1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Tiểu luận trình tự thủ tục thành lập san giao dịch thương mại điện tử

56 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận trình tự thủ tục thành lập sàn giao dịch thương mại điện tử
Tác giả Nhóm 8
Người hướng dẫn Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2021
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học Máy tính và Công nghệ Thông tin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 100,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC THÀNH LẬP (6)
    • 1.1 KHÁI QUÁT VỀ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (6)
      • 1.1.1 Khái niệm (6)
      • 1.1.2 Các loại hình chủ yếu của thương mại điện tử (7)
        • 1.1.2.1 Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và khách hàng (B2C) (8)
        • 1.1.2.2 Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B) (9)
      • 1.1.3 Khái niệm sàn thương mại điện tử (10)
        • 1.1.3.1 Định nghĩa (10)
        • 1.1.3.2 Đặc trưng của sàn thương mại điện tử (11)
        • 1.1.3.3 Vai trò (12)
        • 1.1.3.4 Hạn chế (13)
      • 1.1.4 Đối tượng tham gia vào sàn giao dịch điện tử (14)
    • 1.2 TRÌNH TỰ THỦ TỤC THÀNH LẬP SÀN GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ (16)
      • 1.2.1 Điều kiện đăng kí thành lập website điện tử (16)
      • 1.2.2 Thẩm quyền trong đăng ký sàn giao dịch thương mại điện tử (17)
      • 1.2.3 Thành phần hồ sơ đăng ký sàn giao dịch điện tử (17)
      • 1.2.4 Quy trình đăng ký sàn giao dịch điện tử (19)
      • 1.2.5 Kết quả việc đăng ký sàn giao dịch thương mại điện tử (23)
      • 1.2.6 Những vấn đề cần lưu ý trong trình tự thủ tục thành lập sàn giao dịch điện tử (24)
  • CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM (28)
    • 2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI NÓI CHUNG VÀ VIỆT NAM NÓI RIÊNG (28)
      • 2.1.1 Tốc độ phát triển thương mại điện tử trên thế giới (28)
      • 2.1.2 Thực trạng phát triển Thương mại điện tử tại Việt Nam (29)
    • 2.2 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM (32)
      • 2.2.1 Các vấn đề khó khăn phát sinh (32)
      • 2.2.2 Đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục các vấn đề phát sinh (37)
        • 2.2.2.1 Các biện pháp pháp lý (37)
    • 2.3 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (45)
      • 2.3.1 Cơ hội (45)
      • 2.3.2 Thách thức (47)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN TRÌNH TỰ THỦ TỤC THÀNH LẬP SÀN GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ Sinh viên thực hiện (Nhóm 8) Giảng viên hướng dẫn Hồ Chí Minh, tháng 10.

TỔNG QUAN VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC THÀNH LẬP

KHÁI QUÁT VỀ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

“Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử.” 1

Thương mại điện tử (E-commerce) là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các thiết bị điện tử và mạng internet, bắt đầu từ quá trình tìm hiểu, so sánh, khảo sát, chọn lựa, đàm phán, ký kết hợp đồng và cuối cùng là thực hiện giao dịch trao đổi tiền và sản phẩm Các giao dịch thương mại điện tử diễn ra không trực tiếp giữa các bên mà dựa trên hệ thống kết nối mạng máy tính, internet, giúp các doanh nghiệp và người tiêu dùng tiến hành giao dịch hiệu quả hơn Thương mại điện tử bao gồm các hình thức như B2B (Doanh nghiệp với doanh nghiệp), B2C (Doanh nghiệp với người tiêu dùng), C2C (Người tiêu dùng với người tiêu dùng), và C2B (Người tiêu dùng với doanh nghiệp), mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và tối ưu hóa quy trình bán hàng.

Thương mại điện tử (TMĐT) theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện trên mạng máy tính mở như internet Trong TMĐT, các bên có thể ký kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử và thực hiện hợp đồng đối với hàng hóa số hóa Tuy nhiên, khi hàng hóa là sản phẩm vật chất, việc giao kết hợp đồng vẫn có thể thông qua phương tiện điện tử, nhưng việc thực hiện hợp đồng đòi hỏi phương pháp truyền thống.

1 Luật Giao dịch điện tử 2005

Thương mại điện tử, theo nghĩa rộng, bao gồm các giao dịch tài chính và thương mại qua các phương pháp điện tử như quảng cáo doanh nghiệp và hàng hóa, cung cấp dịch vụ, trao đổi dữ liệu điện tử, ký hợp đồng trực tuyến, cũng như giao nhận hàng hóa hữu hình và vô hình.

Thương mại điện tử bao gồm mua bán hàng hóa như hàng tiêu dùng và thiết bị y tế, cũng như cung cấp dịch vụ như thông tin, pháp lý và tài chính Nó kết hợp cả hoạt động truyền thống như chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các hoạt động mới như siêu thị ảo Thương mại điện tử đang dẫn đến một cuộc cách mạng thay đổi linh hoạt cách thức mua sắm của người tiêu dùng.

1.1.2 Các loại hình chủ yếu của thương mại điện tử

Thương mại điện tử gồm tất cả các thị trường trực tuyến kết nối người mua và người bán, sử dụng Internet để xử lý các giao dịch điện tử hiệu quả Dựa trên các chủ thể tham gia, thương mại điện tử được phân loại thành các loại khác nhau, giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng dễ dàng xác định hình thức phù hợp Các chỉ tiêu phân loại này giúp tối ưu hóa vận hành và nâng cao trải nghiệm khách hàng trong các hoạt động mua bán trực tuyến.

•C2C (Consumer to Consumer): Người tiêu dùng với người tiêu dùng

•C2B (Consumer to Business): Người tiêu dùng với doanh nghiệp.

•C2G (Consumer to Government): Người tiêu dùng với Chính phủ.

•B2C (Business to Consumer): Doanh nghiệp với người tiêu dùng.

