1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận văn thạc sĩ) xây dựng báo cáo kế toán quản trị tại công ty cổ phần tập đoàn trường thịnh

108 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng báo cáo kế toán quản trị tại công ty cổ phần tập đoàn Trường Thịnh
Tác giả Võ Thị Ngọc Điểm
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Tùng
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Chuyên ngành: Kế toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông tin mà kế toán quản trị cung cấp được trình bày, diễn giải một cách chi tiết, đáp ứng yêu cầu quản lý theo từng bộ phận trong đơn vị, là cơ sở cho các nhà quản trị đưa ra các quyết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ THỊ NGỌC ĐIỂM

XÂY DỰNG BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN

TRƯỜNG THỊNH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Tùng

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Võ Thị Ngọc Điểm

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

6 Cấu trúc của luận văn 3

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 6

1.1.1 Khái niệm, bản chất KTQT 6

1.1.2 Đối tượng KTQT 7

1.1.3 Các phương pháp nghiệp vụ được sử dụng trong KTQT 9

1.1.4 KTQT với chức năng quản lý 9

1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 11

1.3 PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 13

1.3.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động 13

1.3.2 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng chịu chi phí 15

1.3.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính 16

1.3.4 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 17

1.3.5 Một số cách phân loại chi phí khác 19

Trang 4

1.4 BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY

LẮP 21

1.4.1 Khái niệm, bản chất báo cáo KTQT 21

1.4.2 Tác dụng của báo cáo KTQT 22

1.4.3 Yêu cầu của hệ thống báo cáo KTQT 23

1.4.4 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong các DNXL 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TRƯỜNG THỊNH 40 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TRƯỜNG THỊNH 40

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm hoạt động của Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh 40

2.1.2 Tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 42

2.1.3 Tổ chức công tác kế toán của Công ty 48

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TRƯỜNG THỊNH 50

2.2.1 Thực trạng công tác lập báo cáo KTQT tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh 50

2.2.2 Đánh giá công tác lập báo cáo KTQT tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TRƯỜNG THỊNH 69

3.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TRƯỜNG THỊNH 69

Trang 5

3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện báo cáo KTQT tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh 69 3.1.2 Yêu cầu của việc hoàn thiện KTQT và báo cáo KTQT ở Công ty

Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh 70 3.2 HOÀN THIỆN BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TRƯỜNG THỊNH 71

3.2.1 Hoàn thiện các báo cáo dự toán tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh 71 3.2.2 Hoàn thiện hệ thống báo cáo thực hiện ở Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh 82 3.2.3 Xây dựng báo cáo phân tích chi phí phục vụ kiểm soát chi phí 89 3.2.4 Xây dựng báo cáo quản trị phục vụ cho việc lựa chọn phương án đấu thầu 95 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98

KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 6

MTC: Máy thi công

NVLTT: Nguyên vật liệu trực tiếp

NCTT: Nhân công trực tiếp

SL: Số lượng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

1.3 Bảng tổng hợp dự toán chi phí xây lắp 28

1.10 Báo cáo giờ công lao động của công nhân 34

1.14 Báo cáo kết quả hoạt động của từng bộ phận 37 1.15 Dự toán chi phí theo phương pháp trực tiếp 38 2.1 Bảng số liệu về tình hình tài chính qua các năm 42 2.2 Kế hoạch sản lượng hoạt động xây lắp năm 2014 51

2.4 Kế hoạch chi phí sản xuất vật liệu xây dựng Tháng 1 năm

2.5 Bảng kế hoạch chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2014 56 2.6 Kế hoạch mua sắm tài sản cố định năm 2014 57

Trang 8

2.7 Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch sản lượng xây lắp quý

1/2014 Đơn vị: Ban chỉ huy công trường số 1 59

2.8 Bảng tổng hợp tình hình thực hiện sản lượng xây lắp toàn

3.4 Dự toán chi phí xây lắp theo phương pháp trực tiếp 76

3.5 Bảng phân loại chi phí hoạt động sản xuất đá theo cách ứng

3.6 Bảng tổng hợp tiền điện 6 tháng đầu năm 2014 78

3.7 Bảng phân loại chi phí hoạt động sản xuất đá theo cách ứng

3.11 Dự toán chi phí đơn vị cho từng loại đá 81

3.12 Dự toán chi phí đơn vị cho từng loại đá khi có sự thay đổi

Trang 9

3.14 Báo cáo chi phí nhân công trực tiếp 85

3.16 Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2013 của ban chỉ huy

3.17 Báo cáo phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 90 3.18 Báo cáo phân tích chi phí nhân công trực tiếp 93 3.19 Báo cáo phân tích chi phí sử dụng máy thi công 94 3.20 Báo cáo phân tích chi phí sản xuất chung 95 3.21 Dự toán mối quan hệ giữa tỷ lệ giảm giá thầu và kết quả

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới Chính

sự phát triển này đã tạo ra nhiều cơ hội mới nhưng cũng mang đến không ít khó khăn, thách thức cho các doanh nghiệp Do đó, để tồn tại và phát triển bền vững đòi hỏi doanh nghiệp phải chú trọng đổi mới trong kinh doanh, nhất

là trong công tác quản lý

Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý được áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp Kế toán quản trị thực hiện chức năng cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các nhà quản trị thông qua hệ thống báo cáo gọi là báo cáo kế toán quản trị Thông tin mà kế toán quản trị cung cấp được trình bày, diễn giải một cách chi tiết, đáp ứng yêu cầu quản lý theo từng bộ phận trong đơn vị, là cơ sở cho các nhà quản trị đưa

ra các quyết định đúng đắn trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị

Tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh, kế toán quản trị hầu như chỉ mới tập trung vào việc xây dựng các dự toán chi phí, vì đây là cơ sở để nhà quản trị định ra mức giá bỏ thầu Còn các nội dung khác của kế toán quản trị như xử lý thông tin chi phí phục vụ nhà quản trị ra quyết định, lập báo cáo

kế toán quản trị nhằm kiểm soát chi phí thì chưa được quan tâm đúng mực, do vậy, công tác kế toán quản trị tại Công ty chưa phát huy được vai trò thực sự của nó

Nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin có chất lượng cao, kịp thời,

dễ hiểu, dễ sử dụng cho các nhà quản trị trong việc ra quyết định kinh doanh đòi hỏi Công ty phải hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống báo cáo kế toán quản trị phù hợp với tình hình, đặc điểm hoạt động của mình

Trang 12

Từ thực tế đó, đề tài “Xây dựng báo cáo kế toán quản trị tại Công ty

Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh” được lựa chọn nghiên cứu nhằm giúp

công ty thiết lập được hệ thống báo cáo kế toán quản trị phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị

- Thông qua nghiên cứu, đánh giá thực trạng báo cáo kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện báo cáo kế toán quản trị, góp phần nâng cao hiệu quả công tác kế toán quản trị ở Công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về báo cáo kế toán quản trị, thực trạng công tác lập báo cáo kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong hoạt động xây lắp của Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng để nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện và có hệ thống Vận dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp, phân loại, tổng hợp; Sử dụng các bảng biểu để minh họa

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị

- Nghiên cứu và vận dụng các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị

Trang 13

và báo cáo kế toán quản trị để đánh giá thực trạng công tác lập báo cáo kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần tập đoàn Trường Thịnh

- Xuất phát từ những căn cứ khoa học, các giải pháp hoàn thiện báo cáo

kế toán quản trị được xây dựng trong luận văn có khả năng áp dụng nhằm tăng cường thông tin hữu ích cho các nhà quản trị trong việc ra các quyết định kinh doanh

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về báo cáo kế toán quản trị trong các doanh

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Xây dựng báo cáo kế toán quản trị có vai trò quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, mỗi đề tài có mỗi khía cạnh và góc độ thể hiện khác nhau Cụ thể:

+ Đề tài “Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng” – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế

Đà Nẵng (Tác giả: Hà Thị Hồng Nga, năm 2012)

Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp Phản ánh thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị đang sử dụng tại Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng Đánh giá những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong báo cáo đang

sử dụng tại doanh nghiệp Từ những nhận định đó, cùng với việc vận dụng lý luận về bản chất và đặc trưng kế toán quản trị để hoàn thiện hệ thông báo cáo

Trang 14

kế toán quản trị tại Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, giúp quản lý và kiểm soát tốt hoạt động của đơn vị

+ Đề tài “Tổ chức báo cáo kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần lương thực Đà Nẵng” – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng (Tác giả: Đỗ Thị Minh Nguyệt, năm 2012)

Tác giả đã trình bày những lý luận về tổ chức báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Phản ánh thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị đang sử dụng tại Công ty Từ đó, đánh giá những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong việc tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị đang sử dụng tại Công ty Trên cở sở đó, tác giả đề xuất và giải quyết các nội dung về tổ chức bộ máy kế toán quản trị, chỉnh sửa, bổ sung một số báo cáo kế toán quản trị cho Công ty Cổ phần lương thực Đà Nẵng

+ Đề tài “Tổ chức báo cáo kế toán quản trị tại Công ty cổ phần đầu tư

và kinh doanh thép Nhân Luật” - Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng (Tác giả: Phạm Trương Phú Nguyên, năm 2012)

Tác giả đã trình bày tổng quát cơ sở lý thuyết về tổ chức báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp thương mại Dựa trên nghiên cứu thực tế tại Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh thép Nhân Luật, tác giả đã đi sâu tìm hiểu các nội dung liên quan đến việc tổ chức báo cáo kế toán phục vụ cho công tác quản trị nội bộ của Công ty Trên cơ sở nhu cầu thực tế của công tác quản lý kết hợp với những lý luận về tổ chức báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp thương mại, tác giả đã tổ chức bộ máy kế toán quản trị và xây dựng một số báo cáo kế toán cần thiết và phù hợp cho Công ty

+ Đề tài “Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần May 10” – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung, năm 2009)

Tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến hệ thống kế

Trang 15

toán quản trị của doanh nghiệp sản xuất, phản ánh thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị đang sử dụng tại Công ty Cổ phần May 10 Từ đó, đánh giá những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong báo cáo đang sử dụng tại doanh nghiệp Cuối cùng, đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Công ty

+ Đề tài “Xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị cho hệ thống siêu thị Medicare” – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh (Tác giả: Hoàng Kim Sơn, năm 2007)

Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị, đi sâu vào tìm hiểu hệ thống báo cáo kế toán quản trị đang sử dụng tại siêu thị Medicare, nhằm đánh giá những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong báo cáo đang sử dụng tại doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đưa ra giải pháp xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại siêu thị Medicare

