438 NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TỈNH BÌNH DƢƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU QUẢN TRỊ ĐỊA PHƢƠNG THỜI KỲ CÁCH MẠNG 4 0 ThS Phạm Hồng Kiên Trƣờng Đại học Thủ Dầu Một Tóm tắ[.]
Trang 1438
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU QUẢN
TRỊ ĐỊA PHƯƠNG THỜI KỲ CÁCH MẠNG 4.0
ThS Phạm Hồng Kiên
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Tóm tắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:“cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất,
là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong
Vì vậy, ngay khi tái lập (1997) Đảng bộ tỉnh ình Dương đã tập trung xây dựng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở và coi đ là nhiệm vụ“then chốt” Qua 20 năm xây dựng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ngày càng nâng cao Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương trong thời kỳ cách mạng 4.0 thì cần phải đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực và có giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng Bài viết này, tác giả tập trung làm rõ những tác động và thực trạng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh ình Dương hiện nay, từ
đ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Từ khóa: Nguồn nhân lực cấp cơ sở Bình Dương; quản trị địa phương; cách mạng 4.0
1 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những nhân tố tác động đến nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, là cuộc cách mạng về sản xuất thông
minh dựa trên những đột phá công nghệ mới trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, Robot, Internet of things (IoT)…, trên nền tảng cách mạng số Theo Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố tháng 9-2015 xác định những thay đổi sâu sắc của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đó là: ―90% dân số có thể lưu trữ dữ liệu không giới hạn
và miễn phí; 1 nghìn tỷ cảm biến kết nối với internet; 80% người dân hiện diện số trên internet; 90% dân số dùng điện thoại thông minh; 90% dân số thường xuyên truy cập internet; chính phủ thu thuế qua một blockchain2; Hơn 50% lượng truy cập internet ở nhà liên quan đến các thiết bị dân dụng‖3
Như vậy, bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất, phương thức quản lý, phương thức làm việc; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động, lớn nhất là công nghệ tự động hóa, người máy Có thể dễ nhận thấy mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội đều bị tác động bởi cuộc
1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T.5, tr460
2 Một giao thức an toàn trong đó một mạng các máy tính cùng nhau xác thực một giao dịch trước khi được lưu trữ và chấp thuận
3 http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/cach-mang-cong-nghiep-40-co-hoi-va-thach-thuc-115987.html
Trang 2439
cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó chính quyền cấp cơ sở cũng chịu tác động mạnh
và khá toàn diện, vì đây là cấp trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế; là cấp hiện thực hóa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước trên mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội ở địa phương, là nơi phát huy quyền làm chủ của quần chúng nhân dân Do đó, triết lý về quản trị địa phương phải có sự thay đổi cho phù hợp theo hướng tăng cường sự tham gia quản lý của người dân, phát huy trí tuệ nhân dân mà công nghệ
là công cụ hỗ trợ phát triển và huy động mọi nguồn lực tham gia, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tạo ―Chính quyền điện tử‖, hay ―Chính quyền thông minh‖ và giao dịch ―không giấy tờ‖, giao tiếp qua web (web-chat) và Skype, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp và là xu thế tất yếu phải được phát triển mạnh
Song trùng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đ chính là tác động của quá trình hội nhập quốc tế và xây dựng chính quyền kiến tạo, liêm chính, phục vụ, hành
gia chủ động và sâu hơn vào quá trình định hình và cải cách các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hướng đến sự hình thành Doanh nghiệp thông minh- Công dân thông minh- Chính quyền quản lý thông minh, đây là mục tiêu của cách mạng 4.0 và cũng là mục tiêu Việt Nam cần thực hiện tốt để hội nhập quốc tế Để đáp ứng, cần phải đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở, hình thành những sản phẩm dịch vụ hành chính mới, tạo thuận lợi cho người dân trong việc sử dụng dịch vụ của Chính quyền điện tử, tiết kiệm được thời gian, chi phí giao dịch