•B2B (Business to Business): Doanh nghiệp với doanh nghiệp

•B2G (Business to Government): Doanh nghiệp với Chính phủ.

•B2E (Business to Employee): Doanh nghiệp với người lao động

•G2C (Government to Consumer): Chính phủ với người tiêu dùng

•G2B (Government to Business): Chính phủ với doanh nghiệp

•G2G (Government to Government): Chính phủ với Chính phủ.

Thương mại điện tử chủ yếu gồm hai loại hình chính là B2C (doanh nghiệp và người tiêu dùng) và B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp) B2C thường hướng tới việc bán hàng trực tiếp từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng cuối cùng, giúp mở rộng thị trường và nâng cao trải nghiệm mua sắm Trong khi đó, B2B tập trung vào các giao dịch giữa các doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa quy trình kinh doanh và tăng hiệu quả hợp tác thương mại Cả hai loại hình này đều đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thương mại điện tử hiện đại.

1.1.2.1Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và khách hàng (B2C):

Mô hình kinh doanh thương mại điện tử B2C (Business to Customer) là hình thức giao dịch trực tiếp giữa doanh nghiệp và khách hàng qua Internet Khách hàng có thể thu thập thông tin, mua các hàng hoá thực như sách hoặc sản phẩm tiêu dùng, hoặc các sản phẩm thông tin như phần mềm, sách điện tử, được giao nhận qua mạng Đây là hình thức kinh doanh phổ biến giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng dễ dàng và tối ưu hóa trải nghiệm mua sắm trực tuyến.

B2C là khái niệm được nhiều doanh nghiệp và cá nhân ưa chuộng nhờ vào lợi ích đa dạng và hiệu quả trong hoạt động mua bán trực tiếp giữa các chủ thể Với sự phát triển của Internet, mô hình B2C ngày nay đã trở thành phương thức bán hàng phổ biến và được nhiều người biết đến rộng rãi.

*Đặc điểm của mô hình B2C:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

*Các mô hình B2C phổ biến bao gồm:

-Mô hình B2C bán hàng trực tuyến: Đây là mô hình phổ biến nhất, trong đó mọi người mua hàng hóa từ các nhà bán lẻ trực tuyến

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Mô hình B2C dựa vào cộng đồng tận dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo và Instagram để xây dựng cộng đồng trực tuyến kết nối dựa trên các mục đích chung Việc tạo lập cộng đồng vững mạnh trên các nền tảng này giúp doanh nghiệp tăng cường tương tác, mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng và xây dựng lòng trung thành Các nền tảng mạng xã hội không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là nơi thúc đẩy trải nghiệm khách hàng, tạo ra các mối quan hệ bền vững dựa trên sự chia sẻ và hợp tác Chính nhờ vào khả năng kết nối và chia sẻ nhanh chóng, mô hình B2C dựa vào cộng đồng ngày càng trở thành chiến lược hiệu quả trong marketing kỹ thuật số hiện đại.

Mô hình B2C dựa trên phí là hình thức phổ biến trong các ứng dụng, phần mềm và trang web, nơi người tiêu dùng phải trả phí dịch vụ để sử dụng Đây là mô hình doanh thu chính của nhiều nền tảng kỹ thuật số, giúp các nhà cung cấp kiếm lời từ khách hàng Việc thanh toán phí dịch vụ đảm bảo quyền truy cập và trải nghiệm tối ưu cho người dùng trên các nền tảng này.

Trang web thegioididong.com là mô hình bán hàng B2C nổi bật, cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm, hình ảnh, giá cả, cùng các điều khoản vận chuyển và thanh toán trực tuyến Khách hàng dễ dàng truy cập để tra cứu thông tin, và nếu thấy phù hợp, họ có thể đặt hàng nhanh chóng ngay trên nền tảng này.

1.1.2.2Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B):

Mô hình kinh doanh thương mại điện tử B2B (Business To Business) là hình thức buôn bán, giao dịch trực tiếp giữa các doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động như thương mại điện tử và các giao dịch thực tế Mô hình này liên quan đến các quy trình từ tư vấn, báo giá đến lập hợp đồng và mua bán sản phẩm, giúp tối ưu hóa hiệu quả giao thương giữa các doanh nghiệp.

TRÌNH TỰ THỦ TỤC THÀNH LẬP SÀN GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

1.2.1 Điều kiện đăng kí thành lập website điện tử Đầu tiên chúng ta cũng cần có những điều kiện nhất định để có thể đăng kí tham gia sàn giao dịch điện tử:

Thứ nhất, là doanh nghiệp, tổ chức có tư cách pháp nhân; có ngành nghề kinh doanh phù hợp với nội dung kinh doanh của website.

Thứ hai, có tên đăng ký hợp lý theo quy định pháp luật.

Thứ ba, có quy chế hoạt động cho sàn giao dịch phù hợp.

Thứ tư, có đề án cung cấp dịch vụ bao gồm hoạt động cung cấp dịch vụ, xúc tiến và tiếp thị dịch vụ cả trong và ngoài môi trường trực tuyến Đề án phân định rõ quyền và trách nhiệm giữa thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ và các bên sử dụng dịch vụ, nhằm đảm bảo sự minh bạch và hiệu quả trong hoạt động cung cấp dịch vụ thương mại trực tuyến.

Thứ năm, đã đăng ký thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và được

Bộ Công thương xác nhận đăng ký.

Hiện tại, chỉ các thương nhân và tổ chức mới được phép đăng ký sàn giao dịch thương mại điện tử, không áp dụng cho cá nhân Để duy trì hoạt động của website, người thành lập cần phải đăng ký hình thức doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh cá thể Sau đó, họ phải thực hiện bước tiếp theo là đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (sàn giao dịch TMĐT) Hồ sơ đăng ký website TMĐT cần tuân thủ theo hướng dẫn tại Điều Broadcast và Quy trình đăng ký rõ ràng nhằm đảm bảo hoạt động hợp pháp và hiệu quả của sàn giao dịch thương mại điện tử.