+ Đề tài “Xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị ở Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5” – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng (Tác giả: Nguyễn Tấn Thành, năm 2004)

Tác giả đã khái quát hóa nội dung cơ bản về kế toán quản trị và hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong ngành xây dựng Phản ánh thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị đang sử dụng tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 Từ đó, đánh giá những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong báo cáo đang sử dụng tại doanh nghiệp Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế toán quản trị tại Công

ty

Trang 16

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của thông tin cung cấp, kế toán được chia thành 2 bộ phận: kế toán tài chính và KTQT Việc phân định giữa kế toán tài chính và KTQT là một trong các yêu cầu cần thiết đang được sự quan tâm của các chuyên gia kế toán và những người sử dụng thông tin kế toán

Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán

TQT, theo Hiệp hội kế toán quốc gia Mỹ (NAA), là quá trình cung cấp

thông tin cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch, kiểm soát và điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Quá trình KTQT bao gồm các công việc cân, đong, đo, đếm, thu thập, tích lũy và phân tích, chuẩn bị thông tin giải thích và cung cấp thông tin (thông tin tài chính và phi tài chính) cho các nhà quản lý, xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp

Theo Điều 4, Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu

Trang 17

quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán"

Như vậy, KTQT là một phân hệ không thể tách rời trong hệ thống thông tin kế toán, là một khoa học xử lý, cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành, quản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp

Từ đó có thể nhận thấy bản chất của KTQT:

KTQT chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ gắn liền với quan hệ dự báo, đánh giá, kiểm soát và trách nhiệm trong việc điều hành doanh nghiệp KTQT không có

ý nghĩa đối với bên ngoài

KTQT là một bộ phận của hệ thống kế toán nói chung và là một công

cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp Tuy nhiên, KTQT không đơn thuần là kế toán chi tiết, vì nhu cầu của nhà quản trị thường là các thông tin ở dạng tóm tắt để thấy được vấn đề tồn tại của doanh nghiệp đang ở đâu, để có cở sở trong các quyết định quản lý

KTQT ngoài việc sử dụng hệ thống số liệu ban đầu từ chứng từ kế toán còn phải kết hợp với nhiều môn khoa học khác như thống kê, kinh tế học, quản trị doanh nghiệp, phân tích kinh doanh nhằm tạo ra những thông tin hữu ích, thích hợp cho việc lựa chọn phương án kinh doanh đúng đắn

1.1.2 Đối tượng KTQT

Hạch toán kế toán nghiên cứu quá trình tái sản xuất thông qua sự hình thành và vận động của tài sản trong một đơn vị cụ thể, nhằm quản lý và sử

dụng có hiệu quả tài sản theo phạm vi sử dụng Là một bộ phận của kế toán

doanh nghiệp, tất nhiên đối tượng của KTQT cũng là đối tượng của kế toán nói chung nhưng ở một khía cạnh khác so với kế toán tài chính

Kế toán tài chính phản ánh sự hình thành và vận động của tài sản trong đơn vị gắn với tính pháp lý của từng nghiệp vụ kinh tế tài chính, cung cấp

Trang 18

thông tin cho việc thực hiện chức năng phân phối kết quả và kiểm soát toàn

bộ hoạt động tài chính của doanh nghiệp Do vậy, tài sản của doanh nghiệp được phân theo tình hình sử dụng và nguồn hình thành, kết quả kinh doanh được tính toán trên cơ sở các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận

Đối tượng mà KTQT nghiên cứu là sự vận động của tài sản, nguồn vốn gắn với các quan hệ tài chính vì mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, KTQT nghiên cứu những đối tượng đặc thù và cụ thể hóa nhằm cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác cho nhà quản trị có cơ sở để đề ra các quyết định mang tính chiến lược cho doanh nghiệp

KTQT nghiên cứu sâu về chi phí của doanh nghiệp theo các góc độ khác nhau như phân loại chi phí, dự toán chi phí, xây dựng định mức chi phí, phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận với mục đích kiểm soát và quản lý chi phí một cách chặt chẽ nhằm tối thiểu hóa chi phí

KTQT các yếu tố sản xuất như vật tư, tài sản, lao động, tiền vốn… nhằm khai thác tối đa các tiềm lực của doanh nghiệp đảm bảo chi phí bỏ ra thấp nhất nhưng mang lại kết quả cao nhất

KTQT kiểm soát việc thực hiện từng khâu công việc, làm rõ nguồn gốc khởi phát và sự biến động của chi phí so với dự toán Từ đó phát huy những thế mạnh và hạn chế, ngăn chặn những điểm yếu, nâng cao hiệu quả từng khâu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Xây dựng các trung tâm trách nhiệm, phân tích chi phí, sản lượng, doanh thu, lợi nhuận theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp để đưa ra các quyết định cần đầu tư thêm hay thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động của từng bộ phận nhằm phát triển và bảo toàn nguồn vốn kinh doanh Đồng thời, xác định được những đóng góp cũng như trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận trong kết quả chung của toàn doanh nghiệp

KTQT phân tích và lựa chọn các phương án tối ưu làm cơ sở cho các quyết định kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn

Trang 19

1.1.3 Các phương pháp nghiệp vụ được sử dụng trong KTQT

Thông tin KTQT nhằm phục vụ quá trình ra quyết định của nhà quản trị, các thông tin này thường không có sẵn mà KTQT phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ để xử lý chúng thành dạng phù hợp với yêu cầu của nhà quản trị

