1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tlch thực trạng, dự báo xu hướng và đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục bảo đảm và thực hiện quyền con người ở việt nam hiện nay

25 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng, dự báo xu hướng và đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục bảo đảm và thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Nhân Quyền
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 46,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A LỜI MỞ ĐẦU Con người là một giá trị cao quý và là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạng nào Chính vì vậy, bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người phải là trọng tâm và là đích cuối cùng của[.]

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Con người là một giá trị cao quý và là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạngnào Chính vì vậy, bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người phải làtrọng tâm và là đích cuối cùng của mỗi cuộc cách mạng, của mỗi chế độ xã hộitiến bộ

Quyền con người là lĩnh vực nhạy cảm và hết sức phức tạp, ở nước ta trênlĩnh vực nhân quyền, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm mọi cáchchĩa mũi nhọn vào các vấn đề như: vấn đề cải tạo giam giữ tội phạm, vấn đềngười Việt Nam di tản, tôn giáo…Thực tế, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếptục sẵn sàng đàm phán với các chính phủ và tổ chức quốc tế

Trên bình diện chung của xã hội, quyền con người vẫn là một tồn tại, cácnhu cầu về dân sinh, dân quyền, dân trí chưa được giải quyết một cách căn bản.Tình trạng thất học, thất nghiệp nổi lên trong quá trình đất nước hội nhập kinh tế.Những quyền cơ bản của công dân không được thực hiện hoặc vẫn mang tínhhình thức Chẳng hạn, quyền được khiếu nại, tố cáo đối với các nhân hoặc cơquan nhà nước mặc dù được ghi nhận ở Hiến pháp nhưng trong thực tế chưa có

cơ chế thích hợp để thực hiện Điều đó dẫn đến tình trạng đơn từ của công dângửi các cơ quan có thẩm quyền không được giải quyết hoặc giải quyết không kịpthời, thoả đáng Vì vậy, nhu cầu đòi hỏi tự do, dân chủ, công bằng xã hội vẫn lànhu cầu thường trực của nhân dân

Mặc dù, còn nhiều vấn đề giải quyết chưa thoả đáng, nhưng chúng ta cũng

đã đạt được những thành tựu và đóng góp quan trọng trên lĩnh vực nhân quyềntrong việc ghi nhận và giải quyết quyền con người Nhà nước Việt Nam khôngchỉ khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà còn làm hết sức mình

để bảo đảm và thực hiện quyền con người trên thực tế, thông qua việc xây dựng

và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các biện pháp cụ thể

Trang 2

nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, để mọi người dân có cuộc sống ngàycàng đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần; xây dựng một xã hội công bằng,dân chủ, văn minh, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trên đấtnước Việt Nam.

Với việc giành được độc lập dân tộc, trở thành quốc gia có chủ quyền,nhân dân có tất cả các quyền cơ bản, điều đó được ghi nhận một cách nhất quán

ở “ Tuyên ngôn độc lập ” Cùng với quyền độc lập dân tộc, sự phát triển của đờisống kinh tế - xã hội, chính quyền nhân dân được củng cố, quyền con người vàquyền công dân ở nước ta được thực hiện ngày càng rộng rãi hơn trong đời sốngthực tiễn Để hiểu rõ và đúng đắn về truyền thống bảo vệ và phát triển quyền

con người ở Việt Nam, Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “ Thực trạng, dự báo xu hướng và đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục bảo đảm và thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay ” làm tiểu luận hết môn lý luận về quyền

con người

Trang 3

B NỘI DUNG

I QUAN NIỆM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Quyền con người là một phạm trù phức tạp, đa dạng, biểu hiện các dặcđiểm và thuộc tính quan trọng của nhân cách Vì vậy, đưa ra một định nghĩa vềquyền con người dưới hình thức cô đọng mà nêu bật được các thuộc tính và đặcđiểm cơ bản, quan trọng nhất của con người là một điều khó

