Ngôn ngữ báo chí khác ngôn ngữ vănhọc ở điểm cơ bản là lời lẽ của nó đanh thép, đi thẳng vào vấn đề, không vòngvèo và dùng những từ dễ hiểu, sát nghĩa nhất để người đọc có thể nắm bắtđượ
Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Từ là gì ?
Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 300 định nghĩa về từ Tuy nhiên để chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản thì có thể hiểu là “ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu ” (Quan niệm của các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến) Quan niệm về từ, cách phân loại các kiểu từ hiện nay chưa có sự thống nhất.
Ngôn ngữ báo chí là gì?
Ngôn ngữ báo chí là việc dùng ngôn từ để đưa thông tin các sự kiện, tin tức báo chí tới độc giả Ngôn ngữ này thường được viết bằng ngữ câu từ đanh thép, có tính chất báo chí, lời văn nghiêm túc, lý luận sắc bén để truyền tải thông tin một cách trung thực, lập luận sắc bén nhất đến bạn đọc Ngôn ngữ báo chí thể hiện qua văn phong của người viết, cách dùng câu từ và cách đưa thông tin xác thực hay không? Một bài báo hay, ngoài nguồn thông tin độc quyền, nóng thì ngòi bút, ngôn ngữ báo chí của người viết cũng đóng vai trò quan trọng trọng việc truyền tải thông tin Một bài báo, ngôn ngữ phải chuẩn, không sai lỗi chính tả, câu cú không quá văn vẻ, mượt mà nhưng phải gãy gọn, kết thúc vấn đề gây được tiếng vang lớn, khiến độc giả quan tâm tới vấn đề được bài báo đề cập.
Nói đến báo chí, trước hết, chúng ta nghĩ ngay tới tin tức, thời sự, chính luận Vì vậy, ngôn ngữ báo chí phải đảm bảo tính chính xác, sinh động, hấp dẫn Báo chí phản ánh sự kiện, nhân vật, vấn đề phải chính xác, nhanh nhạy, đầy đủ, và đương nhiên, phải trung thực, khách quan Để đạt được các yêu cầu vừa nêu, rất cần đến tư duy, năng lực, trình độ, kỹ năng của người làm báo, trong đó có trình độ, kỹ năng về ngôn ngữ.
Ngôn ngữ báo chí luôn vận động, phát triển, sinh động, tươi mới nhưng không được phép xa lạ, “dị ứng” với mọi người Với đông đảo các thành viên trong xã hội, báo chí phải “nói”, phải “thể hiện” một ngôn ngữ thông dụng,chuẩn mực và mang tính văn hoá cao Ngôn ngữ báo chí khác ngôn ngữ văn học ở điểm cơ bản là lời lẽ của nó đanh thép, đi thẳng vào vấn đề, không vòng vèo và dùng những từ dễ hiểu, sát nghĩa nhất để người đọc có thể nắm bắt được nội dung ngay Còn ngôn ngữ văn học thì cần sự mượt mà, nhiều tầng lớp ý nghĩa ẩn trong câu chữ, khiến người đọc, đọc và phải tưởng tưởng, tự suy luận về nội dung còn ngôn ngữ báo chí thì luôn dùng những ngôn ngư thẳng thật, lý luận đanh thép, hướng thẳng đến nội dung, đối tượng cần nhắc đến.
Chuẩn mực ngôn ngữ là gì?
Chuẩn hay chuẩn ngôn ngữ là một vấn đề ngôn ngữ văn hoá Báo chí là
“món ăn tinh thần” dành cho nhiều người, ở các bối cảnh giao tiếp khác nhau. Giao tiếp xã hội đòi hỏi người nói (và người nghe) phải thận trọng, cân nhắc để đưa ra các phát ngôn phù hợp, không gây phản cảm Nếu chỉ là các câu nói dành cho một, hai (hoặc một nhóm nhỏ) thì vấn đề chuẩn mực không được đặt ra một cách quá khắt khe Nhưng trong bối cảnh đông người (hội họp, học đường, trên đài phát thanh, truyền hình, trên báo viết, báo điện tử ) thì một phát ngôn thiếu nghiêm túc, một lời nói tếu táo, nói nhịu, lỡ lời đều có thể gây hiệu ứng bất lợi, phản cảm Không ít trường hợp bị “ném đá”, bị “đấu tố” Đó là vấn đề của văn hoá giao tiếp Khi chúng ta nói văn hoá ngôn từ là chúng ta nói đến chuẩn mực, mà nói đến chuẩn mực là nói đến sự lựa chọn (lựa chọn khả năng thích hợp về từ ngữ, ngữ đoạn, câu,… trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau).Có nhiều cách hiểu về chuẩn mực ngôn ngữ Tuy nhiên những quan điểm này hầu như không có sự mâu thuẫn: Theo GS Nguyễn Văn Khang thì “ ngôn ngữ chuẩn mực có thể hiểu là biến thể ngôn ngữ đã qua chỉnh lí, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp đa dạng và phức tạp của cộng đồng nói năng để thực hiện hiện đại hoá ” GS Vũ Quang Hào cho rằng: “ Chuẩn mực ngôn ngữ được xem xét trên hai phương diện: Chuẩn mực mang tính quy ước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận và sử dụng Mặt khác chuẩn mực phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử ”.
