuậttiên tiến và đặc biệt là cải cách thể chế

- Chuyển đổi cơ cấu nhập khẩu, lựa chọn một cơ cấu thị trường xuất khẩulinh hoạt theo hướng đa dạng hoá để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Suốt ba thập

kỷ qua, thị trường xuất khẩu chính của Hàn Quốc là Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu vàĐông Nam Á

- Khi xu hướng khu vực hoá tăng lên, môi trường trong nước và thương mạiquốc tế phát triển bất lợi, Hàn Quốc đã cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển các ngành cầnnhiều lao động, công nghệ thấp sang các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Caribe

và phát triển các ngành công nghệ cao để cạnh tranh với hàng hóa của Mỹ, NhậtBản Khi cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ xảy ra, mặt trái của sự phát triển quánóng vội và cơ cấu kinh tế bất cân đối của Hàn Quốc đã bộc lộ rõ, chính điều này đãlàm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc giảm sút và tình hình chính trị xãhội bất ổn Trước thực tế này Hàn Quốc đã tiến hành những điều chỉnh mới, ưu tiênđẩy mạnh cải cách chính sách tài chính - tiền tệ khắc phục hậu quả của cuộc khủng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

hoảng, tái cơ cấu kinh tế theo hướng tự do hóa thương mại, đầu tư, sự tiến bộ củakhoa học – kỹ thuật không ngừng để phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

1.3.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là một trong các quốc gia Đông Nam Á duy trì được tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao, liên tục với mức bình quân 7%/năm Cách đây trên 30 năm, TháiLan có cơ cấu kinh tế tương đối giống Việt Nam Từ đầu những năm 70, chính phủThái Lan đã có nhiều cuộc bàn luận để xác định hướng phát triển kinh tế Hai xuhướng chủ yếu là: Phát triển ngành nông nghiệp toàn diện, thâm canh và HĐH đểtrở thành nền nông nghiệp hàng hóa; phát triển mạnh ngành công nghiệp hàng tiêudùng đồng thời xây dựng ngành công nghiệp điện tử

Sau một số lần điều chỉnh hướng phát triển, đến nay nền kinh tế Thái Lan đãtrở thành một nền công – nông nghiệp khá phát triển, có sản lượng xuất khẩu đứnghàng thứ hai thế giới, cùng nhiều mặt hàng nông sản phẩm công nghiệp xuất khẩu.Một số mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan là quần áo, vải vóc, máy tính, đồtrang sức và trang trí, gạo, dày dép, hải sản…xu hướng đang tiến tới sản phẩm điện

tử sẽ thay thế hàng dệt và trở thành mặt hàng xuất khẩu hàng đầu

Việc đầu tư phát triển sẽ tập trung cho các đô thị, khu công nghiệp và vùngnông nghiệp sản xuất hàng hóa trọng điểm Tuy nhiên gạo xuất khẩu có chất lượng cao,bột sắn và nhiều nông sản chế biến xuất khẩu của Thái Lan vẫn có vị trí quan trọng trênthị trường thế giới Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan vẫn vào loại cao của cácnước trên thế giới Đặc biệt, với tốc độ tăng trưởng năm 1989 là 12,2% và năm 1990 là11,6% đã đưa thu nhập bình quân đầu người từ 900USD năm 1987 lên 2700USD vàonăm 1997 Năm 2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này đạt 4,5% Để đạt đượcthành tựu trên Thái Lan đã áp dụng những chính sách và các biện pháp:

- Thực hiện điều chỉnh ngành theo mô hình công nghiệp hoá rút ngắn;chuyển mô hình cơ cấu ngành kinh tế hướng nội sang mô hình kinh tế hướng vềxuất khẩu Vào năm 1995, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP chiếm 10,7%, tỷ trọngcông nghiệp là 41,7% và dịch vụ là 47,46% GDP và đến nay các tỷ trọng tương ứng

là 10,2%, 44,2% và 45.6%

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

- Thái Lan đã thực hiện cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng đa dạng , vừatận dụng được lợi thế tài nguyên thiên nhiên, vừa thâm nhập vào được nhữngkhoảng trống trong phân công lao động quốc tế Ngày nay Thái Lan phát triển mạnhcác ngành có hàm lượng công nghệ cao như điện tử, điện dân dụng

