BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA ĐỀ TÀI QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Lý luận và pháp luật về quyền con n.
Trang 1BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐỀ TÀI
QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO THEO PHÁP LUẬT
QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Lý luận và pháp luật về quyền
con người Giảng viên: TS Mai Hải Đăng
HÀ NỘI - 2023
Trang 2BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM
TÊN ĐỀ TÀI: QUYỀN TỰ DO CHÍNH KIẾN, NIỀM TIN, TÍN
NGƯỠNG, TÔN GIÁO THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
Mức độ đánh giá A: Rất tích cực B: Tích cực C: Bình thường D: Không tham gia
6 Nguyễn Phương Thảo 2105TTRB054 25/06/2003 A
Hà Nội, ngày 21 tháng 02 năm 2023
Nhóm trưởng
Đã kí
Bùi Văn Toàn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học môn Lý luận và pháp luật về quyền con người chúng em đã được giảng viên bộ môn truyền đạt cho những kiến thức lý luận nhưng chưa có nhiều cơ hội va chạm thực tiễn, qua bài thi kết thúc học phần, chúng em đã có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về học phần phương pháp nghiên cứu khoa học, môn đem lại lại nhiều lợi ích cho quá trình thi và phục vụ cho chúng
em trong những đề tài nghiên cứu khoa học sắp tới
Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến giảng viên bộ môn
đã chỉ bảo tận tình giúp đỡ chúng em trong quá trình học và thi kết thúc học phần
Nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm nên bài vẫn còn nhiều thiếu sót trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày, chúng em mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài em hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đề tài “Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng chúng
tôi Nội dung của đề tài dựa trên quan điểm của cả nhóm, trên cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn với sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn
Các số liệu được trình bày trong đề tài là nguồn số liệu mà chúng tôi khảo sát thực tiễn để có được Không sao chép bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào Các số liệu kết quả trong đề tài đều trung thực và rõ nguồn gốc
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Đối tượng 3
2.3 Phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu (so sánh, phân tích, tổng hợp) 3
3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
4 Dự kiến kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 5
1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 5
1.2 Các công trình nghiên cứu quốc tế 6
CHƯƠNG 2 Cơ sở lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 9
2.1 Một số khái niệm cơ sở 9
2.1.1 Khái niệm tín ngưỡng 9
2.1.2 Khái niệm tôn giáo 10
2.1.3 Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 12
2.2 Đặc điểm, vai trò của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 13
2.2.1 Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 14
2.2.1.1 Đặc điểm 14
2.2.1.2 Vai trò 15
2.2.2 Nguồn điều chỉnh 16
CHƯƠNG 3 Quy định của Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 20
3.1 Quy định của Pháp luật Quốc tế 20
3.2 Quy định của Pháp luật Việt Nam 21
Trang 6CHƯƠNG 4 Thực trạng thực thi và đề xuất hoàn thiện về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở Việt Nam 25
4.1 Thực trạng thực thi về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở Việt Nam 25
4.1.1 Thuận lợi 25
4.1.2 Khó khăn 29
4.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật 33
4.2.1 Nâng cao vai trò của Hiến pháp trong việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 33
4.2.2 Hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo 33
4.2.3 Thực hiện cụ thể chính sách, pháp luật liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 34
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo được coi như một loại niềm tin xuất hiện trong thế giới, cuộc sống của con người hàng trăm năm nay, có những nơi họ tin vào những tín ngưỡng, nghi lễ về phong tục tập quán truyền thống có thể mang lại
sự yên tâm phần nào đó về tinh thần Tôn giáo cũng giống như vậy, tôn giáo như một niềm tin về những quan điểm, giáo lý, giáo luật Theo khoản 1 và khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” và “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”
Vì vậy có thể thấy sự tự do về tín ngưỡng và tôn giáo là vô cùng cần thiết trên thế giới Đây có thể coi là những quyền cơ bản của con người, quyền này được đầu tiên được ghi nhận trong Điều 18 UDHR (Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền) Nội dung của Điều 18 UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong các Điều 18 và 20 ICCPR (Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và