Như vậy chuẩn ngôn ngữ phải đảm bảo tính đúng và thích hợp Chuẩn ngôn ngữ có hai điểm quan trọng:
- Chuẩn ngôn ngữ mang tính quy ước xã hội và được xã hội đó cùng chấp nhận sử dụng
- Chuẩn ngôn ngữ không mang tính ổn định Nó biến đối phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử Vì rất có thể “lỗi của ngày hôm qua trở thành chuẩn hôm nay, lỗi hôm nay sẽ là chuẩn ngày mai” (Claude Haugège)
Ngôn ngữ chuẩn phải thể hiện được các chức năng sau:
- Chức năng khung tham chiếu
Một trong những khái niệm có liên quan đến chuẩn ngôn ngữ là chuẩn hoá ngôn ngữ Chuẩn hoá là việc xác định và thực hiện các chuẩn mực ngôn ngữ vào các điều kiện cụ thể trong xử lí ngôn ngữ Chuẩn hoá ngôn ngữ là chuẩn hoá ngôn ngữ văn học Nói chung chuẩn mực ngôn ngữ văn học chủ yếu là ngôn ngữ viết Chuẩn hoá ngôn ngữ của một quốc gia nói chung là nhằm:
- Loại bỏ trở ngại giao tiếp mà do hàng loạt các lí do đã tạo ra các biến thể, gây khó khăn cho giao tiếp
- Thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của ngôn ngữ quốc gia dân tộc
- Thực hiện quá độ từ chuẩn cũ sang chuẩn mới
Chuẩn hoá ngôn ngữ đã đựơc xác định là triển khai theo hướng xã hội hoá và phát triển theo hướng dân chủ hoá Những cái không đúng, không phù hợp gọi là lệch chuẩn hoặc lỗi
Theo công trình nghiên cứu của PGS.TS Phạm Thị Hồng Vân thì chuẩn hoá từ vựng đặt ra một số vấn đề sau:
- Từ ngữ sử dụng trong văn bản phải phù hợp với phong cách của văn bản ấy
- Hiện nay nhiều người thích sử dụng những từ cổ, từ Hán Việt để gây sự chú ý Tuy nhiên do chưa hiểu kĩ nghĩa của các từ nên đã sử dụng từ sai.
Vì vậy cần phải nắm chắc nghĩa của từ để sử dụng cho đúng, phù hợp với văn cảnh
- Sử dụng từ địa phương hợp lí Nên coi một số từ địa phương là chuẩn trong các trường hợp sau:
+ Từ địa phương và từ toàn dân được dùng song song
+ Từ để gọi tên sự vật, hiện tượng chỉ có ở địa phương.
Chuẩn mực ngôn ngữ báo chí
Chuẩn mực của ngôn ngữ (từ đây gọi tắt là chuẩn ngôn ngữ) cần được xét trên hai phương diện: chuẩn phải mang tính chất quy ước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận và sử dụng Mặt khác, chuẩn phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử Từ đó khi xác định chuẩn ngôn ngữ, đặc biệt là chuẩn ngôn ngữ báo chí, thì cần phải:
+ Dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ để nắm được quy luật biến đổi và phát triển của ngôn ngữ (mà trong trường hợp của chúng ta là tiếng Việt) trên tất cả các cấp độ của nó là ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách.
