1 PHẦN I MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Việc ban hành và đi vào thực hiện các Luật có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý đầu tư và xây dựng ở Việt Nam thời gian qua như Luật Đầu tư (2005),[.]
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc ban hành và đi vào thực hiện các Luật có liên quan trực tiếp đến hoạtđộng quản lý đầu tư và xây dựng ở Việt Nam thời gian qua như Luật Đầu tư (2005),Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Xây dựng (2003) và các luật có liên quan đã hoànthiện và khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý dự án, doanh nghiệp theo
cơ chế cũ Trong bối cảnh có nhiều thay đổi, công tác đánh giá dự án xét trên phươngdiện của các cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư thì bên cạnh những kết quả đạtđược cũng còn nhiều tồn tại Những hạn chế trong việc đánh giá dự án ở các khâukhác nhau cũng như tổng thể của một dự án là một trong những nguyên nhân làm chochính dự án đó, hoặc các dự án tiếp theo không đem lại hiệu quả Nhận thức chưa đầy
đủ về vai trò của công tác đánh giá dự án của nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước,
sự phối hợp chưa nhịp nhàng và hiệu quả trong công tác đánh giá dự án, trình độ cán
bộ đánh giá chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, lượng thông tin cần thiết phục vụ chophân tích, đánh giá dự án chưa đủ và đảm bảo độ tin cậy Tất cả những hạn chế này
là những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công tác đánh giá dự án
Đối với Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô được thành lập từ năm 2006, qua
6 năm hình thành và phát triển đã có 34 dự án được cấp phép đầu tư (dự án ngoàingân sách), với số vốn đăng ký xấp xỉ 2,3 tỷ USD Tuy nhiên, đối với các dự án nàychỉ mới chú trọng ở khâu thẩm định, phê duyệt Thực tế, hoạt động đánh giá từngkhâu trong quá trình thực hiện dự án vẫn chưa được tiến hành thường xuyên, thậmchí nhiều dự án còn bỏ ngõ Điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quảcủa các dự án đặc biệt trong bối cảnh hiện nay các dự án và nhà đầu tư đang chịutác động lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế
Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về Khu kinh tế Chân Mây – Lăng
Cô Trước hết phải kể đến Luận văn Thạc sĩ khoa học kinh tế của tác giả Võ Quế
Hương với đề tài "Nghiên cứu giải pháp thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế" (2005); và Luận văn Thạc sĩ khoa học kinh
tế của tác giả Trần Thị Hoài Trâm với đề tài "Nghiên cứu thu hút vốn đầu tư trực
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2tiếp nước ngoài vào Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế" (2007) Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã chú trọng đến quá trình thu hút
vốn đầu tư cùng như đề xuất các biện pháp thu hút vốn đầu tư cho phát triển Khu
kinh tế Chân Mây – Lăng Cô Một nghiên cứu đáng chú ý khác là: "Nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp tại Khu đô thị mới Chân Mây – Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế" (2006) của tác giả Lê Hữu Lam Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu
trên chưa thật sự đi sâu đánh giá hiệu quả hoạt động của các dự án sau khi đi vào hoạtđộng, đồng thời chưa mô tả được một bức tranh chung về hiệu quả của các dự án đầu
tư, từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của các dự ánđối với khu vực nơi mà dự án đã đi vào hoạt động
Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư tại Khukinh tế Chân Mây – Lăng Cô trên phương diện khoa học và thực tiễn là rất cần thiếtđặc biệt trong bối cảnh hiện nay Xuất phát từ tầm quan trọng của việc đánh giá hiệuquả dự án tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, tác giả chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, giai đoạn 2006-2010
để nghiên cứu” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục đích tổng quát của đề tài là nhằm hệ thống hoá lý thuyết về hiệu quả dự
án đầu tư, đánh giá thực trạng về hiệu quả của các dự án đầu tư đã đi vào hoạt động,trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả các dự án tại Khu kinh tếChân Mây – Lăng Cô
Trang 3- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư tại Khukinh tế Chân Mây – Lăng Cô.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là một số dự án đầu tư đang hoạt động tại Khu kinh
tế Chân Mây – Lăng Cô; các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đang hoạt động tại Khu kinh tế
Chân Mây – Lăng Cô
+ Đánh giá sự tác động của các dự án đến sự phát triển cộng đồng dân cư tạiKhu kinh tế
+ Các dự án được lựa chọn đánh giá là các dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách
4 Phương pháp và nguồn số liệu nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sửdụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp duy vật biện chứng: phương pháp này mang tính chất chung và
xuyên suốt nhằm đảm bảo cho đề tài đạt được tính logic về hình thức, nội dung, trình
tự thời gian làm nền tảng trong quá trình phân tích và kết luận vấn đề nghiên cứu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 44.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Đối với số liệu thứ cấp: Các số liệu và thông tin được thu thập từ các báo
cáo của Ủy ban Nhân dân Tỉnh Thừa Thiên - Huế về Quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội Tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020; Báo cáo tổng hợp định hướngphát triển Khu kinh tế Chân Mây- Lăng Cô đến năm 2020; các Báo cáo tổng kết,Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo tài chính… của các doanh nghiệp
có dự án đã đi vào hoạt động từ 2006 - 2011 tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô;các tư liệu nghiên cứu hiện có về dự án và hiệu quả dự án đầu tư đã được đăng tảitrên các sách, giáo trình, báo, tạp chí và trên Internet…
- Đối với số liệu sơ cấp: tác giả tiến hành điều tra thu thập số liệu thông qua
việc phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi các đối tượng là người dân tại Khu kinh tếChân Mây - Lăng Cô
4.3 Phương pháp phân tích số liệu
Đối với số liệu thứ cấp: Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng
các phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh doanh như số tương đối, số tuyệtđối, số bình quân, lượng tăng (giảm) tuyệt đối, tốc độ tăng (giảm) tương đối và phântích kinh doanh để phân tích kết quả hoạt động kinh doanh – tài chính của các dự án
đã đi vào hoạt động
Đối với số liệu sơ cấp: Sử dụng những kỹ thuật phân tích như: thống kê mô tả,
kiểm định độ tin cậy của các biến điều tra bằng cách sử dụng hệ số Cronbach's Alpha,phương pháp phân tích nhân tố (EFA), và phân tích hồi quy tuyến tính bội với sự hỗ trợcủa phần mềm SPSS 16.0
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn đượckết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả dự án đầu tư.Chương 2: Thực trạng hiệu quả các dự án đầu tư tại Khu kinh tế Chân Mây– Lăng Cô
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư tại Khu kinh tếChân Mây – Lăng Cô
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1 Đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư
Hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động,tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp táisản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh
tế Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có nhữngcách hiểu khác nhau về đầu tư
- Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hànhcác hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực cóthể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể
là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực [16]
- Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực
ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớnhơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.[16]
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh
tế xã hội.
1.1.1.2 Đặc điểm đầu tư
- Đầu tư là một hoạt động sử dụng vốn nhằm mục đích sinh lời [1].
Không thể coi đầu tư nếu việc sử dụng vốn không nhằm mục đích thu được kết quảlớn hơn số vốn đã bỏ ra ban đầu Điều này cho phép phân biệt đầu tư với:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6+ Việc mua sắm nhằm mục đích tiêu dùng mặc dù hàng ngày ta thường nói:
“Tôi sẽ đầu tư cho gia đình một dàn máy VCD hoặc một chiếc xe máy v.v ” đó chỉ
là một cách nói vì tiền được sử dụng vào các trường hợp trên không sinh lợi màngược lại theo thời gian vốn bỏ ra đang bị mất dần đi và chi phí cho nó cũng tăng lên,
trường hợp này còn được xem là đầu tư vào tiêu sản.