- Thiết kế thông tin thành dạng so sánh được

Thông tin sẽ vô dụng nếu không có tiêu chuẩn so sánh, do đó, KTQT phải xử lý thông tin dưới dạng báo cáo và được thiết kế thành dạng so sánh được Nhà quản trị phải dựa trên sự phân tích, so sánh này để đánh giá và ra các quyết định

- Phân loại chi phí

Nghiên cứu, phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm tạo lập các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định là một đặc thù của KTQT Mỗi cách phân loại khác nhau sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản trị theo những khía cạnh, chiều hướng khác nhau của chi phí, qua đó, nhà quản trị có đầy đủ thông tin làm cơ sở cho từng loại quyết định trong từng trường hợp cụ thể

- Trình bày mối quan hệ giữa các thông tin kế toán dưới dạng phương

trình, đồ thị

Thể hiện thông tin dưới dạng phương trình, đồ thị rất tiện lợi cho nhà quản trị trong việc nắm bắt xu hướng biến thiên của các thông số, dữ kiện phục vụ cho việc ra quyết định Phương pháp này là căn cứ để tính toán lập kế hoạch và phân tích dự báo trong KTQT

1.1.4 KTQT với chức năng quản lý

Quá trình quản lý doanh nghiệp bắt đầu từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay trở lại lập kế hoạch cho kỳ sau Các chức năng này đều xoay quanh việc ra quyết định Tuy nhiên, để có những

Trang 20

quyết định đúng đắn, hiệu lực đòi hỏi nhà quản trị phải có đầy đủ thông tin, trong đó thông tin KTQT là nguồn cung cấp chủ yếu

- Đối với chức năng lập kế hoạch và dự toán: Lập kế hoạch là xây dựng

các mục tiêu và vạch ra các bước để thực hiện các mục tiêu đó Các kế hoạch

có thể ngắn hạn hay dài hạn, kế hoạch nhà quản trị lập thường có dạng dự toán Dự toán là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động nguồn lực sẵn có để đạt được mục tiêu đề ra

Khi kế hoạch được lập và thi hành giúp cho việc liên kết các bộ phận hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp Để kế hoạch có tính khả thi và hiệu quả phải dựa trên những thông tin hợp lý và có cơ sở do KTQT cung cấp, cụ thể như thông tin về thị trường, giá cả, định mức chi phí

- Đối với chức năng tổ chức thực hiện: Nhà quản trị sẽ biết cách liên

kết tốt nhất con người với các nguồn lực với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất Thực hiện là một phần quan trọng trong các công việc

mà nhà quản trị phải giải quyết hằng ngày, do vậy, thực hiện tốt chức năng này nhà quản trị cần được cung cấp một lượng lớn thông tin từ KTQT

- Đối với chức năng kiểm tra, đánh giá: Sau khi đã lập kế hoạch và tổ

chức thực hiện, nhà quản trị phải kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được của quá trình thực hiện cũng như tính hợp lý của kế hoạch

Thông tin mà KTQT cung cấp chỉ rõ trong quá trình thực hiện, khâu nào thực hiện tốt, khâu nào còn vướng mắc cần sự hỗ trợ, giúp đỡ để hoàn thành kế hoạch đặt ra Đồng thời, nhà quản lý cũng thấy được mối liên hệ giữa việc sử dụng nguồn lực và mục tiêu đặt ra trong kế hoạch để xem xét lại các kế hoạch, đặt ra chiến lược mới, hoặc điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức

- Đối với chức năng ra quyết định: Phần lớn thông tin do KTQT cung

cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị Đây là chức năng quan trọng, không thể tách rời từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, cho đến kiểm tra đánh giá

Trang 21

Để có thông tin thích hợp đáp ứng nhu cầu ra quyết định của nhà quản trị, KTQT sẽ phải lựa chọn hợp lý trong số những phương án khác nhau, rút

ra những thông tin cần thiết, thích hợp rồi tổng hợp, trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu nhất, đồng thời, vận dụng các kỹ thuật phân tích đối với các phương án khác nhau, để từ đó nhà quản trị quyết định lựa chọn phương án thích hợp nhất

1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Doanh nghiệp xây lắp hiểu theo cách chung nhất là những doanh nghiệp sản xuất, lắp đặt với sản phẩm là các công trình đầu tư xây dựng cơ bản như: nhà ở, văn phòng, trung tâm thương mại, đường giao thông,…Quá trình sản xuất cũng như sản phẩm của DNXL có đặc điểm riêng, khác biệt với các ngành sản xuất khác và điều đó ảnh hưởng đến công tác KTQT, cụ thể:

- SPXL thường có kích thước lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài, được thực hiện qua nhiều giai đoạn và do nhiều bộ phận cùng tham gia Vậy nên, chi phí xây lắp thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí tại doanh nghiệp, nó phát sinh tại nhiều bộ phận khác nhau khiến cho nhân sự tham gia vào công tác quản lý lớn và qua nhiều cấp trung gian, công tác triển khai các quyết định và thủ tục kiểm soát chậm và khó đồng bộ, việc phân công, phân nhiệm dễ bị chồng chéo, bất cập Đòi hỏi phải xây dựng được các quy chế, quy định và xác lập nhiều thủ tục kiểm soát phù hợp với từng giai đoạn