Xét đến những lý do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hướng đến sự phát triển của tiếng Việt Những lý do đó là: những biến đổi lớn lao ngoài xã hội (chẳng hạn Cách mạng tháng Tám thành công, hai cuộc kháng chiến chống Pháp,chống Mỹ kết thúc thắng lợi, những cuộc sơ tán cư dân từ thành thị về nông thôn trong chiến tranh, cuộc tập kết của cư dân từ Nam xa a định Giơ-ne-vơ,các cuộc chuyển cư các nhà hoạt động chính trị xã hội có uy tín vốn lưu tâm đến sự phát triển và giữ gìn sự trong Sáng của tiếng Việt như Hỗ Chí Minh, Trường Chỉnh, Phạm Văn Đồng v , các nhà văn, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng như Ngô Tất Tố, Xuân Diệu, Thép Mới; công cuộc đổi mới đất nước và sự mở cửa cho một nền kinh tế mới v.v Những yếu tố xã hội đó dù muốn dù không đều có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc nội tại của tiếng Việt ở từng thời đại lịch sử, nó được thể hiện tức thời sâu sắc và với một tần số cao trên báo chí.
Có thể nói rằng do nhu cầu tuyên truyền cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, báo chí ngày càng để cập nhiều đến các chủ để mang tính khoa học và công nghệ Cố nhiên kéo theo đó là sự xuất hiện với tần số cao và sự đa dạng của các loại thuật ngữ khoa học Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của chúng tôi thì hiệu quả của những thuật ngữ khoa học vốn được đăng tải trên báo chí tiếng Việt những năm vừa qua đã không đạt được hiệu quả mong muốn do chỗ trong khi trình độ công chúng báo chí chưa thật cao mà tẩn số xuất hiện của thuật ngữ lại quá lớn, nhiều thuật ngữ được dùng thiếu nhất quán tạo nhiều biến thể rất khó tiếp nhận, không ít thuật ngữ thuộc các chuyên ngành hẹp vượt quá tầm hiểu biết của đại bộ phận công chúng.
II Chuẩn mực ngôn ngữ báo chí ngày nay
Thực trạng
Lâu nay chúng ta vẫn thường tự hào vì vốn tiếng Việt giàu và đẹp. Cùng với sự phát triển của đời sống văn hóa - xã hội và các lĩnh vực khác, tiếng Việt ngày càng khẳng định giá trị, bản sắc, tinh hoa và khả năng phát triển ngày càng phong phú của nó Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, ngay cả khi dân tộc đứng trước giai đoạn cam go liên quan tới vận mệnh dân tộc nhưng chưa khi nào trách nhiệm "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" bị lơ là.
Lĩnh vực thông tin đại chúng là một lĩnh vực mà tiếng Việt được sử dụng với nhiều dung lượng, mức độ cũng như sắc thái khác nhau Và điều quan trọng hơn, nó tác động mạnh mẽ, liên tục, sâu sắc tới đông đảo công chúng Nói ngôn ngữ báo chí, truyền thông là nói tới những sản phẩm ngôn ngữ được thể hiện qua các kênh như báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử
Bên cạnh những yêu cầu chung thì ngôn ngữ truyền thông cũng chứa đựng trong đó những đặc trưng riêng như chính xác, nhanh nhạy và hấp dẫn. Ngôn ngữ báo chí vì vậy luôn vận động, phát triển sinh động, tươi mới nhưng không xa lạ với con người Thậm chí nếu không muốn nói, vì sự ảnh hưởng sâu rộng của nó, một yêu cầu đặt ra với ngôn ngữ truyền thông đại chúng phải thông dụng, chuẩn mực và mang tính văn hóa.
Sự phát triển của đời sống, công nghệ thông tin đã kéo theo sự phát triển như vũ bão của các phương tiện truyền thông đại chúng Có thể thấy mặt trận truyền thông ngày càng đa dạng về chủng loại: báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, trang thông tin điện tử
Thông tin vì thế cũng đến với người đọc, người nghe và người xem nhanh hơn, đa chiều và sâu hơn Qua báo chí và qua sự phát triển của các loại hình, các cơ quan báo chí chúng ta có thể thấy sự thay đổi, mạnh mẽ, sinh động của ngôn ngữ tiếng Việt.
Các cơ quan báo chí luôn chú ý đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin, đặt tiêu đề độc đáo, sử dụng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu Tuy nhiên, cùng với sự phát triển như vũ bão của các phương tiện truyền thông ấy cũng đặt ra một yêu cầu cấp bách về việc sử dụng ngôn ngữ của những nhà báo.