+ Việc chi tiêu cho những mục đích nhân đạo, tình cảm, chẳng hạn các phongtrào xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa, trợ cấp học bổng cho sinh viên, họcsinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng có thành tích học tập tốt
+ Việc mua sắm để dành không nhằm mục đích sinh lợi mà chỉ nhằm bảotoàn giá trị đồng vốn theo thời gian - mục đích tồn trữ
Ngoài mục tiêu hiệu quả tài chính, đầu tư còn nhằm mục đích giải quyết việclàm cho người lao động, tăng thu cho ngân sách, hoàn thiện cơ cấu ngành nghề,khai thác tài nguyên nhằm góp phần tăng phúc lợi xã hội cho toàn dân
- Đầu tư được thực hiện trong một thời gian dài thường là từ trên một năm.Chính yếu tố thời gian dài đã làm cho rủi ro trong đầu tư cao và là một trong những
yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động đầu tư.[1]
- Quá trình đầu tư chịu tác động của nhiều yếu tố không ổn định như điềukiện tự nhiên (đất đai, khí hậu thời tiết, nguồn nước ), các điều kiện kinh tế - xã hội(cơ chế quản lý, chính sách - thị trường, chế độ chính trị ) đã tạo ra cho hoạt độngđầu tư mức độ rủi ro khác nhau, phụ thuộc vào lĩnh vực đầu tư
- Mọi hoạt động đầu tư phải có vốn, vốn ở đây được hiểu bao gồm các loại
sau:[1]
+ Vốn bằng tiền và các loại tài sản có giá trị như tiền (vàng bạc, đá quý )+ Vốn bằng TSCĐ hữu hình như đất đai, nhà xưởng, thiết bị, NVL…
+ Vốn bằng TSCĐ vô hình như uy tín thương hiệu, lợi thế…
+ Vốn bằng tài sản đặc biệt như trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu
Vốn đầu tư này có thể hình thành từ các nguồn trong nước hoặc nước ngoài.Ngoài những đặc điểm chung trên đây, hoạt động đầu tư thuộc lĩnh vực cụ thểthường có những đặc điểm riêng, đặc thù do đặc điểm của lĩnh vực đầu tư chi phối
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 7Nghiên cứu những đặc điểm của hoạt động đầu tư có ý nghĩa quan trọngtrong quá trình chuẩn bị đầu tư và có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động đầu tưnói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
1.1.1.3 Phân loại đầu tư
Có nhiều cách phân loại đầu tư Để phục vụ cho việc lập và thẩm định dự án
đầu tư có các loại đầu tư sau đây [24]
Theo chức năng quản lý vốn đầu tư
- Đầu tư trực tiếp: là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham
gia quản lý vốn đã bỏ ra Trong đầu tư trực tiếp người bỏ vốn và người quản lý sửdụng vốn là một chủ thể Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước, đầu tư củanước ngoài tại Việt Nam
Đặc điểm của loại đầu tư này là chủ thể đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm vềkết quả đầu tư Chủ thể đầu tư có thể là Nhà nước thông qua các cơ quan doanhnghiệp Nhà nước; Tư nhân thông qua công ty tư nhân, công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn
- Đầu tư gián tiếp: là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực
tiếp tham gia quản lý vốn đã bỏ ra Trong đầu tư gián tiếp người bỏ vốn và ngườiquản lý sử dụng vốn không phải là một chủ thể Loại đầu tư này còn được gọi là đầu
tư tài chính như cổ phiếu, chứng khoán, trái khoán…
Đặc điểm của loại đầu tư này là người bỏ vốn thường hưởng được một phầnlợi nhuận từ việc cho vay vốn, chỉ có nhà quản lý sử dụng vốn là pháp nhân chịutrách nhiệm về kết quả đầu tư
Theo nguồn vốn
- Đầu tư trong nước: Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh
doanh tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ởnước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam
- Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt
Nam, dưới đây gọi tắt là đầu tư nước ngoài, là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vàoViệt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu
tư theo quy định của pháp luật Việt Nam
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8- Đầu tư ra nước ngoài: Đây là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân của
nước này tại nước khác
Theo tính chất đầu tư
- Đầu tư chiều rộng: Đầu tư mới là đầu tư để xây dựng mới các công trình,
nhà máy, thành lập mới các Công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới Đặc điểmcủa đầu tư mới là không phải trên cơ sở những cái hiện có phát triển lên Loại đầu
tư này đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, trình độ công nghệ và quản lý mới Thời gian thựchiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, độ mạo hiểm cao
- Đầu tư chiều sâu: Đây là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp,
trang bị lại, đồng bộ hoá, hiện đại hóa, mở rộng các đối tượng hiện có Là phươngthức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra, đòi hỏi ítvốn, thời gian thu hồi vốn nhanh
Theo thời gian sử dụng: có đầu tư ngắn hạn, đầu tư trung hạn và đầu tư
dài hạn
Theo lĩnh vực hoạt động: có đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư cho
nghiên cứu khoa học, đầu tư cho quản lý
Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư
- Đầu tư phát triển: là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn
nhằm gia tăng giá trị tài sản Đây là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng
- Đầu tư chuyển dịch: là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn
nhằm chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu …)
Theo ngành đầu tư
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, BCVT, điện, nước, ) và hạ tầng xãhội (trường học, bệnh viện, cơ sở văn hoá - thông tin , )
- Đầu tư phát triển công nghiệp: nhằm xây dựng các công trình công nghiệp.
- Đầu tư phát triển dịch vụ: nhằm xây dựng các công trình dịch vụ.
- Và các phân ngành đầu tư khác theo quy định pháp luật
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 91.1.2 Dự án đầu tư
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Luật Đầu tư năm 2005 thì “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung
và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định’’.
Như vậy, dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết
và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kếtquả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật
tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài
- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chitiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làmtiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ
- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan vớinhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả
cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
1.2.2.2 Đặc điểm dự án đầu tư
- Tính phức tạp của dự án:
Thể hiện trong sự đòi hỏi phải thực hiện đến nơi đến chốn tất cả các hànhđộng, quyết định và công việc Một dự án bao gồm nhiều công việc liên quan đếnnhiều lĩnh vực, có khi con số đầu công việc lên tới hàng trăm, hàng ngàn mà tất cảđều phải kết thúc bằng một kết quả cụ thể như giao nộp một sản phẩm, một kếhoạch hành động với các điều kiện thực hiện hiệu quả nhất Do vậy, nó đòi hỏinhững quyết định đảm bảo hài hòa các yêu cầu, các chi phí và và chấp nhận rủi ro
Trong hoạt động của dự án, các công việc lệ thuộc lẫn nhau vì chúng đều đápứng cùng một mối quan tâm (cùng mục đích) là dự thành công của dự án Vì vậy,cần phải tôn trọng logic về thời gian
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10Một dự án được soạn thảo là kết quả tổng hợp của nhiều những biến cố khácnhau như: tầm quan trọng của tiến bộ công nghệ, số lượng các loại kỹ thuật và mứcthành thạo chuyên môn cần thiết, số lượng các tác nhân có liên quan và thái độ củahọ: khách hàng, nhà cung ứng, nhà tài trợ , những đòi hỏi về giá cả và thời hạn,tính phức tạp trong hệ thống điều hành
- Dự án có tính sáng tạo và duy nhất:
Một dự án kinh doanh luôn là mới mẻ, thực tế mà dự án đã tạo ra không có
sự trùng lặp với quá khứ, trong hiện tại và cả tương lai
Một dự án hoạch định các hoạt động kinh doanh cho tương lai, do đó nóchứa đựng những yếu tố bất định, xuất hiện những rủi ro, không chắc chắn Chính
vì vậy, cần tìm hiểu một cách thấu đáo những đặc tính vốn có của dự án kinh doanh,nghiên cứu kỹ từng yếu tố của dự án, tránh những rủi ro không đáng có Đó lànhững đòi hỏi không thể thiếu được đối với những nhà kinh doanh trong điều kiệnhiện nay
Dự án được coi là công cụ để các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinhdoanh, do đó trong dự án chứa đựng nhiều yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanhnhư là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp tiến vàothị trường và lĩnh vực kinh doanh mới Doanh nghiệp cần đón trước những thời cơphát triển kinh tế, nắm bắt những cơ hội làm ăn lâu dài có lợi nhuận lớn
- Một dự án có mục tiêu xác định:
Đó có thể là mục tiêu dài hạn, mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu trước mắt và lâudài, một mục tiêu cụ thể xác định hay một tập hợp mục tiêu Chúng được xác địnhthông qua một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, biểu thị năng lực sản xuất, quy
mô kinh doanh hay hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và của dự án
Dự án sử dụng các nguồn lực có giới hạn như nguồn tài chính, nguồn lực vậtchất (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu ), nguồn nhân lực và công nghệ cần thiếtcho dự án
- Dự án có vòng đời xác định:
Đó là khoảng thời gian ấn định của một dự án Nó được tính từ lúc bắt đầu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11hình thành dự án cho đến khi chấm dứt toàn bộ các hoạt động liên quan đến dự án.
Có nghĩa là từ lúc bắt đầu triển khai nghiên cứu lập dự án, tổ chức thực hiện dự án,đưa dự án vào khai thác và chấm dứt hoạt động của dự án
Dự án có yêu cầu chặt chẽ về kết quả, chất lượng, chi phí và thời gian thựchiện dự án
Dự án thường có sự tham gia của nhiều cá nhân và tổ chức, hoạt động của dự
án liên quan đến nhiều ngành, đòi hỏi chuyên môn khác nhau, tồn tại các quan điểmcũng không giống nhau Bởi vậy, nhà quản trị dự án cần phải dung hoà và liên kếtđược các thành viên tạo lập ê kíp làm việc thuận lợi và hiệu quả
- Dự án thường hoạt động trong một môi trường phức tạp:
Đôi khi thực hiện dự án với nhiều mục đích khác biệt, thậm chí trái ngượcnhau như giảm chi phí để tăng lợi nhuận nhưng lại phải cải tạo môi trường sinh tháibằng các giải pháp xử lý chất thải chống ô nhiễm; nâng cao chất lượng sản phẩm điđôi với hạ giá thành để cạnh tranh
1.2.2.3 Yêu cầu của dự án đầu tư
Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quátrình nghiên cứu kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự ánđặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoa họccòn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của các cơ quanchuyên môn
- Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xácđịnh trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh
cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư
- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp vớichính sách và luật pháp của Nhà nước Muốn vậy, phải nghiên cứu kỹ chủ trương,chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư
- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các
cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Vớicác dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 121.2.2.4 Phân loại dự án đầu tư
Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
Đối với dự án đầu tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân cấp quản
lý, tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước đượcphân theo 3 nhóm A, B và C Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự ánthuộc ngành kinh tế nào?; Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ ? Trong các nhómthì nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phứctạp hơn cả Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặtnước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có)
Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: phân loại theo điều kiện, mức vốn,
thẩm quyền quyết định cấp phép
Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án
Theo trình tự (hoặc theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư đượcphân ra hai loại:
Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo
nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên
cứu khả thi
Theo nguồn vốn
Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát, tín dụng, các hình thức huyđộng khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoàiODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI)
