571 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƢỜNG CÁC NƢỚC THÀNH VIÊN HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƢƠNG (CPTPP) TS Nguyễn Thị Thu Hiền Ths Ngô Hải[.]
Trang 1CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN
VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (CPTPP)
TS Nguyễn Thị Thu Hiền Ths Ngô Hải Thanh Trường Đại học Thương mại
Tóm lược: CPTPP đã có hiệu ực tại Việt Nam và xuất khẩu (XK) thủy sản được dự
báo à một trong những ĩnh vực được hưởng ợi khá ớn từ những cam kết về cắt giảm thuế quan và những cam kết về mua sắm công, ogistic Tuy nhiên, nhiều thách thức cũng đặt ra đối với ngành thủy sản để tiếp cận thị trường các nước thành viên CPTPP Đó à việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn, quy định về xuất xứ hàng hóa, ao động, môi trường, phát triển bền vững… Vì vậy, để vượt qua thách thức, tận d ng cơ hội XK sang các nước thành viên CPTPP, Việt Nam cần có các giải pháp đồng bộ từ Chính phủ, các Doanh nghiệp (DN) và người nuôi trồng, đánh bắt thủy sản
Từ khóa: CPTPP, XK thủy sản, thuế quan, rào cản kỹ thuật, FTA
CPTPP đã được các thành viên ký ngày 08/3/2018 tại Santiago (Chile) và được Quốc hội phê chuẩn tại Nghị quyết số 72/2018/QH14 ngày 12/11/2018 tại k họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV Ngày 14/1/2019, CPTPP chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam Trong lĩnh vực
XK nói chung và XK thủy sản của Việt Nam nói riêng, cùng với những thuận lợi từ các ưu đãi về thuế quan thì CPTPP cũng tạo ra nhiều thách thức không nhỏ Bài viết sẽ tập trung phân tích làm rõ những cơ hội và thách thức đối với XK thủy sản của Việt Nam sang các nước thành viên CPTPP
1 Cam ết liên quan đến hàng thủy sản trong CPTPP
So với các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia trước đây thì CPTPP đặt ra tiêu chuẩn về mở cửa thị trường hàng hóa ở mức cao và toàn diện nhất, theo đó các nước thành viên xóa bỏ hoàn toàn gần 100% số dòng thuế và có những chính sách đặc biệt đối với một số nhóm hàng đặc biệt nhạy cảm, với lộ trình dài hơn và áp dụng cơ chế nhập khẩu (NK) theo hạn ngạch thuế quan
Trong các FTA trước đây mà Việt Nam tham gia, các sản phẩm thủy sản là lĩnh vực
mà các đối tác cam kết tự do hóa một cách thận trọng Thế nhưng với CPTPP, các nước đã cam kết xóa bỏ ngay hoặc xóa bỏ trong vòng 2 - 3 năm với hầu hết sản phẩm thủy sản sơ chế của Việt Nam, bao gồm cá tra, cá ngừ, tôm, thịt cua và nhuyễn thể Các sản phẩm thủy sản chế biến cũng được xóa bỏ thuế theo lộ trình 5 - 10 năm (Hộp 1) Cam kết thuế quan của Việt Nam đối với hàng thủy sản là xóa bỏ ngay 83% số dòng thuế; xóa bỏ thuế quan theo lộ trình
từ 4-11 năm, trong đó đa số lộ trình 4 năm; 8 năm với cua chế biến, cá hồi, cá nục hoa chế biến; 11 năm với cá trích dầu bảo quản
Trang 2Hộp 1: Lộ tr nh cắt giảm thuế quan đối với hàng thủ sản của các nước CPTPP Australia: Thuế về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực với tất cả sản phẩm thủy sản
(thuế cơ bản vốn là 0% trừ cá ngừ sọc dưa chế biến HS160414 giảm từ 5% xuống 0%)
Canada: Tất cả hàng thủy sản về 0% ngay (Trong đó, các sản phẩm thủy sản hun
khói có lợi thế do thuế giảm từ 4% về 0%)
