Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2023
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9.34.04.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 GS.TS Đinh Văn Tiến
2 TS Lê Anh Xuân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tư liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2023
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận án “Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam”, trước hết tác giả luận án xin đặc biệt cảm ơn hai người hướng dẫn khoa học là GS.TS Đinh Văn Tiến và TS Lê Anh Xuân đã luôn quan tâm, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
về nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình thực hiện luận
án này
Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn tới Ban Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học, Khoa QLNN về đô thị, cán bộ, công chức, viên chức cùng các tổ chức (Sở Kế hoạch – Đầu tư Hà Nội; Sở Xây dựng Hà Nội; Cục Quản lý Nhà và Thị trường Bất động sản) đã giúp đỡ tận tình, tham gia ý kiến đóng góp, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tác giả thực hiện nghiên cứu
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người thân yêu nhất, bạn
bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, chia sẻ, tạo điều kiện tốt nhất giúp tác giả vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
Do những điều kiện chủ quan và khách quan, chắc chắn kết quả nghiên cứu của luận án vẫn còn những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp để giúp cho Luận án được hoàn thiện hơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2023
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Thảo
Trang 5QLN & TTBĐS Quản lý nhà và thị trường bất động sản
ĐT, BD Đào tạo, bồi dưỡng
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các hình thức cho thuê nhà ở tại Hàn Quốc 68
Bảng 3.1 Tỷ lệ các loại nhà theo Thành thị - Nông thôn; các vùng KT-XH 79
Bảng 3.2 Tỷ lệ hộ có nhà ở theo loại nhà 2019 79
Bảng 3.3 Tổng số nhà ở hoàn thành trong các năm 2018, 2019, 2020 80
Bảng 3.4 Tỷ lệ hộ có nhà ở theo diện tích nhà ở bình quân đầu người 81
Bảng 3.5 Tỷ lệ hộ có nhà ở theo năm đưa vào sử dụng của ngôi nhà/căn hộ 82
Bảng 3.6 Tỷ lệ hộ có kế hoạch mua nhà/căn hộ 82
Bảng 3.7 Ban hành và tổ chức thực hiện VBPL về quản lý NƠ ĐT hiện hành từ 2014 - 2022 84
Bảng 3.8 Số dự án NƠ XH tại đô thị, nhà ở công nhân KCN đã hoàn thành 95
Bảng 3.9 Quỹ nhà ở công vụ cả nước 2019, 2021 105
Bảng 3.10 Lượng giao dịch căn hộ chung cư, nhà ở riêng lẻ 2021 110
Bảng 3.11 Số lượng các dự án phát triển NƠ ĐT được cấp phép, đang triển khai, đã hoàn thành trên cả nước qua các năm 2020 – 2022 112
Bảng 3.12 Số liệu về dư nợ tín dụng bất động sản qua các năm 2019 – 2021 113
Bảng 3.13 Số liệu thống kê về vốn đầu tư nước ngoài từ năm 2019 - 2021 114
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Hình 3.1 Tỷ lệ hộ có nhà ở theo hình thức sở hữu……… 77
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ hộ ở trong nhà thuê/mượn, 2009 – 2019……….78
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về nhà ở đô thị nước ta 101
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 10
1.1.1 Các nghiên cứu về nhà ở đô thị 10
1.1.2 Các nghiên cứu quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 17
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án 21
1.2.1 Các nghiên cứu trong nước về nhà ở đô thị 21
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 25
1.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu 31
1.3.1 Những vấn đề đã dược giải quyết 32
1.3.2 Những “Khoảng trống” trong nghiên cứu 33
1.4 Định hướng nghiên cứu của đề tài luận án 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Chương 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ 36
2.1 Khái quát về nhà ở đô thị 36
2.1.1 Đô thị 36
2.1.2 Nhà ở đô thị 36
2.1.3 Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 39
2.2 Nội dung quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 44
2.2.1 Xây dựng, ban hành thể chế, chính sách quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 46
Trang 82.2.2 Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà
nước về nhà ở đô thị 50
2.2.3 Quản lý, kiểm soát việc sở hữu, xây dựng và kinh doanh phát triển nhà ở đô thị 53
2.2.4 Huy động nguồn lực đầu tư, phát triển nhà ở đô thị 55
2.2.5 Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tranh chấp, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực nhà ở đô thị 56
2.2.6 Xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về nhà ở đô thị 57
2.2.7 Hợp tác quốc tế về quản lý, phát triển nhà ở đô thị 57
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 58
2.3.1 Yếu tố khách quan 58
2.3.2 Yếu tố chủ quan 61
2.4 Kinh nghiệm quản lý nhà ở đô thị của một số quốc gia và những giá trị tham khảo cho Việt Nam 65
2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà ở đô thị của một số quốc gia 65
2.4.2 Những giá trị tham khảo cho Việt Nam 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM 77
3.1 Khái quát về nhà ở đô thị tại Việt Nam 77
3.1.1 Tình trạng sở hữu nhà ở đô thị 77
3.1.2 Loại nhà ở 78
3.1.3 Số lượng nhà ở đô thị 80
3.1.4 Giá nhà ở 80
3.1.5 Chất lượng nhà ở đô thị 81
3.1.6 Mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân về nhà ở đô thị 82
3.2 Thực trạng quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam hiện nay 84
3.2.1 Xây dựng, ban hành thể chế, chính sách quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 84
3.2.2 Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà
Trang 93.2.3 Quản lý, kiểm soát việc sở hữu, xây dựng và kinh doanh phát triển nhà ở đô
thị 104
3.2.4 Huy động nguồn lực đầu tư, phát triển nhà ở đô thị 110
3.2.5 Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tranh chấp, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực nhà ở đô thị 116
3.2.6 Xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về nhà ở đô thị 117 3.2.7 Hợp tác quốc tế về quản lý, phát triển nhà ở đô thị 119
3.3 Những ưu điểm và hạn chế trong quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam hiện nay 120
3.3.1 Ưu điểm 120
3.3.2 Hạn chế 121
3.3.3 Nguyên nhân hạn chế 125
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 129
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM 130
4.1 Bối cảnh kinh tế – xã hội và dự báo nhu cầu nhà ở đô thị trong thời gian tới năm 2030 130
4.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội quốc tế, trong nước 130
4.1.2 Dự báo nhu cầu về nhà ở đô thị trong thời gian tới năm 2030 131
4.2 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 132
4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam 135
4.3.1 Giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 135 4.3.2 Giải pháp kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 140
4.3.3 Giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 143
4.3.4 Giải pháp tăng cường huy động nguồn lực phát triển nhà ở đô thị 146
4.3.5 Giải pháp đẩy mạnh thanh, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước về nhà ở đô thị 149
4.3.6 Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản 152
Trang 104.3.7 Giải pháp tăng cường quản lý, kiểm soát việc sở hữu, xây dựng, kinh doanh
nhà ở đô thị 154
4.3.8 Giải pháp xây dựng các quy định đặc thù về nhà ở đối với các đô thị lớn 156
4.4 Một số khuyến nghị 156
4.4.1 Khuyến nghị với Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội 156
4.4.2 Khuyến nghị với Chính phủ, Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan 156
4.3.3 Khuyến nghị với UBND cấp tỉnh 158
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 159
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
PHẦN PHỤ LỤC 172
MẪU SỐ 1 PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG "QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM" (DÀNH CHO NGƯỜI DÂN SINH SỐNG TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ) 173
KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN SINH SỐNG TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ 178
MẪU SỐ 2 PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG "QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM" (DÀNH CHO CB, CC QUẢN LÝ) 187
KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐỐI VỚI CB, CC QUẢN LÝ 192
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp nhân dân, là tiền
đề có vai trò quan trọng góp phần nâng cao mức sống của người dân, ổn định xã hội, góp phần tích cực vào xây dựng và phát triển đất nước Tháp nhu cầu của Maslow đã xác định nhu cầu về nhà ở nằm trong tầng thứ nhất của tháp, để khẳng định đây là một trong những nhu cầu thiết yếu, phải được đảm bảo cho mỗi con người Việc thỏa mãn nhu cầu nhà ở của con người được đáp ứng bằng nhiều hình thức khác nhau trong đó có việc tự xây dựng nhà để ở hay thông qua việc mua bán Nhà ở cung cấp
“nền tảng cơ bản” giúp cho con người sống và duy trì các hoạt động xã hội và hoạt động thể chất Nhà ở đô thị (NƠ ĐT) là điều kiện vật chất trọng yếu để phát triển kinh
tế đô thị; để tái sản xuất sức lao động đô thị; ảnh hưởng tới sinh hoạt xã hội và điều chỉnh quan hệ xã hội trong đô thị Sở hữu nhà là một “quyền con người”; không chính
phủ nào có thể bỏ qua quyền quan trọng này của các công dân Tuyên ngôn toàn cầu
về Nhân quyền năm 1948 và Công ước Quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 ghi nhận rằng “Quyền có chỗ ở phù hợp” là một trong những quyền cơ bản của con người Các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận trong Hiến pháp và khẳng định Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cho người dân có chỗ ở phù hợp với khả năng chi trả [129, tr 15]
Ở tất cả các nước trên thế giới, phát triển con người luôn đi cùng với phát triển
đô thị Đô thị hóa đến từ các hoạt động của con người để tạo ra môi trường tốt hơn cho sự sống của con người Việc đầu tư mở rộng nhà ở là biểu tượng của sự phát triển
đô thị vì nhà ở là cơ sở nền tảng cần thiết cho sự phát triển xã hội và kinh tế cho tất
cả mọi người Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối tương quan cao giữa tỷ lệ có nhà ở của người dân với trình độ phát triển kinh tế, ổn định xã hội và trình độ văn hóa, mức sống của người dân đô thị [110, tr 35] Với sự tăng trưởng nhanh chóng của các đô thị, ngày càng nhiều người chuyển đến các khu đô thị này và hệ quả của quá trình di cư là sự gia tăng dân số tại các đô thị, nhu cầu nhà ở tăng cao Các hộ gia đình có khả năng trở thành vô gia cư vì họ gặp khó khăn khi tìm nhà ở Nếu tình trạng
Trang 12các hộ gia đình vô gia cư trở nên tồi tệ hơn, đô thị không thể phát triẻn ổn định Để giữ sự ổn định và sự phát triển bền vững của đô thị, chính quyền phải can thiệp để đảm bảo mọi người dân đều có chỗ ở tại đô thị
Việt Nam là quốc gia có tốc độ đô thị hoá nhanh (Tỷ lệ đô thị hóa tăng nhanh
từ 19,6% lên khoảng 39,3% năm 2020, 2021 – 40,4%; mục tiêu đến 2025 là 45%,
2030 là 50%) Hơn nữa, mật độ dân số ở các đô thị lớn tăng cao trong quá trình đô thị hóa (Năm 2020, dân số của nước ta là 97,58 triệu người, trong đó dân số thành thị
là 35,93 triệu người, chiếm 36,82% tổng dân số, tăng 6% so với năm 2010) Nguyên