7 Thông tư số 12/2013/TT-BCT quy định thủ tục thông báo, đăng ký và công bố thông tin liên quan đến website thương mại điện tử

1.2.2 Thẩm quyền trong đăng ký sàn giao dịch thương mại điện tử

Việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử được

Bộ Công Thương thực hiện đăng ký và quản lý hoạt động thương mại điện tử trực tuyến qua Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử Người dùng có thể khai báo trực tuyến các hồ sơ liên quan đến đăng ký sàn giao dịch thương mại điện tử trên trang web của Bộ, sau đó gửi bản giấy bộ hồ sơ qua bưu điện để bộ tiến hành thẩm tra và lưu trữ Đây là quy trình tiến bộ giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại điện tử.

Cục Thương mại điện tử và Công nghệ Thông tin có thẩm quyền cấp phép cho các website thương mại điện tử, dựa trên hồ sơ xin giấy phép của chủ sở hữu website Quá trình này được thực hiện khi chủ sở hữu nộp hồ sơ xin giấy phép sàn giao dịch thương mại điện tử và nhận được sự chấp thuận từ Bộ Công Thương.

1.2.3 Thành phần hồ sơ đăng ký sàn giao dịch điện tử

Thương nhân và tổ chức có thể đăng ký sàn giao dịch điện tử trực tuyến thông qua trang web của Bộ Công Thương tại www.moit.gov.vn hoặc bằng cách truy cập liên kết hptt://dangkywebsite.gov.vn để đăng ký tài khoản và nộp hồ sơ thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử Để hoàn tất quá trình đăng ký, website của thương nhân cần được hoàn thiện đầy đủ các cấu trúc, tính năng và thông tin theo đề án cung cấp dịch vụ, đã hoạt động tại địa điểm tên miền của cơ quan, tổ chức, hoặc thương nhân đã đăng ký Trước khi được Bộ Công Thương chính thức cho phép cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đầy đủ theo quy định để đảm bảo tính hợp lệ và đáp ứng các yêu cầu về cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.

Các thương nhân và tổ chức cần điền đầy đủ thông tin vào đơn đăng ký sàn giao dịch thương mại điện tử mẫu TMĐT-1 theo hướng dẫn tại phụ lục của Thông tư số 47/2014/TT-BCT Việc nộp hồ sơ đúng quy định là bước quan trọng để hoạt động thương mại điện tử được pháp lý công nhận Đảm bảo phần điền thông tin chính xác, rõ ràng giúp thuận tiện trong quá trình xác nhận và cấp phép hoạt động trên sàn giao dịch điện tử.

Để xác nhận tư cách pháp nhân, tổ chức cần cung cấp bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực, hoặc bản sao xuất trình kèm theo bản chính để đối chiếu quyết định thành lập Trong khi đó, thương nhân cần có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư hợp lệ Các giấy tờ này giúp đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong hoạt động của tổ chức và thương nhân.

Các thương nhân, tổ chức phải nộp đề án cung cấp dịch vụ thương mại điện tử theo đúng quy trình pháp luật, trong đó gồm mô hình tổ chức hoạt động, như hoạt động cung cấp dịch vụ, xúc tiến, tiếp thị dịch vụ cả trong và ngoài môi trường trực tuyến Đồng thời, đề án cần phân định rõ quyền và trách nhiệm giữa thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và các bên sử dụng dịch vụ Các nội dung này phải được nêu rõ trong đề án, đảm bảo tuân thủ yêu cầu tại điểm a và điểm c khoản 3 điều 54 nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

-Mô hình tổ chức hoạt động, bao gồm hoạt động cung cấp dịch vụ hoạt động xúc tiến, tiếp thị dịch vụ trong và ngoài môi trường trực tuyến.

-Cấu trúc với tính năng và các mục thông tin chủ yếu trên website cung cấp dịch vụ.

-Phân định quyền và trách nhiệm giữa thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử với các bên sử dụng dịch vụ.

Thương nhân và tổ chức kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử phải nộp các quy chế để quản lý hoạt động của website, đảm bảo tuân thủ quy định tại điểm d khoản 2 điều 55 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP Các quy chế này nhằm đảm bảo hoạt động của website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử minh bạch và có trật tự Việc tuân thủ quy định này giúp doanh nghiệp xây dựng uy tín và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực thương mại điện tử.

Ngoài các yêu cầu trước, các thương nhân và tổ chức còn cần nộp kèm mẫu hợp đồng dịch vụ hoặc thỏa thuận hợp tác giữa chủ sở hữu website thương mại điện tử và các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân tham gia mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên nền tảng này, theo quy định của Nghị định 52/2013/NĐ-CP.

-Cuối cùng là các điều kiện giao dịch chung áp dụng cho hoạt động mua bán hàng hóa , cung ứng dịch vụ trên website nếu có.

1.2.4 Quy trình đăng ký sàn giao dịch điện tử

Thế giới ngày càng phát triển hiện đại, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao và trở nên đa dạng hơn **Thói quen mua sắm của người tiêu dùng đang chuyển dịch từ mua sắm truyền thống sang mua sắm trực tuyến qua các nền tảng điện tử**, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử tại Việt Nam Để cạnh tranh hiệu quả và không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh lớn, các doanh nghiệp cần tham gia vào thị trường số toàn cầu, bắt kịp xu hướng chuyển đổi số trong kinh doanh.