- SPXL cố định tại nơi sản xuất, công tác xây lắp có tính lưu động cao, các yếu tố phục vụ thi công xây lắp (xe máy thi công, thiết bị, vật tư,…) thường xuyên di chuyển và được bảo quản tại các lều lán tạm thời không đảm bảo an toàn nên công tác quản lý, sử dụng, bảo quản các yếu tố này gặp nhiều

Trang 22

khó khăn Đặc điểm này, đòi hỏi công tác quản lí, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư phải được thực hiện một cách chặt chẽ, bảo đảm tuân thủ các quy trình

về giao nhận, bảo quản Ngoài ra, do tính lưu động cao nên chi phí thay đổi theo từng vùng lãnh thổ sẽ ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp Chính vì vậy, công tác kiểm soát phải đủ mạnh để hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro, đặc biệt chú trọng đến công tác dự báo, dự phòng

- Thời gian sử dụng của SPXL lâu dài, chất lượng sản phẩm được xác định cụ thể trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật được duyệt, đòi hỏi việc tổ chức quản

lý sản xuất và hạch toán phải đảm bảo theo đúng dự toán thiết kế

- Chi phí xây lắp gắn liền với công trình, hạng mục công trình, trong quá trình xây lắp nếu không có biện pháp quản lý sẽ gây lãng phí, tính sai giá thành ảnh hưởng đến quá trình xây lắp và chất lượng công trình, hạng mục công trình SPXL được sử dụng lâu dài chịu ảnh hưởng của môi trường sinh thái, cảnh quan Sau khi hoàn thành, SPXL rất khó thay đổi Khi nghiệm thu nếu không đạt chất lượng như thiết kế thì phải phá đi làm lại làm cho chi phí sản xuất tăng lên Vì vậy, việc quản lý, giám sát quá trình thi công và hạch toán cần được tổ chức chặt chẽ, đảm bảo chất lượng công trình phù hợp dự toán thiết kế Chi phí xây lắp cần phải kiểm soát chặt chẽ để hạn chế những hành vi lãng phí, gian lận, góp phần hạ giá thành, nâng cao kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- SPXL có kích thước và giá trị lớn thường vượt quá số vốn lưu động của DNXL Hơn nữa, thời gian thi công tương đối dài, trong thời gian sản xuất thi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí…điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của DNXL thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang xây dựng Chính vì vậy, các DNXL phải lựa chọn phương án có thời gian xây dựng hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải có chế độ thanh

Trang 23

toán giữa kỳ và dự trữ vốn phù hợp, đồng thời, khi lập kế hoạch xây dựng doanh nghiệp phải cân nhắc thận trọng, thấy rõ được các yêu cầu về tiền vốn, vật tư, nhân công của công trình, quản lý, theo dõi các khoản mục phí trong quá trình sản xuất thi công chặt chẽ nhằm đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm

- Giá của công trình, hạng mục công trình là giá dự toán hoặc giá thỏa thuận do đơn vị xây lắp ký kết với các đơn vị chủ đầu tư Tính chất hàng hóa của SPXL không được thể hiện rõ, quá trình tiêu thụ SPXL được thực hiện thông qua việc nghiệm thu và bàn giao công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành cho bên giao thầu

- Để nhận được công trình, các DNXL thường phải trải qua khâu đấu thầu Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng để từ đó xác định mức giá bỏ thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp và khả năng thắng thầu

- Về tổ chức quản lý tài chính, do đặc điểm sản xuất mang tính đặc thù, hầu hết các DNXL tổ chức công tác kế toán theo hình thức nửa tập trung, nửa phân tán Công ty thường tổ chức phòng kế toán công ty, dưới đội thi công có cán bộ thống kê kế toán, vừa thực hiện chức năng thống kê vừa thực hiện chức năng của kế toán: thu thập, phân loại, đóng chứng từ (một số đơn vị còn tổ chức hạch toán ban đầu ở đội), tổng hợp chi phí và nộp chứng từ để hạch toán kế toán tập trung tại phòng kế toán công ty Các chi phí trực tiếp được tập hợp và hạch toán riêng theo từng công trình

1.3 PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.3.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Chi phí phát sinh trong các DNXL, xét theo công dụng của chúng hay nói một cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành 2 loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất

Trang 24

- Chi phí sản xuất: Giai đoạn sản xuất là quá trình thi công biến

nguyên vật liệu thành sản phẩm (các công trình, hạng mục công trình) thông qua sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sản xuất xây lắp bao gồm các khoản mục chủ yếu: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm

các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình Trong đó, nguyên vật liệu chính (xi măng, sắt, thép, cát, đá, ) dùng để cấu tạo nên SPXL và các loại vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, giàn giáo) có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng

+ Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền

lương và các khoản trích theo lương, phụ cấp có tính chất thường xuyên cho

bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp

+ Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi

công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình bao gồm: chi phí khấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy và phục vụ máy thi công, chi phí nhiên liệu và động lực dùng cho máy thi công và các chi phí khác như chi phí di chuyển, tháo lắp máy thi công

+ Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình

thi công các công trình, hạng mục công trình phát sinh ở tổ, đội, các công trường xây dựng bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình thi công xây dựng, tiền lương của nhân viên quản lý các tổ, đội xây dựng, các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp, nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển máy thi công, chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy

Trang 25

móc thiết bị, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ xây dựng tại các công trường,

và các chi phí bằng tiền khác như chi phí thuê lán, trại, để tiến hành xây dựng

- Chi phí ngoài sản xuất: Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình

sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Riêng đối với các DNXL thì chi phí bán hàng thường không phát sinh

do đặc thù của ngành là trúng thầu mới tiến hành xây dựng, và sản phẩm được bàn giao cho nhà đầu tư ngay tại nơi sản xuất, thi công, không giống các doanh nghiệp sản xuất khác là sản xuất ra rồi mới quảng cáo, giới thiệu sản phẩm để khách hàng biết đến rồi mới tiêu thụ được

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm

tất cả các chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn doanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định (như nhà văn phòng, các phương tiện vận tải, ) phục vụ cho quản lý doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác…

1.3.2 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng chịu chi phí

Theo cách phân loại này, chi phí chia thành 2 dạng: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

- Chi phí trực tiếp: đó là các khoản chi phí chỉ liên quan trực tiếp tới

việc sản xuất một sản phẩm (một công trình, một hạng mục công trình) mà theo đó kế toán có thể tập hợp thẳng cho từng công trình, hạng mục công trình

đó như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp

- Chi phí gián tiếp là các chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm

Trang 26

(nhiều công trình, nhiều hạng mục công trình) mà kế toán không thể tập hợp thẳng cho từng công trình, hạng mục công trình được Do vậy, đối với từng yếu tố chi phí gián tiếp kế toán phải sử dụng tiêu thức phân bổ hợp lý để phân

bổ cho từng công trình, hạng mục công trình Trong DNXL có một bộ phận chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình, kế toán doanh nghiệp sẽ dùng các tiêu thức phân

bổ như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí trực tiếp, để phân bổ các chi phí trên cho các công trình, hạng mục công trình cụ thể

Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa thuần túy đối với kỹ thuật hạch toán Trường hợp phát sinh chi phí gián tiếp, bắt buộc phải áp dụng phương pháp phân bổ, lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp cho từng công trình, hạng mục công trình phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ chi phí

Các khoản chi phí gián tiếp (ví dụ chi phí khấu hao tài sản cố định) khó

có thể tránh được cho nên việc phân loại chi phí này cũng có ý nghĩa đối với nhà quản trị trong việc quyết định loại bỏ hay tiếp tục duy trì hoạt động, bộ phận kinh doanh thông qua việc phân tích thông tin thích hợp hay không thích hợp

1.3.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính

Khi xem xét chi phí trong mối quan hệ với báo cáo tài chính, chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất được chia làm 2 loại là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ

- Chi phí sản phẩm: Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh

liên quan đến việc sản xuất sản phẩm (công trình, hạng mục công trình), do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất) gồm các khoản mục: chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng

Trang 27

máy thi công và chi phí sản xuất chung Xét theo mối quan hệ với báo cáo tài chính, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển sang báo cáo kết quả kinh doanh để xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng với khối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối kỳ sẽ được lưu giữ và được xem như là tài sản của doanh nghiệp và được phản ánh dưới khoản mục hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và sẽ được kết chuyển để xác định lợi nhuận ở các kỳ sau khi

mà chúng được tiêu thụ Vì lý do này, chi phí sản phẩm còn được gọi là chi phí tồn kho

- Chi phí thời kỳ: Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại

sau khi đã xác định các khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào được xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy, chúng được tính toán kết chuyển hết sang báo cáo kết quả kinh doanh để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ còn được gọi là chi phí không tồn kho

1.3.4 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí tương ứng với các mức độ hoạt động đạt được Trong doanh nghiệp sản xuất, các chỉ tiêu thể hiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đã thực hiện, khối lượng sản phẩm sản xuất, số giờ máy hoạt động, Xét theo cách ứng xử, chi phí của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp

- Biến phí (Chi phí khả biến/chi phí biến đổi): Là loại chi phí phụ thuộc

vào mức độ hoạt động hay nói cách khác là những chi phí xét về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi hoạt động Trong doanh nghiệp biến phí tồn tại khá phổ biến như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công

Trang 28

- Định phí (Chi phí bất biến/chi phí cố định): Là những chi phí xét về

mặt tổng số không thay đổi theo mức độ hoạt động trong phạm vi của quy mô hoạt động hay nói cách khác là loại chi phí không phụ thuộc vào mức độ khai thác sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi

phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo,

Định phí thường có đặc điểm sau:

+ Trong giới hạn của quy mô hoạt động, xét về tổng số thì định phí thường không thay đổi Nếu xét định phí trên một đơn vị mức độ hoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Doanh nghiệp có hoạt động hay không thì định phí vẫn tồn tại Do vậy, các nhà quản trị muốn cho định phí đơn vị sản phẩm thấp cần khai thác tối đa công suất của các tài sản đã tạo

ra các định phí đó

+ Định phí trong doanh nghiệp cũng đa dạng và phong phú Xét ở khía cạnh quản lý chi phí, định phí được chia thành 2 loại: định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc

Định phí bắt buộc là những định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng, chúng thường liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao tài sản cố định hay tiền lương nhân viên quản lý ở các phòng ban chức năng Các định phí bắt buộc gắn liền với các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn, không thể cắt giảm hết trong thời gian ngắn Để quản lý loại chi phí này cần tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sử dụng các yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp

Định phí không bắt buộc là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng các quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Chúng thường

Trang 29

được kiểm soát theo các kế hoạch ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà quản trị, có thể cắt giảm khi cần thiết Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi phí bất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị Thuộc loại chi phí này gồm chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên

- Chi phí hỗn hợp: Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bao gồm cả các

yếu tố của định phí và biến phí Ở một mức độ hoạt động nhất định nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của định phí, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của biến phí Hiểu theo một cách khác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại

chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,

Trong thực tế các nhà quản trị muốn kiểm soát các khoản chi phí hỗn hợp cần phải xác định quy mô hoạt động của doanh nghiệp và sử dụng các phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp thành 2 bộ phận: biến phí và định phí Việc phân tích này được thực hiện bằng một trong các phương pháp: phương pháp cực đại, cực tiểu; phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất

Việc lựa chọn cách thức phân loại chi phí này sẽ giúp nhà quản trị có

cơ sở để phân tích đưa ra quyết định về giá đấu thầu công trình trong những tình huống cụ thể

1.3.5 Một số cách phân loại chi phí khác

a Phân loại chi phí căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí

Theo cách phân loại này, chi phí xây lắp được chia thành 2 loại: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

Trang 30

- Chi phí trực tiếp là các chi phí phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công

và được tập hợp riêng cho từng công trình, hạng mục công trình như: Chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí máy nhân công, chi phí lán trại kho bãi, chi phí đảm bảo giao thông, lãi vay, khảo sát lập bản vẽ thi công, nghiệm thu

- Chi phí gián tiếp là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều công

trình, hạng mục công trình nên không thể tập hợp riêng cho từng đối tượng chịu chi phí: chi phí khấu hao, chi phí quản lí chung, chi phí công cụ dụng cụ

b Phân loại chi phí căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với mức độ kiểm soát của nhà quản trị

Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành 2 loại là chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

- Chi phí kiểm soát được là các khoản chi phí ở một đơn vị mà nhà

quản trị ở cấp đó được giao quyền hạn và chịu trách nhiệm quản lí Phạm vi chi phí kiêm soát được ở một đơn vị nội bộ phụ thuộc vào mức độ phân cấp quản lí chi phí cho nhà quản trị ở cấp đó như: chi phí nguyên nhiên vật liệu sắt thép xi măng , chi phí máy thi công, khấu hao, chi phí nhân công lán trại kho bãi

- Chi phí không kiểm soát được ở một bộ phận nào đó thường thuộc hai

dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lí của bộ phận (chẳng hạn chi phí phát sinh ở các bộ phận sản xuất ở các đơn vị thi công tại công trường mà bộ phận quản lí tại công ty không kiếm soát được: như chi phí đảm bảo giao thông an toàn cho người đi lại, chi phí hư hỏng xe máy thiết bị tại công trường, chi phí nghiệm thu các hạng mục theo giai đoạn thi công ), hoặc là các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiêm soát từ cấp quản lí cao hơn (như chi phí khấu hao máy móc thiết bị, hoặc khảo sát phục vụ đấu thầu công trình nhưng việc kiếm soát chi phí hoặc tính khấu hao lại do bộ phận quản lí tại văn phòng thực hiện)

Trang 31

c Phân loại chi phí căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với các quyết định kinh doanh

Theo căn cứ này thì chi phí được chia thành nhiều dang: chi phí lặn, chi phí chênh lệch, chi phí cơ hội

- Chi phí lặn (chi phí khác biệt) là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ

và sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau hay hiếu một cách khác, chi phí lặn được xem như là một khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lí quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Như chi phí tìm hiểu và khảo sát dự án

- Chi phí chênh lệch: Xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với các

phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương án này so với một phương án khác

- Chi phí cơ hội: Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi

khi lựa chọn thực hiện phương án này thay cho phương án khác

Cho nhiều mục đích khác nhau, chi phí được xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tùy vào đặc điểm sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp

sẽ lựa chọn cho đơn vị mình một cách phân loại phù hợp nhất phục vụ cho công tác quản lí chi phí cũng như kiếm tra và ra quyết định tại doanh nghiệp

1.4 BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.4.1 Khái niệm, bản chất báo cáo KTQT

Báo cáo KTQT là loại báo cáo kế toán phản ánh một cách chi tiết, cụ thế tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, công nợ và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu quản lý cụ thể của các cấp quản trị khác nhau trong doanh nghiệp Báo cáo KTQT là phương tiện để truyền đạt thông tin tài chính có ích cho những người sử dụng để đề ra các

Trang 32

quyết định kinh tế

Như vậy, bản chất của báo cáo quản trị:

Báo cáo KTQT được lập xuất phát từ nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp Do đó, nội dung, kết cấu của báo cáo KTQT có những đặc trưng riêng so với báo cáo kế toán và các loại báo cáo khác

Báo cáo quản trị là hệ thống thông tin được tổng hợp từ sổ sách KTQT

và được trình bày theo yêu cầu quản trị điều hành sản xuất kinh doanh và ra quyết định của từng doanh nghiệp

Báo cáo quản trị chỉ sử dụng riêng cho các nhà quản trị doanh nghiệp nên báo cáo quản trị không nhất thiết phải tuân theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi hiện nay

Báo cáo KTQT có tính linh hoạt, đa dạng Nghĩa là nhà quản trị phải thường xuyên được cung cấp đầy đủ thông tin về những gì đang diễn ra và sẽ diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp gắn với từng bộ phận, từng chức năng, để có cở sở đưa ra những quyết định một cách chính xác, tối ưu