Thời gian gần đây, có khá nhiều vấn đề nổi cộm liên quan đến ngôn ngữ báo chí đang được dư luận quan tâm, lo lắng Có thể tóm lược ở những vấn đề như sau:
1.1 Lỗi sử dụng từ không chính xác
Mỗi từ khi được dùng phải biểu đạt chính xác nội dung cần thể hiện,tức là nghĩa của nó phải thích hợp nhất với điều định nói Nếu người nói hay người viết không đáp ứng được yêu cầu này phat ngôn của họ sẽ trở nên khó hiểu hoặc bị sai Nhìn chung, hiện tượng này thường gặp ở những trường hợp sau đây:
+ Do người viết không nắm được nghĩa của từ, nhất là các từ Hán Việt, các thuật ngữ khoa học
+ Do người viết nhầm lẫn các từ gần âm gần nghĩa với nhau
+ Do ngưòi viết muốn sáng tạo từ mới nhưng lại không có dấu hiệu hình thức để đánh dấu, khiến ngưòi đọc dễ hiểu sai vấn đề
" Hàng ngày, cô bé học trò ấy ngoài việc tham gia các chương trình người mẫu thời trang âm nhạc, còn đánh đàn pianô kiếm ăn ở khách sạn Ômni, Tân Thế Giới ".
(3 giai thoại đặc biệt về nữ thiên tài âm nhạcLeopold, đăng tải ngày 20/1/2020, Báo Tuổi trẻ) Đây là câu văn được trích từ bài báo có giọng điệu trang trọng ca ngợi tài năng của một nữ nghệ sỹ dương càm trẻ tuổi đầy triên vọng, vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả và có điều kiện học hành đến nơi đến chốn.
Vì thế từ " kiếm ăn " - một từ thuộc phong cách khẩu ngữ chỉ dùng trong hoàn cảnh giao tiếp suồng sã, thân mật - khó mà có thể chấp nhận được Sẽ là hợp lý hơn nếu thay nó bằng " để tăng thu nhập cho gia đình " hay " để có thu nhập riêng, giúp đỡ bó mẹ "
" Hy vọng rằng bài hát này sẽ gợi nhắc các anh nhớ tới những kỷ niệm trong những ngày “làm lính "”.
(Ký ức về ngày 30/4 qua lời kể của những người lính,30/4/2020, Trang tin HaGiang TV.vn)
Nếu đây là hoàn cảnh giao tiếp thân mật, gần gũi, trong một phạm vi hẹp thì rất có thể cụm từ " làm lính " sẽ chăng làm ai phải bận tâm Nhưng câu nói trên lại thuộc về một người dân chương trình truyền hình trong buôi giao lưu giữa các nghệ sỳ với các chiến sỹ hải quân, vì thế cần phải thay nó bằng một cụm từ khác trang trọng hơn, chăng hạn: " Hy vọng bài hát này sẽ gợi nhắc các anh nhớ về những kỷ niệm của những ngày phục vụ trong quân ngũ
"Hàn Mặc Tử mặc dù bị hủi về thể xác nhưng tâm hồn dứt khoát không chịu hủi cho ”.
(Hàn Mặc Tử và chứng phong kỳ lạ, 21/5/2018, Báo VN Express)
Khó có thể hình dung được rằng câu văn trên lại là câu văn mở đầu một bài báo ca ngợi thân thế và sự nghiệp nhà thơ Hàn Mặc Tử nhân dịp kỷ niệm
90 năm ngày sinh của ông Từ " hủi " và cụm từ " tâm hồn dứt khoát không chịu hủi cho " đã tạo cảm giác là tác giả đang giao tiếp trong một tình huống không mang tính chính thức xã hội, và do vậy, sự ca ngợi đối với nhà thơ mang một sắc thái mia mai, bỡn cợt Theo chúng tôi, nên thay câu trên bằng
"- Hàn Mặc Tử mặc dù bị bệnh nặng về thể xác nhưng tâm hồn ông vẫn luôn ngập tràn cảm hứng sáng tạo ".