Căn cứ pháp lý về việc đăng ký sàn giao dịch TMĐT:

-Nghị định số 52/2013/NĐ-CP

Thương nhân và doanh nghiệp cần tuân thủ đúng quy trình đăng ký sàn thương mại điện tử theo hướng dẫn của Bộ Công Thương tại Thông tư số 47/2014/TT-BCT Việc thực hiện các bước chính xác đảm bảo hoạt động thương mại điện tử được pháp luật công nhận và hợp pháp Do đó, các doanh nghiệp cần nắm rõ các quy định trong Thông tư 47/2014/TT-BCT để tiến hành đăng ký đúng quy trình đề ra.

Thương nhân và doanh nghiệp bắt đầu quá trình đăng ký tài khoản bằng cách truy cập website www.online.gov.vn của Bộ Công Thương Tại đây, họ cần cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết để khai báo và hoàn thiện hồ sơ đăng ký để có thể đăng nhập vào hệ thống chính thức.

-Tên thương nhân, tổ chức.

4 Điều 15 Thông tư 47/2014/TT-BCT

-Số đăng ký kinh doanh của thương nhân, số quyết định thành lập của tổ chức.

-Lĩnh vực kinh doanh/hoạt động.

-Địa chỉ trụ sở của thương nhân, tổ chức.

-Các thông tin liên hệ.

*Bước 2: Xác nhận tài khoản

Trong vòng 3 ngày làm việc, thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân sẽ nhận được phản hồi về việc đăng ký tài khoản từ Bộ Công Thương Thông tin phản hồi sẽ được gửi qua địa chỉ và thông tin liên hệ mà bạn đã đăng ký Quá trình này đảm bảo phản hồi nhanh chóng và chính xác nhằm hỗ trợ doanh nghiệp kịp thời trong hoạt động kinh doanh.

-Nếu thông tin đăng ký hợp lệ, cán bộ của Bộ công thương sẽ cấp cho quý khách một tài khoản để tiến hành đăng nhập website

HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI NÓI CHUNG VÀ VIỆT NAM NÓI RIÊNG

2.1.1Tốc độ phát triển thương mại điện tử trên thế giới

Thương mại điện tử tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển nơi bắt đầu của lĩnh vực này Các nước phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử, trong đó Bắc Mỹ và châu Âu chiếm trên 80% Tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử nhanh nhất thuộc về khu vực Bắc Mỹ, theo sau là Châu Á-Thái Bình Dương và Tây Âu Đáng chú ý, Singapore và Trung Quốc trong khu vực Châu Á đang phát triển thương mại điện tử rất nhanh và đang bắt kịp các nước Bắc Mỹ, trong khi các nước còn lại của Châu Á vẫn có tốc độ phát triển chậm hơn.

Mỹ là quốc gia có trình độ thương mại điện tử phát triển nhất thế giới, chiếm khoảng 70% tổng doanh số thương mại điện tử toàn cầu Doanh số bán lẻ trực tuyến của Mỹ tăng đều hàng năm, với tốc độ tăng trưởng vượt bậc trong vòng bảy năm từ 1999 đến 2006, khi doanh số tăng gần 10 lần Năm 2006 ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng nhất, với tốc độ tăng 24,8% so với năm 2005, phản ánh sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của ngành thương mại điện tử tại quốc gia này.

Thương mại điện tử tại các nước Châu Mỹ La tinh đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của khu vực Năm 2005, hoạt động thương mại điện tử tại đây đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng, thu về lợi nhuận đáng kể Sự mở rộng của thị trường trực tuyến và gia tăng người dùng internet đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp địa phương phát triển kinh doanh online Những xu hướng này cho thấy lĩnh vực thương mại điện tử tại Châu Mỹ La tinh còn nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai.

5 tỷ đô la, năm 2006 là 7.78 tỷ đô la, năm 2007 là 10.9 tỷ đô la, tăng 121% so với năm

Venezuela là quốc gia có tốc độ phát triển thương mại điện tử nhanh nhất trong khu vực, tăng 224% từ 2005 đến 2007, theo sau là Chile, Mexico và Brazil với tốc độ lần lượt là 183%, 143% và 116% Chi tiêu cho hoạt động thương mại điện tử ở khu vực này chỉ đạt 167 triệu USD năm 1998 nhưng đã tăng lên 8 tỷ USD vào năm 2003, đóng góp khoảng 0,32% vào GDP toàn khu vực Thẻ tín dụng là hình thức thanh toán trực tuyến phổ biến nhất tại Venezuela Thương mại điện tử B2B chiếm tới 80% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử trong khu vực, với Brazil dẫn đầu về tốc độ phát triển và chiếm 88% các website thương mại điện tử B2B của cả khu vực.

Trong những năm gần đây, thị trường thương mại điện tử tại các nước đang phát triển đã ghi nhận sự gia tăng rõ rệt về số lượng doanh nghiệp gửi và nhận đơn hàng qua internet Phần Lan dẫn đầu về tỷ lệ các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch trực tuyến, theo sau là Thụy Điển, Đan Mạch và Đức Trong khu vực Châu Á, Singapore nổi bật với tỷ lệ doanh nghiệp triển khai thương mại điện tử cao, thể hiện qua việc các doanh nghiệp quốc gia này thực hiện gửi và nhận đơn hàng qua mạng một cách phổ biến.

2.1.2 Thực trạng phát triển Thương mại điện tử tại Việt Nam

Thương mại điện tử đã xuất hiện tại Việt Nam hơn 10 năm kể từ khi internet được triển khai vào năm 1997, nhưng chỉ thực sự phổ biến từ năm 2006 sau khi luật giao dịch điện tử có hiệu lực vào tháng 3/2006 Luật này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của thương mại điện tử tại đất nước, thể hiện sự nhận thức của chính phủ về vai trò của thương mại điện tử trong phát triển kinh tế và xã hội Ngoài việc ban hành luật, Việt Nam còn xây dựng kế hoạch phát triển thương mại điện tử toàn diện, đồng thời ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như sản xuất, mua bán hàng hóa và dịch vụ, tài chính ngân hàng, vận tải, du lịch, dịch vụ công và đào tạo Doanh nghiệp đã tích hợp các phần mềm quản trị thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh như phần mềm kế toán, quản trị nguồn lực doanh nghiệp, quản lý chuỗi cung ứng và quản lý dữ liệu khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển kinh tế số của đất nước.