Mặt khác, hiện nay Việt Nam ―có gần 50 triệu người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ trên 53% dân số, cao hơn mức trung bình thế giới là 46,64%‖5; ―hơn 55% dân số sử dụng điện thoại thông minh và nối mạng internet‖; ―Việt Nam nằm trong top 10 nước châu Á có tốc độ tăng trưởng người dùng Internet nhanh nhất, xếp thứ ba Đông Nam
Á, thứ 7 châu Á và thứ 18 thế giới về số người dùng Internet‖6 Riêng Bình dương, tính đến hết năm 2015 có 126.751 thuê bao Internet, qua đó có hàng triệu người sử dụng Internet, đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng thành phố thông minh, chính quyền điện tử theo Nghị quyết số 36-NQ/TW (01-7-2014) của Bộ Chính Trị và Nghị quyết số 26/NQ-CP về ―Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết
số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế‖ và Chỉ thị số 16/CT-TTg (04-5-2017) của Thủ tướng Chính phủ ―Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4‖,
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , tr153
5 https://www.vietnamplus.vn/tang-ty-le-nguoi-dung-internet-viet-nam-len-muc-8090-dan-so/432087.vnp
6
https://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/viet-nam-dung-thu-7-chau-a-ve-so-nguoi-dung-internet-3099194.html
Trang 3440
tạo ra cơ hội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, phát triển dịch vụ công ở mức cao, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước trong công tác phục vụ dân sinh Đồng thời, Bình Dương đang thực hiện ―Đề án thành phố thông minh Bình Dương‖ và ―Chính quyền thân thiện của dân, do dân và vì dân‖
Để giải quyết tốt những vấn đề trên, Bình Dương phải hóa giải 3 thách thức đó là: hạ tầng, nguồn nhân lực và an ninh mạng, trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng và quyết định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn ―cán bộ là gốc của mọi công việc; công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém‖7 Vì vậy, việc đầu tiên cần chủ động, nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có trình độ quản lý nhà nước phù hợp vị trí việc làm,
có kiến thức chuẩn về tin học, ngoại ngữ, có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ mới, biết áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước ở địa phương nhằm hỗ trợ, thúc đẩy thực hiện ―dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát‖, thay đổi tư duy từ ―quản lý- cai trị‖ sang tư duy ―hỗ trợ, phục vụ, kiến tạo, sáng tạo, đồng hành‖ thúc đẩy sự phát triển, tập trung xây dựng chính quyền tương tác, đối tác, liêm chính, kiến tạo, vì nhân dân phục vụ Xuất phát từ thực tiễn, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Bình Dương hiện nay đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới là việc làm cấp bách
2 Thực trạng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Bình Dương
Hiện nay, tổng số cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bình Dương là 2.043 người:
có 969 cán bộ và 1.074 công chức Những điểm mạnh là: Về trình độ học vấn, 97,1% tốt nghiệp trung học phổ thông; Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, 91,77% có trình
độ từ trung cấp trở lên, trong đó, 69,98% trình độ đại học, 1,76% trình độ sau đại học;
Về trình độ lý luận chính trị, 81,59% có trình độ từ trung cấp trở lên; Về tin học, ngoại ngữ, 83,99% có chứng chỉ tin học từ trình độ A trở lên; 71,56% có chứng chỉ ngoại
ngữ từ trình độ A trở lên8 Công tác đào tạo, bồi dưỡng hàng năm được quan tâm, riêng từ năm 2011 đến năm 2015, đã có 7.697 lượt cán bộ, công chức cấp cơ sở được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ (gồm 486 cán bộ, công chức được cử đào tạo đại học, 942 người được đào tạo trung cấp, cao đẳng, 6.269 lượt cán bộ, công chức cấp xã tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp
vụ9 như: quản lý xây dựng và phát triển đô thị; kỹ năng tiếp dân và cơ chế một cửa; nghiệp vụ thống kê; bình đẳng giới; nâng cao năng lực quy hoạch nông thôn mới; bồi dưỡng Trưởng công an xã; Chỉ huy trưởng quân sự xã Tổ chức 7 lớp bồi dưỡng cho
560 cán bộ chủ chốt là Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, UBND cấp
xã về kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng theo vị trí công tác…) Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG H,2011, tr, 309
8 Báo cáo tổng kết triển khai, thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số