1.2 Lỗi sử dụng từ sai phong cách
Dùng từ sai phong cách nghĩa là dùng từ không hợp văn cảnh, hoàn cảnh tiếp không theo nghi thức Hoàn cảnh giao tiếp theo nghi thức đòi hỏi ngôn ngữ được sử dụng trong đó phải trang trọng, nghiêm túc, hoàn chỉnh, có tính gọt giũa Còn hoàn cảnh giao tiếp không theo nghi thức (còn gọi là hoàn cảnh giao tiếp thân mật, không mang tính chính thức xã hội) cho phép dùng ngôn từ tự do, thoải mái (thậm chí tuỳ tiện) Nếu người nói người viết không nắm vững điều này thì anh ta dễ dàng mắc lỗi phong cách So với các kiểu lỗi khác, kiểu lỗi này nghiêm trọng hơn ở chỗ là nó ít nhất cũng phá vỡ tính thống nhất trong giọng điệu chung của toàn văn bản ấy là còn chưa kể đến những băn khoăn khó tránh khỏi của người đọc, người nghe về tầm vóc văn hoá của chủ thể phát ngôn
Nguyên nhân
Trong cuộc chạy đua, cạnh tranh thông tin của báo chí hiện nay, để đáp ứng hai yêu cầu sống còn là nhanh và chính xác thì việc xác định nguồn tin và những thông tin nhạy cảm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thế nhưng, việc xác định thế nào là thông tin nhạy cảm thật sự không đơn giản trong bối cảnh xã hội không ngừng biến động hiện nay Thực tế, có những thông tin nếu đăng ngay sẽ phản tác dụng nhưng nếu có một khoảng lùi nhất định sẽ có tác động tích cực Tuy nhiên, thông tin đúng đắn hay không đều khởi nguồn từ cách tiếp cận, lựa chọn, xử lý của mỗi phóng viên và mỗi tòa soạn Cùng một sự kiện, nếu chú tâm khai thác những mặt tích cực sẽ mang đến cho bạn đọc những cái nhìn lạc quan trong cuộc sống và ngược lại Do vậy, tiếp cận, xử lý thông tin không chỉ cần sự thông minh, nhạy cảm mà còn cần thể hiện bản lĩnh của người làm báo Tuy nhiên, các cơ quan chức năng cũng cần có sự điều chỉnh trong việc cung cấp thông tin cho báo chí để bảo đảm tính chính xác nguồn tin, tránh những hệ lụy không đáng có.
Một vấn đề nữa là ở nước ta, nhiều lúc ranh giới giữa báo chính thống và "lá cải" đã bị xóa nhòa, do vậy việc phân định hai tính chất này là hết sức cần thiết để định hướng việc tiếp cận thông tin cho độc giả Việc này, báo chí nhiều nước đã làm, thậm chí người ta đưa ra lời cảnh báo để bạn đọc lựa chọn trước khi tiếp cận thông tin Làng báo nước ta đã có nhiều cuộc bàn thảo và có rất nhiều ý kiến khác nhau về hiện tượng phát triển "nóng" của các mạng
"lá cải", báo "lá cải" và xu hướng "lá cải hóa" thông tin của một số báo Có người cho rằng: Báo chính thống giống như bữa ăn chính, báo "lá cải" như thứ quà vặt Quà vặt đem lại thú vui cho nhiều người nhưng không thể thay thế bữa ăn chính Theo quan điểm này, báo "lá cải" vẫn có chỗ đứng bên cạnh dòng báo chí chính thống trong một xã hội hiện đại Đúng sai thế nào khoan bàn đến, bởi dù có như vậy thì cũng không thể chấp nhận việc "tầm thường hóa thông tin" chạy theo nhu cầu tha hóa của một bộ phận độc giả, làm phương hại đến lợi ích cộng đồng Tác phẩm báo chí nhiều khi có giá trị như một căn cứ pháp lý đồng thời có tác dụng phản biện xã hội Nếu không tính tới tác động xã hội, thông tin báo chí đưa ra có thể tác động tiêu cực đến lợi ích cộng đồng Do vậy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, báo chí, truyền thông cũng cần giữ vững vai trò định hướng dư luận, hướng tới mục đích lành mạnh hóa đời sống xã hội Một điều nữa, mỗi nhà báo trước hết là một công dân, do vậy cần đặt trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội lên trên hết để xử lý thông tin một cách thấu đáo, biện chứng và nhân văn Đổi mới để hấp dẫn độc giả là nhu cầu khách quan cũng là đòi hỏi tất yếu của mỗi tờ báo Thế nhưng đổi mới từ đâu, đổi mới như thế nào để giữ vững tôn chỉ, mục đích, tính chiến đấu của báo chí cách mạng và phát huy hiệu quả công nghệ, kỹ năng truyền thông hiện đại lại luôn là một câu hỏi lớn.Bác Hồ - người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam căn dặn người làm báo:Viết cái gì? Viết cho ai? Viết như thế nào? Mỗi dòng tin, mỗi bài báo, mỗi hình ảnh đều là những thông điệp gửi tới bạn đọc, do vậy, người làm báo luôn mang trên mình một trách nhiệm xã hội nặng nề Trách nhiệm ấy đòi hỏi mỗi người làm báo phải có một tư duy đúng, một định hướng đúng, một bản lĩnh chính trị vững vàng.