11 https://vndoc.com/thuc-trang-phat-trien-tmdt-viet-nam-va-tren-the-gioi-232744

Việc ứng dụng các phần mềm thương mại điện tử trong doanh nghiệp đã tăng trưởng đều đặn theo từng năm, giúp nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của nhân viên Các phần mềm này còn hỗ trợ công ty nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh chóng và chính xác Ngoài ra, chúng còn tối ưu quá trình quản lý chính sách giá và chương trình khuyến mãi trong hệ thống phân phối, góp phần thúc đẩy hiệu quả kinh doanh.

Trong lĩnh vực mua bán trực tuyến, số lượng các sàn giao dịch và chợ ảo đang tăng lên nhanh chóng, phản ánh xu hướng phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử Theo nghiên cứu của Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ Thông tin, sự gia tăng này cho thấy mức độ phổ biến ngày càng cao của các nền tảng mua bán trực tuyến trong đời sống hàng ngày.

Đến cuối năm 2007, Việt Nam có tổng cộng 40 sàn thương mại điện tử B2B và 100 sàn B2C, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các sàn C2C Mặc dù tốc độ phát triển của các sàn C2C trong giai đoạn 2006-2007 chậm hơn so với những năm trước, nhưng chất lượng các sàn này đã được cải thiện đáng kể Trong khi số lượng sàn B2B ít hơn, doanh thu từ các sàn B2B lại tăng trưởng nhanh hơn, giúp các doanh nghiệp ký kết nhiều hợp đồng hơn thông qua thương mại điện tử Năm 2008, tỷ lệ doanh nghiệp ký hợp đồng qua sàn thương mại điện tử đạt 69,7%, cao hơn mức 63% của năm 2007; doanh thu từ hoạt động thương mại điện tử B2B chiếm 67% tổng doanh thu, còn C2C chiếm 33% Nhóm hàng hóa phổ biến nhất trên các website doanh nghiệp vẫn là thiết bị điện tử - viễn thông, dịch vụ du lịch và hàng tiêu dùng Năm 2008 đánh dấu sự bùng nổ của hoạt động bán lẻ hàng điện tử viễn thông, với nhiều siêu thị điện tử mọc lên nhanh chóng Đồng thời, số lượng các website kinh doanh mặt hàng điện tử viễn thông tăng mạnh từ 13,4% năm 2006, giảm xuống 12,6% năm 2007 và lên đến 17,4% vào năm 2008, trở thành một kênh mua sắm mới bên cạnh phương thức truyền thống.

Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và ngân hàng, Việt Nam đã triển khai thành công các hoạt động ngân hàng điện tử và chứng khoán điện tử, mang lại nhiều tiện ích cho người tiêu dùng như truy vấn thông tin tài khoản, sao kê, chuyển khoản trong và ngoài hệ thống, cũng như thanh toán hóa đơn qua mạng Internet Banking hoặc SMS Banking Ngoài ra, trong lĩnh vực chứng khoán điện tử, khách hàng có thể truy cập thông tin thị trường, quản lý danh mục đầu tư, đăng ký mở tài khoản, đặt lệnh giao dịch và nhận kết quả giao dịch một cách nhanh chóng và tiện lợi Đặc biệt, vào tháng 9 năm 2008, hệ thống quyết toán chứng khoán chính thức kết nối với hệ thống thanh toán liên ngân hàng, tạo thuận lợi lớn cho nhà đầu tư và thu hút nhiều đối tượng tham gia đầu tư chứng khoán.

Trong lĩnh vực vận tải hành khách, các công ty vận tải, đặc biệt là vận tải đường sắt và hàng không, đã triển khai hoạt động bán vé trực tuyến để nâng cao hiệu quả và thuận tiện cho khách hàng Việc bán vé điện tử trong ngành hàng không đã trở thành yêu cầu bắt buộc khi các hãng tham gia Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), thúc đẩy sự phát triển của công nghệ số trong ngành Jetstar Pacific, tiền thân là Pacific Airlines, là hãng hàng không Việt Nam đầu tiên ứng dụng bán vé điện tử từ tháng 3 năm 2006, mở đầu xu hướng chuyển đổi số trong ngành Đến tháng 7 năm 2008, Vietnam Airlines đã hoàn tất triển khai hệ thống bán vé máy bay điện tử và kết nối với 59 hãng hàng không khác trên toàn thế giới, thể hiện cam kết đổi mới và thích nghi với xu thế số hóa của ngành hàng không quốc tế.

Đến hết năm 2008, Việt Nam đã triển khai nhiều dịch vụ công trực tuyến như khai báo hải quan điện tử, cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử, kê khai thuế điện tử và mua sắm công trực tuyến Các dịch vụ còn bao gồm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, cấp phép thành lập văn phòng đại diện điện tử và đăng ký con dấu trực tuyến Việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến này góp phần nâng cao hiệu quả công tác hành chính và thực hiện kế hoạch phát triển chính phủ điện tử của Chính phủ Việt Nam.

“một cửa” một cách nhanh chóng Ngoài ra còn tạo môi trường minh bạch và công khai cho tất cả các dịch vụ công” 12

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng để thúc đẩy các giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) diễn ra minh bạch và cạnh tranh lành mạnh Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của TMĐT tại Việt Nam, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và xây dựng các tập quán thương mại hiện đại phù hợp với xu hướng toàn cầu.