- Thái Lan đã áp dụng cơ chế “Chính Phủ cứng và thị trường mềm”, tăngcường vai trò công ty tư nhân, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế hướng vềxuất khẩu

Để vượt qua những khó khăn, thách thức mới và phát triển nền kinh tế đấtnước Thái Lan đã thực hiện nhiều giải pháp, nhất là điều chỉnh lại cơ cấu ngànhkinh tế, xây dựng hệ thống chính sách ưu đãi năng động và thực tế, tự do hóathương mại và giá cả triệt để theo cơ chế thị trường, khuyến khích sản xuất, kinhdoanh, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa sao cho phù hợpvới điều kiện mới và đạt hiệu quả cao hơn

Cơ cấu kinh tế của Thái Lan dần chuyển dịch, ngành công nghiệp và dịch vụ

đã đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai trò của nông nghiệp giảm dần.Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra chậm, các ngành công nghiệp

sử dụng nhiều lao động đã từng thúc đẩy sự tăng trưởng của Thái Lan trong mộtthời gian dài nay đã lỗi thời Những ngành dư dệt, dày dép và đồ chơi….khó có thểphục hồi do sự cạnh tranh của Trung Quốc và các nước khác Những cố gắng củaThái Lan khi đi theo một số nước Châu Á khác nhằm phát triển thị trường điện tử

đã bị thất bại Mặc dù việc sản xuất và xuất khẩu loại hàng hóa này vẫn đang tồn tại,nhưng nền công nghiệp điện tử của Thái Lan vẫn là lắp ráp và đóng gói

1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước

1.3.2.1 Kinh nghiệm CDCCKTN ở thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng được xác định là một trong 5 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọngđiểm Miền Trung, đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy pháttriển cho cả khu vực Kinh tế Đà Nẵng đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cựcphù hợp với xu thế chung của cả nước, đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

từ công nghiệp - dịch vụ sang dịch vụ - công nghiệp, trong đó ngành dịch vụ có tốc

độ tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn (năm 2010 tỷ trọng ngành nàyđạt 53,89% ) trong cơ cấu GDP, lao động và đầu tư Sự chuyển dịch các yếu tố nhưlao động, vốn từ ngành có hiệu suất thấp là nông nghiệp sang các ngành có hiệusuất cao hơn là dịch vụ và công nghiệp được xem là phù hợp với sự phát triểnchung của thế giới

Tăng trưởng của nền kinh tế thành phố trong giai đoạn 2001 – 2010 thể hiện

rõ nét qua việc tăng trưởng của 3 nhóm ngành: Nông- lâm – thủy sản, công nghiệp –xây dựng và ngành dịch vụ Tốc độ tăng GTSX công nghiệp hầu như liên tục đạt haichữ số, với tỷ trọng tăng nhanh trong thời kỳ đầu và chậm lại từ năm 2009, tăngtrưởng của ngành dịch vụ khá cao, đặc biệt từ năm 2006 – 2011, tăng cao hơn nhiều

so với tăng trưởng GDP của thành phố, chiếm tỷ trọng cao nhất trên 54,2% vào năm

2010, GTSX nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 3,48%/năm, có tỷ trọng giảm đềuphù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng dịch vụ, công nghiệp vànông, lâm, thủy sản Sự chuyển dịch này thể hiện qua từng giai đoạn 2001 – 2005,

tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp vào cơ cấu GDP và cơ cấu lao động củathành phố với tốc độ tăng trưởng bình quân rất cao 25,59%/năm, đóng góp nhiềunhất (10,66%) vào tăng trưởng chung của nền kinh tế (15,98%) Đây là giai đoạn