1.2 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vựckinh tế, kỹ thuật, xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quangiữa các biến số đầu ra thu được (outputs) so với các biến số đầu vào (inputs) đã
được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó [19] Trong phạm vi luận văn này,
tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề hiệu quả kinh tế, cụ thể đó là hiệu quả tàichính, kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 131.2.1 Hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm của kinh tế học thì hiệu quả kinh tế chỉ đạt được khi:
- Mọi quyết định sản xuất ở trên đường giới hạn của năng lực sản xuất là cóhiệu quả vì nó tận dụng được hết các nguồn lực
- Số lượng hàng hóa đạt được trên đường giới hạn của năng lực sản xuấtcàng lớn thì hoạt động sản xuất đầu tư đó càng có hiệu quả
- Sự thỏa mãn tối đa về số lượng, chất lượng và chủng loại hàng hóa theonhu cầu thị trường trong đường giới hạn của năng lực sản xuất cho hiệu quả kinh tếcao nhất
Trong bối cảnh mà mọi nguồn lực của thế giới bị hạn chế và có hạn, đòi hỏingười sản xuất phải khai thác có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra một lượng hànghóa có giá trị sử dụng cao và với hao phí lao động xã hội thấp nhất
Ở mỗi góc độ khác nhau, mỗi quan điểm có cách nhìn nhận hiệu quả kinh tếmột cách khác nhau Hiện nay có 4 hệ thống quan điểm về hiệu quả kinh tế
+ Hệ thống quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế (HQKT) được xác định
bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó :
HQKT =
Kết quả đạt đượcChi phí bỏ raVới quan điểm này thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợinhuận Hiệu quả kinh tế cao hay thấp tùy thuộc vào trình độ sản xuất và tổ chức quản
lý trong doanh nghiệp Đây là quan điểm khá phổ biến được nhiều người thừa nhận,quan điểm này gắn chặt kết quả với chi phí, coi hiệu quả kinh tế là sự phản ánh trình
độ sử dụng các chi phí sản xuất bỏ ra Tuy nhiên, quan điểm này chưa biểu hiệntương quan về lượng và chất, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này
+ Hệ thống quan điểm thứ hai: HQKT là tỷ số giữa phần tăng thêm của kết
quả với phần tăng thêm của chi phí Nghĩa là, nếu tăng thêm một đơn vị chi phí thì
sẽ làm tăng thêm bao nhiêu đơn vị kết quả thu được
Trang 14Quan điểm này, đã biểu hiện được quan hệ so sánh tương đối giữa kết quảđạt được và chi phí tiêu hao Tuy nhiên, xét trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lêninthì sự vật và hiện tượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫnnhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ Hơn nữa, đầu tư là một quá trình trong đócác yếu tố tăng thêm có sự liên kết mật thiết với các yếu tố sẵn có, chúng trực tiếphoặc gián tiếp tác động lên quá trình đầu tư và làm kết quả đầu tư này thay đổi.Theo quan điểm này, tính hiệu quả đầu tư chỉ được xét đến phần bổ sung và chi phí
bổ sung, nó mới dừng lại ở mức độ xem xét sự bù đắp chi phí bỏ ra cho quá trìnhđầu tư tăng thêm
+ Hệ thống quan điểm thứ ba: HQKT được xác định bởi tỷ số giữa phần
trăm tăng lên của kết quả thu được và phần trăm tăng lên của chi phí bỏ ra Nghĩa lànếu tăng thêm 1% chi phí thì sẽ tăng thêm bao nhiêu % kết quả đầu ra
+ Hệ thống quan điểm thứ tư : HQKT là kết quả đạt được trong hoạt động
đầu tư, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa, nhà kinh tế học người Pháp Oqiephri cũngquan niệm như vậy, với quan điểm này hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kếtquả đầu tư Rõ ràng quan điểm này khó giải thích vì kết quả đầu tư có thể tăng dotăng chi phí khi mở rộng các nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mứcchi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng sẽ có cùng hiệu quả, quan điểm nàyphản ánh tư tưởng trọng thương
Như vậy, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phảnánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanhnghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấpnhất Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế toàn xã hội
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15Qua các quan điểm trên cho thấy, mặc dù chưa có sự thống nhất trong quanđiểm về hiệu quả kinh tế Nhưng các quan điểm khác nhau đó lại có sự thống nhấtquan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh tế phản ảnh mặt chất lượng của hoạtđộng đầu tư Đó là các quan điểm đã phản ảnh đúng bản chất của hiệu quả đầu tư,phản ánh mặt chất lượng của hoạt động đầu tư, phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực sản xuất để đạt được mục tiêu cuối cùng của hoạt động đầu tư là mục tiêutối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, theo chúng tôi mỗi hệ thống quan điểm đều cónhững hạn chế nhất định, chưa phản ánh hết các khía cạnh của hiệu quả kinh tế.
Tóm lại, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất nói riêng, trình độ tổ chức và quản lý nói chung
để đáp ứng các nhu cầu xã hội và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Hiệu quảkinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp đạt được với cácchi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được kết quả đó và mối quan hệ giữa kết quảvới sự vận động của chi phí tạo ra nó trong những điều kiện nhất định
Vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế chính là việc thực hiện hàng loạtcác biện pháp có hệ thống tổ chức, có tính đồng bộ và có tính liên tục tại doanhnghiệp nhằm đạt mục tiêu cuối cùng của quá trình đầu tư đó là hiệu quả cao nhấtcần đạt được
1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
HQKT là mối quan hệ tổng hòa giữa hai yếu tố hiện vật và giá trị trong việc
sử dụng các nguồn lực vào sản xuất Nói cách khác, HQKT là kết quả đạt đượctrong việc sử dụng hai yếu tố cơ bản trong sản xuất đầu tư Hai yếu tố đó là:
+ Yếu tố đầu vào: Chi phí trung gian, lao động sống, khấu hao tài sản, thuế + Yếu tố đầu ra: Số lượng và giá trị sản phẩm, giá trị sản xuất, thu nhập, giátrị gia tăng, lợi nhuận
Việc xác định các yếu tố đầu vào trong việc đánh giá HQKT nhiều khi gặpnhiều khó khăn do có những tư liệu sản xuất tham gia vào nhiều quá trình sản xuấthoặc có những yếu tố phi vật chất như: công nghệ, chính sách, môi trường mà trongkhi yêu cầu đánh giá HQKT cần đòi hỏi toàn diện Bản chất của HQKT là mối
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16tương quan so sánh tương đối và tuyệt đối giữa lượng kết quả thu được với lượngchi phí bỏ ra Ở đây chúng ta cần xác định rõ hai khái niệm hiệu quả và kết quả.
Kết quả là đại lượng vật chất được tạo ra có mục đích của con người Có rấtnhiều các chỉ tiêu, các nội dung để đánh giá kết quả Tùy thuộc vào từng trường hợp
cụ thể mà ta sử dụng hệ thống các chỉ tiêu ấy, nội dung ấy sao cho hợp lý Nhưngđiều quan trọng hơn là khi đánh giá kết quả của một quá trình sản xuất, đầu tư cầnphải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào và mất chi phí bao nhiêu Việcđánh giá kết quả của hoạt động sản xuất đầu tư không chỉ đơn thuần dừng lại ở việcđánh giá kết quả đạt được mà còn đánh giá chất lượng của hoạt động đó Đánh giáchất lượng của hoạt động sản xuất đầu tư chính là đánh giá hiệu quả của hoạt độngsản xuất đầu tư đó
Trên bình diện toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để đạt một kết quả nào đó chính
là hao phí lao động xã hội Cho nên thước đo của hiệu quả là mức độ tối đa hóa trênmột đơn vị hao phí lao động xã hội tối thiểu Nói cách khác, hiệu quả chính là sựtiết kiệm tối đa các nguồn lực cần có Vì vậy, đánh giá HQKT cần phải xem xét đếncác nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn lực đạt được cả chỉ tiêu về hiệuquả kỹ thuật và hiệu quả phân phối thì khi đó sản xuất mới đạt HQKT Do đó, nângcao HQKT là mục tiêu quan trọng nhất của các đơn vị sản xuất đầu tư trong nềnkinh tế thị trường hiện nay
1.2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các dự án đã
đi vào hoạt động
Khi dự án đã đi vào hoạt động, việc đánh giá hiệu quả của dự án lúc này sẽ làđánh giá hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh của dự án mà doanh nghiệp
đã đầu tư Đối tượng của hoạt động phân tích này suy đến cùng là kết quả kinhdoanh Nhìn chung, khi đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư đã đi vào hoạt động,chúng ta sẽ tập trung vào các chỉ tiêu sau: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận và các tỷ sốtài chính phản ánh hiệu quả hoạt động
Doanh thu: thể hiện quy mô hoạt động của doanh nghiệp, là quá trình tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thông qua hình thức trao đổi, mua bán trên thị
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17trường Doanh thu tăng thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp (TS.Nguyễn Tấn Bình, phân tích hoạt động doanh nghiệp).
Chi phí: là sự triển khai cho mục tiêu cụ thể nào đó, là sự hao phí thể hiện
bằng tiền trong hoạt động doanh nghiệp với những kỳ vọng mang về một sản phẩm,dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định
Lợi nhuận: là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn của hàng bán,
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Do đó, lợi nhuận phụ thuộc vàohoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của doanh nghiệp Từ công thứcchung, kế toán doanh nghiệp tính các chỉ tiêu lãi như sau:
Lợi nhuận thuần = Doanh thu KD – Chi phí KD – Chi phí BH – Chi phí QLDN
Lợi nhuận gộp = DT bán hàng và cung cấp dịch vụ - Giá vốn hàng bán
- Tổng lợi nhuận trước thuế: là lợi nhuận đạt được trong quá trình sản xuấtkinh doanh và lợi nhuận từ hoạt động khác
- Lợi nhuận sau thuế: là phần còn lại sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệpcho ngân sách nhà nước
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinhdoanh Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng, chất lượng hoạt động của doanhnghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động,tài sản cố định…
Lợi nhuận được để lại để doanh nghiệp thành lập các quỹ tạo điều kiện mởrộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên Lợi nhuậncũng là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và cácđơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp trên cơ sở xây dựng chính sách phân phối đúng đắn
Các tỷ số tài chính phản ánh hiệu quả hoạt động:
- Hệ số lãi ròng (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Trang 18Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu thu được thì tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệpcàng cao.
- Suất sinh lời của tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Suất sinh lời của
Lợi nhuận
x 100%
Tài sảnChỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng tài sản có khả năng tạo ra bao nhiêu đồnglợi nhuận Hệ số này càng cao càng thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sảnhợp lý và hiệu quả
- Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Suất sinh lời của
1.2.4 Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư
Trong quá khứ, có nhiều chỉ tiêu khác nhau đã được dùng để đánh giá kếtquả dự kiến của các dự án đầu tư Nhưng tựu chung lại có bốn tiêu chuẩn chính Cụthể là tiêu chuẩn giá trị hiện tại ròng, tỷ số lợi ích-chi phí, thời gian hoàn vốn, và hệ
n i
i i
r
C r
R NPV
1
1 )
1 (
1
Trong đó:
- n: Số năm hoạt động của dự án
- t: Năm thứ t của dự án
- Rt: Giá trị thu nhập ròng của dự án năm t (lãi ròng + khấu hao)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19- Ct: Vốn đầu tư thực hiện tại năm t
- r: Suất chiết khấu của đồng tiền
(i) Khi nào thì bác bỏ dự án
Bước đầu tiên để tính giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư là phải trừ tất cảcác chi phí ra khỏi tổng lợi ích của mỗi giai đoạn để có được lợi ích ròng Thứ hai làchọn một tỷ lệ chiết khấu thể hiện được chi phí cơ hội của vốn khi dùng cho nhữngviệc khác của nền kinh tế, do đó quy ra một chi phí của vốn cho mỗi dự án bằng vớilợi ích phải từ bỏ Khi giá trị hiện tại ròng của một dự án được tính theo các tiêuchuẩn kinh tế, thì giá trị hiện tại ròng dương có nghĩa là dự án này sẽ làm cho nềnkinh tế tốt hơn, giá trị hiện tại ròng âm sẽ làm cho nền kinh tế tệ hơn Chính ý nghĩanày của tiêu chuẩn giá trị hiện tại ròng đưa chúng ta đến cách diễn tả thứ nhất củatiêu chuẩn này, và điều này luôn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh
Quy tắc 1: "không chấp nhận một dự án nào trừ phi dự án này có giá trị hiện tại ròng dương khi được chiết khấu bằng chi phí cơ hội của vốn."