thích hoặc không theo một tôn giáo nào Theo đạo, chuyển đạo hay bỏ đạo trong khuôn khổ của pháp luật hiện hành là quyền tự do của mỗi người Nhà nước, Pháp luật Việt Nam luôn thừa nhận và đảm bảo cho mọi công dân có hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi; không
có sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo và những tín ngưỡng, tôn giáo này đều bình đẳng trước pháp luật Mỗi cá nhân cũng cần phải ý thức được
về sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác, đồng thời
Trang 8chống lại những phần tử lợi dụng tôn giáo chống lại giai cấp công nhân, lợi ích dân tộc
Ở nước ta, tín ngưỡng; tôn giáo có ảnh hưởng một cách khác sâu sắc tới tâm thức của mỗi cá nhân, mỗi người dân trong xã hội Tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta khá đa dạng, có thể kể đến như:tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng thờ mẫu; thờ thần; sùng bái tự nhiên, động vật v.v Với tôn giáo thì có thể kể đến như Phật giáo; Kitô Giáo (gồm Công giáo và Tin Lành); Ấn độ giáo và đạo hồi Tín ngưỡng và tôn giáo cũng có ảnh hưởng khá sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, tôn giáo tham gia thực hiện nhiều chức năng đối với xã hội vừa mang những ưu điểm và hạn chế Và để có thể phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực thì Nhà nước cũng như mỗi cá nhân đặc biệt là những thế hệ trẻ cần phải có một nhận thức đầy đủ toàn diện về ý nghĩa, tầm quan trọng và vai trò của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không có sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Và cần bảo đảm mọi sinh hoạt tôn giáo bình thường trong khuôn khổ pháp luật, nghiêm cấm những âm mưu lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo Vì những sự nhận thức chưa đủ về quyền tự do tín ngưỡng hay còn phần nào đó là chưa bình đẳng cũng như còn
có những kẻ lợi dụng việc quản lý kiếm tiền thông qua quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng là những nguyên nhân không nhỏ
Chúng ta cần liên tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về Quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước cũng như Thế giới tiếp tục hoạch định và hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã
có để có thể cải thiện hiệu quả về quyền về sự tự do bình đẳng, đấu tranh chống lại các thế lực lợi dụng những sự tự do cơ bản vốn có này làm những điều xấu, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội Nhóm tác giả
thấy đây là một sự cần thiết nên vì vậy chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Quyền tự
Trang 9do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” để
về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
2.2 Đối tượng
- Cơ sở lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Thực trạng thực thi và đề xuất giải pháp của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở Việt Nam
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Quốc tế: Nghiên cứu những Điều ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo như Hiến chương Liên hợp quốc 1945, Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (UDHR, 1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966),…
- Việt Nam: Nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam ở những
văn bản: Hiến pháp 2013, Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Luật hôn nhân và gia đình 2014, Luật đất đai 2013,…
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu (so sánh, phân tích, tổng hợp) 3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp chuyên gia
Trang 10+ Phương pháp thống kê
4 Dự kiến kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu 4 chương:
Chương 1 Tổng quát các công trình nghiên cứu về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Chương 2 Một số vấn đề lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Chương 3 Quy định của Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam về quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Chương 4 Thực trạng thực thi và đề xuất giải pháp về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 1124 quy định: “Một người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai xâm phạm tự
do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” [4]
Trong những năm gần đây, vấn đề quyền con người nói chung, quyền tự
