ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN Môn học Hành vi tổ chức ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NHỮNG YẾU TỐ KHÁCH QUAN ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN
Môn học: Hành vi tổ chức
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NHỮNG YẾU TỐ KHÁCH QUAN ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC TỰ
HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
Giảng viên: Nguyễn Văn Thuỵ
Mã lớp học phần: 22C1MAN50200609 Nhóm: 7
Khóa: Lớp: K47 – AD004
TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 01 năm 2023
Trang 2Tên thành viên MSSV Mức độ tham gia
Nguyễn Phan Thanh Duy 31211025748 100%
Huỳnh Thị Kim Hương 31211020015 100%
Nguyễn Thị Vân Giang 31211023451 100%
Nguyễn Văn Nghĩa 31211022767 100%
MỤC LỤC
I LỜI NÓI ĐẦU: 2
II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
1 Thực trạng vấn đề 2
2 Lý do chọn đề tài 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Câu hỏi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa nghiên cứu 6
III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1 Một số khái niệm trong đề tài 6
2 Cơ sở lý luận về ý thức tự học 8
3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 14
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
1 Quy trình nghiên cứu 15
2 Phương pháp thực hiện 16
V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
1 Thông tin người tham gia nghiên cứu 18
2 Yếu tố khách quan 21
a) Yếu tố nhà trường 21
b) Yếu tố xã hội 28
c) Yếu tố gia đình 33
d) Yếu tố viễn cảnh nghề nghiệp 38
VI KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý TRONG QUẢN TRỊ 45
1 Kết luận 45
2 Hàm ý quản trị 45
VII TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 3I LỜI NÓI ĐẦU:
Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển chóng mặt của nền tri thức nhânloại cùng với sự tiến bộ vượt bậc của mạng viễn thông cho phép con người traođổi thông tin, tiếp cận kiến thức nhanh chóng và dễ dàng Vì vậy, để không theosau xã hội nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là nâng cao năng lực tự học, tựnghiên cứu cho sinh viên Theo nghị quyết 29 – NQ/TW đã chỉ rõ: “Phát triểnkhả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Tập trung dạy cáchhọc, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổimới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực”
Trên thế giới cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề tự học và chothấy sự cần thiết của chúng trong việc nâng cao tri thức bản thân Nghiên cứu vềhọc tập tự điều chỉnh xuất hiện từ những năm 1980 để giúp sinh viên trở thànhbậc thầy trong quá trình học tập của chính họ Ở Việt Nam, vấn đề tự học đượcnhiều người quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Cảnh Toàn & Nguyễn Kỳ( 1997, 2001); Nguyễn Trí (1998); Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến (2003); Những công trình nghiên cứu này đã để lại nhiều ý nghĩa to lớn đối với việc dạycách tự học cho sinh viên và bổ sung thêm lý luận cho những nghiên cứu saunày
Tự học có vai trò đặc biệt quan trọng bởi nếu thiếu đi nỗ lực tự học kếtquả học tập của người học không thể cao, cho dù điều kiện thuận lợi (như cóthầy giỏi, tài liệu hay, môi trường học tập tốt ) Trong việc tự học, giảng viên làngười hỗ trợ định hướng, đưa ra các yêu cầu phát triển cho sinh viên Có thểsinh viên không phải là người tự định hướng hoàn toàn nhưng họ phải là ngườisẵn sàng, tự giác, ham học hỏi, biết cách đánh giá và lựa chọn phương phápphù hợp Quá trình tự học đem lại nhiều lợi ích như tăng sự chủ động, tự tin,phát triển nhiều kỹ năng để xử lý vấn đề, có kiến thức vững chắc để áp dụng vàothực tiễn, kích thích hoạt động trí tuệ của con người
Trong các nghiên cứu về vấn đề tự học, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề
tự học được các nhà nghiên cứu chú trọng quan tâm Các công trình nghiên cứuxác định các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tự học Tuy nhiên những thực trạng,khó khăn, hạn chế, đề xuất các giải pháp chưa được nhiều nghiên cứu đi sâu Do
đó, nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu này mong muốn tìm hiểuphân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên và đề xuất cácgiải pháp để cải thiện thực trạng tự học của sinh viên ngày nay
II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trang 41 Thực trạng vấn đề
Với xu hướng rút ngắn thời gian lên lớp của các trường Đại Học hiện nay,sinh viên cảm thấy thời gian học tập sao quá nhàn hạ và họ cho phép mình đượcvui chơi thoải mái Hình thành các thói quen không tốt, thường xuyên đi chơi và
lơ là việc học Song đó, vẫn còn nhiều sinh viên có ý thức trong việc chủ độnghọc nhưng không biết bắt đầu từ đâu, vì kiến thức nhân loại mênh mông, vô tậndẫn đến nản chí
Đồng thời, thực trạng học “đối phó” vẫn còn tồn đọng ở sinh viên hiệnnay Chủ yếu là do sinh viên chưa biết cách sắp xếp lịch trình học phù hợp chobản thân Ngoài ra còn phải cân bằng giữa việc học tập và hoạt động thườngngày của mình
Bên cạnh đó, sinh viên còn rất thụ động khi lên lớp, nếu giảng viên khôngyêu cầu thì sinh viên cũng không chép, chỉ ngồi nghe nên kiến thức đọng lạitrong đầu rất ít, thậm chí là không có gì Trong khi sinh viên cũng không có thóiquen đọc giáo trình và các tài liệu liên quan đến môn học trước khi đến lớp