112/NĐ-CP ngày 05/12/2011 và Nghị định số 29/2013/NĐ-112/NĐ-CP ngày 08/4/2013 của Chính phủ- Bảng phụ lục 1
9
Báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2010-2015 theo Quyết định 1956/QĐ-TTg, tr1
Trang 4441
được nâng lên, hiện tại về cơ bản đáp ứng yêu cầu đảm nhận các nhiệm vụ của chính quyền cơ sở
Một điểm mạnh khác, phần lớn nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ
sở là cán bộ trẻ: 21% cán bộ ở độ tuổi dưới 30; độ tuổi từ 30-50 chiếm 58,5% và từ
50-60 chỉ chiếm 20,6%, trong đó nữ chiếm 31,3%10, nhiệt tình, tận tụy với công việc, trưởng thành từ cơ sở gắn bó mật thiết với nhân dân nên am hiểu tình hình của địa phương, được lớn lên trong thời kỳ đổi mới nên ít chịu ràng buộc về tư duy của cơ chế
cũ, đây là nguồn nhân lực có tư duy mới dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Phần lớn cán bộ, công chức cấp cơ sở xác định việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình
độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ là việc làm thường xuyên, nên ý thức tự giác học tập nâng cao trình độ được nâng lên rõ rệt, số lượng người có trình độ đại học
và sau đại học ngày một tăng cao (năm 2005 số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ
từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 11%11, đến năm 2017 số người có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm 74,89%, trong đó có 1,76% nguồn nhân lực cấp cơ sở có trình độ sau đại học12)
Bên cạnh những mặt mạnh, nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
ở Bình Dương vẫn còn nhiều hạn chế Mặc dù ngày càng được chuẩn hóa thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng nhưng chất lượng làm việc chưa tương xứng với trình độ văn bằng đã được đào tạo; trình độ quản lý kinh tế thị trường, quản lý hành chính công còn thấp; số cán bộ, công chức chưa có chứng chỉ tin học còn cao 14%, chưa có chứng chỉ ngoại ngữ còn hơn 28%, đặc biệt số người được đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước ở mức rất thấp chỉ có 24,2% đã qua đào tạo, bồi dưỡng từ ngạch chuyên viên trở lên, còn lại 75,8% chưa qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước
Việc trang bị những kỹ năng lãnh đạo, quản lý và kỹ năng phối hợp xử lý các vấn đề có tính chất liên ngành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa được tổ chức thường xuyên; công tác bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành cho cán bộ, công chức tuy được tổ chức nhiều hơn nhưng số lượng chưa nhiều, chưa đáp ứng yêu cầu công việc theo vị trí việc làm ―Chất lượng phục vụ một
số dịch vụ hành chính công chưa đạt yêu cầu; vẫn còn cán bộ, công chức gây phiền
hà, nhũng nhiễu, tinh thần, thái độ phục vụ chưa tốt‖13 Nguồn nhân lực chất lượng cao để hội nhập kinh tế và quốc tế của tỉnh còn thiếu, năng xuất lao động thấp; ý thức
tổ chức, kỷ luật chưa được tuân thủ đầy đủ; hạn chế về giao tiếp ngoại ngữ, tin học
Nguyên nhân của những hạn chế là do công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở một số địa phương chưa hợp lý, chưa gắn đào tạo với bố trí sử dụng đúng sau đào tạo; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của các
10 Báo cáo số 145-BC/TU, Kết quả tinh giảm biên chế theo Nghị định số 132/2007/NĐ-CP và thực trạng cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức (bổ sung), Bảng phụ lục 1
11
UBND tỉnh Bình Dương (2016), Quyết định số 173/2005/QĐ-U ND, phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển đội nguc án bộ, công chức, viên chức tỉnh ình Dương giai đoạn 2005-2010, tr5-6
12 Báo cáo tổng kết triển khai, thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số
112/NĐ-CP ngày 05/12/2011 và Nghị định số 29/2013/NĐ-112/NĐ-CP ngày 08/4/2013 của Chính phủ- tr2
13
Tỉnh Ủy Bình Dương (2016), Chương trình số 20-Ctr/TU, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học- kỹ thuật và đội ngũ công nhân lao động, đáp ứng yêu cầu của Tỉnh trong giai đoạn mới, tr2
Trang 5442
cơ sở đào tạo chưa cao, chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, còn nặng về
lý thuyết, tính ứng dụng và thực tiễn chưa cao, chưa chú trọng tính đặc thù riêng biệt của từng vị trí việc làm của cán bộ, chưa chú ý bồi dưỡng về kỹ năng quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện, nhất là xử lý những tình huống trong thực tiễn Một số cán