Chile: Sản phẩm thủy sản đều được giảm từ 6% về 0% ngay
Mexico: một số sản phẩm giảm từ 10-20% về 0% ngay Một số sản phẩm cá: hồi,
rô phi, thu, giò, kiếm, tôm giảm theo lộ trình 5-10 năm (Cá tra, basa, xóa bỏ thuế vào năm thứ 3; Tôm ông lạnh xóa bỏ vào năm thứ 13; Tôm chế biến xóa bỏ vào năm thứ 12;
Cá ngừ chế biến xóa bỏ thuế vào năm thứ 16, trong ó giữ nguyên mức thuế cơ sở trong 5 năm đầu tiên)
New Zealand: Tất cả sản phẩm thủy sản thuế về 0% ngay (Một số sản phẩm surimi
và cá hộp giảm từ 5% về 0%)
Nhật Bản: Hầu hết sản phẩm chế biến đang chịu thuế cơ bản 4,8 - 10,5% được
giảm về 0% ngay, trừ sản phẩm từ cá trích, cá thu có lộ trình 6 năm và sản phẩm có gạo có
lộ trình 11 năm Sản phẩm HS 03 bao gồm cá ngừ vây xanh, cá ngừ mắt to, cá ngừ albacore, cá hồi, cá trích, cá thu, cá cơm, cá kiếm, cá tuyết, cá minh thái lộ trình giảm thuế
6 - 11 năm
Các nước khác: giảm về 0% ngay
Nguồn: VASEP (2019a)
Đồng thời, CPTPP là một FTA có tiêu chuẩn và đòi hỏi rất cao về sự minh bạch đối với hàng hóa XK Để được hưởng những ưu đãi về thuế quan trên đây các sản phẩm thủy sản phải đáp ứng được những điều kiện về xuất xứ hàng hóa Hiện nay, trong CPTPP
có 3 loại xuất xứ hàng hóa: (1) xuất xứ thuần túy là toàn bộ nguyên liệu được sản xuất trong nước; (2) xuất xứ nội khối các nguyên liệu có thể xuất phát từ các nước cùng khối;
và (3) xuất xứ một phần khi một phần nguyên liệu không có xuất xứ trong nước hoặc trong khối nhưng đáp ứng được những điều kiện nhất định Về thủ tục chứng nhận xuất
xứ, các bên cam kết áp dụng doanh nghiệp được tự chứng nhận xuất xứ Tuy nhiên, với CPTPP, Việt Nam chưa thực hiện ngay trong 5 năm đầu, chứng nhận xuất xứ vẫn do cơ quan của Bộ Công Thương cấp
Bên cạnh những cam kết về thuế quan và phi thuế quan được quy định trong CPTPP còn những điều kiện khác có ảnh hưởng không nhỏ tới XK của ngành thủy sản Trong đó có các cam kết về dịch vụ, về mở cửa thị trường mua sắm công, về trách nhiệm xã hội Cam kết về dịch vụ trong CPTPP rộng hơn WTO với nhiều phân ngành của dịch vụ logistics như: dịch vụ hỗ trợ các phương thức vận tải khác, dịch vụ bảo hành và sửa chữa tàu biển, tàu thủy nội địa, xếp gi container hàng hải, đại l vận tải hàng hoá… Dịch vụ phân phối cũng được
mở rộng hơn về bán l , giảm số hàng hoá không cam kết cho nhà bán l nước ngoài tại Việt Nam… Cam kết về mua sắm chính phủ của CPTPP đưa ra các quy tắc, quy trình trong quá
Trang 3trình lựa chọn nhà thầu, và yêu cầu ở mức độ cao về tính công bằng, công khai, minh bạch Các nội dung chính của Chương MSCP bao gồm: Không phân biệt đối xử; không sử dụng các biện pháp ưu đãi hàng hóa hoặc nhà thầu trong nước; và Biểu cam kết mở cửa thị trường MSCP quyết định phạm vi mở cửa của từng nước Cam kết về trách nhiệm xã hội (CSR), theo đó CSR của doanh nghiệp phải thể hiện cụ thể trên các yếu tố, các mặt: 1 Bảo vệ môi trường; 2 Đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3 Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4 Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5 Quan hệ tốt với người lao động; 6 Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp
2 Khái quát về XK thủy sản của Việt Nam