Đà Nẵng đề ra mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa bằng cách tập trung phát triển

cơ sở hạ tầng và các khu công nghiệp

Giai đoạn 2006 – 2010, có thể xem là giai đoạn đánh dấu sự tăng trưởngmạnh của ngành dịch vụ với tốc độ tăng trưởng bình quân (19,01%) cao hơn gấphai lần so với giai đoạn trước và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDPbình quân năm (12,1%) Cơ cấu GDP và lao động trong giai đoạn này có sự thayđổi khác biệt đáng kể, ngành dịch vụ có tỷ trọng đóng góp cao nhất trong cơ cấuGDP (từ 47,14% năm 2006 tăng lên 53,89% năm 2010), đồng thời có sự chuyểndịch lao động mạnh mẽ ra khỏi ngành nông nghiệp (từ 14% xuống 9,5%) sangngành dịch vụ ( từ 51,9% tăng lên 57,4%)

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

Tuy vây, trong nội bộ nhóm ngành, sự chuyển dịch cơ cấu vẫn còn chậm Mặc dù

cơ cấu dịch vụ có sự chuyển dịch đúng hướng, nhưng sự chuyển dịch này vẫn chưa rõ nét,tốc độ tăng của những ngành dịch vụ hiện đại, có giá trị lớn chưa có bước đột phá

CCKT của Đà Nẵng đang trong quá trình chuyển dịch dựa trên nền tảng khaithác các tiềm năng, thế mạnh của mình Tuy nhiên, để nền kinh tế thành phố sớmphát triển thành một nền kinh tế hiện đại, đòi hỏi phải có các chính sách nhằm biếncác tiềm năng, thế mạnh thành các lợi thế so sánh, sớm ứng dụng tiến bộ công nghệ,đồng thời có các chính sách sử dụng hợp lý các nguồn lực đầu vào, nâng cao chấtlượng tăng trưởng và bền vững

1.3.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Trị

Trong những năm vừa qua tỉnh Quảng Trị đã tích cực huy động mọi nguồnlực, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, lợi thế nhằm đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vìvậy, trong giai đoạn 2006 – 2012, cơ cấu kinh tế ngành của Quảng Trị đã có nhữngchuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp Năm

2012 so với năm 2006, tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ27,6% lên 40,1%, nông – lâm nghiệp – thuỷ sản giảm rừ 37,2% xuống 29,3%, còndịch vụ do chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế đã giảm từ 39,5% xuống 34,1%

Cơ cấu sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh khai thác tiềmnăng, lợi thế của từng vùng ; các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, thâm canh,chuyên canh từng bước được phát triển, hình thành vùng nguyên liệu gắn với côngnghiệp chế biến, nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích Sản lượng nông, thuỷsản hàng hoá có giá trị kinh tế cao tăng nhanh

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển Kết cấu hạ tầng các khu côngnghiệp Nam Đông Hà, Quán Ngang, khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo vàmột số cụm công nghiệp làng nghề được tập trung đầu tư xây dựng Nhiều dự áncông nghiệp quan trọng đã được khởi công xây dựng và đi vào hoạt động như: nhàmáy xi măng 60 vạn tấn/năm, nhà máy bia Hà Nội – Quảng trị, công trình thuỷ lợi –thuỷ điện Quảng Trị, trạm nghiền Clinke 25 vạn tấn/năm, xí nghiệp may Hoà Thọ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

Thương mại – dịch vụ có bước tăng trưởng khá Một số siêu thị được hình thành, hệthống chợ ngày càng phát triển Giá trị xuất khẩu hàng hoá đạt gần 50 triệu USD.