do là sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, do việc hình thành các khu công nghiệp mới tập trung cùng với làn sóng di cư ngày càng mạnh mẽ từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị chủ yếu để học tập và làm việc nên nhu cầu về nhà ở của người dân tại đô thị liên tục tăng cao [ 94]
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân, đã
có nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến nhà ở được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển nhà ở và chăm lo chỗ ở cho người dân Hiến pháp (1980) đã khẳng định“công dân có quyền có nhà ở Nhà nước mở rộng việc xây dựng nhà ở, đồng thời khuyến khích, giúp đỡ tập thể và công dân xây dựng nhà ở theo quy hoạch chung, nhằm thực hiện từng bước quyền đó Việc phân phối diện tích nhà ở do Nhà nước quản lý phải công bằng, hợp lý” Luật Nhà ở đầu tiên năm 1991 ra đời, trong đó quy định rằng mọi công dân Việt Nam đều có quyền hợp pháp và chính đáng trong việc mua nhà Tuyên
bố này được khẳng định lại trong Chiến lược Phát triển Nhà ở Quốc gia năm 2011, trong đó chỉ rõ: "Quyền cơ bản của con người là có một chỗ ở phù hợp và an toàn Nhu cầu nhà ở chính đáng này là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như là một phần của công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa Việt Nam." Hiến pháp (2013) nhất quán định hướng: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp”, “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở ”,
và Nhà nước phải “có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở” Định hướng định này thể hiện trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020: “…Có chính sách để phát triển mạnh nhà ở cho nhân dân, nhất là cho các đối
Trang 13quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 khẳng định: “Có chỗ ở thích hợp và an toàn là một trong những quyền cơ bản, là điều kiện cần thiết để phát triển con người…Nhà nước ban hành chính sách thúc đẩy thị trường nhà ở phát triển, đồng thời
có chính sách để hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở ” [31] Khẳng định quan điểm nhất quán này, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030 nêu “…từng bước nâng cao chất lượng phát triển đô thị cả về kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng, kiến trúc, nhà ở, chất lượng sống của người dân…Giải quyết cơ bản yêu cầu về nhà ở cho cư dân
đô thị, mở rộng các loại hình nhà ở; có chính sách hỗ trợ đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội Đến năm 2030, phấn đấu đạt 30m2 sàn nhà ở bình quân đầu người” Hiện nay, Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với quan điểm: “Có chỗ ở thích hợp và an toàn là một trong những quyền cơ bản, là điều kiện cần thiết để phát triển con người một cách toàn diện, đồng thời là nhân tố quyết định để phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước Phát triển nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân Phát triển nhà ở là một trong những nội dung quan trọng của chính sách phát triển kinh tế - xã hội
…bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại Phát triển
đa dạng các loại hình nhà ở, chú trọng phát triển nhà ở xã hội, nhà chung cư, nhà cho thuê, nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp, nhằm giải quyết cơ bản yêu cầu về nhà ở cho người dân đặc biệt tại khu vực đô thị…” [37] Nghị quyết số 06-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị “về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững
đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” chỉ rõ, bố trí nguồn lực và triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với một trong các mục tiêu tổng quát là: “…bảo đảm đáp ứng
cơ bản nhu cầu về nhà ở và hạ tầng xã hội cho cư dân đô thị.”
Cùng với tiến trình lịch sử, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, NƠ ĐT luôn có
xu hướng mở rộng và gia tăng về số lượng, chất lượng NƠ ĐT nhiều hơn, đa dạng
về kiểu cách, hình dáng, chất lượng hơn, nhiều nhà kiên cố được xây dựng, bộ mặt
đô thị khang trang hơn Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế: do dân cư tăng quá nhanh nên nhu cầu về nhà ở không được đáp ứng đầy đủ dẫn tới thiếu nhà
Trang 14ở; chất lượng nhà ở một số nơi còn quá thấp; tình trạng xây nhà trái phép, không phép, lấn chiếm đất công vẫn còn diễn ra; công tác QLNN về NƠ ĐT hiện nay còn nhiều bất cập, hiệu lực, hiệu quả còn thấp,… Đặc biệt là những người lao động trẻ có mức thu nhập còn rất thấp, chưa tự giải quyết được nhu cầu về nhà ở Theo thống kê của Bộ xây dựng, khoảng 1/3 cư dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh gặp khó khăn về nhà ở, trong đó 90% người trong lứa tuổi 18 - 35 không có nhà Cũng theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy nước ta vẫn còn 1.244
hộ không có nhà để ở, gần 195 nghìn hộ dân đang sống trong các căn nhà khá đơn sơ được xây dựng lâu đời Điều này cho thấy vẫn còn khá nhiều hộ còn phải sống trong các ngôi nhà có chất lượng kém, tuổi thọ quá dài so với quy định [93] Điều này đỏi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước nhằm thực hiện quản lý, kiểm soát sự phát triển
kỹ thuật về điện, nước, xử lý nước thải, môi trường thông thoáng,…Việc xây dựng nhà ở chủ yếu do vốn tự có và công sức của mỗi người, mỗi gia đình Nhưng đối với người nghèo, người thu nhập thấp, người thuộc diện chính sách thì rất cần sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng là rất cần thiết.” [56, tr 432]
QLNN về NƠ ĐT là hoạt động quản lý cần thiết, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển KT -XH của mỗi quốc gia QLNN về NƠ ĐT sẽ định hướng, điều chỉnh sự phát triển NƠ ĐT; giải quyết những tồn tại, vướng mắc và đáp ứng các nhu cầu về nhà ở; đảm bảo sự ổn định và bền vững thị trường nhà ở Do đó, các cơ quan nhà nước cần thiết phải tăng cường hơn nữa QLNN về NƠ ĐT; không ngừng đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý NƠ ĐT đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân đô thị, đảm bảo sự phát triển bền vững… Nhà nước tập trung làm tốt các chức năng: định hướng sự phát triển
Trang 15bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách…; thực hiện QLNN bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính [57, tr 25]
Hiện nay, hệ thống lý thuyết về QLNN về NƠ ĐT nước ta chưa được hình thành hoàn chỉnh, trong đó thiếu các lý thuyết về thể chế, tổ chức bộ máy, về con người và các định mức nguồn tài chính trong QLNN về NƠ ĐT Chính vì sự thiếu sót về hệ thống lý luận này, luận án cần thiết xây dựng chủ thuyết cho hoạt động QLNN về NƠ
ĐT tại Việt Nam
Mặc dù đã có một số nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý, phát triển NƠ
ĐT, tuy nhiên các nghiên cứu này hầu như chưa gắn với các hoạt động QLNN về NƠ
ĐT, chưa làm rõ được nội dung, các yếu tố tác động cũng như đánh giá cụ thể thực trạng NƠ ĐT các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT trên phạm vi cả nước Xuất phát từ các vấn đề trên, nghiên cứu sinh chọn nội dung “Quản lý nhà nước
về nhà ở đô thị tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của luận án chuyên ngành Quản
lý công
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Xây dựng hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh về QLNN
về NƠ ĐT; đánh giá thực trạng QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến
đề tài luận án
- Hệ thống hóa và xây dựng cơ sở khoa học QLNN về NƠ ĐT
- Phân tích thực trạng QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam Trên cơ sở khoa học tác giả đánh giá những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng QLNN về NƠ
ĐT tại Việt Nam hiện nay;
- Dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng, dự báo nhu cầu về NƠ ĐT và quan điểm định hướng Đề tài đưa ra các giải pháp, khuyến nghị đối với các cấp thẩm quyền để hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 163.1 Đối tượng nghiên cứu là hoạt động QLNN về NƠ ĐT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam Thời gian: Luận án nghiên cứu hoạt động QLNN về NƠ ĐT từ 2014 (thời điểm ban hành Luật Nhà ở 2014) đến 2021 và tầm nhìn đến 2030
Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam: (1) Xây dựng, ban hành thể chế, chính sách QLNN về NƠ ĐT (2) Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB, CC QLNN về NƠ ĐT (3) Quản lý, kiểm soát việc sở hữu, xây dựng và kinh doanh phát triển NƠ ĐT (4) Huy động nguồn lực đầu tư, phát triển NƠ ĐT (5) Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tranh chấp,
tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực NƠ ĐT (6) Xây dựng và vận hành hệ thống
cơ sở dữ liệu, thông tin về NƠ ĐT (7) Hợp tác quốc tế về quản lý, phát triển NƠ ĐT
4 Phương pháp nghiên cứu khoa học
4.1 Phương pháp luận: Nghiên cứu sinh căn cứ phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các nghiên cứu đánh giá thực tiễn còn dựa vào chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với QLNN về NƠ ĐT Luận án vận dụng lý thuyết về khoa học quản lý công và phát triển
theo quan điểm gắn lý luận – thực tiễn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Mục đích sử dụng phương pháp
này là kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước để xây dựng khung lý thuyết
tại Chương 2 Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận cho phù hợp với yêu cầu và mục đích nghiên cứu của luận án Tài liệu đã sử dụng bao gồm: Các công trình nghiên cứu liên
quan đến QLNN về NƠ ĐT đã công bố, sách; các văn bản pháp lý, chính trị về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; các báo cáo, số liệu của các
cơ quan quản lý NƠ ĐT (Bộ Xây dựng, Cục Quản lý nhà và Thị trường Bất động sản,
Sở Xây dựng các tỉnh…); báo cáo của Hiệp hội đô thị Việt Nam, Hiệp hội Bất động sản; bài báo trên các tạp chí khoa học Quy hoạch – Kiến trúc, Xây dựng, ; tham luận trong các hội thảo về nhà ở
Trang 17Thứ hai, phương pháp phân tích hệ thống: được sử dụng trong hầu hết các
chương của luận án (nhiều nhất là chương 3) nhằm tổng hợp thông tin từ các nguồn
tư liệu thứ cấp và sơ cấp đáng tin cậy, thiết lập các bảng biểu, biểu đồ phục vụ việc phân tích và đánh giá hệ thống QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam hiện nay
Thứ ba, phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được sử dụng nhằm
mục đích thu thập thông tin cần thiết về thực trạng công tác QLNN về NƠĐT Việt Nam hiện nay và khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về NƠĐT tại Việt Nam Phương pháp này được sử dụng chủ yếu tại chương 3 và một phần của chương 4, cụ thể:
Tác giả tiến hành lập phiếu khảo sát trên ứng dụng Google Forms, thực hiện phát phiếu khảo sát qua internet (230 phiếu) và thu thập câu trả lời phản hồi (230 phiếu) Tác giả lập hai mẫu phiếu khảo sát cho 02 nhóm đối tượng là:
+ Người dân sinh sống tại khu vực đô thị Phiếu khảo sát gồm các câu hỏi đánh giá ý kiến, hiểu biết, mức độ hài lòng của người dân với hoạt động QLNN về NƠ ĐT
Số phiếu khảo sát 200 phiếu; số phiếu thu về 200 phiếu
+ CB, CC quản lý chuyên trách về NƠ ĐT ở các tỉnh, thành trên cả nước Phiếu hỏi tập trung thu thập ý kiến về đánh giá thực trạng, tìm giải pháp cần thiết để hoàn thiện hoạt động QLNN về NO ĐT nước ta hiện nay Số phiếu khảo sát 30 phiếu, thu
về 30 phiếu Dữ liệu thu thập được, tự động được cập nhật, tổng hợp, xử lý theo tỷ lệ
% chính xác dưới dạng các biểu đồ trên ứng dụng sẵn có của Google Forms Phiếu khảo sát đặt ở phần phụ lục của luận án