Hậu quả của việc tồn tại các lỗi về từ trên báo chí
Đối với bài báo: các lỗi dùng từ sai nghĩa, sai kết hợp sẽ làm cho câu văn tối nghĩa, khó hiểu Còn lỗi dùng từ sai phong cách sẽ làm cho từ đó câu đó trở nên không phù hợp khi đặt trong văn bản mà đôi khi tạo nên sự lố bịch. Lỗi lặp từ thừa từ thì làm cho đoạn văn bài báo trở nên lủng củng hết sức diễn đạt dài dòng gây nhàm chán Đối với với độc giả (người tiếp nhận): Các lỗi về từ như chúng tôi đã khảo sát ở trên sẽ gây khó khăn cho quá trình tiếp nhận văn bản của độc giả.
Họ sẽ phải đọc đi đọc lại nhiều lần để hiểu xem thực sự tác giả ở đây muốn nói điều gì và như thế rất mất thời gian Đôi khi đọc đi đọc lại nhiều lần mà độc giả vẫn không hiểu Hơn nữa các phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng rất lớn đến công chúng vì thế những lỗi về từ trên sẽ vô cùng tai hại nếu bị hiểu sai hoặc hiểu không đúng dẫn đến việc truyền đạt thông tin sai lạc.
Mà truyền thông đã truyền đi thì sẽ khó sửa lại Đối với tác giả (người sáng tạo): Các lỗi về từ hẳn là ngoài mong muốn của họ Mục đích của họ chỉ muốn truyền đạt cho công chúng những điều mình muốn nói một cách rõ ràng nhất Vì thế mà khi trong bài viết của họ mắc lỗi thì việc truyền đạt thông tin dường như đã thất bại một phần Việc này cũng phần nào ảnh hưởng đến uy tín của ngòi bút phóng viên Đối với chính tờ báo đó: Các lỗi về từ cùng với các lỗi khác sẽ làm cho bài báo trở nên lủng củng, khó hiểu đối với quá trình tiếp thu của bạn đọc Nếu việc này xảy ra nhiều sẽ ảnh hưởng tới niềm tin của bạn đọc với tờ báo Vì thế mà đôi lúc làm mất uy tín của tờ báo làm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ báo và doanh thu của tờ báo.
Một số giải pháp, đề xuất nhằm khắc phục lỗi về từ
Báo chí với vai trò là người đưa thông tin bằng ngôn từ thì việc sử dụng cần phải cẩn trọng Vì thế, báo chí cần đi đầu trong chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Ngôn từ báo chí cần những tiêu chí chuẩn mực (không thể phóng khoáng, bay bổng như văn chương, không thể suồng sã như văn nói) Người viết báo cần ý thức được việc rèn luyện ngôn ngữ, nói đúng, viết đúng, đúng nghĩa, đúng chuẩn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất chú trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và làm cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn Người cho rằng việc dùng đúng từ, đúng lúc, đúng nơi, đúng đối tượng và gọi đúng tên sự vật hiện tượng ngoài thể hiện trình độ, đó còn là vấn đề đạo đức và ý thức tự tôn ngôn ngữ tiếng Việt, tự tôn dân tộc: “Tiếng ta còn thiếu, nên nhiều lúc phải mượn tiếng nước khác, nhất là tiếng Trung Quốc Nhưng phải có chừng có mực Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta”, “Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm Nhưng chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu ”.