(ii) Hạn chế của ngân sách
Thông thường chính quyền không thể có đủ vốn ở một mức chi phí cố định
để thực hiện tất cả các dự án có giá trị hiện tại ròng dương Khi tình thế như vậy xảy
ra, ta cần phải lựa chọn giữa các dự án để quyết định một nhóm các dự án mà sẽ tối
đa hóa giá trị hiện tại ròng của các công trình đầu tư nằm trong giới hạn của ngânsách Như thế, cách diễn tả thứ hai của tiêu chuẩn giá trị hiện tại ròng là:
Quy tắc 2: "Trong giới hạn của một ngân sách đã được ấn định, cần phải chọn trong số các dự án hiện có nhóm dự án nào có thể tối đa hoá giá trị hiện tại ròng."
Bởi vì hạn chế ngân sách không đòi hỏi tất cả kinh phí phải được sử dụnghết, nên quy tắc này ngăn chặn việc thực hiện một dự án có NPV âm Ngay cả khitất cả vốn của ngân sách không được sử dụng hết, NPV do số vốn ngân sách nàymang lại sẽ tăng lên nếu dự án có NPV âm bị loại bỏ
(iii) So sánh các dự án loại trừ lẫn nhau
Rất nhiều khi trong công tác thẩm định dự án ta gặp phải những tình huốngphải lựa chọn giữa những dự án thay thế nhau có nghĩa là nếu thực hiện dự án nàythì phải bỏ dự án kia Vì lý do kỹ thuật, có thể không thể thực hiện được cả hai dự
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20án Do đó, vấn đề mà nhà phân tích đầu tư gặp phải là phải lựa chọn trong những dự
án loại trừ lẫn nhau một dự án mang lại giá trị hiện tại ròng lớn nhất Điều này cóthể diễn tả dưới dạng quy tắc sau:
Quy tắc ba: "Trong tình huống không bị giới hạn ngân sách, nhưng ta phải chọn một dự án trong số các phương án loại trừ lẫn nhau, ta luôn luôn cần phải chọn dự án sinh ra giá trị hiện tại ròng lớn nhất."
(iv) Giới hạn khi lựa chọn giữa các dự án có thể thay thế nhau khi áp dụng tiêuchuẩn giá trị hiện tại ròng
Giá trị hiện tại ròng của một dự án không chỉ là một chỉ số để xếp hạng các
dự án, mà nó còn mang ý nghĩa đáng kể hơn Nó đo lường giá trị hay thặng dư giátrị do một dự án tạo ra ngoài những gì mà những nguồn vốn này có thể mang lại nếuchúng không được sử dụng trong các dự án đầu tư này của khu vực công
Trong một số trường hợp, việc đầu tư vào một phương tiện như một conđường có thể được thực hiện thông qua một loạt các dự án ngắn hạn hoặc một haynhiều dự án dài hạn hơn Nếu lợi ích thu về từ việc mở rộng phương tiện này trongtoàn bộ đời hữu dụng của nó như thể là một cơ hội đầu tư có NPV dương, nó sẽ làkhông có ý nghĩa gì khi ta đem so sánh NPV của một dự án cung cấp các dịch vụđường sá trong toàn bộ đời hữu dụng của dự án với NPV của một dự án cung cấpcác dịch vụ đường sá chỉ cho một thời gian ngắn nếu ta dự kiến rằng dự án ngắn này
sẽ được lặp đi lặp lại
Trong hầu hết các tình huống thẩm định dự án, người ta không cho rằng sựkết thúc của một dự án ngắn hạn sẽ mang lại cho những dự án tiếp theo đó những cơhội với suất thu hồi vốn cao hơn bình thường Trong trường hợp như vậy, cách thíchhợp là so sánh các dự án có thời gian hữu dụng khác nhau với các biên dạng lợi íchkinh tế ròng của tất cả các dự án đem chiết khấu theo chi phí cơ hội kinh tế của vốncông quỹ
Khi người ta cho rằng các dự án với đời hữu dụng ngắn sẽ dẫn tới các dự án
kế tiếp có lợi nhuận siêu biên tế, thì việc so sánh các dự án có thể thay thế cho nhauvới đời hữu dụng khác nhau mà sẽ cung cấp những dịch vụ như nhau vào một thời
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21điểm nhất định sẽ đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh chiến lược đầu tư của chúng ta
để chúng trải dài cùng một khoảng thời gian xấp xỉ bằng nhau Một trong nhữnghình thức điều chỉnh như thế là xem xét cùng một dự án được lặp lại theo thời giancho tới khi các chiến lược đầu tư thay thế khác có cùng những khoảng thời gian hữudụng tương tự
1.2.4.2 Tỷ lệ lợi ích-chi phí (B/C)
Chỉ tiêu này để xếp hạng các dự án đầu tư là quy tắc được các nhà phân tíchđầu tư áp dụng rộng rãi nhất Nhưng nếu không được sử dụng một cách cẩn thận,tiêu chuẩn này sẽ đưa ra một lời khuyên sai lệch về sự hấp dẫn tương đối của các cơhội đầu tư Tỷ lệ lợi ích - chi phí được tính bằng cách đem chia giá trị hiện tại củacác lợi ích cho giá trị hiện tại của các chi phí, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm tỷ
lệ chiết khấu
Tỷ lệ lợi ích - chi phí (PI) = (Hiện giá của các lợi ích/Hiện giá của các chi phí)
Sử dụng tiêu chuẩn này, ta sẽ đòi hỏi rằng để cho một dự án có thể chấp nhậnđược, tỷ số R phải lớn hơn 1 Và trong việc lựa chọn các dự án loại trừ lẫn nhau,quy tắc là chọn dự án có tỷ lệ lợi ích - chi phí lớn nhất
Tuy nhiên, ta có thể dễ dàng nhìn thấy rằng tiêu chuẩn này có thể làm ta xếphạng sai các dự án, nếu các dự án này khác nhau về qui mô Vấn đề thứ hai liênquan đến việc sử dụng tỷ số lợi ích - chi phí, và có thể đây là khiếm khuyết nghiêmtrọng nhất của cách này, là tỷ lệ này nhạy cảm với cách mà các kế toán viên địnhnghĩa chi phí khi tính ngân lưu
1.2.4.3 Thời gian hoàn vốn
Quy tắc thời gian hoàn vốn đã được sử dụng rộng rãi trong việc quyết địnhđầu tư Bởi vì dễ áp dụng và khuyến khích các dự án có thời gian hoàn vốn nhanh,quy tắc này đã trở thành một tiêu chuẩn phổ biến trong việc lựa chọn đầu tư kinhdoanh Nhưng đáng tiếc thay nó có thể dẫn đến những kết quả sai lệch, đặc biệt lànhững trường hợp các dự án đầu tư có thời gian hoạt động dài và người ta biết kháchắc chắn về các lợi ích và chi phí trong tương lai
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22Trong hình thức đơn giản nhất, thời gian hoàn vốn là số năm cần phải có đểlợi ích ròng chưa chiết khấu hoàn lại vốn đầu tư Người ta đưa ra một giới hạn tùytiện về số năm tối đa có thể cho phép và chỉ những đầu tư có đủ lợi ích để bù lại chiphí đầu tư trong thời gian này mới có thể chấp nhận được.