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
1 Hệ thống lý thuyết về QLNN về NƠ ĐT như thế nào?
2 Thực trạng QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam hiện nay ra sao?
3 Để hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam cần có giải pháp gì?
5.2 Giả thuyết khoa học
- Giả thuyết 1: QLNN về NƠ ĐT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội hiện nay và chưa có một hệ thống lý luận về QLNN về NƠ ĐT hoàn chỉnh
Trang 18Nếu hệ thống lý thuyết về QLNN về NƠ ĐT được xây dựng hoàn chỉnh thì công tác QLNN về NƠ ĐT sẽ đạt hiệu lực, hiệu quả cao
- Giả thuyết 2: Thực trạng QLNN về NƠ ĐT Việt Nam hiện nay đã đạt được
những ưu điểm rất tích cực, tuy nhiên vẫn còn tồn tại không ít những hạn chế, trong
đó hạn chế lớn nhất là chưa đáp ứng đủ nhu cầu về nhà ở cho dân cư đô thị, thiếu NƠ
ĐT, Nguyên nhân của hạn chế trên xuất phát từ hệ thống thể chế; tổ chức bộ máy; năng lực CB, CC; hoạt động thanh, kiểm tra và sự thiếu hụt nguồn lực trong QLNN
về NƠ ĐT
- Giải thuyết 3: Để hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam cần phải có các
giải pháp đồng bộ, toàn diện Giả định hiệu quả QLNN về NƠ ĐT hiện nay ở mức trung bình, nếu QLNN về NƠ ĐT được hoàn thiện về văn bản pháp lý, chính sách; tổ chức bộ máy quản lý; phát triển đội ngũ CB, CC; chú trọng thanh tra, kiểm tra về NƠ
ĐT sẽ đảm bảo hiệu lực và hiệu quả QLNN về NƠ ĐT Nếu huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia phát triển NƠ ĐT, đồng thời ứng dụng CNTT trong quản lý
NƠ ĐT sẽ góp phần đảm bảo thực hiện mục tiêu QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam là đáp ứng đủ nhu cầu về NƠ ĐT, đảm bảo an sinh xã hội, duy trì sự phát triển bền vững của đô thị
6 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
6.1 Về mặt lý luận: Luận án phân tích, xây dựng hệ thống lý thuyết QLNN về
NƠ ĐT bao gồm: những vấn đề khái quát; chỉ rõ các yếu tố cấu thành và nội dung QLNN về NƠ ĐT; xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến QLNN về NƠ ĐT Đặc biệt, luận án xây dựng hệ thống các quan điểm và đề xuất được giải pháp góp phần hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT có hiệu quả
6.2 Về mặt thực tiễn: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về NƠ ĐT
tại Việt Nam hiện nay một cách khách quan, trên cơ sở đó, chỉ ra những ưu điểm; hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong QLNN về NƠ ĐT Đề tài cũng đề xuất những khuyến nghị khoa học góp phần hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam Chính vì vậy, luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu, hoạch định chính sách cũng như phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập liên quan đến QLNN về
Trang 197 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về QLNN về NƠ ĐT Thông qua những điểm đóng góp mới của đề tài đã được trình bày ở mục 6, có thể thấy, trên phương diện lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận của khoa học quản lý công và quản lý đô thị Hơn thế nữa, luận
án còn là nguồn luận cứ để phục vụ cho việc bổ sung, hoàn thiện lý luận, quan điểm của Đảng và định hướng của Nhà nước về QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Với kết quả nghiên cứu cụ thể, Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các nghiên cứu liên quan; đóng góp tích cực cho chính quyền đô thị trong phát triển, quản lý NƠ ĐT, giúp quá trình này đạt hiệu quả, đạt được mục tiêu phát triển của đô thị
- Các số liệu trong Luận án có thể được sử dụng trong các ví dụ minh họa cho hoạt động giảng dạy về quản lý công nói chung và các nội dung liên quan đến QLNN
về ĐT
- Những phân tích, đánh giá về thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể trong Luận án có giá trị tham khảo trực tiếp đối với cơ quan QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam, giúp các nhà quản lý hoạch định chủ trương, hoàn thiện chính sách, pháp luật, ban hành các quyết định quản lý hành chính và hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài luận án: “Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam” được kết cấu thành 04 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2 Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về nhà ở đô thị
Chương 3 Thực trạng quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam
Chương 4 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại Việt Nam
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các nghiên cứu về nhà ở đô thị
Kaara Tiana Martinez, Faculty of Law, University of Cambridge, 2020 LATS
The Right to Housing in the City (Khoa Luật, Đại học Cambridge, 2020 Quyền có nhà ở trong thành phố)
Mục tiêu phát triển bền vững năm 2015 của Liên hợp quốc về đô thị, mục tiêu
11 cam kết làm cho các thành phố hòa nhập, an toàn, linh hoạt và bền vững, với các mục tiêu đầy tham vọng phải đạt được vào năm 2030 Chính quyền địa phương đã trở nên quyết đoán hơn trong việc thực hiện các chuẩn mực quốc tế và hình thành mạng lưới hợp tác xuyên quốc gia
Luận án Tiến sĩ này nhằm mục đích đóng góp đáng kể bằng cách tập trung đặc biệt vào câu hỏi về nhà ở tại các thành phố và nhấn mạnh các khía cạnh xã hội của sự phát triển bền vững Lập luận trung tâm của đề tài là quyền con người có nhà ở trong thành phố với nghĩa vụ hành động chung để đảm bảo quyền này Quyền có nhà ở là một vấn đề cấp bách cần phải định hướng lại để đảm bảo mọi người được tiếp cận với không gian đô thị và để giải quyết các cuộc đình công đang diễn ra ở các thành phố [116]
Adedeji Afolabi and Martin Dada(2014); bài viết Evaluation of factors affecting
housing and urban development projects in lagos state (Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhà ở và các dự án phát triển đô thị tại nhà nước lagos); Kỷ yếu Hội nghị
Quốc tế CIB W107 2014, Lagos, Nigeria, 28-30 tháng 1, 2014
Bài viết đưa ra một số định nghĩa về: nhà ở và đô thị Nhà ở là một chức năng
xã hội vượt ra ngoài phạm vi truyền thống chức năng cư trú của con người bao gồm
việc cung cấp an ninh, quyền riêng tư, bảo vệ cho chủ sở hữu Nhà ở đại diện cho một
thành phần quan trọng trong xã hội và cấu trúc kinh tế và cấu thành một trong những
Trang 21Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu quan trọng nhất của cuộc sống, đó
là ưu tiên cho việc đạt được mức sống và điều cốt lõi là môi trường dù là nông thôn hay đô thị Các đặc điểm vật lý của một ngôi nhà thường phụ thuộc vào khí hậu của khu vực, môi trường địa hình xung quanh, các vật liệu xây dựng sẵn có và bí quyết công nghệ của các nhà xây dựng
Nhà ở là một thuật ngữ rộng bao gồm nhà ở, căn hộ và cơ sở hạ tầng, và có thể bao gồm toàn bộ khu dân cư, bao gồm cả không gian công cộng Mặt khác, giao nhà
ở là một cách tiếp cận nhằm cung cấp nơi ở cho công dân ở bất kỳ quốc gia nào
Định nghĩa theo Wikipedia về Đô thị hóa là sự phát triển vật chất của đất nông
thôn hoặc đất tự nhiên thành đô thị các khu vực do kết quả của việc nhập cư đến một khu vực đô thị hiện có Tác động của gia tăng dân số nhanh về phát triển đô thị và các điều kiện không chỉ đơn thuần là một nhân khẩu học hay định lượng
Quá trình đô thị hóa ở các nước phát triển là kết quả của công nghiệp hóa nhanh chóng, đô thị hóa là một hệ quả của “lực đẩy” của khu vực nông thôn và “sức kéo” của thành thị Chính sách Phát triển Đô thị quốc gia ra đời là kết quả của sự phức tạp
đa dạng do các thành thị và thành phố đang phát triển, với dân số tăng nhanh do đó kéo dài quá mức các cơ sở hiện có Điều này dẫn đến tình trạng quá tải, tăng áp lực lên cơ sở hạ tầng và liên kết khó khăn với phát triển đô thị Như dự kiến, hậu quả có thể nhìn thấy và rõ ràng nhất của quá trình đô thị hóa này là sự suy thoái nhanh chóng
về nhà ở và điều kiện sống
Nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến các dự án phát triển nhà ở và đô
thị được xếp hạng dựa trên đánh giá của người trả lời về tần suất ảnh hưởng của họ:
Sự phát triển của đô thị hóa, gia tăng dân số, quy hoạch đô thị, tái tạo khu ổ chuột,
tính khả dụng công nghệ, vốn sẵn có, thiết kế hiệu quả Những yếu tố này được cho
là có ảnh hưởng tích cực đến các dự án phát triển nhà ở và khu đô thị Trong khi các yếu tố như lãi suất cao, văn hóa duy trì kém, can thiệp chính trị, loại chính phủ, thiếu
sự đảm bảo về tài sản thế chấp và sự quan liêu cao trong việc xử lý các khoản vay
được cho là có ảnh hưởng tiêu cực đến các dự án phát triển nhà ở và khu đô thị
Yếu tố chính ảnh hưởng đến nhà ở và các dự án phát triển đô thị đang phát triển
là đô thị hóa, điều này đang ảnh hưởng đến lĩnh vực nhà ở, khiến nó trở nên vô cùng
Trang 22thiếu hụt trong việc đáp ứng nhu cầu cơ sở hạ tầng của nhà nước Thu hẹp đầu ra nhà