- Tuyên ngôn NQ của LHQ (1948) : Con người đã được sinh ra với các nhân

phẩm: có thể chất có thể trưởng thành hay có thể chết, có lý trí, có nhiều cảmxúc, có khả năng sáng tạo, là thực thể xã hội

- Văn phòng cao ủy LHQ: QCN là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (univeral

legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại nhữnghành động(actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) làm tổn hại đến nhân phẩm, đếnnhững sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms)

- Định nghĩa phù hợp với Việt Nam: QCN là những nguyên tắc vốn có và chỉ có

ở con người, được thể chế hóa trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý

Trang 4

quốc tế, nhằm góp phần thúc đẩy và bảo vệ quyền sống trong độc lập, tự do,hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam

Khái niệm “Quyền con người”: bao gồm 2 từ: “con người” và “quyền”.

Cho đến nay cách hiểu về khái niệm này chủ yếu liên quan đế thành tố thứ haicủa nó là “quyền” của con người; còn cách hiểu khái niệm này liên quan đếnthành tố “con người” vẫn còn mờ nhạt

Cho đến nay ở mức độ nào đó, ý nghĩa của từ “con người” trong phạm trù

QCN của Liên hợp quốc vẫn trừu tượng Chẳng hạn Tuyên ngôn nhân quyền

toàn thế giới tiếp cận QCN trên cơ sở từ con người - cá nhân suy rộng ra vốn

thiên về cách tiếp cận của phương Tây Nhưng truyền thống các nước phươngĐông thiên về cách tiếp cận con người - tập thể (xã hội) Vấn đề là phải coi cảhai cách tiếp cận đều phải có giá trị như nhau; và quyền cá nhân hay quyền tậpthể đều là giá trị chung của nhân loại

Tuyên ngôn đó cũng chỉ đề cập đến những người được sinh ra và không

đề cập đến những người chưa được sinh ra Như vậy, theo khái niệm về nhânquyền của Liên hợp quốc, chỉ những ai đã sinh ra mới là chủ thể của quyền conngười Còn những ai chưa sinh ra không được bảo vệ bởi những quyền conngười mà Liên hợp quốc tuyên bố Về điểm này, có những khác biệt về quanđiểm về nhân quyền giữa Liên hợp quốc và một số người phương Tây, như

người theo đạo Thiên chúa Và trong Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em,

thuật ngữ “trẻ em” chỉ được xác định với sự tôn trọng thời kỳ cuối của tuổi thơ,chứ không phải toàn bộ tuổi thơ, nhất là thời kỳ đầu của tuổi thơ

Thành tố thứ hai “quyền” trong thuật ngữ “QCN” gồm ba khía cạnh: phạm

vi của quyền con người, mối tương quan giữa các quyền con người khác nhau vàhạn chế quyền con người Hệ thống đảm bảo các quyền của một nhà nước baogồm 3 phương diện: “cá nhân”, “công dân”, và “các nhóm yếu thế”

Trang 5

Mặc dù, còn có những quan niệm, cách giải thích khác nhau về ‘quyền conngười” do lập trường giai cấp, thế giới quan của những người sử dụng khái niệm

đó quyết định Nhưng phần lớn các nhà luật học và các nhà xã hội học đều có sựthống nhất chung về đặc điểm của quyền con người đó là:

+ Những quyền liện quan trực tiếp và không thể tách rời với mỗi con người+ Những quyền đó phải là những quyền cơ bản đóng vai trò chính yếu trongcuộc sống của con người và gắn liền với nhân phẩm, tự do, khả năng tự hoànthiện về nhân cách, khả năng thực hiện những khát vọng trong cuộc sống…+ Những quyền đó phải là những quyền phổ cập và cần thiết cho mọi con người,không phân biệt chủng tộc, màu sắc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguốn gốcquốc gia và xã hội

II THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM VÀ THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