1.3.2.3 Kinh nghiệm chung của tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá là tỉnh ở cực Bắc Trung Bộ Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam Phía Bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía nam và tây namgiáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn – Nước cộng hoà dân chủ nhân dânLào với đường biên giới dài 192km bờ biển Thanh Hoá là tỉnh đất rộng (diện tíchđất tự nhiên 11.132km, đứng thứ 6 cả nước) người đông (3,41 triệu người) theo sốliệu thống kê năm 2010

Về tổng thể, trong những năm qua cơ cấu ngành của tỉnh Thanh Hóa đã có sựthay đổi theo hướng phát triển mạnh hơn vào sự phát triển của ngành dịch vụ và tỷtrọng công nghiệp

Kinh tế tỉnh Thanh Hoá trong những năm qua tăng trưởng khá cao cơ cấukinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH Tốc độ tăng trưởng kinh tếGDP bình quân trong 7 năm 2006 – 2013 đạt gần 10,5%, riêng năm 2013 tốc độtăng trưởng kinh tế tăng 11,2%, trong đó nông, lâm, thuỷ sản tăng 3,9%, côngnghiệp – xây dựng tăng 12,8%, dịch vụ tăng 12,1% Các ngành nông – lâm- ngưnghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với việc khai thác tiềm năngkinh tế biển và trung du – miền núi

Nông nghiệp phát triển theo chiều hướng tích cực, có tiến bộ vượt bậc trongứng dụng khoa học công nghệ mới về giống và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vậtnuôi làm tăng năng suất, hiệu quả sản xuất cao hơn trước, góp phần nâng cao giá trịsản lượng bình quân trên diện tích đất canh tác; từng bước đa dạng hoá ngành nghềtrong nông thôn nông nghiệp Các vùng cây công nghiệp tập trung, chuyên canhđược đầu tư phát triển Đến nay đã hình thành vùng nguyên liệu mía, có từ 26.500 –29.500 ha, cao su 7.000 ha, cà phê 3,5 ha, cây lạc, cây đay, cói, thuốc lá, đậu tươngđều có tốc độ tăng cả về diện tích, sản lượng Chăn nuôi phát triển và chuyển dịchtheo hướng sản xuất hàng hoá Xuất hiện mô hình chăn nuôi công nghiệp ở hộ giađình với quy mô lớn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

Về lâm nghiệp, trồng rừng được tổ chức lại, chuyển từ khai thác là chủ yếusang hướng trồng mới, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ, gắn việc trồng rừng phòng

hộ với phát triển kinh tế rừng, bình quân hàng năm từ 2005 – 2012 trồng được9.875 ha rừng tập trung, nâng độ che phủ lên 43%

Công nghiệp mặc dù gặp những khó khăn thách thức, song giá trị sản xuấthàng năm vẫn tăng 16,3%, một số cơ sở công nghiệp tiếp tục dược tổ chức và sắpxếp lại, đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt.Một số sản phẩm công nghiệp có tốc độ tăng khá lớn: Đường, bao bì, giấy xuấtkhẩu, xi măng…Các khu công nghiệp : Lễ Môn, Nghi Sơn, Lam Sơn, Bỉm Sơnđược đầu tư, bước đầu thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất Một số côngtrình trọng điểm đang được tích cực thực hiện từ năm 2005 như: Như hạ tầng khucông nghiệp Nghi Sơn, gắn với cảng biển nước sâu; thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt;cải tạo lưới điện và cấp thoát nước thành phố Thanh Hoá – Sầm Sơn và một số thịtrấn khác

Các hoạt động dịch vụ phát triển đa dạng ở nhiều thành phần kinh tế, đápứng tốt nhu cầu sản xuất và đời sống Hệ thống dịch vụ về giống, vật tư, phân bón,vận tải, đặc biệt là thông tin liên lạc có bước phát triển khá Hoạt động xuất khẩubước đầu đã gắn với sản xuất bằng việc đầu tư vốn , vật tư, giống và kỹ thuật để thumua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Các điểm du lịch, như Sầm Sơn, Lam Kinh ….đã

và đang được đầu tư tôn tạo, nâng cấp, chất lượng phục vụ khách du lịch ngày càngtốt hơn