Việt Nam có những lợi thế rất lớn về điều kiện tự nhiên đối với khai thác và nuôi trồng thủy sản Với chủ trương thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản của Chính phủ, ngành thủy sản đã có sự tăng trưởng tích cực trong gần 20 năm qua Sản lượng thủy sản tăng trưởng liên tục với mức tăng bình quân là 9,07%/năm, trong đó hoạt động nuôi trồng thủy sản sản lượng bình quân đạt 12,77%/năm3
Thành tựu của ngành thủy sản thể hiện bằng kết quả XK tăng nhanh về cả giá trị và sản lượng trong giai đoạn 2010 – 2018 (Biểu đồ 1): kim ngạch XK thủy sản tăng gấp 1,7 lần
từ mức gần 5 tỷ USD năm 2010 lên 8,8 tỷ USD năm 2018 Kim ngạch XK thủy sản năm 2016 đạt 7,05 tỷ USD, tăng 7,3% so với năm 2015 Năm 2017, XK thủy sản đạt 8,3 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2016 và năm 2018, đạt hơn 8,8 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm 2017 Điều này đã đưa Việt Nam trở thành một trong 5 nước XK thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu
Sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã XK đến hơn 185 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó, có những ngành hàng mũi nhọn chiếm tỷ trọng lớn, có giá trị XK trên 1 tỷ USD (tôm, cá tra) Ngoài ra một số mặt hàng có nhiều tiềm năng nâng cao kim ngạch trong thời gian tới như cá ngừ, mực, bạch tuộc, nhuyễn thể… Các thị trường XK thủy sản lớn nhất của Việt Nam gồm Mỹ (18%), EU (16,7%), Nhật Bản (15,7%), Trung Quốc (13,6%), ASEAN (18,2%)4 Tại Việt Nam cũng đã hình thành một số công ty XK quy mô lớn như Tập đoàn thủy sản Minh Phú, Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn, công ty Cổ phần Hùng Vương… CPTPP là một thị trường khá lớn đối với XK thủy sản của Việt Nam, kim ngạch XK sang các nước CPTPP năm 2018 đạt 2.209 tỷ USD, chiếm 25,1% tổng giá trị XK thủy sản cả nước Trong đó, XK sang nhiều nước đạt giá trị lớn như Nhật Bản, Canada, Úc, Mexico, Malaysia, Singapore (Bảng 1) Tôm, hải sản và cá tra là những mặt hàng đạt giá trị XK lớn nhất sang các nước CPTPP: tôm (970,5 triệu USD), hải sản (910,3 triệu USD), cá tra (328,3 triệu USD)
3
http://vasep.com.vn/1192/OneContent/tong-quan-nganh.htm
4
Thị phần năm 2018, http://vasep.com.vn/1192/OneContent/tong-quan-nganh.htm
Trang 4Nguồn VASEP (2019b),
Biểu đồ 1: X thủ sản của Việt Nam, 2010 - 2018 Bảng 1: im ngạch X thủ sản của Việt Nam sang các nước CPTPP
Đơn vị: triệu USD
Tổng số XK sang CPTPP 1.800,3 2.095,8 2.209,1 Tổng XK thủy sản của VN 7.053,1 8.315,7 8.801,9
Nguồn: VASEP (2019a)
X t theo thị trường, Nhật Bản đang là thị trường XK lớn nhất của doanh nghiệp thủy sản Việt Nam.Tổng giá trị XK thủy sản sang thị trường Nhật Bản hàng năm đều đạt trên 1,0
tỷ USD, Nhật Bản là thị trường NK tôm lớn thứ 2 của Việt Nam, chiếm 19,7% tổng giá trị
XK tôm Việt Nam đi các thị trường (năm 2018), thị phần tăng lên 32,5% giá trị XK tôm của
18.42 21.53
0.26 12.31 14.99
-15.58
5.46
17.91
5.84
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000 10000
-20.00 -15.00 -10.00 -5.00 0.00 5.00 10.00 15.00 20.00 25.00
Giá trị XK Tăng trưởng XK (%)
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Trang 5Việt Nam Các mặt hàng chủ lực Việt Nam XK sang Nhật Bản gồm tôm, cá da trơn, cá ngừ
và cá loại cá biển khác