Một hình thức khác của quy tắc này là đem so sánh các lợi ích đã được chiếtkhấu trong một số năm trong giai đoạn đầu tư của dự án với chi phí đầu tư cũngđược chiết khấu Tuy nhiên, một giả thiết ngấm ngầm của tiêu chuẩn thời gian hoànvốn là các lợi ích thu được sau thời gian đã được ấn định cho thời gian hoàn vốn sẽkhông chắc chắn đến mức là chúng bị bỏ qua Cách làm này cũng bỏ qua các chi phíđầu tư có thể xảy ra sau ngày đã được ấn định đó, ví dụ như chi phí làm đẹp quangcảnh và chi phí trồng lại cây phát sinh sau khi kết thúc việc khai thác một vùng mỏ
Mặc dù không ai tranh cãi với quan điểm rằng tương lai sẽ ít chắc chắn hơnhiện tại, nhưng sẽ là không thực tế khi giả thiết rằng sau một ngày cụ thể nào đó giátrị mong đợi trung bình của các lợi ích ròng là con số không Điều này rất đúng đốivới các dự án đầu tư lâu dài như cầu, đường, cao ốc
Đối với các tổ chức như các công ty lớn hay chính quyền, không có lý do gì
để cho rằng tất cả các dự án mang lợi về nhanh lại tốt hơn đầu tư lâu dài
1.2.4.4 Hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR)
Hệ số hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return, IRR) là con số thống kê đãđược các nhà đầu tư của cả hai khu vực tư nhân và nhà nước sử dụng rất nhiều để
mô tả sự hấp dẫn của một dự án Tuy nhiên, nó không phải là một tiêu chuẩn đầu tư
có thể tin cậy được, cho dù trong một số trường hợp nó là một con số thống kê hữuích để tóm tắt khả năng sinh lời của một dự án đầu tư
Tiêu chuẩn hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR) và giá trị hiện tại ròng (NPV) cóliên quan với nhau bằng cách thức tính toán ra chúng Để tính NPV, người ta đưa ra
tỷ lệ chiết khấu và dùng nó để tìm hiện giá của chi phí và lợi ích Trái lại, khi tìmIRR của một dự án cách tính được đảo ngược lại Thay vì chọn tỷ lệ chiết khấu,người ta quy NPV của dòng lợi ích ròng bằng không; và IRR là tỷ lệ chiết khấu tìmđược làm cho NPV bằng không
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23Hệ số hoàn vốn nội bộ K của một dự án được tính bằng cách giải phươngtrình sau:
n i
i i
IRR
C IRR
R NPV
1
1 )
1 (
1
Hệ số hoàn vốn nội bộ có một lợi thế lớn là nó có thể được tính toán chỉ dựavào các số liệu của dự án mà thôi Đặc biệt, việc tính toán này không đòi hỏi số liệu
về chi phí cơ hội của vốn Tuy nhiên, những điểm bất lợi của hệ số hoàn vốn nội bộlại rất lớn và bắt chúng ta phải vô cùng thận trọng khi sử dụng nó
1.2.5 Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
Khi đánh giá hiệu quả đầu tư không thể chỉ dựa vào kết quả tài chính đượcđánh giá trên quan điểm doanh nghiệp mà phải dựa vào hiệu quả kinh tế - xã hộiđược đánh giá trên quan điểm nền kinh tế quốc dân [10] [24]
Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội hoặc hiệu quả kinh tế của dự
án đầu tư là một nội dung quan trọng và phức tạp của đánh giá dự án, có nhiệm vụđánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư trên quan điểm toàn bộ nền kinh tế quốcdân, tức là phân tích đầy đủ, toàn diện những đóng góp thực sự của dự án vào việcphát triển nền kinh tế quốc gia và việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội củađất nước
Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư là công việc khókhăn và phức tạp Đã có nhiều công trình nghiên cứu hiệu quả kinh tế - xã hội củacác dự án đầu tư với các chỉ tiêu như: giá trị gia tăng, giá trị gia tăng gián tiếp, mứcđóng góp của dự án vào ngân sách Nhà nước, sự đóng góp của dự án vào việc thựchiện mục tiêu giải quyết công ăn việc làm, sự đóng góp của dự án vào việc thựchiện mục tiêu phân phối thu nhập, sự ảnh hưởng của dự án đối với môi trường,…Tuy nhiên, tác động của các dự án đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống củacộng đồng dân cư chưa được chú ý đến một cách đầy đủ Do đó, nhận diện đượcmột cách khoa học các tác động của các dự án đối với chất lượng cuộc sống củacộng đồng dân cư địa phương là thách thức cho các nhà nghiên cứu và các nhàhoạch định chính sách ở Việt Nam
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả phân tích đánh giá hiệu quả sản xuấtkinh doanh và hiệu quả kinh tế-xã hội của các dự án dựa trên cách tiếp cận vềnhững tác động của các dự án đối với chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cưtại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô được biểu hiện qua sự hài lòng của cộng đồngdân cư đối với các dự án.
Khi đến cập đến khái niệm về sự hài lòng của cộng đồng, Knop và Steward(1973) cho rằng có hai vấn đề liên quan đến khái niệm sự hài lòng của cộng đồng:
Vấn đề thứ nhất, chính là bản thân thuật ngữ “Cộng đồng” Cộng đồng có thểđược hiểu theo hai hướng tiếp cận: (1) Cộng đồng như là một hình thể xã hội thực tếthể hiện qua tính địa phương; (2) Cộng đồng được xem xét trong một phạm vi rất rộngcủa những hoạt động và những đặc tính cụ thể điển hình cho cuộc sống hàng ngàynhưng không nhất thiết tương đồng với nhau về một phương diện nào đó
Vấn đề thứ hai, chính là ý nghĩa của “Sự hài lòng”, có thể được khái niệmhóa như là những nhận thức, đánh giá của các cá nhân về những trải nghiệm của họtrong quá trình quan sát và cảm nhận về cộng đồng Kể từ thập niên 40 đến nay, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu nhận diện các tác động đến sự hài lòng của cộngđồng dưới những góc độ khác nhau Tổng hợp các yếu tố tác động đến chất lượngcuộc sống của cộng đồng dân cư được mô tả như sau:
Thu nhập
Thu nhập, cơ hội tìm kiếm thu nhập cao hơn; khả năng sinh kế ở địa phương;đảm bảo tài chính khi nghỉ hưu/ về già (Jesser,1967; Marans & Rodger, 1975;Goudy, 1977; Ladewig & Glenn C.McCann, 1980; Brown, 1993) [10] [24]
Việc làm
Cơ hội tìm kiếm việc làm cho bản thân; sự đảm bảo/ổn định về việc làm; cơhội thăng tiến trong nghề nghiệp; việc làm cho phụ nữ; việc làm cho người lớn tuổi;việc làm cho người nhỏ tuổi; việc làm cho người kém may mắn (Wilkinson, 1991;Brown, 1993; Filkins R., Cordes S., 1999)[10] [24]
Văn hóa xã hội
Sự thỏa mãn về tinh thần, tín ngưỡng; lao động nhập cư và an ninh; hoạtđộng vui chơi giải trí; hoạt động cộng đồng mang bản sắc văn hóa địa phương.(Filkins R., Cordes S., 1999; Smith M.K., 2008)[10] [24]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25Môi trường tự nhiên
Cảnh quan môi trường sạch đẹp, an toàn; khí hậu, không khí; nguồn nước;đất đai; chất thải, rác thải; tiếng động, tiếng ồn (Marans & Rodger, 1975; Ladewig
& Glenn C.McCann, 1980; Mollie Van Loon & Stinner W.F., 1992; Robert Nurick
& Victoria Johnson, 1998; Smith M.K., 2008)[10] [24]
Sức khỏe
Ô nhiễm không khí; tiếng ồn; chất thải; các loại bệnh (Robert Nurick &Victoria Johnson, 1998)[10] [24]
Chính quyền địa phương
Hoạt động của chính quyền địa phương; vai trò của chính quyền địa phươngtrong giải quyết ô nhiễm; thông tin đến người dân; có trách nhiệm quan tâm các nhucầu của cộng đồng; ra quyết định có sự tham gia của người dân; đặc điểm của chínhquyền địa phương (Ladewig & Glenn C.McCann, 1980; Mollie Van Loon &Stinner W.F., 1992)[10] [24]
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Kinh nghiệm xây dựng khu kinh tế của một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Kinh nghiệm xây dựng khu kinh tế của Trung Quốc
Trung Quốc đã trải qua ba giai đoạn hình thành các khu kinh tế Giai đoạnmột là sự hình thành các khu kinh tế Thâm Quyến, Sán Đầu, Hạ Môn, Chu Hải.Giai đoạn 2 là sự hình thành 14 thành phố mở ở dải ven biển (Thượng Hải, Thiên
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26Tân, Đại Liên, Tân Hoàng Đảo, Yên Đài ) Giai đoạn 3 là quá trình mở cửa ba đồngbằng (đồng bằng Châu Giang, đồng bằng Nam Phúc Kiến, đồng bằng Trường Giang)
và thành lập khu kinh tế Hải Nam Đồng thời bên cạnh với việc hình thành các khukinh tế đặc biệt lớn đó, Trung Quốc còn tiến hành xây dựng loại hình kinh tế đặc biệt
ở các cửa khẩu biên giới (khu kinh tế cửa khẩu) như khu kinh tế dân tộc Choang tỉnhQuảng Tây, khu kinh tế cửa khẩu Hà Khẩu tỉnh Vân Nam giáp với Việt Nam
Riêng các đặc khu kinh tế như Thâm Quyến, Sán Đầu, Hạ Môn, Chu Hải,Hải Nam, từ năm 1979 đến nay đã thu hút được một lượng đầu tư từ bên ngoài trên
550 tỷ USD từ trên 100 nước và khu vực vào 20 ngành nghề, trong đó 65-70% làđầu tư trực tiếp Nhờ những cố gắng trong việc thu hút vốn nước ngoài nên từ năm
1993 đến nay Trung Quốc trở thành nước luôn luôn đứng đầu các nước đang pháttriển và đứng thứ hai sau Mỹ - về thu hút vốn đầu tư nước ngoài
1.3.1.2 Kinh nghiệm xây dựng khu kinh tế của Hàn Quốc
Hàn Quốc mới phát triển mô hình KKT tự do từ năm 2003 với việc hìnhthành 3 KKT đầu tiên là Incheon, Busan-Jinhae và Gwangyang Sau 5 năm từ khihình thành KKT đầu tiên, Chính phủ Hàn Quốc quyết định thành lập thêm 3 KKT
tự do mới là Yellow Sea, Saemangeum-Gunsan và Daegu-Gyeongbuk
Chính phủ Hàn Quốc xác định mục tiêu phát triển các KKT của mình là xâydựng các KKT trở thành các trung tâm kinh doanh quốc tế, tạo môi trường kinhdoanh, môi trường sống mang chuẩn mực quốc tế nước ngoài nhằm tập trung thuhút các nhà đầu tư nước ngoài Tầm nhìn của việc phát triển các KKT tự do tại HànQuốc là biến các KKT thành đầu mối của thế giới về mặt kinh doanh (ngành côngnghệ cao, giáo dục, y tế tiêu chuẩn toàn cầu), hạ tầng và dịch vụ logistics, côngnghiệp công nghệ cao (hình thành clusters, thu hút các tập đoàn đa quốc gia)
Một điểm quan trọng trong chính sách phát triển các KKT tự do ở Hàn Quốc
là để tránh cạnh tranh giữa các KKT và tận dụng lợi thế so sánh của từng KKT tự
do, Chính phủ xác định các lĩnh vực ưu tiên phát triển của từng KKT trên cơ sở điềukiện, tiềm năng của từng KKT
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27Bảng 1.1: Bảng mô tả lĩnh vực ưu tiên phát triển của các khu kinh tế ở Hàn Quốc
Stt Khu kinh tế
Năm thành lập
Diện tích (km2)
Ngành nghề thu hút đầu tư
Phát triển lĩnh vực logistics, kinh doanh dịch
vụ (global business service), du lịch nghỉ dưỡng và giải trí, công nghệ cao
2 Busan-Jinhae 2003 104,8
Phát triển lĩnh vực vận tải biển, công nghiệp
có hàm lượng kỹ thuật cao, du lịch và dịch vụ gắn với biển
3 Gwangyang 2003 90,5 Phát triển lĩnh vực vận tải biển, sản phẩm thép
và hóa chất, du lịch và dịch vụ
4 Yellow Sea 2008 55 Phát triển lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ
sinh học và vận tải biển
5
Phát triển lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới, tái tạo, du lịch và dịch vụ cho khách Trung Quốc
6 Daegu-Gyeongbuk 2008 39,5 Phát triển lĩnh vực giáo dục, y tế, công nghiệp
thời trang, công nghệ thông tin
(Nguồn: Bộ Kinh tế tri thức Hàn Quốc)
Theo đó, các nhà đầu tư khi đầu tư vào các Khu kinh tế trên, Chính phủ HànQuốc thống nhất áp dụng các chính sách ưu đãi sau:
- Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KKT tự do được miễn tối đa 100% thuếthu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu, giảm 50% cho 2 năm tiếp theo Để đượchưởng ưu đãi thuế TNDN trên, nhà đầu tư cần đầu tư lớn hơn số vốn yêu cầu tốithiểu theo các ngành lĩnh vực (ví dụ: lĩnh vực sản xuất 30 triệu USD; du lịch 20triệu USD; logistics: 10 triệu USD và R&D 2 triệu USD) Tại Hàn Quốc, chỉ riêngcác KKT đặc biệt mới được ưu đãi thuế, đầu tư ngoài KKT đặc biệt, kể cả đầu tưvào KCN cũng không được hưởng ưu đãi thuế
- Đầu tư vào KKT được miễn các loại thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thunhập cá nhân, thuế tài sản…) từ 5-7 năm và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo
- Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ một phần vốn đầu tư hạ tầng cơ bản của cácKKT, phần còn lại sẽ do ngân sách của địa phương thực hiện hoặc lựa chọn doanhnghiệp và thỏa thuận với doanh nghiệp các hạng mục đầu tư hạ tầng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28- Các lĩnh vực ưu tiên đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao, giáo dục, bệnhviện đều được Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ đầu tư.
