i MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4 1 1 Hợp đồng thương mại quốc tế 4 1 1 1 Khái niệm 4 1 1 2 Đặc điểm 8 1 1 3 Phân loại hợp đồng th[.]
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4
1.1 Hợp đồng thương mại quốc tế 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Đặc điểm 8
1.1.3 Phân loại hợp đồng thương mại quốc tế 10
1.2 Hủy hợp đồng thương mại quốc tế 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Đặc điểm 14
1.2.3 Điều kiện áp dụng hủy hợp đồng thương mại quốc tế 15
1.3 Điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế 17
CHƯƠNG 2 HỦY HỢP ĐỒNG THEO BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 22
2.1 Giới thiệu chung về Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 22
2.2 Quy định và thực tiễn hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 25
2.2.1 Các trường hợp hủy hợp đồng 26
2.2.2 Thủ tục hủy hợp đồng 41
2.2.3 Hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng 45
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 54
3.1 Một số bất cập trong quy định và thực tiễn pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế của Việt Nam 54
3.1.1 Về căn cứ hủy hợp đồng 54
ThiNganHang.com
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.1.2 Về thủ tục hủy hợp đồng 62
3.1.3 Về hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng 63
3.2 Định hướng hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về hủy hợp đồng thương mại quốc tế 65
3.3 Một số giải pháp cụ thể 70
3.3.1 Về căn cứ hủy hợp đồng 70
3.3.2 Về thủ tục hủy hợp đồng 74
3.3.3 Về hậu quả pháp lý của hủy hợp đồng 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO iii
ThiNganHang.com
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế chung của toàn cầu hóa, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế một cách toàn diện, sâu, rộng trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thương mại quốc tế Hoạt động thương mại quốc tế phát triển đồng nghĩa với việc số lượng và giá trị hợp đồng xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày một tăng lên, kèm theo đó là tính
đa dạng, phức tạp trong việc đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, khiến cho nguy cơ phát sinh tranh chấp cũng gia tăng, các bên đi đến quyết định hủy bỏ hợp đồng Thực tế, số lượng các vụ tranh chấp trong hoạt động thương mại của Việt Nam ngày một tăng Tính từ năm 1993 đến nay, VIAC đã giải quyết hơn 700 vụ tranh chấp trong lĩnh vực hợp đồng thương mại quốc tế, Tòa án kinh tế cũng ghi nhận số vụ tranh chấp về hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài trung bình mỗi năm khoảng hơn 400 vụ và có xu hướng tăng lên Cùng với đó, một kết cục phổ biến trong những tranh chấp này là hợp đồng thương mại quốc tế bị hủy bỏ, gây ra tổn hại không nhỏ cho doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thực trạng này là do kiến thức pháp lý của các thương nhân cũng như hệ thống pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế nói chung và hủy hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng còn nhiều hạn chế Tìm hiểu về chế tài hủy hợp đồng thương mại quốc tế, làm rõ bản chất, đánh giá những ưu nhược điểm trong quy định về hủy hợp đồng thương mại quốc tế là một hướng đi hợp lý lúc này giúp khắc phục được những thực trạng nói trên
Có nhiều nguồn luật điều chỉnh vấn đề hủy hợp đồng thương mại quốc tế, mỗi nguồn luật có những quy định, lý giải khác nhau Trong đó, không thể không kể đến
Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (Principles of International Commercial Contracts, viết tắt là PICC) của Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư UNIDROIT PICC là thành quả sau nhiều năm nghiên cứu với sự cộng tác của nhiều luật gia nổi tiếng nhằm đưa ra khung pháp lý chung điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế Về lý luận, nó có những quy định mang tính hiện đại, phù hợp hơn những văn bản pháp lý trước đó điều chỉnh cùng một vấn đề hợp đồng thương
ThiNganHang.com
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
mại quốc tế Cho đến nay, sau hơn hơn 20 năm kể từ ngày được ban hành, PICC đã phát huy được vai trò nhất định, được cộng đồng pháp lý và các doanh nghiệp đánh giá cao Nhiều luật sư tham khảo PICC như bộ luật mẫu để có hướng nghiên cứu, vận dụng thích hợp Các doanh nghiệp cũng đã nhìn nhận PICC như một luật chung để điều chỉnh quan hệ hợp đồng Trong bài nghiên cứu “An Empirical Study of the UNIDROIT Principles – International and British Responses” của Sarah Lake, luật sư của Pitmans LLP tại London, có chỉ ra rằng 60% doanh nghiệp tham khảo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để soạn thảo hợp đồng và 94% đánh giá Bộ Nguyên tắc rất hữu dụng Từ những đánh giá đó, có thể thấy, việc tìm hiểu Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế là điều cần thiết đối với doanh nghiệp, với các nhà làm luật trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt khi mà các quy định pháp lý của ta còn thiết sót