2.2.1 Các vấn đề khó khăn phát sinh

Trong lĩnh vực thương mại điện tử tại Việt Nam, mạng xã hội như Facebook ngày càng được sử dụng rộng rãi như một kênh bán hàng quan trọng, bên cạnh các website TMĐT Số lượng doanh nghiệp dùng nền tảng di động để liên lạc với khách hàng ngày càng tăng, làm nổi bật tầm quan trọng của việc quản lý các nền tảng này Tuy nhiên, hiện tại, các cơ quan chức năng vẫn chưa có quy định rõ ràng về danh sách website TMĐT khuyến nghị người tiêu dùng cẩn trọng, cũng như hướng dẫn chi tiết về quy trình giao kết hợp đồng trực tuyến và cảnh báo phù hợp cho người tiêu dùng Cụ thể, Nghị định 52/2013/NĐ-CP dành 8 điều để quy định về quy trình giao kết hợp đồng mua bán trực tuyến, nhưng đến nay, Bộ Công Thương vẫn chưa ban hành hướng dẫn cụ thể theo Điều 23 của nghị định Trong quá khứ, Thông tư 09/2008/TT-BTC hướng dẫn cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT, nhưng việc coi đó đủ để bỏ qua các quy định mới là không phù hợp, đặc biệt khi các luật và văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa được ban hành tại thời điểm đó.

Điều 23 Nghị định 52/2013/NĐ-CP đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng tham gia giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam Quy định này giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong các hoạt động mua bán trực tuyến, tạo niềm tin cho người tiêu dùng khi tiến hành giao dịch trên các nền tảng TMĐT Việc tuân thủ Điều 23 không chỉ nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường TMĐT trong nước và trên thế giới.

Hiện nay, Bộ Công thương được phép công khai danh sách các website thương mại điện tử bị phản ánh vi phạm pháp luật trên cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, quy định này đặt ra câu hỏi liệu đây có phải là biện pháp hỗ trợ phát triển thương mại điện tử hay lại vô tình tạo điều kiện cho cạnh tranh không lành mạnh Thực tế, quy định hiện hành chưa giới hạn quyền phản ánh cho các cá nhân, doanh nghiệp, cũng như không có hướng dẫn rõ ràng về quy trình xác thực ý kiến phản ánh, dẫn đến nguy cơ các đối thủ cạnh tranh lợi dụng hệ thống này để gây thiệt hại hoặc cạnh tranh không công bằng.

Thứ ba, Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định rằng các công ty có trang web bán hàng và các trang mạng xã hội phải đăng ký trên sàn giao dịch điện tử, đồng thời quản lý chặt chẽ thông tin và hoạt động của người đăng ký trên nền tảng của mình Mọi hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) đều phải được đăng ký với Cục Thương mại điện tử thuộc Bộ Công thương, giúp cơ quan thuế theo dõi và kiểm tra các doanh nghiệp, tổ chức sở hữu website cung cấp dịch vụ TMĐT để thu thuế hợp lệ Tuy nhiên, việc kê khai đăng ký với Cục Thương mại điện tử hiện vẫn còn rất hạn chế, chủ yếu do quy định trách nhiệm đăng ký của doanh nghiệp mà không quy định rõ nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, dẫn đến nhiều doanh nghiệp cố tình né tránh đăng ký mà không bị xử lý Điều này khiến ngành thuế thất thu nguồn thu đáng kể, vì không có dữ liệu đầy đủ để xác định và kiểm soát hoạt động kinh doanh điện tử Theo Luật Quản lý thuế, bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào phát sinh hoạt động thương mại hoặc mua bán tài sản đều có nghĩa vụ đăng ký, kê khai và nộp thuế, bất kể hoạt động này theo phương thức truyền thống hay điện tử Trong đó, các cá nhân bán hàng trên TMĐT được miễn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân nếu doanh thu cả năm chưa vượt 100 triệu đồng, tuy nhiên vẫn phải kê khai để xác định nghĩa vụ thuế Thực tế, phần lớn cá nhân và doanh nghiệp hoạt động trên các nền tảng TMĐT không thực hiện kê khai hoặc thực hiện không đầy đủ, đặc biệt là những doanh nghiệp không có địa điểm kinh doanh rõ ràng hay tài khoản ngân hàng liên quan, khiến ngành thuế gặp khó khăn trong việc kiểm soát và thu hồi thuế hiệu quả.

Trong lĩnh vực tranh chấp thương mại điện tử, pháp luật quy định rằng các dạng dữ liệu điện tử như tin nhắn, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự đều được coi là chứng cứ hợp lệ Chứng cứ điện tử được hiểu là những dữ liệu lưu giữ dưới dạng tín hiệu điện tử trong máy tính hoặc thiết bị có bộ nhớ kỹ thuật số liên quan đến vụ việc tranh chấp Những chứng cứ điện tử này có thể được thu thập để chứng minh các yếu tố trong vụ việc, góp phần đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong giải quyết tranh chấp thương mại điện tử.

- Những chứng cứ điện tử do máy tính tự động tạo ra như: “cookies”, “URL”, E-mail logs, web server logs…

Dữ liệu điện tử là các thông tin do con người tạo ra, được lưu trữ trong máy tính và các thiết bị điện tử khác, dưới dạng tín hiệu điện tử như văn bản, bảng biểu, hình ảnh và thông tin đa dạng Để phục hồi các dấu vết điện tử đã bị xóa, ghi đè hoặc ẩn, cần sử dụng các kỹ thuật, công nghệ máy tính và phần mềm phù hợp Các phương pháp này giúp khôi phục dữ liệu bị mã hóa, dữ liệu đã bị biến đổi hoặc các phần mềm và mã nguồn liên quan, đảm bảo truy cập và phân tích các dữ liệu điện tử một cách hiệu quả.

