KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành Thương mại quốc tế SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 2014 ThiN ga nH an g co m ThiNganHang com H oi C an Su FTU H oi C an Su FTU[.]
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009-2014
ThiNganHang.com
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÁN LẺ 8
1.1 Lý thuyết chung về bán lẻ 8
1.1.1 Khái niệm và bản chất của bán lẻ 8
1.1.2 Chức năng và vai trò của bán lẻ 10
1.1.3 Phân loại các hình thức bán lẻ 11
1.2 Giới thiệu về hệ thống bán lẻ hiện đại 14
1.2.1 Khái niệm về bán lẻ hiện đại 14
1.2.2 Đặc điểm của hệ thống bán lẻ hiện đại 14
1.3 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại 22
1.3.1 Nhóm yếu tố bên trong 22
1.3.2 Các yếu tố bên ngoài 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009-2014 27
2.1 Bối cảnh chung toàn thị trường bán lẻ Việt Nam 27
Bảng 2.4: Một số doanh nghiệp bán lẻ nổi bật giai đoạn 2007 đến nay 31 3.2 Sự phát triển của kênh bán lẻ hiện đại 38
3.2.1 Tình hình phát triển chung của kênh bán lẻ hiện đại 38
3.2.2 Thực trạng cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ hiện đại trên thị trường Việt Nam 47 3.2.2.4 Cửa hàng tiện ích 55
3.3 Đánh giá thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2009-2014 56
3.3.1 Đánh giá của ATkearney về thị trường bán lẻ Việt Nam 56
3.3.2 Những thành công đã đạt được của hệ thống bán lẻ hiện đại 58
3.3.3 Những hạn chế của thị trường bán lẻ và kênh bán hiện đại 59
CHƯƠNG III: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 61
ThiNganHang.com
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.1 Xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại trên thế giới và tại
Việt Nam 61
3.1.1 Sự thay đổi hành vi người tiêu dùng 61
3.1.2 Xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại trên thế giới 62
3.1.3 Xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam 65
3.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển thị trường trong giai đoạn tới 67
3.2.1 Quan điểm, mục tiêu của Nhà nước 67
3.2.2 Quan điểm, mục tiêu của doanh nghiệp 69
3.2.3 Quan điểm của người tiêu dùng 69
3.3 Một số khuyến nghị nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ở Việt Nam 70
3.3.1 Các rào cản và khó khăn hệ thống bán lẻ đang gặp phải 70
3.3.2 Một số kiến nghị tới các cơ quan quản lý để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 71
3.3.4 Khuyến nghị về phía nhà cung cấp, nhà sản xuất 79
ThiNganHang.com
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Thuật ngữ
viết tắt
Thuật ngữ viết đầy đủ Nghĩa tiếng Việt
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Community
Cộng đồng kinh
tế ASEAN
kinh tế
hàng hóa
Economic Partnership Agreement
Hiệp định đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
thương mại
ThiNganHang.com
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
5
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bán lẻ là một ngành dịch vụ rất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập
kinh tế toàn cầu Có thể nói rằng, bán lẻ là một cây cầu nối chủ chốt trong việc đưa
hàng hóa từ các cơ sở sản xuất, phân phối, xuất nhập khẩu đến được với người tiêu
dùng Đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay, việc lưu chuyển của hàng
hóa lại càng được các doanh nghiệp quan tâm đặc biệt hơn nhằm mục đích tối đa hóa
lợi nhuận và tối thiểu hóa chi tiêu Với vai trò quan trọng đó, hệ thống bán lẻ ở Việt
Nam đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, với sự xuất hiện của nhiều loại
hình bán lẻ hiện đại mới như TTTM, đại siêu thị, siêu thị, cửa hàng tiện ích, đáp ứng
nhu cầu mua sắm ngày càng cao của người dân Một thị trường tiêu thụ tiềm năng
khoảng hơn 90 triệu dân, cơ cấu dân số trẻ như Việt Nam vừa là cơ hội, vừa là thách