1 Thành tựu bảo đảm và thực hiện quyền con người

Trước đổi mới, trong điều kiện xuất phát kinh tế thấp kém, chúng tathường phải tập trung "tất cả cho sản xuất" kinh tế vật chất đơn thuần, do đó conngười vô hình chung trở nên mờ nhạt trước mục tiêu sản xuất vật chất đó.Trong công cuộc đổi mới, chúng ta đã nhận thức được tính tất yếu phải bảo đảm

và thực hiện quyền con người là xuất phát từ mục tiêu của công cuộc đổi mớitheo định hướng XHCN và bản chất của chế độ ta để phát huy “nhân tố conngười“ nhằm thực hiện xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh ”Xã hội dân chủ”, theo tinh thần Đại hội X của Đảng, cơ bản được xâydựng trên cơ sở bảo đảm, bảo vệ và thực hiện quyền con người và đại đoàn kếttoàn dân thông qua nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân

Trang 6

Trong giời gian qua, việc bảo đảm và thực hiện quyền con người ở nước ta

đã đạt được tiến bộ rất quan trọng được cộng đồng quốc tế thừa nhận và đánh giácao Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi conngười vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổimới không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhậnthức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua

Quyền được sống trong độc lập, tự do: Người dân có quyền tự quyết vận mệnh

của mình, có quyền bầu cử và ứng cử Người dân có quyền tham gia quản lý nhànước và xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do họ lựa chọn

Tỷ lệ cử tri đi bầu cử thường rất cao (98 - 99%) Thực tế đó cho thấy, người dân

ý thức rất rõ về quyền của mình, và về vai trò của Quốc hội trong việc thực hiệnquyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội Trong mỗi kỳ họp Quốc hội, đạibiểu Quốc hội chất vấn các thành viên Chính phủ; và việc chất vấn được truyềnhình trực tiếp Việc chất vấn này ngày càng đi vào thực chất, và trở thành diễnđàn để người dân, thông qua đại biểu do họ bầu ra, chất vấn chính sách và cáchthức điều hành của Chính phủ; từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn,thách thức Ở cơ sở, với việc thực hiện “Quy chế dân chủ“ được Nhà nước banhành từ năm 1999, và Pháp lệnh về quy chế dân chủ ở cơ sở được Nhà nước banhành từ năm 2004, người dân đã tích cực tham gia vào tiến trình xây dựng, vàgiám sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước Hiện nay, tại 100% xã,phường, thị trấn đã thành lập Ban Thanh tra nhân dân, và 37/63 tỉnh, thành chỉđạo cơ sở thành lập Ban Giám sát Đầu tư công cộng Quyền khiếu nại, tố cáocủa dân được tôn trọng và bảo vệ Pháp luật quy định rõ việc đền bù thiệt hại vềvật chất, tinh thần cho người bị oan sai Việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tốcáo của người dân đã có sự đổi mới tích cực Trong năm thí điểm bỏ HĐND cấpHuyện, hoạt động tiếp công dân tại các huyện đã tăng 17,6%, các quận tăng6,3%, các phường tăng 11% Số kiến nghị, đề xuất trực tiếp của nhân dân và

Trang 7

doanh nghiệp đến UBND huyện tăng 8,4%, đến UBND quận tăng 6%, thông qua

Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện, quận đến UBND cùng cấp tăng lần lượt 37% và

23,1% Điều đó chứng tỏ, "việc thí điểm không những không ảnh hưởng đến

quyền dân chủ của người dân, mà còn tạo thuận lợi hơn cho nhân dân khi trực tiếp tham gia quản lý hành chính nhà nước"

Quyền lập hội của người dân: được bảo vệ bằng HP (Điều 69 của HP

1992), và nhiều văn bản dưới luật; ví dụ NĐ số 88/2003/NĐ- CP ngày30/07/2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội Ở ViệtNam hiện có 380 hội có quyền hoạt động trên phạm vi cả nước ( so với 115 vàonăm 1990 ); 18 tổ chức công đoàn ngành; 6.020 tổ chức ở cấp địa phương; vàhàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ hoạt động trong mọi lĩnh vực xã hội