ở là cần thiết để ngăn chặn việc hình thành các khu ổ chuột và cư dân ổ chuột Các chính phủ và khu vực tư nhân nên tăng cường nỗ lực hướng tới tìm nguồn cung ứng vật liệu xây dựng tại địa phương - thông qua việc khuyến khích và tài trợ cho việc nghiên cứu những vật liệu đó và quá trình sản xuất nó ở đó - bằng cách giảm chi phí của các dự án phát triển nhà ở và đô thị và tăng nguồn cung [108]
Camila Loreto Cociña Varas (2017); Housing as Urbanism: The role of Housing Policies in Reducing Urban Inequalities A study of post 2006 Housing Programmes
in Puente Alto, Chile; University College London (Nhà ở như Chủ nghĩa đô thị: Vai trò của chính sách Nhà ở trong Giảm Bất bình đẳng Đô thị Một nghiên cứu về các Chương trình Nhà ở sau năm 2006 ở Puente Alto, Chile) Luận án này nhằm góp
phần hiểu biết toàn diện hơn về hậu quả của chính sách nhà ở trong đô thị Lập luận chính là các chính sách nhà ở có thể đóng vai trò trong việc giảm thiểu sự bất bình đẳng, nhưng để làm được như vậy thì nhà ở phải được hiểu là đô thị, như một quy trình đa quy mô với các cơ quan ở cấp độ kinh tế, xã hội và chính trị Nghiên cứu này cũng cố gắng đóng góp vào kỷ luật của chủ nghĩa đô thị Thiết lập mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa nhà ở và bất bình đẳng trong phạm vi đô thị, khám phá những thách thức chính sách và tiềm năng của đô thị để trình bày rõ ràng các chính sách ở các quy
mô khác nhau
Trong Chương 2: Bất bình đẳng, Thành phố và Nhà ở với tư cách là Chủ nghĩa
đô thị: Một khuôn khổ khả thi Tác giả đưa ra các định nghĩa về Nhà ở với tư cách là một địa hạt vật chất, một vị trí xã hội và một bộ máy chính trị
+ Đó là lĩnh vực vật chất của chúng ta, không gian vật chất hỗ trợ cuộc sống hàng ngày của chúng ta và hỗ trợ đến các hoạt động, sinh kế, ước mơ và nguyện vọng của gia đình Nó là nơi vật chất, nơi chúng tôi thường gặp gỡ với những người thân thiết nhất của chúng tôi, nơi chúng tôi lưu hàng hóa của mình và cất giữ của cải của chúng ta, nơi chúng ta trú ẩn từ bên ngoài, nơi chúng ta nghỉ ngơi vào ban đêm và thông thường, tưởng tượng tương lai của chúng ta Đối với hầu hết mọi người, nó là vật chất và kinh tế quan trọng nhất tài nguyên mà chúng tôi nắm giữ và trân trọng
Trang 23+ Đó là một vị trí xã hội, một vị trí, một hệ thống các biểu tượng được bao hàm một cách khác nhau bởi đa dạng về dân tộc, xã hội, giới tính và nhóm tuổi; nó là ‘nơi’ bạn sống Nó là một phần của hệ thống rộng lớn hơn gồm nhiều nơi, liên quan đến một số mối quan hệ mà chúng ta được kết nối với nhau: ngôi nhà của bạn bè, đồng nghiệp và đối tác của chúng ta, dịch vụ công, việc làm của chúng tôi, bác sĩ, tiệm làm tóc, công viên, chợ của chúng tôi Nó là một phần của bản sắc tập thể; đó là nơi chúng tôi đứng khi chúng tôi đòi quyền lợi của mình
+ Và nó là một thiết bị chính trị, nhà ở chứa thời gian của những câu chuyện cá nhân và tập thể của chúng ta Có một cá nhân và câu chuyện tập thể gắn liền với các tranh chấp về nhà ở Có các giai đoạn khác nhau của những thay đổi trong cuộc sống
và cộng đồng của chúng ta liên quan đến quá trình xây dựng nhà ở và sự chuyển đổi nhà ở, cơ sở hạ tầng… theo thời gian Có xã hội và các mối quan hệ quyền lực xuất hiện từ các ngôi nhà và khu vực lân cận của chúng ta
Cuối cùng, tác giả đã đề xuất một loạt cách hiểu về nhà ở hoặc những cây cầu khái niệm cho phép các chính sách nhà ở giải quyết vấn đề kinh tế, bất bình đẳng
xã hội và kinh tế Ba cây cầu này được hình thành bởi những ý tưởng rằng nhà ở nên được coi trọng và được coi như một yếu tố kích hoạt năng suất và là một tài sản, một nền tảng cho thành phố ở nhiều quy mô, và như một quá trình đa chiều, nhằm giải quyết những bất bình đẳng trong kinh tế, xã hội và các lĩnh vực chính trị tương ứng
Nhận thức được ba điều kiện này (như một thiết bị kinh tế, xã hội và chính trị) cho phép chúng ta nhận ra tiềm năng của nhà ở trong nhiệm vụ cấp bách và thiết yếu
là giảm bất bình đẳng, một mặt, giải quyết nhiệm vụ, tập trung vào việc giảm thiểu bất bình đẳng trong thảo luận về các chính sách đô thị và nhà ở, và mặt khác, tập trung vào chính sách nhà ở và tiềm năng đa dạng và rộng khắp của chúng trong cuộc thảo luận về giảm bất bình đẳng [126]
Godswill Unekwuojo Musa, Adekunle Sunday Adeogun, Wasiu Ayobami Durosinmi (2020); Effects of COVID-19 on Urban Housing Delivery and
Affordability in Nigeria (Ảnh hưởng của COVID-19 đối với việc giao nhà ở đô thị và
Trang 24khả năng chi trả ở Nigeria); Tạp chí Quốc tế Nghiên cứu Bất động sản 14: S2 (2020),
196-205
Nhà ở đô thị được bài viết định nghĩa như sau: Nhà ở là công trình kiến trúc lâu dài để con người sinh sống Tuy nhiên, nó không chỉ là nơi trú ẩn vì nó bao gồm các dịch vụ xã hội và tiện ích làm cho cộng đồng hoặc vùng lân cận trở thành một môi trường đáng sống
Nhà ở là yếu tố quan trọng và không thể thiếu thành phần của cấu trúc xã hội, kinh tế và sức khỏe của bất kỳ quốc gia nào và tính không thể tách rời của nhà ở với môi trường có làm cho nó trở thành một thành phần tuyệt vời có thể bị ảnh hưởng bởi sức khỏe, hiệu quả, hành vi xã hội, khẩu vị, sự hài lòng, năng suất và phúc lợi của cá nhân và nhóm
Nhà ở có thể được phân loại dựa trên mục đích như: nhà ở thị trường, nhà ở phi thị trường, nhà ở cho nhiều gia đình, nhà ở hướng mặt đất, nơi trú ẩn khẩn cấp, nhà ở thứ cấp/phụ, nhà ở đơn lẻ, nhà ở chuyển tiếp và nhà ở xã hội
Kể từ khi đô thị hóa, nhà ở đã có một bước ngoặt mới từ phân tán thưa thớt sang
nhà ở tập thể ở những khu vực có dân số lớn hơn, điều này đã làm xuất hiện khái niệm nhà ở đô thị được gọi là nhà ở được phát triển trong khu vực đô thị [118]
Tác giả Terencem.Milstead (8/2009), đã công bố báo cáo “National Urban Development Housing Framework (2009 - 2016)” (Phát triển nhà ở trong phạm vi phát triển đô thị quốc gia 2009 - 2016) tại Viện Nghiên cứu Phát triển Philippine với
sự hỗ trợ của UN - HABITAT và Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) Trong công trình khoa học này, tác giả đã đề cập đến vấn đề: Phát triển đô thị quốc gia và nhà ở cần xây dựng một chiến lược vĩ mô cho phát triển nhà ở và đô thị, bao gồm các chính sách và chiến lược hướng dẫn các nỗ lực của chính phủ Philippines trong việc cải thiện hiệu suất và hiệu quả của hệ thống đô thị cả nước; đánh giá môi trường thể chế và vai trò của các cấp chính quyền địa phương (LGU); xác định các vấn đề hiện tại và trong giai đoạn 2009 - 2016; xây dựng chiến lược hướng tới việc đạt được sự phát triển, trên cơ sở bổ sung các chính sách hiện hành và xây dựng chính sách phát triển nhà ở đô thị có hiệu quả, đồng thời 2009 - 2016 đánh
Trang 25Nghiên cứu của Olotuah A.O và Bobadoye (2009) về “Cung cấp nhà ở bền vững cho người nghèo đô thị” công bố tại Khoa Kiến trúc, Đại học Công nghệ Liên
bang Akure Nigeria Đề cập việc phát triển nhà ở cho người nghèo là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI Nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc phát triển nhà ở cho người nghèo, những thách thức của vấn đề
chính sách nhà ở cho người nghèo là đặc biệt cần thiết ở các khu vực đô thị ở các
nước chậm phát triển và có sự bùng nổ dân số đô thị hóa; tăng trưởng dân số và sự di
cư ồ ạt của dân cư nông thôn ra thành phố đã gia tăng phức tạp nhu cầu nhà ở đô thị
LEE Shang Ki (2009),”Kinh nghiệm phát triển nhà ở đô thị tại Hàn Quốc”, Tạp
chí Hội Quy hoạch phát triển Đô thị Việt Nam Tại Hàn quốc, Chính phủ đã nỗ lực
tập trung vào việc tăng cường số lượng nhà ở cho hộ gia đình có thu nhập thấp Việc
hình thành Nhà công cộng cho người dân, dựa vào các nguồn quỹ tư nhân, đặc biệt các khoản chi trả từ những người mua nhà, để có thể phát triển thêm chương trình nhà ở, tìm kiếm lợi nhuận bằng cách phát triển các dự án nhà cho người có mức thu nhập trung bình, tiến hành triển khai dự án tại các thành phố lớn nơi mà nhu cầu về nhà đang ở mức cao và dựa vào các chương trình bất động sản lớn hay chương trình các khu đô thị mới.[76]
Patrick Wakely (2014), Urban public housing strategies in developing
countries: whence and whither paradigms, policies, programmes and projects, (Chiến lược nhà ở đô thị công cộng ở các nước đang phát triển: mô hình, chính sách, chương trình và dự án) Trên toàn cầu, hoạt động bảo trì và quản lý nhà ở đã và đang tiếp tục
là các hoạt động dựa trên thị trường Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XX, hầu như tất cả các chính phủ xã hội chủ nghĩa và tự do, đều nhận thấy sự cần thiết phải can thiệp vào thị
trường nhà ở đô thị để hỗ trợ các hộ gia đình có thu nhập thấp bị từ chối tiếp cận thị trường nhà ở (tư nhân) Họ thiếu nguồn tài chính
Bài viết này xem xét một loạt các chính sách chiến lược, được sử dụng bởi các
cơ quan nhà nước về nhà ở Họ bao gồm từ khu vực công cộng đến tư nhân Kiểm soát thị trường nhà ở thông qua việc xây dựng trực tiếp (thông thường ) nhà ở công cộng được cho phép hoặc chuyển nhượng cho những người thụ hưởng thu nhập thấp