Như vậy, trên cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, chươngmột đã tập trung phân tích về CDCCKTN đang diễn ra như một tất yếu trong mỗinền kinh tế (quốc gia) và trên bình diện quốc tế Sự CDCCKTN một mặt do sự vậnđộng phát triển của nền sản xuất xã hội, của phân công lao động xã hội, do yêu cầucủa thị trường; mặt khác do khả năng dự báo, định hướng của nhà nước nhằm khaithác triệt để lợi thế của các nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quảtốt nhất Từ kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của một số nước trongkhu vực, một số tỉnh và kết quả bước đầu của CDCCKTN ở tỉnh Thanh Hoá cho

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

phép rút ra một số bài học làm cơ sở cho quá trình phân tích CDCCKTN ở thị xãSầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá trong thời gian qua.

1.3.3 Bài học rút ra đối với thị xã Sầm Sơn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Từ kinh nghiệm thực hiện CDCCKTN của một số quốc gia và một số địaphương trong nước và của tỉnh Thanh Hoá, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm

về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đối với thị xã Sầm Sơn theo hướng CNH,HĐH như sau:

- Một là, lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm động lực, vừa là tiêu chí quan

trọng trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

- Hai là, tạo môi trường thuận lợi nhằm khai thác mọi nguồn lực, đặc biệt là

nguồn vốn nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành Hoạch định chínhsách cơ cấu ngành kinh tế quốc gia theo hướng khai thác có hiệu quả nguồn lực bêntrong và bên ngoài, phù hợp với tiến trình hội nhập

- Ba là, tích cực khai thác phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, lợi thế nhằm

thực hiện có hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

- Bốn là, đẩy mạnh công tác chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến kết hợp

với sử dụng hợp lý các công nghệ truyền thống, chú trọng công tác giáo dục đào tạo,nhất là đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng được yêu cầuCDCCKTN theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nâng cao khả năng tiếp thucông nghệ, hoàn chỉnh môi trường để công nghệ đó phát huy hiệu quả với phát triểnkinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân thông qua chính sách đào tạo vàphát triển, đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đội ngũ quản lý có năng lực, tưduy mới

- Năm là, tích cực phát triển mở rộng thị trường, ổn định giá cả hàng hoá, đảm

bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin thị trường Kiên trì môhình kinh tế thị trường mở và hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế dựa vào tăngtrưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trên cơ sở phát huylợi thế so sánh “tĩnh” và “động” của đất nước Tăng cường sự điều chỉnh của thị

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

trường đối với việc chọn lựa ngành, lĩnh vực đầu tư kinh doanh, phân bổ nguồn lực,giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động của doanh nghiệp.

- Sáu là, phát triển toàn diện nông – lâm - thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng

hoá, gắn liền với công nghiệp chế biến; chú trọng phát triển công nghiệp theohướng phát huy các thế mạnh của địa phương, đặc biệt là công nghiệp chế biếnthuỷ, hải sản và các ngành nghề thủ công truyền thống; đẩy mạnh phát triển thươngmại, dịch vụ, du lịch nhất là các ngành dịch vụ chất lượng cao

Như vậy, CDCCKTN theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một vấn đềcần thiết trong giai đoạn hiện nay của nước ta, đặc biệt là trong nền kinh tế thịtrường Với phần hệ thống lý luận về CCKT và CCKTN trong chương 1 đã đưa ra,phản ánh quá trình CDCCKTN là một hiện thực khách quan và tất yếu của conđường phát triển kinh tế của mọi quốc gia, địa phương Yêu cầu CCKT chuyển dịchphải tương xứng với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH Mặt khác, kinh nghiệmCDCCKTN theo hướng CNH, HĐH của các quốc gia, địa phương đã chỉ ra vớinhững nội dung cơ bản cần phải thực hiện như: phát triển công nghiệp và dịch vụ,ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát triển bền vững các yếu tố phát triểnkinh tế - xã hội…

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

Hình 1.1: Bản đồ thị xã Sầm Sơn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở THỊ XÃ SẦM SƠN,