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo: thể hiện

ở số lượng khoảng 20 triệu tín đồ các tôn giáo khác nhau, và khoảng 80% ngườidân có tín ngưỡng Đến nay ở Việt Nam có 12 tôn giáo hoạt động; trong đó cómột số tôn giáo có số lượng tín đồ đến hàng triệu người, như Phật giáo, Thiênchúa giáo, Tin Lành, Các sinh hoạt tôn giáo, đặc biệt các ngày lễ lớn hàng nămcủa các tôn giáo được tổ chức long trọng với sự tham gia của hàng vạn tín đồ vàngười có tín ngưỡng Thí dụ hội chùa Hương ( Hà Nội ), Lễ Thánh La Vang( Thừa Thiên - Huế ), Lễ hội Bà Chúa Xứ ( An Giang), Đại lễ Phật đản LHQnăm 2008 được tổ chức trọng thể tại Hà Nội với sự tham gia của hơn 4.000 tăng

ni, phật tử; trong đó có khoảng 2.000 chức sắc, tín đồ đến từ 74 quốc gia, vùnglãnh thổ trên thế giới Nhiều cơ sở thờ tự được cải tạo hoặc xây mới Hoạt độngđào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành được duy trì và mở rộng Nhiều chứcsắc và nhà tu hành được cử đi đào tạo ở nước ngoài Các tổ chức tôn giáo đượcquyền chủ động tham gia các hoạt động y tế, xã hội, văn hóa, nhằm đóng gópcho công cuộc xây dựng đất nước; đồng thời có quyền thiết lập các các quan hệ

Trang 8

quốc tế rộng rãi Đại diện chức sắc các tôn giáo tham gia nhiều diễn đàn quốc tế,thực hiện đối thoại tôn giáo, tín ngưỡng, trao đổi giáo lý, giáo luật tại các diễnđàn lớn, như ASEM, ASEAN,

Quyền tự do ngôn luân, tự do báo chí và thông tin: được thể hiện qua sự

phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của cácphương tiện thông tin đại chúng Đến giữa năm 2009, Việt Nam có hơn 700 cơquan báo chí in với 850 ấn phẩm; 55 nhà xuất bản; 80 báo điện tử và hàng nghìntrang tin điện tử trên mạng internet Gần 15.000 nhà báo được cấp thẻ ViệtNam có 68 đài phát thanh, truyền hình của trung ương, tỉnh và đài truyền hình kỹthuật số mặt đất Đài truyền hình Việt Nam phủ sóng đến 85% hộ gia đình ViệtNam Báo chí đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội và ngườidân; là công cụ quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách,pháp luật của Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do củanhân dân, đặc biệt các quyền con người Với khoảng 20 triệu người truy cậpinternet, tỷ lệ người truy cập internet ở Việt Nam chiếm 23,5% dân số; cao hơnmức trung bình của châu Á ( 18% ) Ngoài ra người dân Việt Nam còn được tiếpcận với hàng chục hãng thông tin, báo chí, và kênh truyền hình của nước ngoài,như Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN và nhiều báo, tạp chí lớn khác

Quyền được giáo dục: Sự phát triển mạng lưới trường học các cấp rộng

khắp cả nước, cả ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, biên giới, hải đảo Ngânsách chi cho giáo dục tăng hàng năm; và hiện chiếm 20% tổng ngân sách NN.Đến năm 2000, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập tiểu học; vượt trước 15 năm sovới thời hạn của Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ; đang tiến hành phổ cập trunghọc cơ sở; được UNESCO xếp thư 64/127 nước về phát triển giáo dục Số ngườilớn biết chữ, tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nữ giới biết chữ, so với tỷ lệ này

của nam giới - đều được LHQ xếp ở thứ hạng khá.