do tín ngưỡng nói chung ngày càng được đảm bảo, khách quan, các hội thảo trong và ngoài nước ngày càng được tổ chức nhiều và đi đôi với chất lượng ngày càng được nâng nâng của các cuộc hội thảo, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Hội thảo tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á, Hà Nội, 2007, hội thảo tập trung thảo luận một số vấn đề về pháp nhân tôn giáo, tình hình và tiến triển của pháp luật về tôn giáo ở Đông Nam Á Ngoài ra hội thảo còn đề cập một số vấn đề nóng như: tôn giáo và an ninh nhà nước; các vấn đề về thuế, tài chính liên quan đến tôn giáo; vấn đề tôn giáo và giáo dục,
Trang 12- Hội thảo tôn giáo và pháp quyền Đông Nam Á, Hà Nội, 2011, thảo luận các vấn đề quan trọng về vai trò của nhà nước trong việc điều hành, quản lý và tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường, có đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng như sự phát triển kinh tế Hội thảo tập trung vào các vấn đề: so sánh các mô hình quan hệ nhà nước - giáo hội; vấn đề pháp nhân tôn giáo, tình hình hiện tại và tiến triển của pháp luật về tôn giáo ở Đông Nam Á
- Giá trị di sản của đa dạng tôn giáo ở Việt Nam và những đóng góp đối với xã hội Việt Nam, Ban tôn giáo Chính phủ, Hà Nội 2015 Đây là tập kỷ yếu của 2 kỳ hội thảo quốc tế, được tổ chức bởi Ban tôn giáo Chính phủ hợp tác với phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, với chủ đề giá trị di sản của đa dạng tôn giáo ở Việt Nam và những đóng gói đối với xã hội Việt Nam Hội thảo có sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành về tôn giáo, về luật pháp đến
từ các nước trong Liên minh châu Âu Hội thảo đã phân tích sự đa dạng tôn giáo ở Việt Nam cùng những đóng góp của các tôn giáo đối với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Không những thế hội thảo còn phân tích vai trò của nguồn lực xã hội của tôn giáo trong công cuộc đổi mới của Việt Nam
- Đỗ Quang Hưng, vấn đề tôn giáo trong cách mạng - lý luận và thực tiễn Cuốn sách đã hệ thống lại những nét chủ yếu về lý luận và thực tiễn trong công tác tôn giáo của Đảng và nhà nước Việt Nam, lịch sử nhận thức của Đảng, Nhà nước và tôn giáo và những phác họa đầu tiên về tiến trình đó mà ở đó chủ yếu
là giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2005; quá trình mà Đảng và nhà nước ta xây dựng và hoàn thiện đường lối chính sách tôn giáo qua các giai đoạn lịch sử, đáp ứng nhu cầu đổi mới của tôn giáo cũng như đổi mới về kinh tế, xã hội
1.2 Các công trình nghiên cứu quốc tế
Quyền con người bắt nguồn từ bản chất con người và lịch sử xã hội Quyền con người là một giá trị hết sức cao quý, là kết tinh của nền văn minh nhân loại;
Trang 13cùng với sự ra đời là phát triển của Liên Hợp Quốc, quyền con người là một vấn đề mang tính toàn cầu, có tác động ngày càng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới và ảnh hưởng đến các quốc gia, các khu vực trên thế giới Những thành tựu pháp lý về quyền con người hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn Quyền tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như nhiều quốc gia, khu vực ở trên thế giới
- Tôn giáo ở Trung Quốc, 100 câu hỏi và trả lời của tác giả Lữ Vân, Nguyễn Thị Bạch Tuyết dịch, nxb thời đại, 2003 Cuốn sách nêu tín ngưỡng, tôn giáo và vấn đề cá nhân của công nhân Trung Quốc và việc loại bỏ tàn dư của cuộc Cách mạng văn hóa 1966-1976 ở Trung Quốc, quan niệm chung hiện nay là lợi ích cơ bản của những người theo hoặc không theo một tôn giáo nào
là thống nhất trên cả hai lĩnh vực chính trị và kinh tế Cuốn sách đã cho nhóm tác giả một số nét cơ bản ở Trung Quốc, lịch sử và hiện trạng, có cái nhìn rõ ràng hơn về chính sách tôn giáo ở Trung Quốc
- Các tôn giáo và tín ngưỡng ở Mỹ của tác giả Catherine L.Albanese do Việt Thư dịch, Nxb Thời Đại, 2012 Cuốn sách gồm 2 phần đề cập đến tính đa nguyên của tôn giáo, tính thống nhất tôn giáo ở Hoa Kỳ Cuốn sách nêu ra có rất nhiều tôn giáo và tín ngưỡng ở lục địa Bắc Mỹ, mỗi bộ tộc Indian trên mảnh đất này trước khi người châu Âu đến đều có tín ngưỡng, tôn giáo riêng, sau này người di cư mang theo tín ngưỡng, tôn giáo của mình đến với vùng đất mới Đây là công trình nghiên cứu lịch sử tôn giáo và tín ngưỡng kết hợp với lịch sử tôn giáo nói chung Có thể thấy Hoa Kỳ là một nơi có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo tồn tại, nhiều cộng đồng sắc tộc, nhiều đức tín, tập quán thờ phụng và giáo luật đạo đức khác nhau Nhưng đi cùng với đó là tình trạng phân biệt chủng tộc
đã xuất từ rất lâu trong xã hội Hoa Kỳ và vẫn đang tồn tại cho tới tận hiện nay
Trang 14Nền văn hóa Hoa Kỳ là một nền văn hóa đa dạng và phức tạp nhất trên thế giới
và tính đa nguyên của các tôn giáo và tín ngưỡng đã tạo nên nét độc đáo của riêng mình mà không có một quốc gia, một dân tộc nào trên thế giới có thể giống được