TỈNH THANH HOÁ 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình và thổ nhưỡng

- Vị trí địa lý

Thị xã Sầm Sơn là thị xã đồng bằng ven biển Thanh Hoá, nằm ở toạ độ

105052 đến 105056 kinh độ đông và 19047 đến 19043 vĩ độ bắc Thị xã Sầm Sơn nằm

ở phía đông tỉnh Thanh Hoá theo đường quốc lộ 47, cách thành phố Thanh Hoákhoảng 16 km, phía Bắc giáp huyện Hoằng Hoá (ranh giới là sông Mã); Phía Nam vàphía Tây giáp huyện Quảng Xương (cách sông Đơ); phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ.Sầm Sơn có diện tích tự nhiên gần 17,9 km2chiếm 0,16% diện tích tỉnh Thanh Hoá

- Đặc điểm địa hình

Địa hình thị xã Sầm Sơn chia làm bốn vùng rõ rệt

Vùng triều ngập mặn: gồm vùng đất trũng bên bờ sông Đơ trải dọc từ cốngTrường Lệ đến sông Mã và vùng triều ngập mặn Quảng Cư Đây là vùng đất trũng,cốt trung bình từ 0,5 – 1,5 mét

Vùng cồn cát cao: gồm khu vực nội thị, trải dài từ chân núi Trường Lệ đến

bờ Nam sông Mã Địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, dốc thoải từ Đông sangTây khoảng 1,5 – 2%, cốt trung bình từ 2,5 – 4,5 mét

Vùng ven biển: gồm khu vực phía Đông đường Hồ Xuân Hương từ chân đềnĐộc Cước (phường Trường Sơn) kéo dài đến hết địa phận xã Quảng Cư Đây là dảicát mịn, thoải, dốc dần ra biển phù hợp với yêu cầu của bãi tắm (độ dốc từ 2 – 5%),diện tích khoảng 150 ha, rộng 200 mét

Vùng núi: gồm toàn bộ núi Trường Lệ, nằm sát biển, độ cao trung bìnhkhoảng 50 mét, đỉnh cao nhất đạt 76 mét, có các vách đá dốc đứng về phía biển, rấtthích hợp cho các loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

2.1.1.2 Khí hậu và nguồn nước

- Đặc điểm khí hậu

Thị xã Sầm Sơn nằm trong miền khí hậu Bắc Việt Nam, thuộc vùng khí hậunhiệt dới gió mùa có mùa đông lạnh Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa hạnóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa

Chế độ nhiệt: Sầm Sơn có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ trung bìnhnăm khoảng 230C Nhiệt độ trung bình mùa hè (tháng 5 – 9) là 250C, tháng nóngnhất nhiệt độ đến 400C; nhiệt độ trung bình mùa đông ( từ tháng 12 năm trước đếntháng 3 năm sau) là 200C, tháng lạnh nhất có thể xuống 50C

Chế độ mưa: Lượng mưa ở Sầm Sơn khá lớn, trung bình năm từ 1.600 –1.900 mm, nhưng phân bố rất không đều giữu hai mùa Mùa khô (từ tháng 12 – 4năm sau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm, ngược lại mùa mưa(từ tháng 5 – 11) tập trung tới 85% lượng mưa cả năm

Chế độ thuỷ triều: Thuỷ triều ở Sầm Sơn có chế độ nhật triều đều Biên độtriều trung bình khoảng 1,2 – 1,6 mét, cao nhất đạt 2 – 2,5 mét

Nhìn chung, khí hậu Sầm Sơn tuy có sự phân chia rõ rệt theo mùa, nhưng do

có tác động điều hoà của biển nên khí hậu tương đối dễ chịu, mát vào mùa hè, ítlạnh vào mùa đông, khá phù hợp cho tắm biển, thăm quan, nghỉ dưỡng và phù hợpcho sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng, vật nuôi