thức cho các doanh nghiệp bán lẻ Cùng với đó, việc tham gia các tổ chức quốc tế và
là thành viên của các diễn đàn kinh tế, ký kết các hiệp định song và đa phương đang
đưa Việt Nam trở thành một thị trường mở cho tất cả các doanh nghiệp bán lẻ trên
thế giới Kể từ ngày 11/1/2015, 8 năm sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành
viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trường bán lẻ chính thức mở cửa
hoàn toàn, hứa hẹn một cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp bán lẻ trong,
ngoài nước và là một điều kiện thuận lợi để hệ thống bán lẻ hiện đại có bước phát
triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới
Chính vì vậy, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Sự phát triển của hệ thống bán
lẻ hiện đại tại Việt Nam giai đoạn 2009-2014” làm khóa luận tốt nghiệp đại học của
mình
2 Tình hình nghiên cứu
Theo như tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu trong nước được thực hiện bởi
các nghiên cứu sinh, sinh viên về thị trường bán lẻ đều dừng ở những mức độ nhất
định, chưa có những nghiên cứu chuyên sâu tính đến thời điểm tháng 4/2015 Trong
công trình nghiên cứu “Các giải pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam”, tác
giả Nguyễn Hữu Tân đề cập đến các yếu tố tác động đến thị trường bán lẻ, các bài
học kinh nghiệm của các quốc gia như Nhật Bản, Hoa Kì, Trung Quốc và khả năng
áp dụng tại Việt Nam Tác giả Hà Xuân Cường trong nghiên cứu về thị trường bán lẻ
ThiNganHang.com
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
6
Việt Nam và cụ thể về Big C đã đề cập đến các yếu tố cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp bán lẻ Các công trình đã công bố hầu hết chưa đề cập đến những thay đổi
nhanh chóng của thị trường bán lẻ Việt Nam trong giai đoạn chuẩn bị cho việc mở
cửa hoàn toàn thông qua các cam kết khi gia nhập WTO
Ngoài ra có thể kể đến các nghiên cứu về thị trường Việt Nam do các tổ chức
nước ngoài như Nielsen, Euromonitor International, Deloitte, GAIN Các báo cáo của
Nielsen về thị trường bán lẻ Việt Nam cung cấp các thông tin tổng quan về thị trường
bán lẻ như tỉ lệ lạm phát, GDP, độ tự tin của người tiêu dùng đồng thời cung cấp
thông tin các sản phẩm, các xu hướng tiêu dùng Như trong báo cáo năm 2013, các
xu hướng tiêu dùng của khách hàng lớn tuổi, khách hàng là phụ nữ được đề cập và
phân tích cụ thể Bên cạnh đó các xu hướng tiêu dùng tại nhà, mua sắm qua mạng và
sử dụng các thiết bị điện tử trong tiêu dùng cũng được đề cập đến Nghiên cứu của
Euromonitor International năm 2011 đề cập đến các xu hướng của thị trường bán lẻ
như việc thị trường bán lẻ vẫn tiếp tục phát triển nhờ tiềm năng kinh tế của đất nước,
các mặt hàng nội địa được sự hỗ trợ trong kênh bán lẻ hay việc quan tâm đến bảo vệ
môi trường Thêm vào đó, nghiên cứu còn cung cấp các số liệu về doanh số bán hàng,
tốc độ phát triển của thị trường và những con số dự đoán trong tương lai Báo cáo của
Deloitte năm 2014 cung cấp thông tin về tổng quan thị trường bán lẻ, phân tích các
yếu tố tác động, thực trạng cạnh tranh trong đó cụ thể hóa các yếu tố tác động và các
khó khăn mà các doanh nghiệp bán lẻ gặp phải từ đó dự đoán sơ lược về thị trường
trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là đưa ra bức tranh tổng quan về sự phát
triển của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam kể từ khi bắt đầu thực hiện những cam
kết về mở cửa thị trường từ tháng 1/2009
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đó, khóa luận cần làm sáng tỏ những nội dung nhưu
sau:
- Hệ thống hóa các khái niệm và vấn đề liên quan đến hệ thống bán lẻ hiện
đại (TTTM, siêu thị, cửa hàng tiện ích)
ThiNganHang.com
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
7
- Phân tích sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam
- Đưa ra một số nhận định về xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện
đại tại Việt Nam trong thời gian tới cũng như một số khuyến nghị đối với các bên liên
quan
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống bán lẻ hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tại Việt Nam, tập trung vào giai đoạn
2009-2014 Riêng đối với một số nội dung về quá trình hình thành và phát triển của
hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam, giai đoạn nghiên cứu chủ yếu là từ năm
1986 trở đi
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả lựa chọn cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo phương
pháp định tính Khóa luận chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân
tích dữ liệu từ các nguồn thông tin thứ cấp và qua quan sát trực tiếp của tác giả tại Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh tháng 4-5/2015
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, khóa
luận gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về bán lẻ
Chương 2: Thực trạng hệ thống bán lẻ hiện đại ở Việt Nam giai đoạn
2009-2015
Chương 3: Xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam và
một số khuyến nghị để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ThiNganHang.com
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÁN LẺ
1.1 Lý thuyết chung về bán lẻ
1.1.1 Khái niệm và bản chất của bán lẻ
1.1.1.1 Khái niệm bán lẻ
Theo Philip Kotler (2011): Bán lẻ bao gồm tất cả mọi hoạt động trong việc bán
hàng hóa dịch vụ trực tiếp cho khách hàng cuối cùng dung cho mục đích cá nhân, phi
thương mại của họ
Theo Michael Levy (2011): Bán lẻ là chuỗi các hoạt động kinh doanh mang
lại giá trị cho sản phẩm và dịch vụ bán cho khách hàng để sử dụng cho bản thân hoặc
gia đình của họ
Ta có thể nhận thấy sự khác biệt của 2 định nghĩa này một cách rõ ràng Theo
Philip Kotler (2011), ông chỉ đề cập đến những hoạt động trong việc bán hàng hóa
dịch vụ mà không nói đến những hoạt động khác ngoài bán hàng Bên cạnh đó, cần
hiểu khái niệm khách hàng cuối cùng không chỉ là người mua hàng hóa, dịch vụ ở
các cửa hàng bán lẻ đó Còn theo Michael Levy (2011), Bán lẻ được nhìn nhận từ góc
độ vai trò chính của nó, chính là làm gia tăng giá trị cho sản phẩm và dịch vụ Vì vậy,
mọi hoạt động nhằm gia tăng giá trị cho sản phẩm, dịch vụ đều nằm trong phạm vi
của bán lẻ Tuy nhiên, trong định nghĩa này, khách hàng chỉ được hiểu là những người
mua để sử dụng cho bản thân hoặc gia đình ,chưa thể khái quát được khái niệm “khách
hàng cuối cùng” mà Philip Kotler đưa ra
Ngoài ra, còn có nhận định rằng hoạt động phân phối bán lẻ hàng hoá mang
bản chất của hoạt động dịch vụ, là hoạt động lao động có tính chất phục vụ và mang
tính xã hội của con người Theo Danh mục Phân loại tạm thời các sản phẩm chính của
Liên Hiệp Quốc (CPC) và Danh mục phân loại các ngành dịch vụ của WTO, lĩnh vực
dịch vụ phân phối được định nghĩa bao gồm bốn nhóm dịch vụ chính: Dịch vụ đại lý
uỷ quyền, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising)
Những người bán lẻ bán hàng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình
và các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như chế biến phục vụ
cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá cho
người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay
ThiNganHang.com
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
9
một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan” (Viện nghiên cứu
thương mại, 2015)
Tuy đã có nhiều định nghĩa “bán lẻ” theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả
đều thể hiện một đặc điểm chung của bán lẻ đó là hoạt động dịch vụ đưa hàng hoá
đến tay người tiêu dùng cuối cùng (Tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng của cá nhân
hay gia đình), là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với