- Chính phủ cũng quy định các thủ tục được đơn giản hoá trong các lĩnh vựclao động, y tế, nhà ở tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài thuận lợitrong giao dịch, làm việc và sinh sống tại các KKT
1.3.1.2 Kinh nghiệm xây dựng khu kinh tế của một số nước khác
Một số nước trong khu vực cũng đã tiến hành xây dựng các đặc khu kinh tế
và theo những mô hình khác nhau, cụ thể:
- Philippin đã thất bại trong việc xây dựng khu kinh tế trong những năm 80.Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học và xã hội Philippin chỉ ra rằngtác động của khu chế xuất đến nền kinh tế trong nước là không đáng kể, 83-93%đầu vào của khu vực là nguồn nhập khẩu từ ngoài và việc làm tạo ra cho khu vựccông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1% Nhưng sau này do sửa đổi về cơ chế chính sách,đặc biệt là sự phân cấp nhiều hơn cho khu vực đầu tư tư nhân, nên cũng đã thu đượcmột số thành tựu về phát triển khu kinh tế
- Kinh nghiệm của Malaixia cũng cho thấy do không chú ý tới định hướngtổng thể mà chỉ thiên về gọi đầu tư nước ngoài, ít tính đến nhu cầu nguyên liệutrong nước, nên khoảng 70% số xí nghiệp của khu xuất khẩu chỉ sử dụng sản phẩmđịa phương để đáp ứng 10% nhu cầu nguyên liệu thô và hàng tiêu dùng, còn lại lànhập khẩu Điều này cho thấy, nhà đầu tư khi đầu tư vào khu kinh tế để chiếm lĩnhthị trường trong nước dưới hình thức nhập khẩu, khai thác chênh lệch về giá do mứcbảo hộ trong nước cao, hơn là đáp ứng mong muốn của nước sở tại
Tóm lại, có thể rút ra từ những kinh nghiệm xây dựng khu kinh tế của một sốnước theo các nhận định sau:
Một là, việc xây dựng khu kinh tế là một giải pháp xuất phát từ nhu cầu phát
triển của quốc gia nói chung và của từng địa phương Trong tiến trình hội nhập quốc
tế việc thành lập các khu kinh tế là để thu hút nguồn lực từ bên ngoài, qua đó khơidậy tiềm năng trong nước Nếu trong phạm vi quốc gia có thể mở cửa rộng rãi vớibên ngoài thì không cần thiết phải xây dựng khu kinh tế với những cơ chế và chínhsách đặc biệt
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29Hai là, yếu tố quyết định thành công của việc xây dựng khu kinh tế phát triển
là thời cơ, địa điểm và con người Phải lựa chọn đúng thời điểm xây dựng mới cóthể thu hút được nguồn lực từ bên ngoài Với mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phươngphải chọn địa điểm đủ hấp dẫn để hình thành và xây dựng kết cấu hạ tầng Phải cóquyết tâm cao trong việc xây dựng khu kinh tế Kết hợp được 3 yếu tố này mới cóthể thành công trong việc xây dựng các khu kinh tế
Ba là, phải lựa chọn mô hình đúng Với mỗi quốc gia, với mỗi thời điểm cần
chọn cho đúng mô hình xây dựng khu kinh tế mới có thể thành công
Bốn là, chọn lựa mục tiêu và đối tác chính xác Với mỗi một mô hình của
khu kinh tế, việc lựa chọn đối tác là yếu tố quyết định quan trọng để có thể thu hút
và hấp dẫn được nguồn lực bên ngoài
1.3.2 Kinh nghiệm xây dựng khu kinh tế của Việt Nam
Việt Nam có bờ biển trải dài hơn 3.200 km với nhiều giá trị kinh tế chưa đượckhai thác Thực tiễn phát triển kinh tế trong những năm đầu giai đoạn đổi mới của đấtnước đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu mô hình phát triển mới, có tính đột phá chophát triển kinh tế vùng nhằm khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh
tế và thí điểm áp dụng những thể chế và chính sách kinh tế mới nhằm huy động tối đanguồn nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp phát triển kinh tế với giữvững quốc phòng, an ninh Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóaVIII năm 1997 đã đề ra chủ trương nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khukinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước, KKT mở Chu Lai - KKT venbiển đầu tiên cả nước đã được thành lập năm 2003 theo Quyết định số108/2003/QĐ-TTg ngày 05/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ Trên cơ sở thành lậpthí điểm này, để đảm bảo KKT ven biển phát triển đúng định hướng, phù hợp vớichiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và khai thác tối đa tiềmnăng và điều kiện phát triển kinh tế biển ở Việt Nam của các địa phương, ngày23/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1353/QĐ-TTg về việcphê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển các KKT ven biển của Việt Nam đến năm2020”, trong đó xác định rõ phương hướng chung hình thành hệ thống 15 KKT ven
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30biển, bao gồm: Vân Đồn (Quảng Ninh), Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng), Nghi Sơn(Thanh Hóa), Đông Nam Nghệ An (Nghệ An), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn La(Quảng Bình), Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Chu Lai (Quảng Nam),Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Nam Phú Yên (Phú Yên), VânPhong (Khánh Hòa), Đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới (Kiên Giang), Định
An (Trà Vinh), và Năm Căn (Cà Mau)
Hình 1.1: Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế ven biển toàn quốc
Tính hết năm 2011, trên cả nước đã có 15 KKT ven biển được thành lập vớitổng diện tích 662.249 ha (tương đương 6.622,49 km2), bằng khoảng 1,99% tổng diệntích của cả nước Theo quy hoạch chung xây dựng, có khoảng 54.300 ha đất trongKKT dành cho mục đích sản xuất kinh doanh, du lịch, dịch vụ (chiếm 8%); 12.100 hađất khu phi thuế quan (2%); đất nông lâm ngư nghiệp 71.100 ha (11%); đất dân cưkhoảng 36.800 ha (6%); đất công trình công cộng và khu hành chính khoảng 25.200 ha(4%) và đất mặt nước, sông ngòi, đồi núi khoảng 318.800 ha (48%)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31Đến hết năm 2011, tổng số vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong cácKKT ven biển trên cả nước là gần 250.000 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư trong nướckhoảng 75.000 tỷ đồng (chiếm 30% tổng vốn đầu tư), vốn đầu tư nước ngoài đạtxấp xỉ 175.000 tỷ đồng (chiếm 70% tổng vốn đầu tư).
Kết quả hoạt động, trong thời gian qua, việc thu hút vốn đầu tư vào KKT venbiển bước đầu đạt những kết quả khả quan Luỹ kế đến nay, các KKT ven biển đã thuhút được hơn 31 tỷ USD vốn FDI và gần 564 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước vàolĩnh vực sản xuất, kinh doanh Tổng diện tích đất đã cho thuê để thực hiện các dự ánđầu tư sản xuất trong KKT ven biển khoảng trên 20.000 ha, chiếm gần 40% tổng diệntích đất dành cho sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ trong KKT ven biển; trong đó
có khoảng 7.000 ha đã triển khai các dự án thứ cấp Các KKT ven biển đã thu hút đượcmột số dự án lớn và quan trọng như: Nhà máy lọc dầu số 1 và số 2 Nhà máy cơ khínặng Doosan (KKT Dung Quất), Khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dươngcủa Tập đoàn Formosa (KKT Vũng áng), Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn (KKT NghiSơn) Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong (KKT Vân Phong), Khu du lịch phức hợpLaguna Lăng Cô (KKT Chân Mây – Lăng Cô) Đây là các dự án hứa hẹn sẽ mang lạithế và lực mới cho phát triển các ngành kinh tế của nước ta
Các KKT ven biển mặc dù được thành lập chưa lâu nhưng đã có những đónggóp quan trọng vào phát triển kinh tế của địa phương Riêng trong năm 2011, cácKKT ven biển đạt tổng doanh thu khoảng 8 tỷ USD, xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD,đóng góp vào ngân sách nhà nước gần 20 nghìn tỷ đồng
Bên cạnh các lợi ích kinh tế, các KKT ven biển còn tạo điều kiện cho các địaphương giải quyết việc làm, thu hút lao động có trình độ tay nghề cao Đến nay, cácKKT ven biển đã giải quyết việc làm cho khoảng 30 nghìn lao động Một số khu dulịch, nghỉ dưỡng tại các KKT ven biển đã hình thành, một mặt phát triển ngành dulịch, mặt khác là nơi sinh sống của các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nướcđến làm việc trong các KKT ven biển
1.3.3 Tình hình phát triển các Khu công nghiệp ở tỉnh Thừa Thiên - Huế
Mặc dù trên phương diện thực tế, Khu công nghiệp không đồng nhất về tínhchất và nội dung phát triển như Khu kinh tế đã được nêu trên Nhưng để hình dung
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32được rõ hơn việc phân chia phát triển các lãnh thổ kinh tế, tác giả cũng mạnh dạnđưa thêm một số thông tin về quá trình hình thành và phát triển Khu công nghiệp ởđịa bàn tỉnh để có cái nhìn đối sánh và hiểu rõ hơn vấn đề này.