- Vể nguồn nước

Về nước mặt: Trên địa bàn Sầm Sơn có hai sông chính là sông Mã và sôngĐơ; tổng lưu lượng dòng chảy trung bình khoảng 14 tỷ m3/năm, trong đó lưu lượngdòng chảy chủ yếu là của sông Mã, còn sông Đơ chỉ là một nhánh nhỏ chảy dọc thị

xã, có lưu lượng không đáng kể

Về nước ngầm: Nước ngầm tại khu vực Sầm Sơn khá phong phú nhưng chấtlượng thấp Mặt khác trong thời gian qua do khai thác quá mức nên nguồn nướcđang bị nhiễm mặn, đặc biệt các mạch sâu bị nhiễm mặn rất nặng, không thể sửdụng cho sinh hoạt và sản xuất

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

2.1.2.1 Về dân số, lao động và việc làm

Năm 2013 tổng dân số của Sầm Sơn là 65.032 người, với 14.900 hộ dânsinh sống ở 5 đơn vị hành chính (4 phường và 1 xã), chiếm gần 1,8% dân số toàntỉnh Thanh Hóa Mật độ dân số bình quân 3.496 người/km2, cao gấp 10 lần mức

trung bình của tỉnh (khoảng 340 người/km 2 ).

Về phân bố dân cư: Là một đô thị du lịch nên phần lớn dân cư của Sầm

Sơn sinh sống ở 3 phường nội thị cũ (Bắc Sơn, Trung Sơn và Trường Sơn),chiếm trên 53% tổng dân số; cao hơn nhiều so với tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh(9,8%) và cả nước (27%)

Về chất lượng dân số: Sầm Sơn có cơ cấu dân số tương đối trẻ; trình độ học

vấn của dân cư khá cao Đến nay Sầm Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCSđúng độ tuổi (năm 2004); năm 2013 thị xã Sầm Sơn đã có 12/20 trường đạt chuẩnquốc gia, chiếm 45%, 37% lực lượng lao động được đào tạo Đây là nguồn nhân lựcchủ yếu sẽ được huy động vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của thị xã trongnhững năm tới

Bảng 2.1: Dân số và lao động thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2005 – 2013

1 Quy mô DS (người) 59.749 62.550 65.032

- DS Phi nông nghiệp 30.567 33.128 35.206

Nguồn: Số liệu Thống kê của UBND thị xã Sầm năm2005,2010,2013

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

Hiện nay số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là31.670 người, chiếm 82,7% lao động trong độ tuổi, trong đó phần lớn là lao động ởkhu vực dịch vụ, chiếm trên 50% tổng số lao động xã hội.

Cơ cấu lao động cũng đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng lao độngnông lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 44,3% năm 2000 xuống còn 33,84% năm2013; lao động khu vực dịch vụ tăng nhanh từ 47,7% năm 2000 lên 58.63% năm

2013 (riêng lao động ngành du lịch chiếm 24,4% năm 2000 tăng lên 34,54);.

Về chất lượng nguồn lao động: Những năm gần đây chất lượng lao động ở

Sầm Sơn đã được cải thiện một bước, trình độ văn hoá của lực lượng lao động ngàyđược nâng cao Số lao động được đào tạo tăng đều qua các năm, từ 30% năm 2005lên 40% năm 2010 Tuy nhiên hầu hết số lao động được đào tạo hiện đang làm việctại các cơ quan hành chính sự nghiệp Còn ở các cơ sở sản xuất kinh doanh phần lớn

là lao động phổ thông, chất lượng thấp

2.1.2.2 Về sử dụng đất đai

Theo kết quả phúc tra thổ nhưỡng của FAO – UNESCO, thị xã Sầm Sơn có

4 nhóm đất chính phân bố như sau:

- Nhóm đất cát biển (Arennosols): Là loại đất chính, có diện tích gần 1.000

ha, chiếm 55,9% diện tích đất tự nhiên thị xã Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở cácphường Trung Sơn, Bắc Sơn và một phần Trường Sơn, thích hợp cho xây dựng cáccông trình phúc lợi, xây dựng nhà ở, hoạt động tắm biển và trồng cây lâm nghiệp…