người tiêu dùng Cơ sở bán lẻ là các hình thức tổ chức kinh doanh dịch vụ bán lẻ cố
định, với các loại hình doanh nghiệp thương mại bán lẻ hoặc điểm bán lẻ
1.1.1.2 Bản chất của bán lẻ
Bán lẻ về cơ bản là một loại hình dịch vụ, vì vậy nó mang đầy đủ những bản
chất cũng như đặc điểm cơ bản của dịch vụ
Thứ nhất, bán lẻ có tính không mất đi Sau khi cung ứng thì dịch vụ bán lẻ
không bị mất đi Thứ hai là tính vô hình Quá trình hàng hóa dịch vụ được cung ứng
từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng không thể nhìn thấy được, chỉ có thể thấy
được thay đổi về sự thỏa mãn của người tiêu dùng sau khi sử dụng dịch vụ bán lẻ
Thứ ba là tính không tách rời, quá trình cung ứng là sử dụng dịch vụ diễn ra đồng
thời Thứ tư là tính không đồng nhất, tức là quá trình cung ứng dịch vụ khác nhau tại
mỗi thời gian và không gian khác nhau, giữa mỗi người cung ứng và khách hàng khác
nhau Thứ năm là tính không thể lưu trữ được Quá trình tiêu dùng và sử dụng gắn
liền với nhau nên không xuất hiện thời gian lưu kho như hàng hóa, vì vậy không xảy
ra quá trình lưu trữ
Tuy vậy, những đặc tính riêng có của ngành dịch vụ bán lẻ lại tạo ra những
ngoại lệ cho những tính chất của nó Đó là quá trình mua hàng ở siêu thị là quá trình
có thể nhìn thấy được, việc cung ứng hàng hóa và sử dụng hàng hóa mua ở cách cửa
hàng tạp hóa, siêu thị có thể tác rời, hay việc lưu kho hàng hóa của siêu thị Tuy nhiên,
những điều này không làm thay đổi bản chất dịch vụ của ngành phân phối bán lẻ
Những đặc điểm riêng có của bán lẻ là:
Người bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên nhất với người tiêu
dùng cuối cùng nên họ nắm bắt nhu cầu, thị hiếu và thói quen mua sắm của khách
ThiNganHang.com
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
10
hàng Do vậy người bán lẻ có khả năng thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng
hơn so với các hoạt động bán hàng trung gian khác
Tính đa dạng trong cung ứng hàng hóa dịch vụ là một trong những đặc điểm
nổi bật của bán lẻ chính điều này đòi hỏi người bán hàng phải hiểu rõ những hàng
hóa dịch vụ mà mình cung ứng để giúp khách hàng lựa chọn và từ đó có thể bán được
nhiều hàng hóa cung như tăng khả năng an toàn trong kinh doanh
1.1.2 Chức năng và vai trò của bán lẻ
1.1.2.1 Chức năng của bán lẻ
Ta có thể thấy rõ ràng nếu như hàng hóa được mua trực tiếp từ nhà sản xuất sẽ
có giả rẻ hơn khi mua tại các trung gian Tuy nhiên, chính bán lẻ là quá trình tạo ra
giá trị tăng thêm cho hàng hóa, dịch vụ chính bởi tính chất đa dạng, vì thế có thể thỏa
mãn nhiều mong muốn của khách hàng tại một thời gian, địa điểm
Cụ thể, bán lẻ sẽ cũng cấp sự đa dạng cho khách hàng Về cơ bản, một siêu thị
có thể có 20.000-30.000 sản phẩm của hơn 500 nhãn hàng khác nhau (Quyết định
1371/2004/QĐ-BTM) Nếu các doanh nghiệp sản xuất tự tổ chức bán hàng cho khách
hàng cuối cùng thì mỗi địa điểm chỉ có thể có một vài sản phẩm của một nhãn hàng,
vậy thì để mua nhiều sản phẩm ta lại phải đến những cơ sở khác nhau, điều này hiển
nhiên sẽ gia tăng chi phí cho việc đi lại và những chi phí liên quan, nhiều khi lớn hơn
cả phần lợi nhuận của doanh nghiệp bán lẻ khi bán món hàng đó cho ta
Thứ nhất, bán lẻ cho phép chia nhỏ các kiện hàng Nhà bán lẻ thực hiện việc
chia nhỏ (breaking bulk) những kiện hàng lớn từ nhà sản xuất hoặc nhà bán buôn để
bán cho những người tiêu dùng ở dạng nhỏ lẻ hơn Bằng thao tác này, nhà bán lẻ
không những giúp giảm được chi phí vận chuyển từ phía người sản xuất mà còn đưa
hàng hóa đến cho người tiêu dùng một cách hiệu quả hơn
Thứ hai, bán lẻ đảm bảo sự sẵn có cho hàng hóa, dịch vụ Bằng việc bán và
lưu giữ những hàng hóa dịch vụ, nhu yếu phẩm cần thiết cho người tiêu dùng, nhà
bán lẻ sẽ đảm bảo cho việc sẵn có cho nhu cầu bất ngờ phát sinh của người tiêu dùng
trong khả năng lưu kho, dự trữ của mình
ThiNganHang.com