Hầu hết sinh viên lười phải đi tìm hiểu kiến thức mới, chưa tự giác trongviệc tìm tòi, học hỏi để chau dồi thêm những bài học cho bản thân và một phầncũng do kiến thức của bản thân đang còn hạn hẹp Đa số sinh viên đang còn máymóc trong việc học, giảng viên giao gì làm đó, dạy cái gì chỉ biết mỗi cái đó vàchỉ tập trung học vào những bài giảng viên dặn là sẽ kiểm tra, sẽ có trong bài thi
mà bỏ qua những bài không liên quan đến
Thực tế cho thấy số sinh viên đến thư viện học tập khá ít, chỉ lác đác vàibạn đến thư viện những ngày bình thường và có nhiều hơn một chút khi đếnmùa thi Quản lý thư viện cho biết, một ngày trung bình chỉ có khoảng vài chục
em đến đây ngồi học, tìm tòi tài liệu Trong khi đó, giờ giảng dạy của giảng viêntrên lớp không có gì hơn ngoài một cái micrô cứ ọc-ẹc theo kiểu “mạnh thầythầy cứ nói”, còn lớp học đông đúc thì “mạnh trò, trò ngủ”
Sinh viên còn đang hạn chế về khả năng tiếp thu cũng như áp dụng kiếnthức vào đời sống thực tế Sinh viên chỉ đang biết học để được điểm cao, đểđược lên lớp, nhưng chưa nhận ra được kiến thức ở giảng đường là những bướcchân đầu tiên khi bước ra ngoài cuộc sống và để phục vụ cho cuộc sống hằngngày Dường như những kiến thức ấy là đối thủ, là liều thuốc mê đối với sinhviên, luôn tạo cảm giác mông lung, chới với không cách nào hiểu được nhau Để
có thể hiểu hơn về nó thì cần phải đề cao tính tự giác, tính tò mò thích tìm hiểu
và phải thật thoải mái để cảm thấy học không phải là vì bị ép buộc
Trang 5Đa số sinh viên chưa liên hệ, chưa móc nối được những kiến thức ấy vớinhau, kiến thức luôn có mắt xích và muốn tìm hiểu thì phải biết cách khai thácthêm thật nhiều từ những bài học của giảng viên Vì thế, sinh viên vẫn chưa biếtcách giải quyết những vấn đề được vận dụng từ những gì đã học và không nêntheo một khuôn khổ nhất định.
Từ những hiện trạng nêu trên dẫn đến một hậu quả khá nghiêm trọng làkhả năng nghiên cứu của đa số sinh viên còn yếu kém Điều này, dẫn đến một hệlụy sau cùng là sau khi ra trường, khả năng phát hiện vấn đề, xử lí tình huống,giải quyết công việc của hầu hết sinh viên là không cao
2 Lý do chọn đề tài
Hiện tại có những thách thức đòi hỏi các trường đại học phải đưa ra giảipháp giúp sinh viên vượt qua Đầu tiên, nhu cầu của xã hội ngày càng cao, tính ỳcủa thói lười biếng và các thiết bị học tập chưa được đảm bảo đầy đủ Thứ haiđối với các bạn sinh viên, chủ yếu là sinh viên năm nhất chưa thích nghi đượcvới môi trường học tập mới việc làm quen với hệ thống này càng khó khăn hơn.Thứ ba, vẫn còn những sinh viên bị mất phương hướng hoặc không xác định rõmục tiêu của mình Trong môi trường đòi hỏi tính chủ động rất cao nhưng sinhviên không chọn được những phương pháp học hợp lý, quản lý thời gian hiệuquả
Để khắc phục sinh viên cần phải có nhiều nỗ lực trong hoạt động học tập,đặc biệt phải dành nhiều thời gian cho việc tự học và tự nghiên cứu Có mộtphương pháp học đúng đắn, phù hợp và hiệu quả để nắm bắt nhiều hơn nhữngkiến thức chuyên môn ở Đại học Kiến thức khi đến trường không bao giờ là đủ.Khi tự học có thể giúp bản thân nhận ra được nhiều điều mới mẻ, mở rộng tầmnhìn về những điều không thể và có nhiều cơ hội hơn Phương pháp tự học đóngvai trò vô cùng quan trọng bởi kết quả của người học tỉ lệ thuận với năng lực tựhọc của người học Không những giúp nâng cao thành tích học tập, tự học còntạo điều kiện hình thành và rèn luyện tính chủ động, khả năng sáng tạo của mỗingười Với nền tảng đó tạo điều kiện và cơ hội học tập suốt đời
Ngày nay, tự học là một năng lực cần thiết cho mọi người Vì vậy, về phíanhà trường việc quan trọng nhất không phải trang bị cho người học kiến thức mà
là phương pháp tự học Thực tế hiện nay, quá trình tự học của sinh viên vẫn cònnhiều hạn chế Đa số sinh viên chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa
có ý thức xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự học cho bản thân, phương pháp tựhọc chưa hợp lý
Trang 6Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên để thúc đẩysinh viên tự học là cấp thiết Từ những lý do trên nhóm tôi đã chọn đề tài “Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên đại học” để
đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao thành tích học tập và chất lượngđào tạo
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là khảo sát thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến ý thức tự học
Từ đó, nghiên cứu giúp nhà quản trị có được cái nhìn tổng quát về thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến ý thức tự học như thế nào Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể như sau:
- Khảo sát thực trạng yếu tố nhà trường ảnh hưởng đến ý thức tự học
- Khảo sát thực trạng yếu tố xã hội ảnh hưởng đến ý thức tự học
- Khảo sát thực trạng yếu tố gia đình ảnh hưởng đến ý thức tự học
- Khảo sát thực trạng yếu tố viễn cảnh nghề nghiệp ảnh hưởng đến ý thức tự học
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã xây dựng các câu hỏi như sau:
Câu hỏi chung
Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên như thếnào ?