Đặt trong bối cảnh nhu cầu cấp thiết phải tìm hiểu chế tài hủy hợp đồng thương mại quốc tế và những đánh giá tích cực với Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng
thương mại quốc tế như trình bày ở trên, người viết đã chọn đề tài: "Hủy hợp đồng
thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam" làm đề tài khoá luận
tốt nghiệp của mình
Trên cơ sở nghiên cứu quy định về hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, đề tài hướng đến hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hủy hợp đồng thương mại quốc tế
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các quy định về hủy hợp đồng trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, trong pháp luật Việt Nam và các tranh chấp cụ thể trong thực tiễn có liên quan đến vấn đề này
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc phân tích những quy định hủy hợp đồng của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương
ThiNganHang.com
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
mại quốc tế và của pháp luật Việt Nam Về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu giới hạn từ năm 1994, khi phiên bản đầu tiên của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế ra đời cho đến nay
Muốn hiểu rõ được quy định về hủy hợp đồng thương mại quốc tế nói chung thì phải tìm kiếm, phân tích, tổng hợp thông tin từ sách, báo, các website, các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, các bài nghiên cứu liên quan tới hủy hợp đồng thương mại quốc tế Vì vậy, người viết lựa chọn phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp đối với các thông tin liên quan tới lý thuyết
Bên cạnh đó, để làm rõ những ưu, nhược điểm về quy định hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và theo pháp luật Việt Nam, người viết sẽ nghiên cứu một số án lệ và thực hiện đánh giá so sánh giữa các quy định với nhau Do đó, phương pháp bình luận án lệ, phương pháp so sánh luật học cũng được áp dụng trong Chương 2 và Chương 3 của khóa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận gồm
3 chương:
- Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hủy hợp đồng thương mại quốc tế
- Chương 2 Hủy hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế
- Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hủy hợp đồng thương mại quốc tế
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Võ Sỹ Mạnh – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và tận tình giúp đỡ em có thể hoàn thành khóa luận này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể giảng viên trường Đại học Ngoại thương đã dạy bảo và giúp em trang bị những kiến thức quý báu trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
ThiNganHang.com
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Để tìm hiểu một vấn đề trước hết cần xuất phát từ những lý luận cơ bản làm nền tảng vững chắc cho những lập luận và định hướng về sau Bởi vậy Chương 1 khóa luận sẽ đi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hủy hợp đồng thương mại quốc tế, trong đó tập trung tìm hiểu về cơ sở lý luận đối với hợp đồng thương mại quốc tế, hủy hợp đồng thương mại quốc tế và điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế Nội dung cụ thể như sau:
1.1.1 Khái niệm
Trong thực tiễn nghiên cứu về khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế có nhiều quan điểm khác nhau Việc phân tích, bình luận về tên gọi, khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế trong văn bản pháp lý cần có sự linh hoạt và gắn với bối cảnh hình thành, mục đích, phạm vi điều chỉnh của văn bản ấy
Đầu tiên, hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng Khái niệm hợp đồng được
đưa vào quy định pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới:
Theo Bộ luật dân sự Pháp năm 1804: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay
nhiều bên về việc chuyển giao vật, làm hay không làm một công việc”
Theo Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ: “Hợp đồng là khối nghĩa vụ pháp lý
phát sinh từ thỏa thuận giữa các bên theo quy định của luật này và những quy định khác có liên quan”
Theo pháp luật Trung Quốc, tại Điều 2, Luật Hợp đồng năm 1999 quy định: “Hợp
đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên của các tổ chức”
Trong pháp luật Việt Nam không có khái niệm riêng về hợp đồng, mà thay vào đó là khái niệm hợp đồng dân sự Điều 388 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định:
“Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Khái niệm này cũng có tính khái quát cao, như một khái
ThiNganHang.com
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
niệm chung, áp dụng được cho mọi loại hợp đồng chứ không giới hạn áp dụng cho hợp đồng dân sự
Từ những quy định trên có thể thấy yếu tố cơ bản nhất để hình thành nên hợp đồng là sự thỏa hiệp ý chí, hay sự ưng thuận giữa các bên với nhau trên cơ sở tự do hợp đồng trong khuôn khổ quy định của pháp luật Như vậy, hợp đồng là sự thỏa thuận, nhằm quy định quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi thực hiện một công việc, một hoạt động hoặc một hành vi nhất định nào đó phù hợp với quy định của pháp luật Tương ứng với đó, hợp đồng thương mại quốc tế trước hết là một hợp đồng nên cũng là sự thỏa thuận giữa các bên, nhằm thực hiện các hoạt động thương mại phù hợp với quy định của pháp luật
Thứ hai, hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng thương mại Hiện nay không
có một định nghĩa cụ thể thống nhất chung về hợp đồng thương mại, có thể hiểu được khái niệm này khi tìm hiểu về thuật ngữ “thương mại”
Theo pháp luật của Pháp, trong Điều 1 và 2 Bộ luật thương mại Pháp năm 2006 quy định đối tượng điều chỉnh của luật thương mại, theo đó các hoạt động được coi là hoạt động thương mại bao gồm mua bán động sản, mua bất động sản để bán lại, các hoạt động trung gian mua bán hoặc cho thuê, hoạt động đầu tư cổ phiếu, hoạt động ngân hàng, môi giới, vận tải, bảo hiểm Luật pháp của Pháp không đưa ra một tiêu chí cụ thể mà lựa chọn cách liệt kê các hoạt động thương mại, quy định như vậy tuy rõ ràng nhưng lại dễ dẫn đến thiếu sót
Theo pháp luật Nhật Bản, trong Bộ luật thương mại số 48 ngày 9/3/1899, thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận
và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt,
uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng Pháp luật Nhật Bản bên cạnh việc liệt kê các hoạt động là hoạt động thương mại còn đưa ra tiêu chí “mục đích lợi nhuận” để xác định một hợp đồng có phải hợp đồng thương mại hay không, như vậy khái niệm thương mại đã được hiểu ra rộng hơn, không bó buộc trong bất kỳ hình thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cụ thể nào
ThiNganHang.com
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Với quan điểm tương tự, theo luật Việt Nam, tính thương mại là đặc điểm cơ bản
để phân biệt loại hợp đồng này với hợp đồng dân sự Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại
Việt Nam năm 2005 giải thích: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Yếu tố trong pháp luật Việt Nam đưa ra
để xác định một hợp đồng thương mại là mục đích sinh lợi, nghĩa là hợp đồng có mục đích lợi nhuận, không đồng nghĩa phải có lợi nhuận
Trong các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới WTO, khái niệm thương mại bao gồm: thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; thương mại liên quan đến đầu
tư; thương mại quyền sở hữu trí tuệ Tức là khái niệm thương mại được phân cụ thể
thành bốn lĩnh vực rõ ràng, bất cứ hoạt động nào thuộc vào bốn lĩnh vực kể trên thì được coi là hoạt động thương mại
Trong PICC, giới hạn của từ thương mại lại không đi theo quan điểm truyền thống phân biệt đây là giao dịch “thương mại” chứ không phải giao dịch “dân sự” PICC không ép buộc các bên trong hợp đồng thương mại phải là thương nhân hay giao dịch phải bắt buộc có mục đích lợi nhuận mà từ thương mại trong PICC chỉ có mục đích loại bỏ các giao dịch với “người tiêu dùng” Theo quan điểm của PICC, khái niệm hợp đồng thương mại phải được hiểu theo một nghĩa rộng nhất có thể, không chỉ bó hẹp là hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ, mà còn có thể bao gồm nhiều hình thức giao dịch kinh tế khác như đầu tư, ủy thác, cung cấp dịch vụ chuyên môn…
Như vậy, đáp ứng với xu thế phát triển trong hoạt động kinh doanh ngày càng mở rộng, khái niệm thương mại cũng nên được hiểu theo nghĩa rộng nhất có thể, là các hoạt động không nhằm mục đích tiêu dùng Hợp đồng thương mại quốc tế cũng nên được hiểu là hợp đồng không nhằm mục đích tiêu dùng
Thứ ba, hợp đồng thương mại phải có yếu tố nước ngoài Pháp luật của quốc gia
và trên thế giới đưa ra những tiêu chí khác nhau để xác định yếu tố nước ngoài