Tiếp đến là thị trường Canada, nhiều chủng loại đã chiếm thị phần rất cao tại thị trường này như: cá ba sa gần như chiếm 100% thị trường cá da trơn NK; đứng đầu trong số các nước XK tôm vào Canada và chiếm gần 1/3 thị phần NK; cá ngừ vàng, mắt to đông lạnh chiếm 89% thị phần Chỉ có cá ngừ chế biến hiện có thị phần còn thấp
Việt Nam hiện là một trong bốn nhà cung cấp thủy sản lớn nhất cho thị trường Australia (sau Thái Lan, Trung Quốc và New Zealand), nhưng mới chỉ chiếm khoảng trên 11% thị phần NK Trong đó, Việt Nam là nước có nguồn cung cấp tôm lớn nhất thị trường này, chiếm 31,1% tổng giá trị NK tôm của Úc Mặt hàng cá tra Việt Nam gần như độc chiếm thị trường Australia, từ 96% đến 98% với phi-lê cá tra tươi hoặc ướp lạnh
Singapore có nhu cầu tiêu thụ tương đối lớn về thủy hải sản và là nơi trung chuyển sang nước thứ ba Nhưng điều đáng nói là kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Singapore dù tăng đều qua các năm, song vẫn chỉ trên 100 triệu USD/năm- một con số khiêm tốn so với tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam cũng như nhu cầu hơn 1 tỷ USD của thị trường này do chưa có thương hiệu, hoặc không đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn nên các sản phẩm nông, thủy sản của Việt Nam vẫn khó đưa được vào thị trường này Do đó, nhiều mặt hàng nông, thuỷ sản Việt hiện nay phải tiếp cận với thị trường Singapore qua trung gian
Các thị trường như Chile, Peru, New Zeland và Brunei là những thị trường mà Việt Nam có kim ngạch XK thủy sản không đáng kể Tuy nhiên, trong năm 2019 đã bắt đầu có những khởi sắc, chẳng hạn 3 tháng đầu năm 2019, XK tôm Việt Nam sang Chile đạt 712,4 nghìn USD (3 tháng đầu năm 2018 chỉ đạt 45,5 nghìn USD) Chile từ vị trí thứ 60 đã vươn lên
vị trí thứ 46 trong top các thị trường NK tôm của Việt Nam Đối với cá tra, năm 2018, giá trị
XK sang Chile cũng tăng 11,3% so với năm trước Thủy sản Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu sang New Zealand khoảng 20 triệu USD/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 12%/năm
Lợi thế của VN trong phát triển XK thủy sản đó chính là lợi thế về điều kiện tự nhiên Với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài, chúng ta có tiềm năng lớn phát triển diện tích nuôi biển, nuôi sinh thái các giống loài thủy hải sản tạo nguồn cung lớn với sản phẩm thủy sản đa dạng, phong phú Theo đánh giá của VASEP, tiềm năng nâng cao giá trị gia tăng còn lớn và khả năng đa dạng hóa các sản phẩm thủy sản XK Ngoài ra, công nghệ chế biến thủy sản XK của nước ta cũng đạt trình độ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu quốc tế Do đó, các
DN chế biến thủy sản XK có khả năng áp dụng KHCN để giảm giá thành, tăng giá bán các sản phẩm thủy sản XK
Một trong những khó khăn của XK thủy sản đó là nguồn nguyên liệu trong nước không ổn định, đặc biệt nguồn thủy sản khai thác Các doanh nghiệp phải NK thêm nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến XK Giá trị XK từ nguồn nguyên liệu NK chiếm trung bình 11-14% tổng giá trị XK thủy sản hàng năm và NK nguyên liệu có xu hướng tăng mạnh từ năm
2011 đến nay Năm 2018, Việt Nam NK thủy sản từ 97 nước, kim ngạch NK đạt trên 1,7 tỷ