bộ, công chức chưa nhận thức đầy đủ về mục đích, yêu cầu của việc học tập, nghiên cứu nhất là các lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức nên chưa tập trung cho khóa học dẫn đến chất lượng học tập chưa cao Một bộ phận cán bộ, công chức cấp cơ sở thiếu
tu dưỡng rèn luyện, nên vi phạm kỷ luật, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giai đoạn mới Mặt khác, chưa có cơ chế đánh giá phù hợp và thay thế kịp thời những cán bộ, công chức, không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ
3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương thời
kỳ cách mạng 4.0
Hiện nay, nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ở tỉnh Bình Dương đang chịu tác động của những chương trình khép đó là: thực hiện Đề án xây dựng thành phố thông minh Bình Dương; xây dựng ―Chính quyền thân thiện của dân, do dân
và vì dân‖; nâng cao năng lực quản trị địa phương trong thời kỳ bắt đầu bước vào cuộc cách mạng 4.0; Đồng thời phải thực hiện mục tiêu Chương trình số 20-Ctr/TU (09-8-2016) của Tỉnh ủy, về Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học- kỹ thuật và đội ngũ công nhân lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển của Tỉnh trong giai đoạn mới, đến năm 2020: ―100% cán bộ, công chức cấp xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên; 90% công chức cấp xã có trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí đảm nhận; Hàng năm có ít nhất 60% cán bộ, công chức cấp xã được bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp, đạo đức công vụ Người hoạt động không chuyên trách cấp xã được bồi dưỡng cập nhật và nâng cao kỹ năng, phương pháp hoạt động ít nhất 01 lần trong thời gian 02 năm‖14 Để đạt đạt được các chương trình, mục tiêu trên theo tôi cần thực hiện đồng bộ những giải pháp sau:
(1) Sớm cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức cấp cơ sở phù hợp
với yêu cầu của thời kỳ mới là nhiệm vụ trọng tâm Trên cơ sở, Luật cán bộ, công
chức, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Nội vụ; Nghị quyết số 17-NQ/TW (18-3-2002) của HNTW5 khóa IX về ―Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn‖; Kết luận số 37-KL/TW (02/02/2009) của Trung ương Đảng về ―Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020‖; Kết luận số 24- KL/TW (05/6/2012) về ―Đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý‖; Nghị quyết số 176-NQ/TU (27/12/2003) của Tỉnh ủy Bình Dương ―Về công tác cán bộ đến năm 2020 và những năm tiếp theo‖; Chỉ thị số 16/CT-TTg (04-5-2017) của Thủ tướng Chính phủ về ―Nâng cao năng lực tiếp cận cách mạng công nhiệp 4.0‖; để xây dựng thành các tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh cán bộ chuyên trách
và công chức cấp cơ sở trên mọi mặt phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới, làm căn cứ
để tổ chức Đảng các cấp đánh giá, tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ đúng đắn, chính
14
Chương trình số 20-CTr/TU (09/8/2016), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học- kỹ thuật và đội ngũ công nhân lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển của Tỉnh trong giai đoạn mới.Tr10
Trang 6443
xác cán bộ, là cơ sở để quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ và là tiêu chí để mỗi cán bộ phấn đấu, học tập rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân
(2) Thực hiện rà soát, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
cơ sở, thực hiện từng bước theo yêu cầu Nghị quyết số 18-NQ/TW (25-10-2017) của HNTW6 khóa XII về ―tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả‖, gắn đánh giá với ―tinh giản hóa‖ Cần xây dựng và cụ thể hóa tiêu chí đánh giá theo hướng lấy chỉ số hài lòng của quần chúng, nhân dân để xác định hiệu quả công tác của cán bộ, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu Cần tập trung vào các vấn đề y tế, giáo dục, giao thông, thu nhập, hiệu quả phát huy các nguồn vốn được giao, phát huy dân chủ, tỷ lệ lao động có việc làm, sức khỏe, môi trường, thực hiện dân chủ, an ninh, an toàn, giải quyết thủ tục hành chính , khắc phục tình trạng đánh giá hoàn thành nhiệm vụ một cách chung chung chưa chú ý đến kết quả của hoạt động mà đối tượng được thụ hưởng có hài lòng hay không Mặt khác, xây dựng mới Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở phù hợp yêu cầu thời kỳ bắt đầu bước vào cuộc cách mạng 4.0 để các cấp lấy đó là căn
cứ để xây dựng kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định, nếu không đủ chuẩn kiên quyết thực hiện thay thế