Một số giải pháp được đưa ra như sau:
Người viết báo cần ý thức rèn luyện nói đúng, viết đúng, đúng nghĩa, đúng chuẩn
Báo chí với vai trò là người đưa thông tin bằng ngôn từ thì việc sử dụng cần phải cẩn trọng Vì thế, báo chí cần đi đầu trong chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Ngôn từ báo chí cần những tiêu chí chuẩn mực (không thể phóng khoáng, bay bổng như văn chương, không thể suồng sã như văn nói) Người viết báo cần ý thức được việc rèn luyện ngôn ngữ, nói đúng, viết đúng, đúng nghĩa, đúng chuẩn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất chú trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và làm cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn Người cho rằng việc dùng đúng từ, đúng lúc, đúng nơi, đúng đối tượng và gọi đúng tên sự vật hiện tượng ngoài thể hiện trình độ, đó còn là vấn đề đạo đức và ý thức tự tôn ngôn ngữ tiếng Việt, tự tôn dân tộc: “Tiếng ta còn thiếu, nên nhiều lúc phải mượn tiếng nước khác, nhất là tiếng Trung Quốc Nhưng phải có chừng có mực Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta”, “Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm Nhưng chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu ”.
Cần có cuộc vận động đẩy lùi cách dùng tiếng Việt méo mó
Một khi hiện tượng chưa coi trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đã trở thành nếp sống “mang tính quần chúng” thì những lời hô hào, khuyên bảo, chê trách, nhặt sạn trên mặt báo là đáng quý song không mang lại hiệu quả cao.
Cần phải có một cuộc vận động rộng lớn “mang tính quần chúng”, theo quan điểm sử dụng, phát triển tiếng Việt đúng hướng, không phải bằng cấm đoán mà thông qua phản biện, thuyết phục, phân tích có lý có tình, kèm theo một số ràng buộc nghiệp vụ ngay tại cơ sở, tức là tại cơ quan báo chí, thì mới hy vọng sau một thời gian sửa chữa những chỗ chưa hợp lý, đẩy lùi cách dùng tiếng Việt méo mó, phản cảm.
Người có sứ mệnh tổ chức, chủ trì điều hành cuộc vận động có ý nghĩa cao cả ấy, theo thiển nghĩ của chúng tôi, không ai khác một Ban tổ chức bao gồm Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Ngôn ngữ Việt Nam, một số cơ quan thông tin đại chúng hàng đầu của đất nước, cùng những cơ quan Nhà nước trực tiếp liên quan Cuộc vận động được triển khai với sự đồng tình vào cuộc của cả hệ thống báo chí, truyền thông, bao gồm truyền thông xã hội của chúng ta chắc chắn sẽ thành công.
Nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò to lớn của tiếng Việt trên báo chí
Trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin, các cơ quan báo chí, mỗi nhà báo cần nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò to lớn của tiếng Việt trên báo chí và các phương tiện truyền thông nói chung Cần coi việc học tập, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng tiếng Việt trên báo chí là một tiêu chí phấn đấu về nghề nghiệp, là bổn phận và nghĩa vụ công dân, là trách nhiệm xã hội của người làm báo Các cơ quan báo chí cần có cơ chế và chính sách cụ thể và đủ mạnh đối với phóng viên, biên tập viên trong việc dùng tiếng Việt trên báo chí, nhằm khuyến khích người có sáng tạo và nhắc nhở, xử phạt đối với người coi nhẹ, người vi phạm hoặc người làm hỏng tiếng Việt, gây hậu quả xấu cho báo chí Nâng cao hơn nữa vai trò của các cấp Hội Nhà báo Việt Nam trong việc góp phần giữ gìn sự trong sáng và bản sắc tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông đại chúng; coi việc bồi dưỡng nghiệp vụ nhận thức và kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho hội viên - phóng viên, biên tập viên, là một chỉ tiêu bắt buộc và thường xuyên hằng năm. Ở cấp độ quốc gia, cần có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Hội Nhà báo Việt Nam với Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo về ngôn ngữ và báo chí, với các cơ quan báo chí hàng đầu, có sức ảnh hưởng lớn về tiếng Việt trong công chúng Từ sự phối hợp này, sẽ nghiên cứu, đề xuất để Nhà nước ban hành những chuẩn mực tiếng Việt trên báo chí (Thí dụ: chuẩn mực viết tắt, chuẩn mực phiên âm tiếng nước ngoài, chuẩn mực phiên âm tiếng dân tộc thiểu số, v.v ).