Trang 15CHƯƠNG 2
Cơ sở lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
2.1 Một số khái niệm cơ sở
2.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Về tín ngưỡng, hiện nay vẫn còn nhiều luồng ý kiến khác nhau khi nhắc tới tín ngưỡng bởi chúng luôn có sự liên kết và các mối liên hệ khác nhau qua mỗi thời điểm Từ cổ xưa, khi con người xuất hiện thì cuộc sống của họ luôn phải đấu tranh để sinh tồn và phát triển; họ phải đấu tranh với mọi thứ Những hiện tượng thiên nhiên, những hiện tượng xã hội, họ không thể giải thích được
Từ đó con người đã suy nghĩ những hiện tượng thiên nhiên, bản thân con người,
xã hội là do có những “đấng siêu nhiên” tạo ra, mình phải cầu, cúng những
“đấng siêu nhiên” [4]
Chủ nghĩa Mác- Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức
xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Một số nhà thần học xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng, cái huyền bí,
ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực
to lớn có thể cứu giúp con người khỏi khổ đau và có được hạnh phúc và sự bình yên [5]
Tín ngưỡng đôi khi cũng được hiểu là tôn giáo Nhưng điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh
và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, không có những quy định chặt chẽ Tín ngưỡng thường không có tổ chức hoặc có tổ chức ở dạng sơ khai nhất Tín ngưỡng cũng không có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết Khi nói đến tín ngưỡng thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một cộng đồng người [5]
Trang 16Ngoài ra theo Khoản 1, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 khẳng định
“Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [16] Đây có thể coi là khái niệm sát với tự tiễn
ở Việt Nam nhất Khác với các khái niệm khác thì trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo hoàn toàn khác so với các khái niệm khác, khẳng định này đi hẳn vào thực
tế tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Cũng nói về khái niệm tín ngưỡng, các học giả Toan Ánh, Phan Kế Bính… xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam Hay trong từ điển
Hán-Việt, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào đó” [7]
Từ những nhận định như trên, có thể định nghĩa khái niệm “tín ngưỡng”
một cách khái quát như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin, là sự ngưỡng mộ vào các đấng siêu nhiên hay những người được cho là thần thánh ở thế giới siêu thực,
có sức mạnh tác động vào đời sống hiện tại của con người nên được tôn thờ”.[4]
2.1.2 Khái niệm tôn giáo
Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo,
các nhà thần học cho rằng: “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người" Một số nhà tâm lý học lại cho rằng "Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi
cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng
cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo” [3]
Theo định nghĩa sinh học và tâm lý học về tôn giáo tìm kiếm cơ sở của tôn giáo trong các quá trình sinh học hay tâm sinh học của con người hoặc tách tôn giáo ra từ tâm lý cá nhân hay tâm lý nhóm Một trong những người sáng lập ra tâm lý học tôn giáo là nhà triết học theo chủ nghĩa thực dụng người Mỹ, V Jemes (1842-1910) giải thích tôn giáo nhờ xuất phát từ tâm lý cá thể: “Chúng
Trang 17ta thỏa thuận gọi tôn giáo là tổng thể những tình cảm, hành vi và kinh nghiệm của cá nhân riêng biệt vì nội dung của chúng quy định quan hệ với cái mà tôn giáo tôn sùng - Thượng đế” [3]
Quan niệm của C Mác (1818-1883) và Ph Ăngghen (1820-1895) cho rằng tôn giáo là rất đa dạng, được phân biệt tùy thuộc vào các nguyên tắc và các phương pháp xuất phát điểm Hai ông đã nêu đặc trưng tôn giáo dựa trên quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người Các ông cho rằng tôn giáo không có lịch sử riêng của mình, không có bản chất đặc biệt và nội dung đặc biệt năm ngoài thế giới Tôn giáo phát triển trong bối cảnh lịch sử
xã hội; sự tiến hóa của tôn giáo diễn ra tùy thuộc vào sự phát triển của sản xuất
xã hội, của hệ thống quan hệ xã hội Trong tôn giáo, con người biến thế giới kinh nghiệm của mình thành một bản chất tưởng tượng đứng đối lập với nó như một vật xa lạ [3]
C Mác đã từng viết: “ tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược” [3] Theo đó, Ph Ăngghen viết: “Tất cả tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo vào - trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng
ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [3]
Còn ở Việt Nam, theo Khoản 5 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 khẳng định “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan điểm