Điều 95 Khoản 3 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định rằng các dữ liệu, tài liệu được lưu trữ dưới dạng ẩn phải đảm bảo khả năng đọc, ghi lại dễ dàng, đồng thời phù hợp để sử dụng làm bằng chứng pháp lý trước tòa án Việc cài đặt các dữ liệu này dưới dạng có thể đọc được giúp nâng cao hiệu quả trong quá trình tố tụng dân sự Hệ thống lưu trữ dữ liệu phải đáp ứng yêu cầu về khả năng truy xuất thông tin chính xác, nhanh chóng để phục vụ nhu cầu xét xử công bằng và khách quan Theo quy định này, các tài liệu điện tử sẽ được công nhận là chứng cứ hợp pháp khi đáp ứng các tiêu chuẩn về định dạng và khả năng truy xuất theo quy định của pháp luật.

Cách thức thu thập chứng cứ điện tử và quy trình thực hiện là những vấn đề quan trọng trong tố tụng dân sự Quy trình này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của chủ thể liên quan, gây khó khăn cho Tòa án và các bên đương sự khi giải quyết tranh chấp Bộ luật Tố tụng dân sự năm quy định rõ về quyền và nghĩa vụ trong việc thu thập chứng cứ điện tử nhằm đảm bảo tính khách quan và minh bạch của quá trình tố tụng Việc nắm bắt chính xác quy trình và quyền của các bên giúp nâng cao hiệu quả xử lý vụ án liên quan đến chứng cứ điện tử.

Năm 2015, pháp luật chưa quy định cụ thể về quy trình thu thập chứng cứ điện tử Để đảm bảo việc thu thập chứng cứ điện tử theo quyết định của Tòa án được thực hiện thuận lợi và hợp pháp, tác giả kiến nghị cần có những quy định rõ ràng trong luật pháp Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả xét xử, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, đồng thời giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quá trình thu thập và xử lý chứng cứ điện tử.

Quyền yêu cầu cung cấp dữ liệu máy tính đối với các nhà cung cấp dịch vụ internet là một phần quan trọng trong việc thu thập chứng cứ điện tử Thủ tục thu giữ và lưu giữ chứng cứ điện tử được quy định nhằm đảm bảo tính hợp pháp, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên liên quan Các chủ thể liên quan như chủ sở hữu máy tính và các nhà cung cấp dịch vụ internet có trách nhiệm thực hiện đúng các quy trình pháp luật về thu giữ, lưu giữ và cung cấp dữ liệu điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Quy định yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phải cung cấp thông tin dưới dạng có thể mang đi, hữu hình và dễ đọc, nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận dữ liệu trong bối cảnh công nghệ thông tin và viễn thông phát triển nhanh chóng Điều này rất quan trọng vì các cơ quan chức năng không thể tự đầu tư và trang bị thiết bị để tìm kiếm, thu thập, chặn bắt thông tin, đặc biệt là chuyển đổi dữ liệu từ dạng kỹ thuật số như giao thức IP sang dạng có thể nghe, nhìn, đọc được.

- Qui định quyền truy cập và lấy dữ liệu phục vụ việc thu thập.

Quy định bảo quản dữ liệu điện tử truyền qua mạng máy tính là bắt buộc đối với người quản lý hệ thống nhằm đảm bảo bí mật, an toàn và toàn vẹn dữ liệu Dữ liệu có nguy cơ bị mất hoặc sửa đổi cần được lưu giữ trong thời gian tối đa 90 ngày để cơ quan có thẩm quyền có thể tìm kiếm, thu giữ và sử dụng thông tin phục vụ công tác điều tra, xử lý vụ việc Việc lưu giữ dữ liệu điện tử đúng quy định giúp duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu và hỗ trợ công tác pháp luật hiệu quả.

Quyền yêu cầu cung cấp thông tin thuê bao, thông tin truy cập, dữ liệu các cuộc gọi và các thông tin liên quan đến vụ việc là quyền của cơ quan chức năng đối với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và internet Việc này nhằm đảm bảo xử lý các vụ việc một cách nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ công tác điều tra và bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cần phối hợp chặt chẽ để cung cấp đầy đủ, chính xác các dữ liệu liên quan theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền Đây là quyền quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm trong lĩnh vực truyền thông, internet.

Trong lĩnh vực thương mại điện tử, việc xem xét quy định nhãn tín nhiệm như một điều kiện kinh doanh có thể giúp hạn chế các website không an toàn và tiềm ẩn nguy cơ lừa đảo người tiêu dùng VECOM đã phối hợp với Trung tâm Phát triển thương mại điện tử thuộc Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin xây dựng hệ thống tiêu chuẩn Safeweb để nâng cao độ tin cậy của các website TMĐT bao gồm B2C, sàn giao dịch TMĐT và nhóm mua Sử dụng nhãn tín nhiệm như Safeweb có thể trở thành điều kiện bắt buộc trong hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, giúp các doanh nghiệp xây dựng niềm tin vững chắc với người tiêu dùng, tương tự như các nhãn tín nhiệm của Mỹ, Nhật Bản và Singapore.

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

_Cơ hội phát triển mạnh mẽ:

Thương mại điện tử là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin và Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán một cách nhanh chóng và tiện lợi Đây là phương thức kinh doanh hiện đại, giúp kết nối người bán và người mua dễ dàng mọi lúc, mọi nơi Thương mại điện tử ngày càng phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự hỗ trợ của công nghệ và sự phổ biến của Internet trong cuộc sống hàng ngày.

Mô hình kinh doanh thương mại điện tử đóng vai trò là một giải pháp then chốt thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Với sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ kỹ thuật hiện đại, thương mại điện tử ngày càng trở nên phổ biến và đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Các doanh nghiệp tận dụng các nền tảng trực tuyến để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động và nâng cao trải nghiệm khách hàng Nhờ đó, thương mại điện tử góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế số của quốc gia.

“Thị trường thương mại điện tử Việt Nam sẽ bùng nổ vào năm 2025, với doanh thu ở mức 7,5 tỷ USD.