Cần ban hành luật về tiếng Việt Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về vấn đề “ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt”, quy định tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức và chữ quốc ngữ truyền thống là chữ viết chính thức của quốc gia; đồng thời tạo hành lang pháp lý cần thiết cho việc giữ gìn, bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, Quốc hội cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật về ngôn ngữ và chữ viết, có thể dưới hình thức pháp lệnh hoặc luật (Thí dụ: luật về tiếng Việt, luật ngôn ngữ, luật chính tả ). Để thực hiện đầy đủ chức năng quản lý Nhà nước, Chính phủ cần giao cho một cơ quan cấp bộ phụ trách về vấn đề ngôn ngữ và chữ viết; vừa làm nhiệm vụ nghiên cứu, vừa có chức năng trọng tài, tư vấn để giúp Chính phủ giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ của đất nước Cần tăng cường lực lượng thanh tra chuyên ngành báo chí, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý chuyên ngành báo chí ở Trung ương và địa phương, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và điều kiện làm việc bảo đảm thực thi công tác quản lý nhà nước đạt hiệu quả Nghiên cứu và ban hành những quy định có tính chế tài trong xử phạt vi phạm các chuẩn mực của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Kiên quyết loại bỏ những chương trình phát sóng trên truyền hình không bảo đảm chất lượng, vi phạm chuẩn mực ngôn ngữ và trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Khắc phục trên trình bài viết trong quá trình biên tập và xuất bản Khắc phục lỗi dùng từ sai nghĩa Để khắc phục lỗi này thì chỉ có một cách là người viết phải cẩn thận khi sử dụng những từ mà mình chưa nắm rõ nghĩa nhất là từ Hán Việt thì phải tra từ điển để hiểu rõ nghĩa xem có đúng với ý định muốn viết của mình không rồi mới viết vào bài.
Còn đối với nhà biên tập khi gặp lỗi này thì cũng không thể tuỳ tiện sử được mà phải dựa vào từ điển nếu thấy sai thì có thể thay bằng từ khác nhưng phải chú ý đến sắc thái nghĩa phải tương ứng Đối với trường hợp dùng từ chuyển nghĩa thì tác giả nên có dấu hiệu hình thức để cho người đọc dễ nhận biết Đó là dấu ngoặc kép Khắc phục lỗi dùng từ sai kết hợp thì người viết và nhà biên tập phải đọc lại nhiều lần nếu thấy kết hợp là không thuận tai thì phải kiểm tra lại và sửa lại sao cho thuận tai, và phù hợp với cách nói cách diễn đạt của người Việt.
Dùng từ sai phong cách: Khi viết tác giả phải nắm vững phong cách mình đang viết là phong cách báo chí nên tránh dùng các từ thuộc phong cách khẩu ngữ và phải sử dụng từ ngữ sao cho phù hợp với văn cảnh Còn nhà biên tập thì phải căn cứ vào phong cách chức năng của bài, văn cảnh xuất hiện từ đó trongg tờ báo đó để sửa.
Lỗi lặp từ, thừa từ: Đối với lỗi này thì người viết hoặc người biên tập phải đọc lại nhiều lần sau khi phát hiện lỗi thì phải bỏ những từ thừa Còn đối với các từ lặp thì có thể bỏ nếu được, nếu không ta có thể thay thế bằng cách gọi khác đồng sở chỉ hoặc bằng đại từ Đối với lỗi thiếu từ: để phát hiện lỗi này không khó vì có những cụm từ và những cụm từ và những từ nhất thiết nó phải đi với một số hư từ hay một bộ phận nào đó kèm theo Đọc lên khi thiếu ta sẽ dễ phát hiện ra Vì thế nhà biên tập chỉ cần phát hiện ra thiếu gì rồi điền thêm vào Còn việc dùng từ địa phương: Không nên dùng từ địa phương trong bài còn nếu muốn dùng để tăng sắc thái nghĩa địa phương thì người viết nên mở ngoặc kép ra từ đó ở tiếng toàn dân là gì.
Hiện tượng tạo các kết hợp từ mới có kết hợp chấp nhận được thì nên để còn kết hợp nào phi lý không phù hợp với tiếng Việt thì phải bỏ.
Ngoài ra ta cũng có thể lấy ý kiến của bạn đọc về vấn đề này và từ đó rút kinh nghiệm để sữa chữa Đưa ra các câu hỏi để trưng cầu ý kiến như bạn có thấy dễ hiểu khi đọc các bài viết không và nếu khó hiểu thì ở chỗ nào ở bài nào.