Câu hỏi chi tiết
- Thực trạng cho thấy yếu tố nhà trường có ảnh hưởng đến ý thức tự họccủa sinh viên không ?
- Thực trạng cho thấy yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên không ?
- Thực trạng cho thấy yếu tố gia đình có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên không ?
- Thực trạng cho thấy yếu tố viễn cảnh nghề nghiệp có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên không ?
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tổng hợp, phân tích các tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp quan sát, điều tra về thực trạng hoạt động tự học của sinh viên các trường đại học
Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Phương pháp thống kê tổng hợp
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn thể sinh viên UEH cũng như tất cả sinh viên của các trường đại học khác
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn: quan sát và sử dụng dữliệu từ sách, báo, tạp chí, website…từ đó tiến hành tổng hợp và phân tích,
đề ra một số giải pháp thúc đẩy ý thức tự học của sinh viên
7 Ý nghĩa nghiên cứu
III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Một số khái niệm trong đề tài
Trang 8Tự học hẳn là khái niệm không còn xa lạ gì đối với chúng ta Tự học làmột tự giác học tập, tích cực nghiên cứu, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức gắnliền với suy nghĩ, thái độ, hành động, cảm xúc, … của học sinh/sinh viên nhằmchuyển đổi những kiến thức tiếp thu được từ kho tàng tri thức của nhân loạithông qua thầy cô, bạn bè, xã hội thành vốn kiến thức riêng và từ đó hình thànhnên kỹ năng cho người học Bên cạnh đó, người học còn có thể vận dụng nhữngkiến thức và kỹ năng có được tring quá trình tự học này để liên hệ, áp dụng vàocuộc sống thực tiễn Tự học chính là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất
để nâng cao ý thức tự giác, củng cố kiến thức của bản thân thông qua việc tìmtòi, lắng nghe những kiến thức từ thầy cô, bạn bè cũng như những kiến thứcngoài xã hội từ đó hoàn thiện bản thân nhiều hơn
Ý thức tự học là việc mỗi sinh viên tự giác nhận thức được tầm quantrọng của việc học, từ đó tự giác thực hiện công việc học tập của bản thân màkhông dựa dẫm, ỷ lại vào sự nhắc nhở của người khác Bên cạnh đó, tự giáctrong học tập còn được thể hiện ở việc trong quá trình học tập, nghiên cứu luônluôn chủ động và sáng tạo, chủ động thông qua hoạt động tiếp nhận kiến thức vàhoàn thiện tri thức
=> Vậy, ý thức tự học của sinh viên chính là sự tự nghiên cứu và cảmnhận về tầm quan trọng của sinh viên đối với việc tự học Tinh thần tự học củasinh viên là cách suy nghĩ, cách quan sát và cách hành động của sinh viên vềviệc tự học
Seminar (buổi hội thảo trình bày về nghiên cứu chuyên đề hay gọi đơn giản là buổi báo cáo kết quả học tập): có thể hiểu là một hình thức học tập, mà trong đó người học chủ động hoàn toàn từ khâu chuẩn bị tài liệu, trình bày nội dung đưa dẫn chứng, trao đổi , thảo luận với các thành viên khác, cuối cùng tự rút ra nội dung bài học hay vấn đề khoa học và đề xuất các ý kiến để mở rộng nội dung cúng như khắc phục nhược điểm Đây là một trong những phương pháp thú vị phục vụ cho việc trình bày quan điểm cá nhân với mọi người
Mind mapping (Bản đồ tâm trí): là một sơ đồ được sử dụng để phác thảo thông tin trực quan Một bản đồ tâm trí thường được tạo ra xung quanh một từ khoá (keyword) hoặc một văn bản đặt ở trung tâm, mà những ý tưởng, lời nói và các khái niệm liên quan được thêm vào Từ khóa, hoặc ýchính được tỏa ra từ một nút trung tâm, các ý phụ sẽ được phát triển và trởthành nhánh nhỏ của các ý chính và thể hiện những vấn đề cần chú ý và ghi nhớ của ý chính (nhiệm vụ, yêu cầu, ý nghĩa ) Người dùng sẽ tư duy
Trang 9và sử dụng chúng một cách linh hoạt để tạo nên một bức tranh tổng thể cho vấn đề mà họ muốn tìm hiểu Mindmap là một công cụ rất hữu hiệu trong việc tối ưu hoá khả năng ghi chép, thu thập và xử lý thông tin Mindmaps có thể được vẽ bằng tay, hoặc như là "ghi chú thô" trong một bài giảng hay hội họp, hoặc có thể sử dụng chất lượng hình ảnh cao hơn khi có nhiều thời gian hơn
SQR3: là một phương pháp để đọc và hiểu toàn diện, bao gồm 5 bước: Survey (Khảo sát) - Question (Đặt câu hỏi) - Read (Đọc) - Recite (Nhớ lại) - Review (Ôn tập) Đây là một kĩ thuật vô cùng hữu ích cho việc tiếp thu đầy đủ thông tin trong văn bản Nó giúp bạn hình thành một dàn ý thích hợp để bạn có thể sắp xếp các dữ liệu vào đó một cách chính xác, giúp bạn thiết lập được các mục tiêu nghiên cứu, học tập của mình SQR3 còn nhắc nhở bạn dung các kĩ thuật duyệt lại nhằm khắc sâu kiến thức vàotâm trí của bạn Sử dụng SQR3 sẽ giúp bạn đọc tài liệu hiệu quả hơn, bạn
có thể tận dụng được tối đa hiệu quả từ thời gian học của mình
khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như: J.A Comensky (1592-1670); G.Brousseau (1712- 1778); J.H Pestalozzi (1746-1872); A.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi
và suy nghĩ trong quá trình học tập Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ
sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều
Phương pháp dạy học mới ra đời: “phương pháp lạc quan”, “phương pháp trọng tâm tri thức”, “phương pháp montessori”…Các phương pháp dạy học này đã
Trang 10khẳng định vai trò quyết định của học sinh trong học tập nhưng quá coi trọng
“con người cá thể” nên đã hạ thấp vai trò của người giáo viên đồng thời phức tạp hóa quá trình dạy học Mặt khác, những phương pháp này đòi hỏi các điều kiện rất cao kể cả từ phía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó có thể triển khai rộng rãi được Từ giữa những năm 1970 đã có sách hay bài viết về vấn