ở mức giá dưới thị trường, để cung cấp hỗ trợ tài chính (trợ cấp) và các ưu đãi phi tài
Trang 26chính khác cho các nhà sản xuất khu vực tư nhân và người tiêu dùng nhà ở đô thị, và quản lý các chương trình (không thông thường) của hỗ trợ xã hội, kỹ thuật và lập pháp cho phép sản xuất, bảo trì và quản lý nhà ở được xã hội chấp nhận với giá cả và chi phí phù hợp với các hộ gia đình và cộng đồng đô thị có thu nhập thấp Nó liên quan đến một đánh giá ngắn gọn về hướng mà các chính sách công về nhà ở đã được thực hiện vào đầu thế kỷ XXI và phản ánh về "nơi tiếp theo", tạo ra sự khác biệt giữa chiến lược nhà ở công cộng và nhà ở xã hội.[127]
Luận án Institutional prerequisites for affordable housing development A comparative study of Germany and Sweden (Điều kiện tiên quyết về thể chế để phát triển nhà ở giá rẻ Một nghiên cứu so sánh giữa Đức và Thụy Điển) Anna Granath
Hansson, 2017 Tóm tắt Luận án này được viết dựa trên nền tảng của cuộc tranh luận công khai gay gắt về việc gia tăng tình trạng thiếu nhà ở và cải cách chính sách nhà
ở tại Đức và Thụy Điển Cải cách tiềm năng để tăng khối lượng phát triển nhà ở, đặc biệt là trong phân khúc giá cả phải chăng, được phân tích bằng các lý thuyết về thay đổi thể chế, tập trung vào quy hoạch đô thị, luật xây dựng và chính sách nhà ở Các công cụ được phân tích được chia thành các biện pháp nhằm tăng độ co giãn cung cấp nhà ở và các biện pháp nhà ở giá cả phải chăng nhắm mục tiêu Ba biện pháp nhằm tăng độ co giãn cung nhà có thể chuyển sang Thụy Điển được xác định: 1) Kế hoạch phát triển có thể được cải cách thông qua các thủ tục thuận lợi, đưa ra sáng kiến tư nhân trong quy hoạch và khuyến khích mới của các cơ quan quy hoạch 2) Luật quy hoạch và xây dựng có thể được cải cách để tạo thuận lợi cho việc phê duyệt xây dựng liên quan đến xây dựng nhà ở nối tiếp, từ đó có thể làm tăng số lượng nhà giá rẻ được xây dựng 3) Chính sách nhà ở của thành phố có thể thúc đẩy phát triển nhà ở thông qua việc sử dụng mạnh mẽ hơn các công cụ chính sách của tổ chức, quy hoạch đô thị, đất đô thị và trợ cấp, với tổ chức thành phố và sự quan tâm chính trị đối với thị trường nhà ở được xác định là rất quan trọng Tuy nhiên, các chính sách nhà
ở giá rẻ được nhắm mục tiêu hiệu quả rất khó thực hiện theo chế độ chính sách nhà ở hiện tại của Thụy Điển Trong ngắn hạn, chính sách nhà ở của Thụy Điển do đó nên tập trung vào các biện pháp tăng cường độ co giãn cung cấp nhà ở Tuy nhiên, xem
Trang 27khẩu dự kiến trong tương lai, thảo luận công khai về các giải pháp tiềm năng trong tương lai sẽ có giá trị Bước đầu tiên sẽ là tổng hợp số liệu thống kê nhà ở về tình trạng thiếu nhà ở giá rẻ và thiết kế các biện pháp hiệu quả.” [112]
1.1.2 Các nghiên cứu quản lý nhà nước về nhà ở đô thị
Ade-Kunle Ifesanya(2012); The Role of Government Agencies in Urban Housing Delivery; Insufficient Political Will and Ineffective Housing Administration
in Lagos Metropolis- Case Study of Ajegunle Area; (Vai trò của các Cơ quan Chính phủ trong việc Cung cấp Nhà ở Đô thị; Ý chí chính trị không đủ và quản lý nhà ở kém hiệu quả ở đô thị Lagos- Nghiên cứu điển hình về khu vực Ajegunle); Viện Nghiên
cứu Đô thị Châu Âu, Đại học Bauhaus, Weimar, Đức
Luận án mở đầu bằng những câu trích dẫn sâu sắc và cấp thiết về tầm quan trọng của quản lý đô thị hiệu quả, thông qua các thể chế pháp lý mạnh mẽ, trong thế giới hiện đại đang đô thị hóa Nghiên cứu này đã đánh giá quản trị đô thị thông qua quản
lý nhà ở trong siêu đô thị lớn nhất Châu Phi Nó kiểm tra mức độ của các vấn đề nhà
ở trong thành phố, các yếu tố nhân quả và trách nhiệm của các cơ quan chính phủ theo luật định đối với cung cấp, kiểm soát và quản lý phát triển nhà ở ở Lagos - thành phố lớn thứ mười trên thế giới
Các nghiên cứu phát hiện ra rằng nhiều cơ quan nhà ở theo luật định có khả năng thực hiện trách nhiệm của mình một cách hiệu quả Tuy nhiên, nó cũng cho thấy rằng tham nhũng và việc nhân viên của các cơ quan này thoái thác trách nhiệm là nguyên nhân chính của hố sâu ngăn cách giữa mong muốn và thực tế Nó cũng phát hiện ra rằng thiếu quyết tâm chính trị và sự thờ ơ của các Chính phủ của Bang Lagos đối với cải thiện điều kiện nhà ở của quần chúng nghèo là nguyên nhân chính của sự sụp đổ nhà ở tại Lagos
Luận án đề xuất một số khuyến nghị là cần tiến hành điều tra dân số cho Lagos, kết hợp với các cơ quan quốc tế đáng tin cậy, như một điều kiện tiên quyết cơ sở để lập kế hoạch phát triển nhà ở hiệu quả Quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất hợp pháp cũng nên được thực hiện ít rườm rà hơn, trong khi quy trình quản lý nhà
ở nên được vi tính hóa, để giảm bớt liên hệ cá nhân giữa những người nộp đơn và các
Trang 28quan chức chính phủ ở mức tối thiểu nhất, như một phương tiện để hạn chế sự lây lan rộng rãi tham nhũng trong hệ thống [107]
Seyed Mohammadreza Talakesh , Jamal Mohammadi & Ali Zangiabadi (2015); Bài báo Comprehensive Planning of Urban Housing in Metropolises by Focusing on
Urban Integrated Management (Quy hoạch toàn diện nhà ở đô thị ở các đô thị bằng Tập trung vào quản lý tổng hợp đô thị), tạp chí Modern Applied Science (Khoa học
sự can thiệp của các tổ chức nhà nước và đô thị khác nhau và vấn đề này thiếu một
cơ chế quản lý toàn diện và tổng hợp Về sự thống trị của các thành phố trực thuộc trung ương về các vấn đề nội bộ của thành phố và cả về địa lý, chính trị, kinh tế và
xã hội điều kiện của các thành phố, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau có thể gánh vác trách nhiệm của vấn đề này
Tác giả coi quản lý đô thị như một khái niệm tổng hợp và tin rằng quản lý đô thị cần có cách tiếp cận tổng hợp đối với các vấn đề đô thị ở các nước đang phát triển
Ở nhiều quốc gia này, sự can thiệp của chính phủ địa phương bị giới hạn đối với các chính sách phân chia miền và chính phủ chỉ giới hạn ở một số tiêu chuẩn tối thiểu Quản lý đô thị là một công cụ mà chính phủ có thể tạo ra và phát triển bền vững Quản lý đô thị có thể được định nghĩa là "quản lý của chính quyền địa phương thông qua lập kế hoạch, tổ chức, tối ưu hóa công việc, thu hút sự tham gia của công chúng và sử dụng mối quan hệ với các cơ quan nhà nước và chính phủ" Quá trình quản lý bao gồm năm nhiệm vụ chính: lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nguồn nhân lực, lãnh đạo và kiểm soát.[125]
Trang 29Ngai-ming Yip & Hoai-anh Tran (2008): Cải cách nhà ở đô thị và năng lực nhà nước ở Vietnam,Tạp chí Thái Bình Dương, 21: 2, 189-210
Việt Nam gần đây đã nổi lên như một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất và được nhiều người đánh giá là con hổ chuyển đổi tiếp theo Năng lực nhà nước, vốn được cho là quan trọng đối với sự thành công của NIC (các nước đang phát triển), đang được giám sát chặt chẽ ở Việt Nam Bài báo này cố gắng kiểm tra năng lực nhà nước của Việt Nam trên các khía cạnh thể chế, chính trị, hành chính và kỹ thuật bằng cách sử dụng các ví dụ về phát triển đô thị và nhà ở Bài báo này lập luận rằng mặc
dù bộ máy nhà nước đã thâm nhập vào mọi tầng lớp trong xã hội và tạo ra triển vọng
về một nhà nước mạnh, tuy nhiên trên thực tế năng lực nhà nước ở Việt Nam còn khá yếu Mặc dù đất nước đang nỗ lực tăng cường năng lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng những cải cách như vậy vẫn chưa thể bén rễ hoặc bị kéo theo di sản của chế độ cũ Mối quan hệ nhà nước - xã hội duy nhất ở Việt Nam cũng định hình quỹ đạo thích ứng của năng lực nhà nước trong quá trình thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế và xã hội.[131]
Routledge, Taylor and Francis Group (2009); Chương Vietnam's Post-reform
Housing Policies: Social Rhetoric, Market Imperatives and Informality (Chính sách nhà ở sau cải cách của Việt Nam: Hùng biện xã hội, mệnh lệnh thị trường và tính phi chính thức), trong sách Housing Policy,Wellbeing and Social Development in Asia
(pp.185-206)
Sau quá trình cải cách kinh tế (Đổi mới), lĩnh vực nhà ở của Việt Nam đã tiến hành cải cách toàn diện nhằm tạo ra thị trường nhà ở và khuyến khích hoạt động sản xuất nhà ở của khu vực tư nhân Cải cách nhà ở đã mang lại một bối cảnh phát triển nhà ở sôi động và sự tăng trưởng ấn tượng của nguồn cung nhà ở Tương tự như nhiều quốc gia đang phát triển ở châu Á và trên thế giới, thị trường hóa rõ ràng đã dẫn đến
sự gia tăng nhà ở thương mại do doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên, điều đáng chú ý đối với lĩnh vực nhà ở của Việt Nam là việc sản xuất nhà ở phi chính thức
là chủ yếu Sự phát triển của lĩnh vực nhà ở Việt Nam có thể nhìn thấy một nghịch lý: Một mặt, chúng ta có một lĩnh vực nhà ở chính thức do các chủ thể doanh nghiệp chi phối, nhận được sự hỗ trợ lớn về mặt pháp lý và tài chính từ nhà nước nhưng chỉ