1.3.3.1 KCN Phú Bài
- KCN Phú Bài giai đoạn I và II: Do Công ty Xây lắp đã triển khai xây dựngcác hạng mục công trình hạ tầng KCN Phú Bài giai đoạn 2, vốn thực hiện đến nayước đạt 150 tỷ đồng Đến nay, hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất công nghiệp nhưđường giao thông, điện, nước, nhà máy xử lý nước thải tập trung của KCN Phú Bài
đã cơ bản hoàn thành
Hiện có 52 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực với tổngvốn đầu tư đăng ký 5.018,86 tỷ đồng, diện tích thuê lại đất 120,28 ha; đạt tỷ lệ lấpđầy KCN đạt trên 96,6%
- KCN Phú Bài giai đoạn III: Công ty TNHH Ace Vina Construction (HànQuốc) - chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN trên diện tíchđất quy hoạch khu A, đợt 1 là 45,53ha
- KCN Phú Bài giai đoạn IV: Tổng diện tích quy hoạch 515,3 ha, triển khaiđợt 1, với diện tích là 87,5 ha, do Công ty Cổ phần Đầu tư Trung Quý làm chủ đầu tưxây dựng hạ tầng, với tổng vốn đăng ký là 175 tỷ đồng Công ty CP Đầu tư TrungQuý Huế đã tiến hành san lấp mặt bằng và xây dựng các hạng mục hạ tầng như:Đường giao thông, hệ thống thoát nước, hệ thống điện chiếu sáng Tổng vốn thựchiện ước đạt 45 tỷ đồng, đạt 25,7% so với vốn đăng ký Đã thu hút được 04 dự án thứcấp đầu tư, với diện tích đất thuê lại khoảng 33 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 53%
1.3.3.2 KCN Phong Điền
Đã thu hút được 13 dự án đầu tư, với vốn đầu tư đăng ký là 2.900,8 tỷ đồng,vốn thực hiện đến nay ước đạt khoảng 266,5 tỷ đồng Trong đó, có 09 dự án sảnxuất công nghiệp với diện tích thuê đất là 77,58 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 52% diện tíchđất công nghiệp cho thuê, thuộc các lĩnh vực: công nghiệp chế biến cát; côngnghiệp chế biến thuỷ sản; công nghiệp dệt may và công nghiệp chế biến các mặthàng tiêu dùng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33- Phân khu A: Đã có 02 dự án trực tiếp thuê đất tự đầu tư hạ tầng với diệntích 30 ha; trong đó dự án nhà máy may của Công ty Scavi Huế đã đi vào hoạtđộng, dự án xây dựng nhà máy chế biến thuỷ sản của Công ty CP Chăn nuôi C.PViệt Nam đã hoàn thành san lấp mặt bằng, chuẩn bị khởi công.
- Phân khu B: Diện tích quy hoạch 147,17 ha, do Công ty Cổ phần PrimeThiên Phúc làm chủ đầu tư hạ tầng, với vốn đăng ký 181 tỷ đồng, đã triển khai xâydựng hệ thống đường giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước, điện và san lấp mặtbằng Hiện Công ty đang tiến hành kiểm kê giải phóng mặt bằng đợt 2 với diện tích
40 ha Tổng vốn thực hiện ước đạt 20 tỷ đồng, đạt 11 % so với vốn đăng ký
- Phân Khu C: Diện tích quy hoạch 100,7 ha, do Công ty TNHH C&N Vina(Hàn Quốc) làm chủ đầu tư hạ tầng với tổng vốn đăng ký là 20 triệu USD (tươngđương 410 tỷ đồng) Chủ đầu tư đã triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặtbằng, xây dựng cổng với vốn đầu tư thực hiện 6,5 tỷ đồng và đang triển khaiphương án giải phóng mặt bằng
1.3.3.3 Về thu hút đầu tư và kết quả sản xuất kinh doanh
Lũy kế đến nay có 71 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký8.679,83 tỷ đồng, vốn thực hiện 3.653,7 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 42,1% so với vốn đăngký; diện tích thuê lại đất của các dự án thứ cấp đạt 223,86 ha
Trong số 71 dự án trên, có 56 dự án đang hoạt động, 10 dự án đang xâydựng, 04 dự án đang ngừng hoạt động và hoạt động cầm chừng, 01 dự án đangchậm tiến độ
- Suất đầu tư/ha đất công nghiệp đã được nâng lên, bình quân suất đầu tư/hatại KCN Phú Bài đạt 36,2 tỷ đồng; KCN Phong Điền đạt 32 tỷ đồng/ha
* Các kết quả đạt được năm 2011 như sau:
- Doanh thu: 7.304,2 tỷ đồng, tăng 37,9% so với năm 2010 Giá trị sản xuấtcông nghiệp của các KCN (theo giá cố định năm 1994) đạt 2.717,7 tỷ đồng, chiếm34,2% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh năm 2011
- Xuất khẩu: 225,96 triệu USD, tăng 30,7% so với năm 2010 Kim ngạchxuất khẩu của các KCN chiếm trên 60% so với tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnhnăm 2011
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34- Nhập khẩu: 86,24 triệu USD, giảm 41% so với năm 2010 Kim ngạch nhậpkhẩu của các KCN chiếm 34% so với tổng kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh.
- Nộp ngân sách: 646,7 tỷ đồng, tăng 8,96% so với năm 2010
- Thu hút lao động khoảng 12.280 người, tăng 17,5% so với năm 2010
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của dự án đã đi vào hoạt động
1.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Chủ yếu là các số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính củaCông ty TNHH du lịch Lăng Cô, Công ty TNHH dịch vụ du lịch Thanh Tâm từnăm 2006 đến 2010 (bổ sung năm 2011)
1.4.1.2 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi số liệu được thu thập, tác giả sử dụng các phương pháp phân tíchkinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh để xử lý số liệu như: phân tích doanh thu,phân tích chi phí, phân tích lợi nhuận và phân tích các tỷ số tài chính liên quan đếnhiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp; ngoài ra còn sử dụng một sốphương pháp thống kê như: tốc độ phát triển và tốc độ tăng trưởng bình quân giaiđoạn 2006 đến 2011 của một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp
1.4.2 Đánh giá tác động của các dự án đến sự phát triển cộng đồng dân cư tại Khu kinh tế Chân Mây-Lăng Cô
Quy trình nghiên cứu gồm 2 bước:
(1) Nghiên cứu sơ bộ
Các nhà nghiên cứu thường tiến hành nghiên cứu sơ bộ để khám phá, xácđịnh xem vấn đề nghiên cứu của mình có phù hợp với thực tế hay không Từ nghiêncứu sơ bộ, nhà nghiên cứu có thể nhận thấy rõ được hướng nghiên cứu của mình lànhư thế nào, có cần phải thay đổi hay điều chỉnh cho phù hợp hay không Kết quảthu được từ nghiên cứu sơ bộ giúp cho nhà nghiên cứu có thể thiết kế được công cụ
đo lường thích hợp cho nghiên cứu của mình, chẳng hạn như bảng câu hỏi phù hợphơn, từ ngữ sử dụng trau chuốt hơn nhằm giúp cho mọi đối tượng điều tra có thể
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35hiểu rõ hơn nội dung nghiên cứu Thông thường, các hoạt động được thực hiện trongnghiên cứu sơ bộ chủ yếu là phân tích tài liệu thứ cấp, phỏng vấn chuyên gia, phântích tình huống và phỏng vấn nhóm/sâu … nhằm để xác định rõ vấn đề nghiên cứu,hoàn chỉnh câu hỏi và các mục tiêu nghiên cứu; xây dựng đề cương nghiên cứu, thiết
kế nghiên cứu và thiết kế bảng hỏi
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết Bảng hỏi thử
Nghiên cứu sơ bộ:
- Thảo luận, góp ý
- Điều tra thử: 25 mẫu bảng hỏi
Điều chỉnh
Bảng hỏichính thức
Nghiên cứu chính thức
*Chọn mẫu điều tra: Phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random
sampling)
* Số lượng mẫu điều tra: 250 mẫu
* Hình thức điều tra: phỏng vấn trực tiếp
người dân trong vùng có các dự án
Thu thập và xử lý số liệu
* Thu thập số liệu từ 250 phiếu điều tra
* Xử lý số liệu: Xử lí số liệu điều tra bằng phần mềm SPSS
16.0 với các kỹ thuật thống kê sau:
Thống kê mô tả
Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số
Cronbach Alpha
Phân tích nhân tố khám phá
Phân tích hồi quy tuyến tính bội
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36(2) Nghiên cứu chính thức
Người nghiên cứu thường sử dụng công cụ chính là bảng câu hỏi để thu thập
dữ liệu sơ cấp nhằm phục vụ cho nghiên cứu của mình Tùy vào từng trường hợp cụthể mà ở giai đoạn này, nhà nghiên cứu sẽ quyết định nghiên cứu trên toàn bộ tổngthể hay chỉ điều tra trên mẫu đại diện Trong trường hợp khảo sát trên mẫu đại diện,người nghiên cứu cần xác định kích thước mẫu, phương pháp chọn mẫu sao cho phùhợp và tổ chức thực hiện điều tra thu thập dữ liệu theo một phương thức nào đó nhưphỏng vấn trực tiếp Sau đó, toàn bộ dữ liệu thu thập sẽ được đưa vào xử lý, phântích, diễn giải và rút ra các kết luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Cuối cùng,nhà nghiên cứu tiến hành trình bày các kết quả nghiên cứu thu được nhằm giải quyếtvấn đề nghiên cứu đặt ra
1.4.2.1 Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu này cũng được tiến hành bao gồm ba bước nghiên cứu đó là: (1) Nghiên cứu tài liệu thứ cấp; (2) Nghiên cứu sơ bộ định tính; và (3) Nghiên cứu sơ
bộ định lượng.