Trang 6USD, tăng 30% so với năm 2017 Giá trị NK hàng tháng trung bình khoảng gần 150 triệu USD Các thị trường (10 nước) cung cấp thủy sản nguyên liệu lớn nhất chiếm gần 73% giá trị
NK thủy sản của Việt Nam với 1,25 tỷ USD Trong đó, Ấn Độ là nguồn cung cấp lớn nhất thủy sản cho Việt Nam với trên 343 triệu USD, chiếm 21% thị phần Các mặt hàng NK không chỉ dừng lại ở các loại hải sản như cá ngừ, mực, bạch tuộc, các loại cá biển… mà các DN còn đẩy mạnh NK tôm từ các nước khác
3 Cơ hội đối với XK thủy sản của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên CPTPPP
Cơ hội mở rộng thị trường XK
Với việc cắt giảm thuế quan, Việt Nam có cơ hội tăng XK sang thị trường 10 nước thành viên CPTPP (năm 2018, chiếm 25,1% tổng giá trị XK thủy sản của Việt Nam) Thật vậy, cạnh tranh về giá trong ngành thủy sản hiện nay là rất lớn, trong khi đó mức thuế XK thủy sản vào một số thị trường CPTPP còn ở mức cao, dao động từ 2 - 20% Khi CPTPP có hiệu lực, việc cắt giảm ngay hầu hết các dòng thuế về 0 sẽ giúp sản phẩm thủy sản Việt Nam
có khả năng cạnh tranh tốt hơn về giá so với các đối thủ - những quốc gia chưa phải là thành viên CPTPP như Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ - từ đó Việt Nam sẽ có cơ hội tăng thị phần xuất khẩu
Các cơ hội tăng XK không chỉ đến từ việc mở rộng XK sang các thị trường lớn như Nhật Bản, Australia; Canada, mà Việt Nam sẽ tận dụng được lợi thế xâm nhập và tiếp cận sâu vào các thị trường bên kia Thái Bình Dương gồm Canada, Mexico và Chilê Đây là những thị trường mà Việt Nam chưa k hiệp định thương mại song phương, và với CPTPP các nước này lại áp dụng thuế suất 0% cho thuỷ sản Việt từ các mức ban đầu khá cao (Canada 4%, Chile 6% và Mexico 10-20%) Ngoài ra, thị trường mới có sức tiêu thụ thủy sản lớn là New Zealand cũng là cơ hội để Việt Nam gia tăng XK các sản phẩm thủy sản Theo nhận định của các chuyên gia trong ngành thủy sản, với thị trường CPTPP, các doanh nghiệp XK tôm, bạch tuộc, cá ngừ sẽ được hưởng lợi nhiều nhất
Xét theo thị trường của từng quốc gia thành viên, cơ hội tăng XK sẽ tùy thuộc vào mức giảm thuế trong CPTPP so với mức thuế quan trước đó mà mỗi nước áp dụng đối với các sản phẩm thủy sản NK
Thị trường Nhật Bản: là thị trường quan trọng của XK thủy sản Việt Nam Trước
CPTPP, nước này đã có hai FTA với Việt Nam (FTA Việt Nam - Nhật Bản và ASEAN - Nhật Bản), một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam XK sang Nhật đã được xóa bỏ rào cản thuế quan Tuy nhiên, họ vẫn giữ mức thuế 3,5% đối với thủy sản tươi sống và 7,3% đối với thủy sản chế biến, các sản phẩm chế biến đang chịu thuế cơ bản ở mức 4,8-10,5% Với CPTPP, Nhật Bản xóa bỏ thuế quan với 91% số dòng thuế, nhiều mặt hàng thủy sản trước chưa được cam kết xóa bỏ thuế trong hai FTA trên cũng sẽ được hưởng thuế suất 0% khi XK sang Nhật Bản Trong đó, một số mặt hàng thủy sản sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi CPTPP có hiệu lực, bao gồm sản phẩm cá tra được miễn thuế ngay lập tức, từ mức 3,5-10,5% hiện tại,
Đa số mặt hàng thủy sản có thế mạnh của Việt Nam trong đó có tôm đông lạnh và tôm chế