và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [16]
Trang 18Như vậy, có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về tôn giáo Dưới góc
độ khoa học, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận vấn đề tôn giáo theo hướng nghiên cứu của mình Mỗi khái niệm về tôn giáo đều chưa làm cho các nhà nghiên cứu hay chính những chức sắc, tín đồ tôn giáo vừa lòng Bởi tôn giáo là lĩnh vực tinh thần có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau theo quan điểm chủ quan của mỗi người Trên quan niệm của C Mác và Ph Ăngghen về tôn giáo, có thể nói rằng: “Tôn giáo là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội, tôn giáo tạo cho con người có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hư vô, nhưng con người vẫn sống trong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy định những luật lệ, nghi thức mang tính thiêng liêng để con người thực hành, tuân theo”
2.1.3 Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền này trong hệ thống pháp luật của mình [4]
Trên phạm vi quốc tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong một số văn bản chính trị bao gồm các văn bản mang tính chất tuyên ngôn như: Hiển chương của Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; các văn bản mang tính chất pháp lý như: Công ước quốc tế
về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Trong đó, Hiến chương của Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền là những văn bản tuy không
có tính ràng buộc pháp lý, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các nguyên tắc và định hưởng đạo lý, chính trị của quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng Công ước là văn bản có tính ràng
Trang 19buộc pháp lý, bao gồm các nội dung cụ thể về quyền con người và các quốc gia thành viên chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với văn kiện này Theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế bao gồm các nội dung:
tự do có, theo hoặc thay đổi một tôn giáo hay tín ngưỡng do mình lựa chọn; tự
do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc không công khai dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng [4]
Ở Việt Nam, quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước ta ghi nhận ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên, nó thể hiện bản chất của nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân, tôn trọng quyền công dân, quyền con người Tư tưởng ấy nó vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình lập pháp
ở nước ta qua bốn bản Hiến pháp Tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn trọng và bảo
hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” Điều , Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy” [4] Đặc biệt, Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016 cũng đã nhấn mạnh Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ
sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo; đồng thời sẽ đảm bảo để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật
Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hiểu là một trong những quyền cơ bản của công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định rõ ở Hiến pháp và pháp luật
2.2 Đặc điểm, vai trò của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 202.2.1 Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
2.2.1.1 Về đặc điểm
Việt Nam là một quốc gia đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo, người ta thường
ví Việt Nam là một bảo tàng về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng trong tín ngưỡng tôn giáo góp phần vào sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam Các tôn giáo tuy không có xuất phát điểm giống nhau nhưng ẩn sâu bên trong đều hướng con người đến sự khai phá của bản thân và hướng con người đến cái đúng, cái thiện Đây là đây là nét đẹp rất riêng của tôn giáo nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng Chính vì những điều này chúng ta
có thể thấy rõ các đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo
Ở Việt Nam tuy các tín ngưỡng, tôn giáo có sự dung hợp, đan xen, hòa đồng nhưng không có bất kỳ xung đột, tranh chấp nào Các tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống phản ánh sự đa dạng phong phú đồng thời thể hiện đức tính vốn
có của con người Việt Nam như khoan dung, độ lượng, nhân ái và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc Trong nhiều cộng đồng dân sự có sự xen kẽ giữa người