* Nghiên cứu tài liệu thứ cấp:
- Xem xét các quy định pháp lý liên quan;
- Thu thập thông tin từ internet, các tài liệu có liên quan từ Ban quản lý Khukinh tế Chân Mây - Lăng Cô; và một số tạp chí khoa học kinh tế chuyên ngành
* Nghiên cứu sơ bộ định tính: chủ yếu nhằm xây dựng, điều chỉnh hay bổ
sung các câu hỏi (các biến) phản ánh nhận định và đánh giá của người dân về lợiích, thiệt hại của các dự án mang lại đối với cộng đồng dân cư tại Khu kinh tế Tiếntrình thực hiện như sau: đầu tiên dựa trên cơ sở lý thuyết tác giả đưa ra các câu hỏiliên quan đến vấn đề nghiên cứu, tiếp đến thông qua dàn bài nghiên cứu định tínhtiến hành thảo luận đối với các chuyên gia (các cán bộ của Ban quản lý Khu kinh tế;các chủ đầu tư dự án tại khu kinh tế) và người dân
* Nghiên cứu sơ bộ định lượng: chủ yếu nhằm hoàn thiện bảng hỏi phục vụ
quá trình điều tra chính thức thu thập số liệu Tiến trình thực hiện: sau khi tiến hànhthảo luận bằng bước nghiên cứu định tính, bảng hỏi sơ bộ đã được hoàn thành, để
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37nâng cao hơn nữa mức độ chính xác cũng như là để đảm bảo được sự phù hợp vớithực tế của các câu hỏi, tác giả đã tiến hành điều tra thử với 25 đối tượng là ngườidân tại khu vực có các dự án đang hoạt động Kết quả bước nghiên cứu này, một sốcâu hỏi trong bảng hỏi được điều chỉnh thêm một lần nữa và đây chính là bảng hỏi
đã được hoàn thiện phục vụ cho quá trình điều tra chính thức
1.4.2.2 Nghiên cứu chính thức
a Thiết kế bảng hỏi
Sau quá trình thảo luận với chuyên gia và người dân, bảng câu hỏi đượcthiết kế gồm hai phần như sau:
- Phần I của bảng câu hỏi là thông tin về địa bàn phỏng vấn
- Phần II của bảng hỏi được thiết kế nhằm thu thập sự đánh giá của ngườidân về lợi ích, thiệt hại của các dự án mang lại đối với cộng đồng dân cư tại Khukinh tế
Bảng câu hỏi sau khi được thiết kế xong được dùng để phỏng vấn thử (25 ngườidân) để kiểm tra mức độ rõ ràng của bảng câu hỏi và thông tin thu về Sau khi điềuchỉnh bảng câu hỏi, bảng hỏi chính thức (xem phần phụ lục) được gửi đi khảo sát
Phần II của bảng câu hỏi chính thức được thiết kế gồm 40 biến quan sát.Trong đó, 37 biến quan sát đầu tiên được sử dụng để đo lường nhận định và đánhgiá của người dân về lợi ích, thiệt hại của các dự án mang lại cho cộng đồng dân cư,
03 biến quan sát kế tiếp dùng để đo lường sự hài lòng của cộng đồng dân cư đốivới các dự án tại Khu kinh tế
b Thu thập số liệu và chọn mẫu điều tra
Sau khi bảng hỏi đã được hoàn thiện, bảng hỏi này được thiết kế theo thang
đo 5 điểm Likert, với mục đích lượng hóa sự đánh giá của người dân về lợi ích vàthiệt hại của các dự án mang lại Sau đó tác giả đã sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trựctiếp để thu thập các số liệu sơ cấp phục vụ cho quá trình đánh giá vấn đề nghiêncứu Cụ thể được tiến hành như sau:
Phiếu điều tra đã được gửi đến 270 hộ dân trong vùng có các dự án Căn cứvào danh sách được cung cấp từ chính quyền địa phương, 270 hộ gia đình được
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38chọn từ danh sách Tuy nhiên, nếu một hộ gia đình được chọn không thể tiếp cậnđược thì hộ gia đình khác phù hợp sẽ được chọn để thay thế Kết quả thu được 258phiếu, trong đó có 8 phiếu không đạt yêu cầu (do thiếu nhiều thông tin), nên sốlượng mẫu hợp lệ được sử dụng để đánh giá là 250 mẫu.
c Phương pháp xử lý số liệu
Về việc xử lý dữ liệu định lượng, kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích nhân tốkhám phá (EFA), phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích hồi quy tuyếntính bội Để thực hiện các kỹ thuật nêu trên, tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS16.0 làm công cụ xử lý
* Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê và chỉ lấy giá trị Frequency (tần suất), Valid Percent (% phù hợp).Sau đó, lập bảng tần số để mô tả mẫu thu thập theo các thuộc tính như địa chỉ, giớitính, tuổi, trình độ học vấn, v.v…
* Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích nhân tố khám phá là kỹ thuật được sử dụng nhằm thu nhỏ và tóm tắtcác dữ liệu Nói cách khác, từ một tập hợp n biến quan sát được rút gọn thành một tập
k nhân tố dựa trên cơ sở mối quan hệ tuyến tính giữa các biến quan sát với một nhân
tố Phương pháp này giúp chúng ta sắp xếp các biến có tương quan vào trong cácnhân tố độc lập để xác định các nhân tố hình thành nên mô hình nghiên cứu
Trước khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá cần phải xem xét sự phù hợpcủa phép phân tích nhân tố:
- KMO (Keiser Meyer Olkin) là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp củaphân tích nhân tố Giá trị của KMO nằm trong khoảng 0,5 - 1 là một điều kiện đủ đểphân tích nhân tố
- Đại lượng Bartlett là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyếtcác biến không có tương quan trong tổng thể Điều kiện để tiến hành phân tích nhân
tố là các biến phải có tương quan với nhau Do đó nếu kiểm định này không có ýnghĩa thống kê thì không nên áp dụng phân tích nhân tố cho các biến đang xem xét
Giả thuyết:
H0: Các biến không có tương quan với nhau trong tổng thể
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39H1: Các biến có tương quan với nhau trong tổng thể.
Nguyên tắc chấp nhận giả thuyết: Giá trị Sig <α thì bác bỏ giả thuyết H0,chấp nhận H1, tức là điều kiện về các biến phải có tương quan với nhau trong tổngthể là thỏa mãn, đáp ứng được điều kiện phân tích nhân tố
Nếu đại lượng KMO nằm trong khoảng 0,5 - 1 và kiểm định Bartlett cho giátrị Sig <α thì việc phân tích nhân tố được xem là phù hợp
Sau khi xem xét sự phù hợp của phép phân tích nhân tố và kết quả thu được
là phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố Phương pháp trích thành phần chính(Principal Components) với phép quay vuông góc (Varimax) được sử dụng để phântích nhân tố Các yêu cầu chính khi sử dụng kết quả phân tích nhân tố là phương saitrích (để đánh giá mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố) là phảiđạt từ 50% trở lên và hệ số tải nhân tố (biểu thị mối quan hệ tương quan giữa biếnquan sát và nhân tố) phải có giá trị từ 0.50 trở lên (Theo Hair & ctg, giá trị hệ số tảinhân tố factor loading đạt trên 0,3 được xem là đạt được mức tối thiểu, từ 0,4 trở lênđược xem là quan trọng và từ 0,5 trở lên được xem là có ý nghĩa thực tế)
Ngoài ra, phân tích nhân tố còn dựa vào eigenvalue để xác định số lượngnhân tố Chỉ những nhân tố có eigenvalue lớn hơn 1 thì mới được giữ lại trong
mô hình Đại lượng eigenvalue đại diện cho lượng biến thiên được giải thích bởinhân tố
* Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach Alpha
Phương pháp này cho phép người phân tích loại bỏ các biến không phù hợp,hạn chế các biến rác trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đobằng hệ số thông qua hệ số Cronbach alpha Những biến có hệ số tương quan biếntổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại Thang đo có hệ số Cronbach alpha
từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứumới (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995) Thông thường, thang đo cóCronbach alpha từ 0.7 đến 0.8 là sử dụng được Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khithang đo có độ tin cậy từ 0.8 trở lên đến gần 1 là thang đo lường tốt
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 400,8 ≤ Cronbach Alpha ≤ 1 : Thang đo lường tốt.
0,7 ≤ Cronbach Alpha ≤ 0,8 : Thang đo có thể sử dụng được
0,6 ≤ Cronbach Alpha ≤ 0,7 : Có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm
đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trảlời trong bối cảnh nghiên cứu
* Phương pháp hồi quy tuyến tính bội
“Hồi quy tuyến tính” là mô hình biểu diễn mối quan hệ nhân quả giữa mộtbiến được gọi là biến phụ thuộc (hay biến được giải thích - Y) và một hay nhiềubiến độc lập (hay biến giải thích - X) Mô hình này sẽ giúp nhà nghiên cứu dự đoánđược mức độ của biến phụ thuộc (với độ chính xác trong một phạm vi giới hạn) khibiết trước giá trị của biến độc lập Theo đó, trong nghiên cứu này, phương pháp hồiquy tuyến tính bội được sử dụng để xây dựng mô hình với mục đích xem xét tácđộng của các dự án đầu tư đến sự phát triển của cộng đồng dân cư tại khu kinh tếChân Mây - Lăng Cô thông qua đánh giá tác động của các yếu tố đến chất lượngcuộc sống của cộng đồng dân cư khi có mặt các dự án đầu tư tại Khu kinh tế Môhình hồi quy tuyến tính bội sẽ có dạng tổng quát như sau:
ei pi p i
i
Yˆ 0 1 1 2 2 Trong đó, Yˆ i là giá trị của biến phụ thuộc (sự hài lòng chung của cộng đồngdân cư) tại quan sát thứ i
Xpi là giá trị của biến độc lập thứ p tại quan sát thứ i (Các yếu tố tácđộng đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư);
βk là các hệ số hồi quy riêng phần
ei là một biến độc lập ngẫu nhiên có phân phối chuẩn
Những điều cần lưu ý trong quá trình xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến:
Xem xét ma trận hệ số tương quan
Ma trận này cho biết tương quan giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập,cũng như tương quan giữa các biến độc lập với nhau Nếu hệ số tương quan giữabiến phụ thuộc và các biến độc lập đều cao thì có thể đưa các biến độc lập vào mô
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