đề này (Benn, S I viết bài “Freedom, Autonomy and the Concept of the
Person” năm 1976; Holec H viết quyển “Autonomy in Foreign Language
Learning” năm 1981, NXB Oxford) Sau chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh sự tiến bộ rất nhanh của các ngành khoa học cơ bản, khoa học giáo dục cũng có nhiều tiến bộ đáng kể Một trong những tiến bộ đó là: sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống (Giáo viên là nơi phát động thông tin, học sinh là nơi tiếp nhận thông qua diễn giảng trên lớp) và các quan điểm dạy học hiện đại (học sinh là chủ thể tích cực, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn)
Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu ở thời kỳ này đã đều thống nhất khẳng định vai trò của người học trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của người thầy và các phương pháp, phương tiện dạy học Khái niệm người học trong giai đoạn này cũng không còn được quan niệm cá thể hóa cực đoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý Theo J.Dewey: “học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng “lấy học sinh làm trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như: “Phương pháp hợp tác” (cooperative methods),
“phương pháp tích cực” (active methods), “Phương pháp cá thể hóa”, “Phương pháp nêu vấn đề”, … trong đó “Phương pháp tích cực” được nghiên cứu triển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ý kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học Nhìn chung tư tưởng “lấy học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và giáo dục nói chung đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó
“phương pháp tích cực” là chủ đạo mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, sinh viên Đồng tình với quan điểm trên, các nhà giáo dục Xô Viết đã khẳng định vai trò tiềm năng to lớn của hoạt động tự học trong giáo dục nhà trường Đặc biệt, nhiều tác giả còn nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của người học, trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học
b) Vấn đề tự học ở Việt Nam
Trang 11Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phongkiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu
tố quyết định đều là tự học của bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài Nhưng nhìn
chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộc lòng …” Đến thời kỳ thực dân Pháp đô
hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dụccách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chínhtấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học học, phương pháp dạy học bộ môn Một số công trình tiêu biểu là: Nguyễn CảnhToàn (Nguyễn Cảnh Toàn (1995) luận bàn và kinh nghiệm về tự học), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị,… GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta Từ một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục” Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã khẳngđịnh: Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sựphát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung, và vấn đề tự học của sinh viên nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan trọng của
tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới lấy người học là trung tâm Chúng ta có thể tham khảo bài viết của Nguyễn Nghĩa Dán “Vì năng lực tự
Trang 12Giáo sư Cao Xuân Hạo đã có những phân tích thấu đáo và ý kiến sâu sắc trong bài “Bàn về chuyện tự học” (Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001) Và giáo viên ở các trường đại học cũng có những nghiên cứu để giúp dần đưa việc tự học thành một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy và học hiện nay (Diệp Thị Thanh, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng với bài “Phương pháp Tự học – Cầu nối giữa học tập và Nghiên cứu Khoa học”) Tự học là vấn đềquan trọng và cần thiết hiện nay đối với sinh viên.
ra những câu hỏi “vì sao” Theo Bác, trong quá trình tự học phải tận dụng triệt
để những điều kiện, phương tiện có sẵn như sách báo, bảo tàng, các hội thảo,câu lạc bộ,… Không chỉ tự mình tìm tòi từ các nguồn ngoài mà cần phải tranhthủ sự giúp đỡ, hướng dẫn của bạn bè, đồng nghiệp, thầy cô Luôn luôn phải họctập từ những việc nhỏ nhoi nhất, để bản thân luôn luôn phát triển, không ngừng
cố gắng, tuyệt đối không phụ thuộc hoàn toàn vào người khác, học tập một cáchthụ động Học đến đâu thì phải luyện tập, thực hành đến đó, áp dụng kiến thứchọc được vào thực tiễn, giúp đỡ mọi người, trở thành con người có ích cho xãhội Bên cạnh đó Luật Giáo Dục 2018 chỉnh sửa ghi rõ: “Phương pháp giáo dụcđại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điềukiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn kỹ năng thực hành, tham gianghiên cứu…”
Trong quá trình giảng dạy của mình, giáo sư Thái Duy Tuyên cũng đã đưa
ra khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹxảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ cùng các phẩmchất tâm lý để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinhnghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thânngười học” Tự học là hành động của bản thân trong một quá trình nhằm đạtđược các mục đích nhất định Kết quả của học tập ở trên trường phụ thuộc phầnnhiều vào khả năng và ý thức tự học của sinh viên, tự học không chỉ giúp nângcao kết quả học tập của sinh viên mà tự học còn tạo cho sinh viên những khảnăng sáng tạo, lĩnh hội kiến thức một cách nhanh nhẹn hơn, làm tiền đề cho việc
Trang 13học tập suốt đời và giúp ích nhiều cho công việc sau này của sinh viên Tự họcgắn liền với những mục đích, động lực học của riêng mỗi người học.
Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhậnthức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinhviên tiến hành trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sáchgiáo khoa đã quy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy cơ bản ở đại học cótính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân như có quan hệ chặt chẽ vớichương trình dạy học”
Cố Giáo sư Tạ Quang Bửu (nguyên bộ trưởng Bộ Đại học và chuyênnghiệp) cũng đã nói: “Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồngthời là cái nôi nuôi dưỡng trí sáng tạo Ai giỏi tự học khi đang ở trường, người
Tạp chí Science et Vie (Pháp) đã viết: “Ai tự học mạnh nhất, người đótích luỹ được một tiềm năng sáng tạo dồi dào nhất Ngược lại, ai có nhu cầusáng tạo nhiều hơn, người ấy càng thôi thúc ý chí tự học cao hơn”
J.A.Comenxki đã nói: Mỗi học sinh có một vốn tri thức, một trình độ tưduy riêng, chỉ có tự học mới học hết tất cả những điều cần học vì chỉ có bản thânngười học mới biết rõ mình còn thiếu cái gì và cần học cái gì?
Theo Aditxterrec: “Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên thôi thì dù cónghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thứccủa học sinh Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lý, cái đó học sinh phải
tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân”
Những quan điểm trên đều nhằm mục đích nói lên tầm quan trọng củaviệc tự học, những lợi ích mà con người có thể có được nhờ tinh thần, ý thức tựhọc Phát triển trí tuệ, tư duy sáng tạo, ngày càng phát triển bản thân hơn về tưduy lẫn hành động
Trang 14d) Đặc điểm tự học của sinh viên đại học
Khi đối diện với các kỳ thi quan trọng thì các bạn sinh viên ý thức đượcviệc tự học là cần thiết và quan trọng, trong giai đoạn này, các bạn ôn tập, tổnghợp và sắp xếp lại trình tự các kiến thức mà giảng viên đã dạy trước đó, hoànthành những công việc mà trên lớp chưa hoàn thành Sinh viên khi tự học thìthường gắn liền với những động cơ học tập, có thể là để vui lòng bố mẹ, không
bị tụt hậu so với các bạn, cơ bản là mình muốn điểm số mình được cao, nhậnhọc bổng từ doanh nghiệp, nhà trường hoặc cũng có thể là do kỷ cương, nề nếpcủa nhà trường nói chung và của từng giảng viên môn học nói riêng bắt buộcsinh viên phải có ý thức tự học Nếu khả năng tự học đã làm cho sinh viên đạtđược các mục tiêu được đề ra thì các bạn sẽ có hứng thú để làm những mục tiêutiếp theo nhờ các phương pháp tự học của bản thân
Các bạn sinh viên tự học theo những đặc điểm, phong cách, phương phápkhác nhau, các bạn lựa chọn những địa điểm mà bản thân cảm thấy phù hợp đểhọc tập, có thể là thư viện (Đáp ứng được một không gian yên tĩnh, đầy đủ cơ sởvật chất và những nguồn tài liệu cần thiết cho quá trình tự học của sinh viên), tựhọc tại phòng riêng (Một địa điểm quá quen thuộc đối với bản thân mỗi sinhviên, nếu các bạn sinh viên ở một mình trong một phòng thì đây là địa điểm hếtsức lý tưởng để làm bất cứ thứ gì phục vụ cho việc học tập), tự học ở quán càphê cũng là một địa điểm rất nhiều các bạn sinh viên lựa chọn, có những quán càphê yên tĩnh, mô hình thiết kế phục vụ cho việc học tập, làm việc của tất cả mọingười, không gian yên tĩnh, có nước uống mình yêu thích, mọi người xungquanh đều học tập, làm việc thì tạo cho các bạn một động lực nhất định để bắttay vào học tập, tuy nhiên thì học ở quán cà phê sẽ mất một khoản chi phí nhonhỏ để trả tiền nước uống, vì vậy đây là địa điểm các bạn sinh viên hạn chế vềkinh tế không thể nào đến đây đều đặn mỗi ngày được, học tập ở khuôn viêntrường, ở những nơi chỉ dành riêng cho sự yên tĩnh và học tập cũng là một địađiểm các bạn sinh viên thường hay đến để học
Thời gian để tự học cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến sốlượng kiến thức các bạn lĩnh hội được, có những khung thời gian trong ngàythích hợp cho những công việc học tập khác nhau Đã có những nghiên cứu củanhiều chuyên gia nói về khung thời gian học tập hiệu quả, tuy nhiên tuỳ vào giờgiấc sinh hoạt, cuộc sống của mỗi người mà các bạn sinh viên học tập ở nhữngthời điểm nhất định trong ngày, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến kết quả học tậpcủa các bạn
Quy trình tự học của các bạn sinh viên, mỗi bạn sẽ có một quy trình, cáchthức và đặc điểm riêng, tuy nhiên đa số các bạn sẽ có chung các bước tự học cơ
Trang 15bản: Thứ nhất, các bạn phải là người ham muốn học hỏi, lĩnh hội một kiến thứcnhất định nào đó, luôn đặt ra trong đầu mình luôn những câu hỏi tại sao, tiếptheo sẽ là đặt ra các mục tiêu học tập cho bản thân, điều này sẽ làm gia tăngđộng lực của bản thân, tạo dựng nên mục đích của việc tự học, xem xét, đánhgiá những nguồn kiến thức mà bản thân đã, đang và sắp sửa tiếp cận, sau đó làthiết lập những quy trình học tập riêng cho bản thân mình, nếu được, áp dụngnhững gì bản thân học được vào quy trình nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề
ra, điều này không những củng cố và phát triển kiến thức cũ mà còn góp phầnlĩnh hội nhanh chóng những kiến thức mới, trao đổi, cộng tác với người khác vàcuối cùng là chia sẻ những kiến thức chính xác, đúng đắn mà bản thân đã lĩnhhội được trong suốt quá trình tư học cho tất cả mọi người, Albert Einstein đãnói: “Nếu bạn không thể giải thích vấn đề một cách đơn giản và dễ hiểu, thì bạnchưa hiểu vấn đề”