có tôn giáo và người không có tôn giáo Ví dụ như ở quân Tây Hồ 2021 gồm 2 tôn chính là phật giáo và công giáo và một số điểm Tin lành số lượng tín đồ tuy không lớn ( khoảng gầm 19000 tín đồ) nhưng trong đời sống các tín đồ đều sinh sống hòa thuận và hướng mọi người đến cái đẹp, cái thiện Ngoài ra, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo nào không hề có sự khoảng cách nào mà sinh sống hết sức hòa thuận trên tinh thần tình làng nghĩa xóm
Đa phần các tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu thờ Thượng đế hoặc linh nhân người nước ngoài như Phật giáo thờ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, Công giáo thờ chúa Jesus, Nho giáo thờ Khổng Tử Các nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo
ở Việt Nam có thể thấy tư tưởng tôn giáo của người Việt cổ được thể hiện qua hình tượng con Chim Lạc và con rồng, những hình nhân như Lạc Long Quân,
Trang 21Âu Cơ, chúa Liễu Hạnh, Hệ thống các giáo lý, tôn giáo nội sinh hầu hết đều sao chép hoặc chịu ảnh hưởng của tôn giáo nước ngoài
Các tín ngưỡng tôn giáo đa phần mang nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng con người ta tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hưởng của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên những nét đẹp trong nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc văn hóa dân tộc Trên thực tế, mỗi tôn giáo đều mang trong nó một hay nhiều tín ngưỡng; các tín ngưỡng này đều có sự giao thoa với văn hóa Việt Nam Qua nhiều năm tồn tại, phát triển, văn hóa tín ngưỡng ngoại nhập dần được Việt hóa và trở thành một phần trong văn hóa Việt Nam
Trong lịch sử cận, hiện đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động luôn tìm cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để đô hộ và xâm lược nước ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phục vụ cho ý định đen tối của chúng Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo như một thứ
vũ khí nhằm thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình phá hoạt công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Với chiêu trò “tự do tôn giáo”, “nhân quyền”, chúng xuyên tạc, bóp méo đường lối chính sách của đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, nhà nước ta âm mực tạo ra lực lượng và xây dựng lực lượng tôn giáo hòng lật đổ chính quyền, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2.1.2 Về vai trò
Do tôn giáo có sự đồng hành lâu dài với con người trong lịch sử, nên có thể xem nó như một phần tài sản văn hoá của nhân loại Trong quá trình phát triển, lan truyền trên bình diện thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần chuyển tài niềm tin của con người, mà còn có vai trò chuyển tải, hoà nhập văn hoá và văn minh, góp phần duy trì đạo đức xã hội nơi trần thế Nó có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống tinh thần của con người Với tư cách một bộ phận của Ý thức
Trang 22hệ, tôn giáo đã đem lại cho cộng đồng xã hội, cho mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố văn hoá vật chất cũng như tinh thần [12] Điều dễ nhận thấy là, những hệ thống đạo đức của tôn giáo rất khác nhau về niềm tin, rất xa nhau về địa lý vẫn có một mẫu số chung là nội dung khuyến thiện Điểm mạnh trong truyền thu đạo đức tôn giáo là, ngoài những điều phù hợp với tình cảm đạo đức của nhân dân, nó được thực hiện thông qua tình cảm tín ngưỡng, niềm tin vào giáo lý Do đó, tình cảm đạo đức tôn giáo được tin đồ tốp thu, tạo thành đức tin thiêng liêng bên trong và chi phối hành vi ứng xử của
họ trong các quan hệ cộng đồng Hoạt động hướng thiện của con người được tôn giáo hóa sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn.[12] Là hình thức phản ánh đặc thù, phản ánh hư ảo thế giới hiện thực, tôn giáo đã góp phần chỗ ngư các hành vi phi đạo đức Do tuần thì những điều răn dạy về đạo đức của các tôn giáo, nhiều tín đồ đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày càng thuần khiết
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau và cũng là quốc gia đa tín ngưỡng tôn giáo và có tới 95% dân số nước ta có đời sống tín ngưỡng Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có rất nhiều vai trò và ảnh hưởng trực tiếp đời sống xã hội hiện nay Đó có thể là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần cho con người Đó cũng có thể là hệ thống chuẩn mực đạo đức
để con người noi theo hay có thể là nơi khơi nguồn cảm hứng để sáng tạo văn hóa, nghệ thuật [11]
2.2.1.3 Nguồn điều chỉnh
Bất kì một sự vật hiện tượng nào cũng có một mối quan hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng đến các sự vật hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ đó Pháp luật và tín ngưỡng, tôn giáo cũng vậy Để