Trang 9

Quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số: Điều 5, 36, 39, 133 trong HP

1992 ) và trong các Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Luật Giáo dục, LuậtHôn nhân và Gia đình, Luật bình đẳng giới,v.v Hiện nay Nhà nước đang triểnkhai hai chương trình mục tiêu quốc gia là Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất

ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khókhăn (Chương trình 134 ); và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặcbiệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa(Chương trình 135) Việc thực hiện các chương trình này đã góp phần tạo điềukiện và thúc đẩy người dân thuộc các dân tộc thiểu số tiếp cận bình đẳng hơn các

cơ hội phát triển Tỷ lệ hộ nghèo đói trong đồng bào dân tộc thiểu số giảmnhanh hơn các vùng khác Các vùng đặc biệt khó khăn được ưu tiên đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng Hiện nay, 96% số xã đặc biệt khó khăn có đường ô tô đếntrung tâm xã; 100% số huyện và 95% số xã đặc biệt khó khăn đã có điện 100%các xã có trường tiểu học, nhà mẫu giáo 100% số huyện có có trường trung họcphổ thông 71% số xã đặc biệt khó khăn đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi; và 80% số xã đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Quyền thamgia vào các công việc quản lý quốc gia của người dân tộc thiểu số đã được cảithiện đáng kể Ngày càng có nhiều người dân tộc thiểu số đảm nhiệm các chức

vụ giảng viên đại học, bác sĩ, kỹ sư, lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp, các tổ chức

xã hội và cơ quan nhà nước, từ trung ương đến địa phương

Quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa cộng đồng, thưởng thức văn hóa nghệ thuật và được chia sẻ những tiến bộ khoa học công nghệ: Điều 59,

60 trong HP 1992 ), và trong các Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật vềBảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Luật Khoa học và Công nghệ,v.v Văn hóa truyềnthống các dân tộc thiểu số được quan tâm giữ gìn và phát triển Không gian vănhóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phivật thể của thế giới Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số đang được

Trang 10

chú ý bảo tồn, và ngày càng được sử dụng phổ biến hơn Việt Nam có 30 dân tộcthiểu số có chữ viết Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng 8 bộ giáo trình cho 8thứ tiếng dân tộc thiểu số ( Khme, Chăm, Hoa, Êđê, Giarai, Bana, Thái và H’mông ) để chính thức đưa vào dạy trong các trường tiểu học và trường phổ thôngdân tộc ở 25 tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao Đài Truyền hình Việt Nam

đã phát kênh VTV 5 bằng 10 thứ tiếng dân tộc thiểu số Đài tiếng nói Việt Nam

đã tăng thời lượng phát sóng và sản xuất hơn 4.000 chương trình đặc biệt phátbằng 13 thứ tiếng dân tộc

2 Những hạn chế trong việc bảo đảm và thực hiện quyền con người

Về nhận thức và công tác lãnh đạo, quản lý: QCN vốn có nội dung rộng

lớn, phức tạp lại luôn luôn thay đổi, và đối với VN vẫn là một vấn đề mới Do

đó, việc nhận thức và công tác lãnh đạo, quản lý đối với việc bảo đảm thực hiệnQCN phải có quan điểm chính trị nhạy bén, tinh tế và sâu sắc với phông kiếnthức sâu rộng đa ngành, liên ngành Nhưng nhiều cơ quan, cán bộ, công chứcviên chức hiện chưa nhận thức đủ và sâu sắc vấn đề QCN Cách thức thể hiệnchính trị của chúng ta trong vấn đề NQ còn chưa tinh tế, chưa sâu sắc Vì thế,trong không ít trường hợp, việc bảo đảm thực hiện QCN, đặc biệt trong phêphán, đấu tranh với các quan điểm thù địch, sai trái, chúng ta chưa phân biệtđúng và rõ: đâu là có tính chính trị, đâu chưa đến mức có tính chính trị