- Nhóm đất đỏ có tầng mỏng (leptoso): Diện tích 145 ha, phân bố ở khu vựcnúi trường lệ, thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp

- Nhóm đất Glây (Gleysols): Diện tích trên 300 ha, phân bố chủ yếu ởphường Quảng Tiến, xã Quảng Cư và một phần phía Tây phường Trung Sơn

- Đất khác: Diện tích trên 300 ha, chủ yếu là đất ao hồ, mặt nước chuyên dùng.Nhìn chung hầu hết đất ở Sầm Sơn đã được khai thác sử dụng vào các mụcđích khác nhau, tuy nhiên việc sử dụng đất hiện nay cũng còn nhiều bất cập, tỷ lệđất nông nghiệp còn cao, tỷ lệ đất du lịch và dịch vụ tương đối thấp, nhất là với một

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

đô thị du lịch Vì vậy thời gian tới cần quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất,nhất là cho xây dựng đô thị và phát triển du lịch, dịch vụ.

Bảng 2.2: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở thị xã Sầm Sơn

Đất rừng đặc dụng

Nước lợ,nước mặn

Nước ngọt

Đất

trồng

lúa

Đất trồng cây hàng năm khác

Cây

ăn quả

Cây lâu năm khác

Sầm Sơn là một thị xã ven biển nên ngoài việc phát triển các ngành dịch vụ,

du lịch, khai thác chế biến thuỷ hải sản, thị xã còn phát triển các ngành kinh tế nhưtiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, nhất là vận tải biển, nghề xây dựng vànông nghiệp Năm 2013 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 17,8% cao hơn 1,0% so với

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 23/02/2023, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Sầm Sơn (2005), Lịch Sử Đảng bộ thị xã Sầm Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch Sử Đảng bộ thị xã Sầm Sơn
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Sầm Sơn
Năm: 2005
2. Các Mác và Ph.Ăngghen (1993), toàn tập, tập 13, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: Các Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1993
3. Chi cục thống kê Sầm Sơn, Niên giám thống kê UBND thị xã Sầm Sơn năm 2005, 2009, 2010, 2011, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê UBND thị xã Sầm Sơn năm 2005, 2009, 2010, 2011, 2012
Tác giả: Chi cục thống kê Sầm Sơn
4. Đảng bộ thị xã Sầm Sơn (2010) Nghị Quyết Đại hội đại biểu Đảng Bộ thị xã Sầm Sơn lần thứ XV, (nhiệm kỳ 2010 – 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết Đại hội đại biểu Đảng Bộ thị xã Sầm Sơn lần thứ XV, (nhiệm kỳ 2010 – 2015)
Tác giả: Đảng bộ thị xã Sầm Sơn
Năm: 2010
5. Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá (2005) Nghị Quyết Đại hội đại biểu tỉnh Đảng Bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XVI, Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết Đại hội đại biểu tỉnh Đảng Bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Thanh Hoá
Năm: 2005
6. Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá (2010) Nghị Quyết Đại hội đại biểu tỉnh Đảng Bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XVII, Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết Đại hội đại biểu tỉnh Đảng Bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Thanh Hoá
Năm: 2010
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998) Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
11. TS Ngô Đình Giao (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, tập 2
Tác giả: TS Ngô Đình Giao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
12. PGS.TS Hoàng Hữu Hoà, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thừa Thiên Huế 20 năm đổi mới (1986 – 2005), Kỷ yếu hội nghị khoa học lần thứ II, Trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thừa Thiên Huế 20 năm đổi mới (1986 – 2005)
Tác giả: PGS.TS Hoàng Hữu Hoà
Nhà XB: Kỷ yếu hội nghị khoa học lần thứ II, Trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế
13. TS Nguyễn Thị Bích Hường (2005), Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: TS Nguyễn Thị Bích Hường
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w