Trang 30sản xuất một phần nhỏ nhà ở đô thị Mặt khác, chúng ta có một khu vực phi chính thức lớn hầu như không được thừa nhận nhưng cung cấp phần lớn nhà ở ở các khu vực đô thị Đây cũng là khu vực phi chính thức cung cấp một loạt các lựa chọn nhà ở giá cả phải chăng cho người nghèo thành thị Bài báo này phân tích các chính sách nhà ở của Việt Nam để khám phá nghịch lý này Nó làm nổi bật mối quan hệ phức tạp giữa nhà nước và thị trường và đặt ra các câu hỏi liên quan đến các chính sách đối với các chủ thể quy mô nhỏ và vai trò của họ trong phát triển nhà ở [122]
Nwabueze, O.p.O., Onwuka, E.O., Uzomba, N.I, Ekeh, C.U.N Akuesi, C.U
(2021); Bài báo Đánh giá các vấn đề trong quản lý nhà ở đô thị (nghiên cứu trường hợp của owerri municipical, imo state); Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Quốc tế
EPRA (IJRD441-450)
Tốc độ di cư cao cùng với sự gia tăng dân số đã dẫn đến quá trình đô thị hóa nhanh chóng Tuy nhiên, một tỷ lệ dân số vẫn sống trong những ngôi nhà kém chất lượng và kém vệ sinh môi trường đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tăng trưởng kinh tế và đô thị đã kéo theo tất cả các vấn đề điển hình gắn liền với sự phát triển đô thị nhanh chóng dẫn đến tình trạng thiếu nhà ở cả về số lượng và chất lượng, các khu
ổ chuột, định cư bất hợp pháp tại thành phố owerri Những điều này đã dẫn các vấn
đề trong chủ sở hữu vốn nhà nước ở nhiều khu đô thị và nhà ở Nghiên cứu này đã xem xét bản chất của tăng trưởng đô thị và các vấn đề nhà ở trong đô thị owerri Nó cũng cố gắng kiểm tra nguồn cung nhà ở dân cư, xác định bản chất của các vấn đề nhà ở, các chính sách và chương trình khác của chính phủ để giải quyết các vấn đề.[119]
Masahiro Kobayashi (2016), Cục trưởng Cục Thị trường, Nghiên cứu và Khảo sát Toàn cầu và là Tổng giám đốc về Các vấn đề Quốc tế, Phòng Chiến lược Công ty,
Cơ quan Tài chính Gia cư Nhật Bản (JHF) Trong báo cáo thường kỳ của Viện nghiên
cứu Ngân hàng Phát triển Châu Á tháng 3/2016 với bài “Chính sách nhà ở và thị trường nhà cửa ở Nhật Bản” nội dung đề cập đến các vấn đề liên quan chính sách
quản lý nhà nước về phát triển nhà ở đô thị của Nhật Bản Nhật Bản có Tổng công ty nhà ở Nhật Bản (nay là cơ quan phục hồi đô thị) và Tổng công ty cho vay nhà ở Chính
Trang 31các đơn vị chính quyền địa phương xây dựng nhà công cộng cho người có thu nhập thấp thuê Tổng Công ty nhà ở Nhật Bản thành lập nhằm thúc đẩy xây dựng nhà ở tập thể và cung cấp đất ở cho người có thu nhập trung bình ở các khu đô thị lớn Chính sách nhà ở tại Nhật Bản đưa ra những vấn đề cân bằng giữa xây dựng mới và phát triển thị trường tài chính đầu tư nhà ở hiện có; đưa ra cảnh báo với các thử nghiệm phát triển nhà ở trong xã hội đang được tiến hành, cần phải quản lý chặt chẽ theo sự thay đổi của xu hướng thị trường phát triển nhà ở, tránh sự đầu tư phát triển không lành mạnh.[115]
Để thống nhất chính sách và giúp các quốc gia trong quá trình chuyển đổi
có một cơ chế chính sách tài chính nhà ở thích hợp, Ủy Ban Châu Âu đã xuất bản
“Các hệ thống tài chính nhà ở tại các quốc gia chuyển đổi - Lý thuyết và Thực tiễn” (Housing finance systems for countries in transition- principles and examples)
(2005) Trong đó phân tích hệ thống tài chính nhà ở và các công cụ chính sách
sử dụng cũng như giới thiệu một số mô hình tài chính nhà ở phát triển tại một số quốc gia nhằm giúp các nước trong quá trình chuyển đổi hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm tìm ra một mô hình hệ thống tài chính nhà ở hoàn thiện cho mình Robert Bestani và Johanna Klein tại Ngân hàng Phát triển Châu Á đã tập trung đi sâu phân tích tầm quan trọng của tài chính nhà ở, các vấn đề tồn tại trong tài chính nhà ở tại Châu Á và đưa ra các định hướng chính sách để giải quyết vấn đề này trong nghiên
cứu “Tài chính nhà ở tại Châu Á”
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.2.1 Các nghiên cứu trong nước về nhà ở đô thị
Đỗ Thanh Tùng, Luận án Chính sách tài chính nhà ở trên địa bàn đô thị Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2007 Luận án hệ thống hoá những đặc trưng
cơ bản của hệ thống tài chính nhà ở và chính sách tài chính nhà ở Luận án đưa ra các tiêu chí đánh giá chính sách tài chính nhà ở, mô hình hoạt động Ngân hàng thế chấp của các nước có hệ thống tài chính nhà ở phát triển và kinh nghiệm một số quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực Từ đó làm căn cứ cho quá trình phân tích và luận bàn
về mặt lý luận và thực tiễn vai trò của chính sách đối với hệ thống tài chính nhà ở trong việc hỗ trợ nguồn vốn để phát triển nhà ở cho dân cư Luận án phân tích thực
Trang 32trạng tài chính nhà ở và đánh giá chính sách tài chính nhà ở theo các tiêu chí đánh giá nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính nhà ở Những kết quả nghiên cứu của Luận án không chỉ áp dụng trên địa bàn đô thị Hà Nội mà có thể áp dụng đối với các đô thị ở Việt Nam nói chung Ngoài ra, Luận án còn đưa ra mô hình ngân hàng thế chấp để tạo điều kiện cho đại bộ phận người dân ở đô thị tăng sở hữu nhà ở thống qua việc tiếp cận được các nguồn vốn dài hạn
Luận án trình bày Khái niệm, đặc điểm NƠ ĐTnhư sau: + Nhà ở đô thị ngoài
việc là chỗ cư trú của người dân đô thị còn phản ánh quy mô phát triển đô thị trên mọi lĩnh vực khi ta nhìn vào mức độ phát triển + Có nhiều cách phân loại nhà ở đô thị trên thế giới tuỳ thuộc vào mục đích và hình thức sử dụng, nhưng phổ biến có các loại nhà sau: Nhà tạm, Nhà ở theo kiểu chia lô (nhà liền kề), Nhà chung cư, loại nhà cao tầng, biệt thự, nhà vườn + Các đặc tính của nhà ở gồm có: tính chất lâu bền của nhà ở; tính không đồng nhất; tính cố định về không gian; tiêu dùng nhà ở không chỉ
là sự tiêu dùng cá nhân, nhưng cũng không phải là tiêu dùng công cộng; giá trị đầu tư lớn Nội dung này bổ sung thêm cho phần lý luận của Luận án [97]
Nguyễn Quang (2009) đã báo cáo đề tài ”Nghiên cứu hồ sơ lĩnh vực nhà ở” tại
hội thảo Chương trình định cư con người Liên Hợp Quốc (UN – Habitat) về lĩnh vực phát triển nhà ở tại Việt Nam, áp dụng cho các khu đô thị phân tích toàn diện lĩnh vực nhà ở, làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của hệ thống cung ứng nhà ở trong nước, bao gồm những vướng mắc và trở ngại trong quá trình thực hiện mục tiêu chỗ ở phù hợp cho mọi người dân; cung cấp kiến thức về lĩnh vực nhà ở, hỗ trợ Chính phủ, Bộ xây dựng, chính quyền địa phương và trung ương đề ra những chính sách phù hợp và khuyến nghị việc cung ứng nhà ở tại Việt Nam Khung chính sách của UN – Habitat
về nhà ở đã nhấn mạnh các chiến lược kích thích sản xuất chỗ ở phù hợp cho các khu
đô thị [87]
UN-Habitat (2013), Báo cáo Hồ sơ nhà ở Việt Nam, Hội nghị Liên Hợp Quốc
lần thứ ba về Định cư, còn gọi là Habitat III, tập trung vào vấn đề nhà ở và quá trình
đô thị hóa bền vững Báo cáo cho thấy lĩnh vực nhà ở đã chạm tới nhiều khía cạnh của nền kinh tế Chức năng, cấu trúc cũng như chính sách điều tiết lĩnh vực nhà ở có
Trang 33về quỹ nhà ở cùng khả năng chi trả cho nhà ở, và mối liên hệ với sự tăng trưởng của
đô thị, đồng thời chỉ ra các yếu tố quan trọng về đất đai, dịch vụ cơ bản, tài chính nhà
ở, vật liệu xây dựng, công nghệ xây dựng và lao động trong sự liên kết với các khía cạnh khác của chính sách đô thị.[103]
Nguyễn Dương Danh (2011) nghiên cứu“Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam 2011-2050”, đề án đã đề cập đến thực trạng đô thị Việt Nam, chiến lựợc phát triển
đô thị Việt Nam 2011-2050; xác định quy mô tối ưu của đô thị, cải tạo đô thị cũ, xây dựng đô thị mới Đưa ra một số biện pháp thực hiện chiến lược phát triển đô thị Việt Nam (2011-2050), cần có chính sách hợp lý về quản lý đất đai, xem xét sửa đổi một
số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về phân cấp quản lý giữa cơ quan Trung ương và các địa phương Mục tiêu chung là từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống nhà ở đô thị, theo mô hình mạng lưới đô thị Việt Nam, khắc phục tình trạng đô thị tự phát, làm mất cân đối sự phát triển giữa các vùng miền, tác động xấu đến phát triển kinh tế - xã hội, đề tài này tác giả không phân tích sâu các nội dung QLNN về nhà ở
đô thị của Việt Nam [53]
Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở (2019), Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân
số và nhà ở Trung ương Trong tài liệu này có nghiên cứu đến các kết quả về điều kiện ở và sinh hoạt của hộ dân cư gồm các nội dung: tình trạng sở hữu nhà ở; điều kiện ở và sinh hoạt Tài liệu chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng nhà ở nước ta từ
2014 - 2019, là cơ sở số liệu phục vụ cho luận án khi nghiên cứu thực trạng về NƠ
ĐT nước ta hiện nay [93]
LEE Shang Ki (2009), “Kinh nghiệm phát triển nhà ở đô thị tại Hàn Quốc”,
Tạp chí Hội Quy hoạch phát triển Đô thị Việt Nam Các kinh nghiệm được tác giả bài viết đề cập gồm: Chính phủ tập trung vào việc tăng cường số lượng nhà ở cho hộ