Các địa phương cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch cán bộ kế cận xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch, chọn cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng phục vụ công tác chuyên môn theo vị trí việc làm phù hợp, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với địa chỉ sử dụng và hướng bố trí sau đào tạo Đồng thời, thường xuyên quán triệt nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức về trách nhiệm không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, phải thay đổi suy nghĩ từ học một lần cho cả đời, sang học cả đời để làm việc cả đời, đúng như I.V.Lênin đã khẳng định
―học, học nữa, học mãi‖ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trước khi bổ nhiệm ở tất cả các chức danh đều được đào tạo theo tiêu chuẩn, sau khi bổ nhiệm chỉ thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc hàng năm để cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng giải quyết công việc theo tinh thần ―đào tạo cơ bản‖, ―bồi dưỡng theo chức danh‖
(3) Đối với các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị cấp cơ sở, cần tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chú trọng mời đội ngũ giảng viên kiêm chức, các chuyên gia đầu ngành có nhiều kinh nghệm và kiến thức mới trong các lĩnh vực, có phương pháp giảng dạy phù hợp tham gia giảng dạy Thay đổi phương thức đào tạo, bồi dưỡng, phương pháp kiểm tra, đánh giá, nhất là phương pháp đào tạo phải ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, công nghệ thực tế ảo trong đào tạo, giảm bớt các môn học có tính chất hàn lâm, lý thuyết, thay vào đó là hình thành các môn học về phát triển năng lực, kỹ năng tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị Trong đào tạo, bồi dưỡng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả, giúp hoạt động dạy và học diễn ra mọi lúc, mọi nơi, giúp người học có thể cá
Trang 7444
nhân hóa, hoàn toàn quyết định việc học tập theo nhu cầu của bản thân, hình thức giáo dục phải linh hoạt về thời gian, không gian phù hợp với điều kiện và nhu cầu của cá nhân, vì vậy phát triển E-learning kết hợp lên lớp cho phép người dạy có thể cung cấp tài liệu cho người học những kiến thức mà thực tiễn đang cần và thu thập lại các kết quả của quá trình dạy học từ phía người học một cách liên tục linh hoạt15 Trong cách mạng 4.0 thì tư duy về trường học không chỉ đóng khung trong các bức tường của giảng đường, trong lớp học hay phòng thí nghiệm, mà phải mở rộng kết hợp với các địa chỉ sử dụng, với thực tiễn, thị trường lao động hướng đào tạo ―những gì thị trường
sẽ cần‖ Thay đổi cách đánh giá, từ tập trung vào kiến thức, sang tập trung chủ yếu là đánh giá kỹ năng xử lý vấn đề (giải quyết tình huống), tinh thần, thái độ trong việc xử
lý các vấn đề đặt ra Xác định rõ từng loại đối tượng đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề cán bộ, công chức đảm nhiệm để xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp Đồng thời, phải thay đổi về mục tiêu, nội dung và cách thức đào tạo cho tương thích với thời đại mới, làm cho người học có sự thay đổi tư duy sau khi học sẽ áp dụng để tạo ra môi trường phát triển tốt, mang đến lợi ích dịch vụ công chất lượng, bảo vệ sự công bằng xã hội,
để thích ứng, người lao động cần phải sở hữu nhiều kỹ năng như quản lý, kỹ thuật số
và cả những kỹ năng mềm
(4) Tiếp tục quan tâm bổ sung hoàn chỉnh các chế độ, chính sách của tỉnh đối với cán bộ, công chức cấp cơ sở Cần có chính sách phù hợp để động viên khích lệ cán
bộ, công chức học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và các kiến thức bổ trợ khác bằng các chế độ thiết thực trong quá trình học tập, nhất là chế độ khuyến khích tự đào tạo sau khi hoàn thành các khóa học dài hạn Có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời những cán bộ, công chức được nhân dân đánh giá cao trong thực thi nhiệm vụ, có sáng kiến hay cách làm sáng tạo kết quả tốt, nghiêm khắc xử lý những cán bộ, công chức vi phạm hoặc kết quả kém Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhất định nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Bình Dương sẽ ngày càng vững mạnh, đồng bộ đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương thời kỳ bước vào cuộc cách mạng 4.0, sớm thực hiện thành công Đề án xây dựng thành phố thông minh Bình Dương và xây dựng ―Chính quyền thân thiện của dân, do dân và vì dân‖
15 Trường Đại học Thủ Dầu Một, hiện đang áp dụng mô hình dạy học hòa hợp E-learning và ISW