Thời đại hiện nay, việc tự học của sinh viên không còn đơn giản như thờiđại Internet chưa thực sự phát triển, ngoài việc nghiên cứu khô khan ở giáo trìnhbản cứng thì các bạn đã có thể tìm tài liệu trực tuyến, học tập kết hợp chưa trựctuyến và trực tiếp Xem lại các slides bài giảng kèm theo bổ sung, đa dạng thêmkiến thức qua website, video giảng dạy của các giảng viên khác trên toàn thếgiới Để tìm kiếm tài liệu mình cần ở thư viện trường, nhà sách,… sẽ rất khókhăn, trong khi đó, để tiết kiệm thời gian thì các bạn đã sử dụng Internet để tìmkiếm tài liệu, thông tin và chắt lọc chúng một cách hiệu quả Internet đã giúp íchrất nhiều cho việc tự học của sinh viên, các bạn có thể trao đổi, liên lạc trựctruyến với giảng viên để tìm hiểu và làm sáng tỏ nên những kiến thức mà bảnthân còn mơ hồ
Bên cạnh các bạn sinh viên chủ động trong việc học tập thì vẫn còn cácbạn sinh viên học tập thụ động, học tập mà phụ thuộc hoàn toàn vào người khác,phụ thuộc hoàn toàn vào tài liệu mà không có thao tác chắt lọc chúng Ví dụ mộtbài tập của giảng viên đưa ra, yêu cầu sinh viên tìm tòi trên mạng những thôngtin liên quan đến bài tập thì các bạn sinh viên đó sẽ trông đợi vào các bạn kháccho mình xem đáp án, và cứ thế nộp bài cho giảng viên mà không có bất kỳ kiếnthức gì về bài tập đó, qua đó đánh giá được ý thức tự học của các bạn đó rấtkém, dần dần việc phụ thuộc vào người khác sẽ trở thành một thói quen khó bỏ
và việc tự học sẽ rất khó khăn đối với các bạn
3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu.
Trang 16Từ các cơ sở trên, nhóm nghiên cứu đã xây dựng mô hình gồm 4 yếu tốkhách quan: yếu tố nhà trường, yếu tố xã hội, yếu tố gia đình, yếu tố viễn cảnhnghề nghiệp.Và các yếu tố này có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên, ta
có mô hình nghiên cứu như sau:
e)
f)
g)
Mô hình nghiên cứu Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến ý thức tự học
Giả thuyết nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đặt ra các giảthuyết nghiên cứu:
Giả thuyết H1: Yếu tố nhà trường có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên.
Giả thuyết H2: Yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên Giả thuyết H3: Yếu tố gia đình có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên.
Giả thuyết H4: Yếu tố viễn cảnh nghề nghiệp có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên.
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Yếu tố nhà trường
Ý thức tự học Yếu tố xã hội
Yếu tố gia đình
Yếu tố viễn cảnh nghề nghiệp
Trang 171 Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ Quy trình nghiên cứu
2 Phương pháp thực hiện
2.1 Phương pháp chọn mẫu và phạm vi, đối tượng khảo sát
Xác định vấn đề nghiên cứu
Tổng quan tài liệu
Thiết kế nghiên cứu
Khảo sát trực tuyến qua Google Forms
Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng và chủ yếu
sử dụng thống kê mô tả
Ý tưởng nghiên cứu, lựa chọn đề tài nghiên, đặt vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu…
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu, phương pháp xử lý và phân tích, xây dựng bảng câu hỏi và thang đo…
Tổng hợp kết quả và đưa ra kết luận, hàm ý quản trị
Trang 18Mặc dù nhóm nghiên cứu không sử dụng mô hình nghiên cứu hồi quy
tuyến tính, tuy nhiên phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong một đềtài phân tích các yếu tố ảnh hưởng cần có một cỡ mẫu đủ lớn Cho nên, kíchthước mẫu cần thỏa mãn cả hai công thức sau:
Dựa theo nghiên cứu của Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) chotham khảo về kích thước mẫu dự kiến Theo đó kích thước mẫu tối thiểu là gấp
5 lần tổng số biến quan sát Đây là cỡ mẫu phù hợp cho nghiên cứu có sử dụngphân tích nhân tố (Comrey, 1973; Roger, 2006) n = 5*m , lưu ý m là số lượngcâu hỏi cho biến quan sát trong bài Bài nghiên cứu của nhóm với 17 biến quansát cho 4 biến độc lập Vậy kích thước mẫu tối thiểu ở đây sẽ là n = 5*(17) = 85
Theo Tabachnick và Fidell (1996) cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theocông thức là n = 50 + 8*m (m: số biến độc lập) Lưu ý m là số lượng nhân tố độclập, chứ không phải là số câu hỏi độc lập Vậy kích thước mẫu tối thiểu ở đây sẽ
là n = 50 + 8*4 = 82
Từ hai công thức trên, ta có thể suy ra kích thước mẫu tối thiểu sẽ là 85.Theo yêu cầu về kích cỡ mẫu và khả năng thực hiện khảo sát, nhóm đãtiến hành khảo sát trực tuyến online thông qua Google Forms với đối tượngkhảo sát phần lớn là sinh viên của Đại học UEH và những sinh viên đến từ cáctrường khác trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh Khảo sát thu về được 89mẫu hợp lệ, vậy kích cỡ mẫu cho đề tài nghiên cứu này sẽ là n = 89
2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu được sử dụng trong bài nghiêncứu là phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu địnhlượng thông qua thống kê mô tả là chủ yếu Từ đó nhận xét, thảo luận và đưa rakết luận tổng quát
2.3 Xây dựng bảng câu hỏi và thang đo
Từ mô hình và giả thuyết nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã xây dựng bảngcâu hỏi như sau:
NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
1 Giới tính của bạn là ?
Trang 192 Bạn là sinh viên trường nào ?
3 Bạn là sinh viên năm mấy ?
4 Bạn có thường hay tự học không ?
5 Theo bạn, ý thức tự học có cần thiết trong cuộc sống không ?
NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
Yếu tố nhà trường
6 Phương pháp giảng dạy của giảng viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
7 Trình độ của giảng viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
8 Cơ sở vật chất của nhà trường có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
9 Độ khó của môn học có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
10 Nhìn chung, yếu tố nhà trường có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên
Yếu tố xã hội
11 Trình độ văn hóa xã hội ngày càng nâng cao có ảnh hưởng đến việctự học của sinh viên
12 Quy định về bằng cấp trong xã hội có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
13 Phong tục tập quán có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
14 Nhìn chung, yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
Yếu tố gia đình
15 Phương pháp giáo dục của gia đình có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
16 Sự ủng hộ về vật chất và tinh thần từ phía gia đình có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
17 Nhìn chung, yếu tố gia đình có ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên
Yếu tố viễn cảnh nghề nghiệp
18 Triển vọng nghề nghiệp có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
19 Mức thu nhập trung bình của nghề nghiệp trong tương lai có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
20 Cơ hội thăng tiến của nghề nghiệp có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
21 Môi trường làm việc có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
22 Nhìn chung, yếu tố viễn cảnh nghề nghiệp có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
Trang 20Với phương pháp nghiên cứu định lượng, thang đo được sử dụng là thang đoLikert 5 mức độ tán thành từ 1 – 5 theo thứ tự: Hoàn toàn không đồng ý –Không đồng ý – Trung lập – Đồng ý – Hoàn toàn đồng ý
V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Thông tin người tham gia nghiên cứu
Dựa trên mục đích xác định rõ ràng và cụ thể về đối tượng nghiên cứu, nhóm nghiên cứu thực hiện việc phân chia và căn cứ vào từng thông tin chi tiết của đối tượng nghiên cứu:
Giới tính: Thông qua 89 câu trả lời của các đối tượng nghiên cứu dựa trên phương pháp khảo sát chúng ta thấy được tỉ lệ giới tính nữ (58,4%) chiếmphần lớn hơn so với tỉ lệ giới tính nam (41,6%) với mức độ chệnh lệch là 16,8% và 0% giới tính khác
Trường học: Căn cứ vào kết quả trả lời của 89 người dựa trên câu hỏi nghiên cứu “bạn là sinh viên trường nào? ” nhận được kết quả có 48,3%
là sinh viên trường UEH và 51,7% là sinh viên trường khác Từ đó cho thấy được là kết quả của nghiên cứu về ý thức tự học sẽ tập trung phản ánh nhiều hơn vào các sinh viên ở trường khác Ngoài ra với tỉ lệ 48,3% cũng phản ánh được một phần về ý thức tự học của sinh viên UEH
Trang 21 Năm học: Thông qua việc phân chia cấp bậc năm học và tiến hành khảo sát, nhóm nghiên cứu nhận được 89 câu trả lời của người tham gia khảo sát với tỉ lệ phần lớn thuộc về đối tượng sinh viên năm 2 chiếm tỉ lệ 84,3% và chiếm tỉ lệ thấp nhất là 2 đối tượng sinh viên năm 4 và khác Bên cạnh đó đối tượng sinh viên năm 1 nằm ở mức trung bình với tỉ lệ 13,5% Từ kết quả này cho thấy việc nghiên cứu sẽ phản ánh rõ được ý thức tự học của sinh viên năm 2.
Thói quen tự học: Thông qua kết quả trả lời câu hỏi khảo sát “Bạn có thường hay tự học không? ” của 89 người tham gia đã chỉ ra được rằng mức độ tự học đang chiếm tỉ lệ cao nhất là ở mức độ thỉnh thoảng
(59,6%), chiếm tỉ lệ thấp nhất là ở mức chưa bao giờ (0%) và có 40,4% ở mức độ thường xuyên Từ kết quả trên phản ánh được rằng, ý thức tự học
Trang 22của sinh viên đại học vẫn chưa thực sự được chú trọng quan tâm tuy nhiênvẫn thể hiện được tinh thần ý thức tự học của sinh viên đại học.