Thương mại điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, khi tỷ trọng doanh thu từ thương mại điện tử trên tổng mức bán lẻ hàng hóa của cả nước năm 2019 đã đạt 4,2% Mức tăng trưởng này tương đương với 0,6% so với năm 2018, cho thấy xu hướng chuyển dịch mạnh mềnh sang kênh bán hàng trực tuyến Điều này phản ánh tầm ảnh hưởng ngày càng lớn của thương mại điện tử trong việc thúc đẩy doanh thu bán lẻ và phát triển thị trường tiêu dùng.

Năm 2019, cả nước có 39,9 triệu người tham gia mua sắm trực tuyến, tăng 11,8% so với năm 2018 và gần gấp đôi trong vòng 3 năm, thể hiện sự phát triển vượt bậc của thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam Giá trị mua sắm trực tuyến bình quân đầu người đạt 202 USD, tăng 8,6%, cho thấy xu hướng tiêu dùng trực tuyến ngày càng tăng cao (Nguồn: Tạp chí Công thương, báo cáo của Google-Temasek 2018)

Thương mại điện tử không chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong và ngoài nước Với khả năng mở rộng thị trường, giảm chi phí vận hành và nâng cao trải nghiệm khách hàng, thương mại điện tử trở thành yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp hiện đại.

“Năm 2020, thương mại điện tử tại Việt Nam là lĩnh vực hoạt động sôi động nhất trong thị trường kinh tế số dù có bị ảnh hưởng bởi Covid-19.

Trong 10 tháng của năm 2020, tỷ lệ giao dịch hàng hóa qua thương mại điện tử tăng từ 10% đến 30%, có đơn vị tăng 50%.” 17

_Sự phát triển bùng nổ:

Theo báo cáo của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành thương mại điện tử trong giai đoạn 2016-2019 đạt khoảng 30% mỗi năm Quy mô thương mại điện tử bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đã tăng từ 4 tỷ USD năm 2015 lên khoảng 11,5 tỷ USD vào năm 2019, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ và tiềm năng lớn của thị trường này tại Việt Nam.

Theo Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2021 của VECOM, thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2020 đã tăng trưởng 16%, đạt quy mô trên 14 tỷ USD Trong đó, lĩnh vực bán lẻ hàng hóa trực tuyến tăng 46%, gọi xe và đồ ăn công nghệ tăng 34%, tiếp thị, giải trí và trò chơi trực tuyến tăng 18%, trong khi lĩnh vực du lịch trực tuyến giảm 28% Dữ liệu này được xác nhận bởi báo cáo Thương mại điện tử Đông Nam Á 2020 của Google, Temasek và Bain&Company.

Báo cáo này cũng dự đoán tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2020-2025 là 29% và tới năm 2025 quy mô thương mại điện tử nước tai đặt 52 tỷ USD.

Theo Sách trắng thương mại điện tử 2020, năm 2019, số người Việt tham gia mua sắm trực tuyến đã đạt 44,8 triệu người, thể hiện sự tăng trưởng liên tục so với các năm trước (chẳng hạn như 30,3 triệu người năm 2015 và 39,9 triệu người năm 2018) Doanh số bán lẻ thương mại điện tử B2C của Việt Nam năm 2019 đã đạt 10,08 tỷ USD, chiếm 4,9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước, cho thấy thị trường thương mại điện tử Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ.

Việt Nam nằm trong TOP 3 quốc gia có tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử cao nhất khu vực Đông Nam Á Thương mại điện tử đóng vai trò quan trọng thúc đẩy dòng chảy hàng hóa và dịch vụ, giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tìm kiếm cơ hội phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu Sự bùng nổ của thương mại điện tử còn hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp 4.0.

Theo Hà Nội mới, để đạt được những con số ấn tượng trong lĩnh vực thương mại điện tử, Việt Nam tận dụng lợi thế về dân số trẻ và tỷ lệ người dùng smartphone cao Chính nhờ lượng lớn người dùng điện thoại thông minh, hoạt động giao dịch thương mại điện tử trên nền tảng di động ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam.

Trong những năm gần đây, thị trường TMĐT tại Việt Nam đã chứng kiến sự đóng góp lớn từ sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ logistics, đặc biệt là chuyển phát chặng cuối và hoàn tất đơn hàng, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng Các sàn TMĐT hàng đầu tại Việt Nam đang chạy đua nước rút để cải thiện tốc độ giao hàng bằng nhiều chiến lược khác nhau, giúp tăng sự hài lòng và giữ vững vị thế cạnh tranh trên thị trường.

Theo ông Vũ Đức Thịnh – Tổng Giám đốc Lazada Việt Nam, việc đầu tư vào logistics không chỉ hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử trong tương lai Chính vì vậy, Lazada dành nhiều nguồn lực cho logistics và xây dựng các giải pháp dài hạn để nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu hóa chuỗi cung ứng.

Xu hướng thanh toán trực tuyến ngày càng trở nên phổ biến và có mức tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) Các nền tảng thương mại điện tử luôn nỗ lực cung cấp các phương thức thanh toán trực tuyến tiện lợi và an toàn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Năm 2020 chứng kiến sự bùng phát của dịch Covid-19 toàn cầu, khiến các hoạt động đi lại bị hạn chế và nhiều khu vực phải phong tỏa dài ngày Trong bối cảnh này, thương mại điện tử (TMĐT) đã trở thành giải pháp thay thế tuyệt vời, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành trong thời điểm khó khăn Người dân ở nhà chỉ cần cùng chiếc smartphone là có thể mua sắm và đi chợ online, giúp duy trì cuộc sống hàng ngày một cách thuận tiện và an toàn.

Thành tựu của TMĐT gồm mở rộng thị trường, giảm chi phí và tăng lợi nhuận, đồng thời giúp doanh nghiệp thanh toán nhanh chóng Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích này, TMĐT vẫn tồn tại nhiều hạn chế cần được xem xét.

Ngày đăng: 23/02/2023, 12:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w