gia đình có thu nhập thấp; hình thành nhà ở công cộng cho người dân, dựa vào các nguồn quỹ tư nhân, đặc biệt các khoản chi trả từ những người mua nhà; phát triển các
dự án nhà ở cho người có mức thu nhập trung bình, tiến hành triển khai dự án tại các thành phố lớn - nơi mà nhu cầu về nhà đang ở mức cao và dựa vào các chương trình bất động sản lớn hay chương trình các khu đô thị mới Bài viết chỉ đề cập đến kinh
Trang 34nghiệm phát triển nhà ở thu nhập thấp chứ không nói đến các loại nhà ở khác trong
đô thị.[76]
Phạm Văn Bình (2013), Luận án Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Việt Nam, Đại
học Kinh tế Quốc dân, 2013 Luận án hệ thống hoá những đặc trưng, nội dung cơ bản của chính sách thuế nhà ở, đất ở Luận án lý giải những cơ sở để đánh thuế nhà ở, đất ở; các khả năng có thể đánh thuế nhà ở, đất ở; đồng thời luận án cũng đưa ra các tiêu chí đánh giá chính sách thuế nhà ở, đất ở, cùng kinh nghiệm một số quốc gia, vùng lãnh thổ thế giới về vấn đề này Từ đó làm căn cứ cho quá trình phân tích và luận bàn
về mặt thực tiễn của chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Việt Nam nhằm đề xuất và kiến nghị về định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Việt Nam
tới năm 2020 Luận án đề cập thuế nhà ở, đất ở là một trong những loại thuế xuất hiện
sớm nhất trong hệ thống thuế của nhiều nứớc trên thế giới, việc triển khai thực hiện chính sách thuế nhà ở, đất ở bước đầu đã phát huy tác dụng tích cực trên các khía cạnh tài chính, kinh tế, xã hội Nghiên cứu đã nêu xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt các quốc gia đang phát triển cần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế nhà ở, đất ở, làm rõ sự cần thiết của chính sách thuế, cũng như quy trình, cơ sở đánh thuế, khả năng và hình thức thuế nhà ở, đất ở nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế đối với nhà ở, đất ở phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước, đáp ứng yêu cầu trọng tâm của công cuộc cải cách và xu hướng phát triển chung của chính sách thuế nhà ở, đất ở trên thế giới.[48]
Vũ Thị Lan Nhung (2021), Luận án Giải pháp tài chính phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội, Học viện Tài chính
Qua quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn, trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận án “Giải pháp tài chính phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội” đã thực hiện được các nội dung chủ yếu sau: luận án nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận về nhà ở xã hội, phát triển nhà ở xã hội và giải pháp tài chính phát triển nhà ở xã hội; luận án đã chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến các giải pháp tài chính phát triển nhà ở xã hội Luận án đã đề xuất một hệ thống các giải pháp tài chính phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội gồm 04 nhóm giải pháp: giải pháp về nguồn vốn,
Trang 35tham khảo đánh giá thực trạng NƠ XH tại đô thị và xây dựng giải pháp tài chính chung cho NƠ ĐT.[84]
Luận án Tiến sĩ của Đinh Trọng Thắng (2014) về “Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị tại Việt Nam” đã đưa ra một hệ thống các quan điểm và chính sách nhằm tạo dựng và phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2020 Đưa ra bài học phát
triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị tại Việt Nam và xây dựng mô hình kinh tế lượng để đánh giá các tác động và điều kiện quyết định lựa chọn kênh huy động vốn đầu tư nhà ở của các hộ gia đình; đánh giá khả năng thanh toán về tài chính nhà ở của các hộ gia đình Đây là một nghiên cứu về lĩnh vực tài chính của sản phẩm nhà ở, đã gợi ý cho luận án về việc đề xuất mô hình xã hội hóa nguồn lực trong phần giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển nhà ở đô thị của luận án.[91]
Tuyển tập bài tham luận tại Hội thảo 2018“Nơi ở công nhân khu công nghiệp – Nhà ở, sinh kế và cộng đồng” Chủ yếu nghiên cứu về nhà ở xã hội, nhà ở cho công
nhân Nó bổ sung thêm lý luận, thực trạng và giải pháp để QLNN về loại hình nhà ở
xã hội, NƠ cho công nhân nói riêng, NƠ ĐT nói chung.[101]
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về quản lý nhà nước về nhà ở đô thị
Báo cáo Nhà ở giá hợp lý ở Việt Nam – Con đường phía trước (2015) của Ngân
hàng thế giới Báo cáo cho rằng nhà ở giá hợp lý sẽ là công cụ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng rộng khắp ở khu vực đô thị Đây chính là thời điểm tốt để chính phủ củng cố và tái tập trung nỗ lực vào lĩnh vực nhà ở Luật Nhà ở 2014 đã tạo khuôn khổ cho việc cải cách lĩnh vực nhà ở Báo cáo phân tích, đánh giá khu vực nhà ở và đưa ra các khuyến nghị cần thiết, trong đó
có khuyến nghị về quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhà ở là: (1) Đầu tư vào quản trị hiệu quả, bao gồm cải thiện các hệ thống thông tin quản lý cho lĩnh vực nhà ở, phát triển các hệ thống xác định mục tiêu hiệu quả và các quy trình giám sát và báo cáo (2) Cải thiện môi trường pháp lý và hành chính: Đánh giá và tiêu chuẩn hóa các quá trình hành chính đối với đầu tư bất động sản và nhà ở (ví dụ các hệ thống điện tử, giảm bớt các bước thực hiện) Thực hiện kiểm toán theo quy định và thực hiện các thay đổi cần thiết theo hướng minh bạch và nhất quán.[106]
Trang 36Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng (2009) về “Nâng cao năng lực quản lý đối với thị trường nhà ở, đất ở đô thị (Ứng dụng Hà Nội)” đề cập đến những
vấn đề cơ bản về thị trường nhà ở, đất ở đô thị Tác giả đề cập đến hoạt động quản lý đối với thị trường nhà ở, đất ở đô thị còn bộc lộ nhiều hạn chế: hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý thị trường nhà ở, đất ở đô thị còn chồng chéo, hiệu lực thi hành chưa cao; nhiều đô thị còn thiếu vắng cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về thị trường nhà ở, đất ở đô thị; công tác quản lý nhà ở, đất ở tại một số đô thị không tập trung một đầu mối; cơ quan QLNN về nhà ở tách riêng với cơ quan QLNN
về đất ở Luận án chủ yếu nghiên cứu về thị trường nhà ở, đất ở đô thị, gồm các yếu
tố cung, cầu, đặc điểm của thị trường này Luận án đánh giá thực trạng QLNN về thị trường nhà ở, đất ở đô thị thông qua tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, thể chế và hệ thống thông tin chứ không đề cập đến các nội dung QLNN Hệ thống các giải pháp
xoay quanh mục đích tạo thuận lợi cho họat động của thị trường nhà ở, đất ở đô thị tại Hà Nội và nâng cao năng lực quản lý.[67]
Luận án của Lê Hồng Phú (2018), Quản lý nhà nước về đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
Luận án hoàn thiện và góp phần làm rõ khung lý thuyết về QLNN trong lĩnh vực đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị ở Việt Nam hiện nay Xác định nội dung cơ bản, có ý nghĩa quan trọng của QLNN trong lĩnh vực đầu tư phát triển nhà ở khu đô
thị ở Việt Nam, bao gồm bảy nội dung sau: xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị; xây dựng pháp luật, chính sách đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị; QLNN về thực hiện trình tự thủ tục; QLNN về quy chuẩn - tiêu chuẩn đầu
tư phát triển nhà ở khu đô thị; QLNN về huy động vốn đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị; QLNN về thị trường giao dịch nhà ở khu đô thị; QLNN về công tác thanh tra, kiểm tra đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị Luận án xác định những tiêu chí để đánh
giá tính phù hợp, tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính bền vững của QLNN về đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị Luận án xác định hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị, bao gồm: Nhóm nhân tố khách quan, Nhóm nhân chủ quan Luận án có một số tổng kết các nghiên cứu về vấn đề quản lý nhà ở của một
Trang 37số nước trên thế giới có thể làm cơ sở thực tiễn xem xét áp dụng những bài học kinh nghiệm vào công tác QLNN về đầu tư phát triển nhà ở khu đô thị ở Việt nam.[85]
Sách Quản Lý Đô Thị, Nguyễn Ngọc Châu (2001), NXB Xây Dựng, Hà Nội
Chương VII của sách nghiên cứu nội dung quản lý bất động sản đất đai và nhà cửa ở
đô thị Trong phần quản lý nhà ở tại các đô thị có đề cập đến các nội dung: định nghĩa nhà ở đô thị “Nhà ở là nơi cư trú của con người, là chỗ để con người tạo ra, tái tạo sức lao động của mình để tồn tại và phát triển”[tr 428]; quan điểm đầu tư và mục tiêu phát triển nhà ở; hệ thống dịch vụ nhà ở trong cơ chế thị trường; chiến lược xây dựng nhà ở; hoạch định chính sách về nhà ở đối với các đô thị; quy hoạch nhà ở trong khu đô thị; xây dựng nhà ở trong khu đô thị; những chủ thể đầu tư xây dựng nhà ở tại đô thị; QLNN
về nhà ở tại các đô thị, theo đó nội dung QLNN về nhà ở đô thị gồm “1 Ban hành quy chế, tiêu chuẩn, quy phạm về quy hoạch thiết kế xây dựng nhà, quản lý và sử dụng nhà ở; 2 Lập kế hoạch xây dựng nhà ở theo đề án quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết được phê duyệt cho mỗi đô thị; 3 Cho phép hoặc đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà
ở không theo quy định; 4 Đăng ký, điều tra, thống kê nhà ở để xây dựng chiến lược phát triển đô thị cho sát nhu cầu xã hội; 5 Thanh tra nhà nước, giải quyết tranh chấp
và xử lý những vi phạm pháp luật về nhà ở; 6 Đa dạng hóa và xã hội hóa việc đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê, bán theo các dự án hết sức linh hoạt, nhằm xây dựng nhà
ở nhanh cho các loại đối tượng trong các đô thị ở Việt Nam”.[50, tr 464 – 465] Giáo trình Quản lý đô thị, GS.TS Nguyễn Đình Hương, ThS Nguyễn Hữu
Đoàn(2003), trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Hà Nội Tại Chương
V – Đất đai và nhà ở đô thị, tác gỉả đã nghiên cứu các nội dung quan trọng về nhà ở
đô thị, cụ thể: Đặc điểm và phân loại nhà ở đô thị, khái niệm về nhà ở cũng được đưa
ra “nhà ở bao gồm phần kiến trúc kỹ thuật của ngôi nhà, các kết cấu hạ tầng kỹ thuật
và điều kiện môi trường của khu vực.”[56, tr 213]; QLNN về nhà ở đô thị gồm các
nội dung “Ban hành quy chế, tiêu chuẩn, quy phạm về quy hoạch thiết kế xây dựng nhà, quản lý và sử dụng nhà ở; lập kế hoạch xây dựng nhà ở theo đề án quy hoạch được duyệt; cho phép hoặc đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà ở; đăng ký, điều tra, thống kê nhà ở; thanh tra nhà nước, giải quyết tranh chấp và xử lý những vi phạm
Trang 38pháp luật về nhà ở.”[56, tr 221]; đặc điểm phát triển nhà ở đô thị nước ta và những
vấn đề đặt ra cùng với đó là các chính sách, giải pháp phát triển nhà ở đô thị nước ta
Giáo trình Quản lý Nhà nước về Đô thị, Học Viện Hành chính (2009), NXB
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội QLNN về nhà ờ, đất ở đô thị là nội dung được đề cập trong chương 2 - Những vấn đề chủ yếu trong QLNN về đô thị của giáo trình QLNN
về nhà ở đô thị được nghiên cứu thông qua các nội dung: mục đích của QLNN về nhà ở; đánh giá thực trạng nhà ở và quản lý nhà ở trong các đô thị ở nước ta; phương hướng phát triển và đổi mới quản lý nhà ở đô thị; nội dung QLNN về nhà ở đô thị
gồm: “ ban hành các chính sách, quy chế, tiêu chuẩn quy phạm về quy hoạch, thiết
kế, xây dựng, sử dụng và quản lý nhà ở; lập kế hoạch xây dựng và phát triển nhà ở; quản lý kiểm soát việc xây dựng cải tạo nhà ở; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở, điều tra, thống kê nhà ở; mua bán nhà và chuyển nhượng nhà ở không mang tính chất kinh doanh; ban hành chính sách hỗ trợ huy động đầu tư xây dựng nhà ở huy động đầu tư diện chính sách, ưu đãi hoặc người nghèo có thu nhập thấp; quản lý kinh doanh và phát triển nhà; thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm và giải quyết các tranh chấp về nhà ở”.[69, tr 79 – 87]
Trần Hà (2018), Bài báo “Đẩy mạnh công tác quản lý nhà ở và thị trường bất động sản” Tạp chí Xây dựng & Đô thị, Học viện cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
Bài báo nêu lên các biện pháp để đẩy mạnh công tác quản lý nhà ở, đó là: ngành Xây dựng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ theo vai trò, chức năng quản lý Nhà nước của Ngành và theo kế hoạch đã đề ra, điển hình như: Rà soát dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản; hoàn thiện, đưa vào khai thác, sử dụng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản; tập trung đẩy mạnh các chương trình phát triển nhà ở xã hội; nghiên cứu sự phù hợp của các quy định về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư tại Luật Nhà
ở tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; tiếp tục đôn đốc các địa phương thực hiện xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản; phối hợp triển khai kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về thích ứng với biến đổi khí hậu, các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và tăng trưởng xanh (đối với các nội
Trang 39dung giao Bộ Xây dựng chủ trì) Các biện pháp này giúp tác giả tham khảo vận dụng vào chương giải pháp hoàn thiện QLNN về nhà ở đô thị.[60]
Nguyễn Ngọc Tuấn (2017), luận án Phát triển nhà ở thu nhập thấp khu vực đô thị: Nghiên cứu thực tế thành phố Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chương
1 đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nhà ở thu nhập thấp khu vực đô
thị Nội dung phát triển nhà ở thu nhập thấp bao gồm: (1) Xây dựng chương trình phát triển nhà ở, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương; (2) Quy hoạch bố trí (xác định) quỹ đất cho phát triển nhà ở thu nhập thấp; (3) Quản lý nhà nước đối với nhà ở thu nhập thấp khu vực đô thị, trong đó đề cập đến việc quản lý việc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thu nhập thấp và thẩm định giá bán, giá cho thuê, giá thuê mua nhà ở thu nhập thấp Cũng trong chương 1, tác giả phân tích 5 nhóm yếu tố ảnh
hưởng đến phát triển nhà ở thu nhập thấp (TNT), đó là chính sách của nhà nước; vấn
đề tài chính cho nhà ở thu nhập thấp; sự phát triển của ngành xây dựng nhà ở; sự phát triển kinh tế và thị trường bất động sản và năng lực của chủ đầu tư (doanh nghiệp) [96]
Nội dung trọng tâm của Chương 2 trên đi vào phân tích đánh giá thực trạng phát triển nhà ở TNT khu vực đô thị Hà Nội, đặc biệt đánh giá thực trạng việc quản lý nhà ở TNT
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển nhà ở cho người TNT khu vực đô thị
Hà Nội, tác giả đánh giá những kết quả đạt được, phân tích những hạn chế trong phát triển nhà ở TNT khu vực đô thị Hà Nội, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân gây cản trở phát triển nhà ở TNT của thành phố Đây là những cơ sở đề tác giả đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nhà ở TNT khu vực đô thị Hà Nội trong Chương 3
Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân gây cản trở phát triển nhà ở TNT khu vực đô thị Hà Nội trong Chương 2, nội dung trọng tâm của Chương 3 tập trung đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển phát triển nhà ở thu nhập thấp khu vực đô thị thành phố
Hà Nội trong thời gian tới Trước hết, cần rà soát quy hoạch, chiến lược, chương trình,
kế hoạch phát triển nhà ở thu nhập thấp; phát triển quỹ đất xây dựng nhà ở thu nhập thấp đồng bộ, tập trung Tiếp đó là các đề xuất về chính sách tài chính nhằm hỗ trợ đối với cả bên cung - các nhà đầu tư xây dựng nhà ở thu nhập thấp và các chính sách tài chính hỗ
Trang 40trợ đối với bên cầu - người mua nhà ở TNT Tác giả cũng đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà ở TNT, trong đó, đề xuất cơ chế, chính sách trong lựa chọn các nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm tham gia phát triển nhà ở TNT của Thành phố Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp khác như phát triển quỹ nhà ở cho thuê, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong xây dựng nhà ở TNT
Tuy nhiên Luận án này chỉ nghiên cứu cho trường hợp NƠ ĐT thu nhập thấp tại Hà Nội, chứ không phải nghiên cứu tất cả các loại NƠ ĐT trên cả nước
Luận án Phát triển thị trường nhà ở trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm
2030 của tác giả Nguyễn Ngọc Tiệp (2019) Luận án phân tích, đánh giá sự phát triển
của thị trường NƠ thông qua nghiên cứu các yếu tố cấu thành (Cung, cầu), kết hợp với các yếu tố tác động mà trọng tâm là phân tích vai trò của quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở nói chung và thị trường nhà ở giá trung bình và thấp nói riêng
Nội dung QLNN đối với thị trường nhà ở gồm: 1 Ban hành các văn bản chính sách, pháp luật:quy định liên quan đến cầu thị trường; quy định liên quan đến cung thị trường 2 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch 3 Các công cụ kinh tế - tài chính, thuế suất: Nhà nước thực hiện các chính sách tài chính hỗ trợ thị trường NƠ; Nhà nước định giá và ban hành khung giá nhà đất; Nhà nước sử dụng công cụ thuế suất và lãi suất 4 Tổ chức thực hiện: tổ chức bộ máy; hoạt động kiểm tra, giám sát Từ đó sẽ đề
xuất kiến nghị các giải pháp để phát triển lành mạnh thị trường nhà ở, trong đó tập trung đề xuất các giải pháp đối với thị trường nhà ở giá trung bình và thấp Luận án đề xuất những biện pháp về kích cầu NƠ, bổ sung nguồn cung cho thị trường cần được đẩy mạnh nhằm tạo sự cân bằng cho thị trường nhà ở giá trung bình và thấp Cùng với
đó, việc cải cách các thủ tục hành chính, cắt giảm bớt quy trình thủ tục đối với các doanh nghiệp đầu tư, cũng như việc công khai, minh bạch các thông tin về thị trường cũng cần được ưu tiên triển khai Thực hiện được những nội dung này sẽ giúp cho thị trường NƠ của Thành phố phát triển theo hướng bền vững, giải quyết nhu cầu về nhà
ở cho mọi đối tượng người dân
Tuy nhiên Luận án này, chỉ nghiên cứu riêng trường hợp Hà Nội, chỉ với nhà ở giá trung bình, thấp, thiên về thị trường NƠ hơn là phân tích nội dung QLNN về NƠ