Theo pháp luật của Pháp: để xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng thì dựa trên hai tiêu chuẩn: tiêu chuẩn kinh tế và tiêu chuẩn pháp lý Theo tiêu chuẩn kinh tế,
sự di chuyển qua biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước cấu thành nên
ThiNganHang.com
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
yếu tố nước ngoài trong hợp đồng Theo tiêu chuẩn pháp lý, căn cứ vào quốc tịch, nơi
cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán…để xác định yếu tố nước ngoài
Trong pháp luật Việt Nam, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không quy định cụ thể về yếu tố nước ngoài đối với hợp đồng thương mại mà chỉ có quy định với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – một hình thức của hợp đồng thương mại quốc tế Tại
Khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005: “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực
hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập
và chuyển khẩu” Các hoạt động này đều mang đặc điểm chung là hàng hóa được giao
qua biên giới Do đó có thể thấy việc hàng hóa phải được giao qua biên giới là một tiêu chí để xác định yếu tố nước ngoài theo luật Việt Nam
Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 có quy định:
“Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật
khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự” Do đó, đối với những hợp đồng
thương mại quốc tế mà hàng hóa không được chuyển giao qua biên giới quốc gia (như hợp đồng mua bán hàng hóa giữa một thương nhân Việt Nam với một thương nhân nước ngoài nhưng hàng hóa chỉ được chuyển dịch trong nội bộ lãnh thổ Việt Nam) hay các hợp đồng dịch vụ thì hoàn toàn có thể áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói chung để điều chỉnh Theo Điều 758 Bộ luật
dân sự năm 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất
một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân,
tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” Vậy không chỉ dựa trên tiêu chí hàng hóa được giao qua biên giới, quốc
tịch, nơi cư trú của các bên trong hợp đồng cũng là cơ sở để xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng
Về vấn đề này, PICC không có quy định trực tiếp tại điều khoản nào về tính chất
quốc tế của hợp đồng nhưng phần bình luận trong lời mở đầu có nêu rằng: “Pháp luật
ThiNganHang.com
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quốc gia và pháp luật quốc tế đã và đang đưa ra nhiều giải pháp để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng như dựa vào trụ sở hay nơi thường trú của các bên tại các quốc gia khác nhau, áp dụng những tiêu chí mang tính chất tổng quát như hợp đồng có các mối liên hệ mật thiết với hơn một quốc gia, hợp đồng đòi hỏi có sự lựa chọn giữa pháp luật của các quốc gia khác nhau, hợp đồng có ảnh hưởng đến các lợi ích trong thương mại quốc tế” Vậy là với PICC không lựa chọn cụ thể bất cứ một tiêu chí nào Theo
quan điểm của PICC thì chỉ không coi là hợp đồng không có tính quốc tế nếu nó không
có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào - nghĩa là tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia duy nhất
Ngày nay, với sự mở rộng của các quan hệ thương mại quốc tế, yếu tố nước ngoài cũng nên được hiểu theo một nghĩa rộng nhất có thể như nhận định của PICC, tức là chỉ không coi là hợp đồng không có tính quốc tế nếu nó không có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào, như vậy mới có thể bao quát toàn diện các hợp đồng thương mại quốc tế
Từ những phân tích nêu trên, một cách khái quát nhất có thể kết luận: Hợp đồng
thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên, đi đến thống nhất quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi thực hiện một hoạt động nhất định nào đó phù hợp với quy định của pháp luật, không nhằm mục đích tiêu dùng, trong đó các yếu tố cơ bản của hợp đồng
có liên quan đến hai hay nhiều quốc gia
1.1.2 Đặc điểm
Từ khái niệm của hợp đồng thương mại quốc tế, có thể thấy đặc điểm của hợp đồng thương mại quốc tế sẽ mang đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng thương mại, bên cạnh đó còn có các đặc điểm là biểu hiện của tính chất quốc tế
Trước tiên, hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên
Sự tự do ý chí trong giao kết hợp đồng được đề cao Nội dung cụ thể, các điều khoản trong hợp đồng do các bên thỏa thuận thống nhất với nhau trong khuôn khổ pháp luật Luật pháp tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên, khi thỏa thuận đạt được nó có tính chất ràng buộc đối với các bên tham gia ký kết, như là luật cao nhất điều chỉnh quan hệ các bên trong hợp đồng
ThiNganHang.com