Ý thức về tầm quan trọng của tự học: Theo 89 câu trả lời của người tham gia khảo sát dựa trên câu hỏi “Theo bạn, ý thức tự học có cần thiết trong cuộc sống không?” nhóm nghiên cứu nhận được kết quả là tất cả đều có câu trả lời là “có” chiếm 100% và 0% ở câu trả lời “không” Thông qua kết quả này cho thấy rằng hầu hết các bạn sinh viên đều ý thức được tầm quan trọng của ý thức việc tự học
2 Yếu tố khách quan
a) Yếu tố nhà trường
Trang 23Nhà trường có vai trò phát huy tính tự học của sinh viên thông qua việcđào tạo tiếp cận năng lực Kết quả học tập của mỗi người không chỉ phụ thuộcvào sự nỗ lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường nhà trường rấtnhiều Vì vậy, môi trường học tập tốt sẽ kích thích cũng như nâng cao ý thức tựhọc của sinh viên.
a.1 Phương pháp giảng dạy của giảng viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
Bảng 1.1: Mức độ đồng tình của sinh viên về quan điểm “Phương pháp giảng
dạy của giảng viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên”
Biểu đồ 1.1: Mức độ đồng tình của sinh viên về quan điểm “Phương pháp giảng
dạy của giảng viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên”
Với quan điểm “Phương pháp giảng dạy của giảng viên có ảnh hưởng đếnviệc tự học của sinh viên”, đa phần các sinh viên đều tán thành với mức độ
Trang 24“Đồng ý” và “Hoàn toàn đồng ý” Trong đó, số sinh viên đồng ý lên tới 35/89sinh viên (chiếm 39%) và hoàn toàn đồng ý lên tới 30/89 sinh viên (chiếm 34%).
Ý kiến “Trung lập” có 17/89 sinh viên lựa chọn (chiếm 19%) và một số rất ítsinh viên lựa chọn ở hai mức độ “Không đồng ý” và “Hoàn toàn không đồng ý”(lần lượt là 4/89 và 3/89 sinh viên tương ứng 5% và 3% tỷ lệ)
Tuy có tới tổng cộng 65/89 sinh viên (chiếm 73%) thể hiện sự đồng tìnhcủa mình với quan điểm trên, nhưng cũng có 19% sinh viên thể hiện sự trunglập, điều này cho thấy rằng một số sinh viên vẫn còn phân vân và mơ hồ vớiviệc ảnh hưởng của phương pháp giảng dạy của giảng viên đối với ý thức tựhọc
Thực tế, giảng viên đóng vai trò quan trọng trong quá trình tự học củangười học cũng như góp phần ảnh hưởng đến khả năng tự học của sinh viên.Nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục đã cho rằng: “Sinh viên không biết cách tựhọc là do thầy giáo không biết cách dạy, hay dạy không đúng cách” Trong quátrình tự học của sinh viên, giảng viên có thể đóng những vai trò như định hướngnội dung học, gợi mở tri thức, hỗ trợ, hướng dẫn cho sinh viên, ngoài ra giảngviên còn có thể đánh giá và kiểm tra kết quả tự học của sinh viên Từ đó, giảngviên đã gián tiếp tạo nên thói quen tự học, thúc đẩy đam mê chủ động học, khiếncho ý thức tự học của sinh viên ngày càng tăng cao
a.2 Trình độ của giảng viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên
Bảng 1.2: Mức độ đồng tình của sinh viên về quan điểm “Trình độ của giảng
viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên”
Trang 25Biểu đồ 1.2: Mức độ đồng tình của sinh viên về quan điểm “Trình độ của giảng
viên có ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên”
Giống như phương pháp giảng dạy, quan điểm trình độ của giảng viên cóảnh hưởng đến ý thức tự học cũng được phần lớn các sinh viên tán thành vớimức độ “Đồng ý” và “Hoàn toàn đồng ý” Trong đó, số sinh viên đồng ý lên tới42/89 sinh viên (chiếm 47%) và hoàn toàn đồng ý lên tới 20/89 sinh viên (chiếm23%) Ý kiến “Trung lập” có 20/89 sinh viên lựa chọn (chiếm 23%) và một sốrất ít sinh viên lựa chọn ở hai mức độ “Không đồng ý” và “Hoàn toàn khôngđồng ý” (lần lượt là 6/89 và 1/89 sinh viên tương ứng 6% và 1% tỷ lệ)
Kết quả cho thấy có tổng cộng 62/89 sinh viên (chiếm 70%) thể hiện sựđồng tình với quan điểm trên, trong đó mức độ “Đồng ý” với quan điểm đãchiếm gần một nửa số lượng người tham gia khảo sát, đó là một con số cực kỳ
ấn tượng Tuy nhiên, số lượng sinh viên trung lập cho quan điểm này cũng khánhiều, bằng với số sinh viên hoàn toàn đồng ý Tuy vậy, nhìn chung thì quanđiểm về trình độ của giảng viên có ảnh hưởng đến việc tự học cũng đã đượcnhiều người tham gia thể hiện sự đồng tình
Có thể nói, tự học được xem là phương thức học đúng khi tự học là quátrình bản thân người học tích cực, độc lập, tự giác chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, năng động tìm tòi, phân tích sách vở, tài liệu tham khảo bằng phươngpháp phù hợp trên cơ sở hướng dẫn của giảng viên Người giảng viên giỏi phải
có tri thức ở trình độ cao để từ đó có thể tìm ra phương pháp giảng dạy cho học