Trang 7biến được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi hiệp định có hiệu lực Bên cạnh đó, các mặt hàng như cá ngừ vây vàng, cá ngừ sọc dưa, cá kiếm, một số loài cá tuyết, surimi, tôm, cua ghẹ cũng được hưởng thuế suất 0%
Thị trường Canada: Trước CPTPP thuế ưu đãi tối huệ quốc (MFN) đối với thủy sản
NK từ Việt Nam là 4-5% Với cam kết xóa bỏ 100% dòng thuế NK với thủy sản Việt Nam sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực là cơ hội để thuỷ sản Việt Nam tiếp tục giữ vững thị phần và đa dạng hoá các chủng loại mặt hàng XK vào thị trường này Các mặt hàng thuỷ sản như tôm đông lạnh, tôm chế biến, nhuyễn thể hai mảnh, cá tra, cá ngừ, sẽ có cơ hội thâm nhập mạnh mẽ vào thị trường này Đặc biệt đối với sản phẩm cá ngừ, Thái Lan và Trung Quốc đang là hai đối thủ lớn nhất của Việt Nam nhưng không phải là thành viên của CPTPP
Dư địa cho XK cá ngừ Việt Nam vào thị trường Canada còn rất lớn, cùng với lợi thế cạnh tranh do được hưởng ưu đãi thuế quan sẽ giúp XK cá ngừ Việt Nam vào thị trường này có thể tăng trưởng cao Đối với tôm, đối thủ hàng đầu của Việt Nam là Ấn Độ cũng không phải thành viên CPTPP nên đây được xem là cơ hội để sản phẩm tôm XK Việt Nam vươn lên cạnh tranh vị trí XK hàng đầu
Thị trường Australia: nhu cầu NK hàng năm của nước này là hơn 200.000 tấn thủy
sản, trị giá khoảng 1 tỷ USD Dự báo nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản của Australia sẽ còn tăng hơn nữa và là một thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Hai mặt hàng thủy sản XK chủ lực của Việt Nam là tôm và cá tra sẽ có thêm nhiều cơ hội XK khi CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam
Thị trường New Zealand Mặc dù có thế mạnh về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản
với 90% sản lượng dành cho xuất khẩu và chỉ có 10% tiêu thụ ở thị trường nội địa, nhưng New Zealand vẫn nhập khẩu các sản phẩm thủy sản với kim ngạch khoảng 100 triệu USD hàng năm Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các loại thủy sản ở vùng nước ấm như cá
phi-lê các loại, tôm đông lạnh, mực và bạch tuộc, các sản phẩm chế biến từ thủy sản như cá khô, muối, nước mắm và các chế phẩm từ tôm cá Thủy sản Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu sang New Zealand chỉ đạt khoảng 20 triệu USD hàng năm, chiếm 11-13% nhu cầu của thị trường này, nên dư địa còn nhiều
Chile: Là thị trường tiềm năng cho tôm Việt Nam Theo cam kết của Chile trong
CPTPP, các sản phẩm thủy sản, trong đó có tôm NK vào Chile đều được giảm thuế từ 6% về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực K vọng với lợi thế về thuế suất NK là 0% của CPTPP, sản phẩm cá tra, basa phile đông lạnh, thông qua các kênh phân phối của Chile, sẽ có khả năng được giới thiệu và hiện diện tại các nước khác trong khu vực
Các FTA mới sẽ giúp doanh nghiệp nước ta thâm nhập, khai thác các thị trường mới, phân tán rủi ro khi thương mại bị lệch quá nhiều về một, hai đối tác
Cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thủ sản toàn cầu
Trong chuỗi cung ứng thủy sản, DN thủy sản của Việt Nam chỉ đứng ở vị trí nhà chế biến và XK cho các nhà NK - bán buôn - bán l tại thị trường tiêu thụ nước ngoài mà chưa thâm nhập được vào mắt xích cuối cùng của chuỗi cung ứng là khâu bán l Hàng thủy sản