Cơ quan quản lý nhà nước: chưa đủ năng lực, thẩm quyền giúp Đảng, NN

giải quyết những vấn đề QCN trên các lĩnh vực lý luận, pháp lý và thực tiễn

Cơ quan nghiên cứu chuyên trách về QCN: chưa được quan tâm củng cố

đúng mức Số lượng, trình độ cán bộ NC, GD vừa thiếu vừa yếu Nếu so sánhvới Hội nghiên cứu nhân quyền của Trung Quốc với khoảng 200 nhà khoa học

có trình độ đại học, trên đại học, với Viện Nhà nước và Pháp luật của Nga với

Trang 11

350 cán bộ đại học, trên đại học- thì Viện NCQCN của HVCT-HCQG HCM với

16 cán bộ NC,GD là rất nhỏ và yếu

Công tác đối thoại, đấu tranh về QCN: chưa có sự phối hợp giữa các cơ

quan chức năng; và còn thụ động

Công tác hợp tác trên lĩnh vực QCN: hầu như chưa thiết lập với các nước

XHCN và các nước bạn truyền thống (Nga, SNG, )

3 Nguyên nhân của những hạn chế

Thứ nhất, về mặt lý luận; trong một thời gian dài lý luận về quyền con

người, quyền công dân không có quan điểm kế thừa những giá trị trong lịch sử,việc nghiên cứu vấn đề quyền con người không được đặt vấn đề một cách có hệthống

Thứ hai; cơ chế đảm bảo quyền con người, quyền công dân chưa hiệu

quả

Thứ ba; nhận thức về quyền con người, quyền công dân của nhân dân, sự

hiểu biết về dân chủ, pháp luật trong nhân dân còn hạn chế Sự hạn chế như vậy

có nguyên nhân từ công tác tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền

Thứ tư; trình độ phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội ở nước ta còn thấp.

Bởi vì, quyền con người phản ánh trình độ phát triển kinh tế và xã hội, Mặc dùđòi hỏi ở mức độ khác nhau, song việc bảo đảm bất cứ quyền con người nàocũng không thể tách rời các điều kiện vật chất Do những khó khăn về kinh tế, ởnước ta hiện nay còn thiếu các điều kiện để chăm sóc, giải quyết việc làm chocác đối tượng: những người bị nhiễm HIV/AIDS, những người làm mại dâm,những người vi phạm pháp luật sau khi mãn hạn tù…

Trang 12

III DỰ BÁO XU HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY.

1.Một số dự báo xu hướng diễn biến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới.

Yêu cầu cao hơn đối với các nước đang phát triển có thu nhập trung bình:

Tại những nước có thu nhập trung bình, những thiết chế dân sự và yêu cầu về sựminh bạch, tính trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo đảm, thực hiện quyềncon người ngày càng lớn hơn Nói cách khác, yêu cầu bảo đảm và thực hiệnquyền con người trên cả phương diện quyền phát triển và thụ hưởng quyền ngàycàng lớn, và được đặt ra cấp thiết hơn khi Việt Nam thoát khỏi tình trạng kémphát triển

Sự bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội và các vùng khác nhau đặt ra nhiều thách thức đối với việc bảo đảm và thực hiện quyền phát triển ở Việt Nam hiện nay: Việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế có chất lượng, còn khó khăn, nhất

là đối với nhóm trẻ em khuyết tật, trẻ em ở nông thôn, những người bị ảnh ởng bởi HIV/AIDS và đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng núicao Việt Nam hiện có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất trong khu vực, trong đó có nạophá thai lựa chọn giới tính Từ đó dẫn đến tình trạng tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ

hư-sơ sinh còn ở mức khá cao

Tình trạng trên góp phần làm bộc lộ và gia tăng sự bất bình đẳng trong việchưởng lợi từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay tình trạng luật phápchưa xác định rõ quyền sở hữu, đặc biệt đối với đất, đã làm bộc lộ sự bất bìnhđẳng giữa quyền sử dụng đất của nông dân chỉ giới hạn trong thời hạn 20-50năm với quyền sở hữu đất của các nhà đầu tư trong, ngoài nước đối với các khucông nghiệp, sân gôn, khu đô thị mới trong khoảng thời gian 50-70 năm Người

Ngày đăng: 23/02/2023, 13:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w