Thông tin trên báo cáo KTQT phải có tính tin cậy, tức là phải dựa trên những căn cứ có thể kiểm tra được chứ không phải là sự phỏng đoán của người lập báo cáo Tuy nhiên, số liệu trên báo cáo KTQT không phải lúc nào cũng cần chính xác tuyệt đối mà chỉ cần phản ánh đúng bản chất của đối tượng quản trị và có giá trị trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp

1.4.2 Tác dụng của báo cáo KTQT

Báo cáo KTQT được lập theo yêu cầu cụ thể của các nhà quản lý của doanh nghiệp Với mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau thì nội dung, kết cấu và các chỉ tiêu trên báo cáo KTQT cũng khác nhau Báo cáo KTQT có những tác dụng sau:

- Hệ thống báo cáo KTQT cung cấp những thông tin kinh tế - tài chính

Trang 33

cần thiết, giúp quản trị doanh nghiệp và các nhà chuyên môn kiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính chủ yếu của doanh nghiệp

- Hệ thống báo cáo KTQT cung cấp những thông tin cần thiết giúp quản trị doanh nghiệp và các nhà chuyên môn phân tích mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đánh giá một cách khách quan toàn diện quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, xác định chính xác kết quả cũng như hiệu quả của mọi hoạt động kinh doanh

- Dựa vào hệ thống báo cáo KTQT, nhà quản trị doanh nghiệp có thể phát hiện những tiềm năng về kinh tế - tài chính, dự đoán tình hình sản xuất kinh doanh cũng như xu hướng vận động của doanh nghiệp

- Hệ thống báo cáo KTQT cung cấp những tài liệu, số liệu quan trọng và cần thiết giúp cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư, các dự toán sản xuất kinh doanh ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp

1.4.3 Yêu cầu của hệ thống báo cáo KTQT

Để phát huy đầy đủ tác dụng đối với công tác quản trị doanh nghiệp đòi hỏi hệ thống báo cáo KTQT đáp ứng các yêu cầu sau:

Hệ thống báo cáo KTQT phải đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích nhất cho nhà quản trị, muốn vậy, báo cáo phải được thiết kế một cách đơn giản và phù hợp nhất với nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp

Báo cáo KTQT được xây dựng phải thích hợp với mục tiêu hoạt động

cụ thể của từng đơn vị Mỗi loại hoạt động khác nhau thì mục tiêu và cách thức đạt được mục tiêu cũng khác nhau, do đó, báo cáo KTQT phải được thiết

kế phù hợp với từng loại hoạt động của doanh nghiệp, không thể có một hệ thống báo cáo KTQT phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp

Báo cáo KTQT phải có tính linh hoạt, nghĩa là phải được thiết kế riêng cho từng cấp quản trị, từng bộ phận, từng hoạt động, hoặc một quyết định cụ

Trang 34

thể nào đó của doanh nghiệp

1.4.4 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong các DNXL

a Báo cáo dự toán

Dự toán là những dự kiến chi tiết về tình hình huy động và sử dụng các nguồn lực dựa trên mục tiêu kế hoạch xác định trong từng thời gian cụ thể và được biểu diễn một cách có hệ thống thông qua các biểu mẫu và thước đo khác nhau

Việc lập dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp Cụ thể:

- Thông qua dự toán, nhà quản trị dự tính được trong tương lai cần phải làm gì, kết quả đạt được ra sao, từ đó có những phương án cụ thể, hợp lý để điều hành quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả

- Trên cơ sở dự toán đã lập, nhà quản trị sẽ quản lý chặt chẽ các chỉ tiêu kinh tế, đặc biệt là các chỉ tiêu về chi phí, lường trước được những khó khăn và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý các chỉ tiêu, đồng thời có sự điều chỉnh hợp lý các phương án đã lựa chọn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

- Dự toán làm cơ sở cho việc phân tích tình hình biến động của chi phí, doanh thu, lợi nhuận , xác định rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán, giúp nhà quản trị hiểu rõ thực chất về quá trình sản xuất của doanh nghiệp, từ đó có các điều chỉnh cho phù hợp

- Dự toán sản xuất kinh doanh được lập trên cở sở tổng hợp từ nhiều hoạt động của các bộ phận khác nhau, nhờ vậy, dự toán đảm bảo cho kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp

Đế dự toán sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp có tính khả thi cao, khi lập dự toán, doanh nghiệp thường phải dựa vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh hàng năm, định mức tiêu chuẩn về doanh thu, chi phí, điều

Trang 35

kiện cụ thể về kinh tế - kỹ thuật - tài chính của doanh nghiệp

Hệ thống báo cáo dự toán trong các DNXL:

- Dự toán doanh thu các công trình, hạng mục công trình xây lắp:

Dự toán này được lập trên cơ sở ước tính khối lượng xây lắp mà đơn vị thực hiện, được chủ đầu tư chấp nhận nghiêm thu, thanh toán nhân với đơn giá trúng thầu Dự toán này là cơ sở cho nhà quản trị kiểm soát tiến độ thi công của các đơn vị

Bảng 1.1 Dự toán doanh thu

T

T Tên công việc

Đơn

vị tính

Khối lượng

Đơn giá

Thành tiền

Theo hợp đồng

Thực hiện Lũy kế đến hết

kỳ trước

Thực hiện

Trang 36

- Dự toán chi phí xây lắp: Dự toán chi phí xây lắp được xác định trên

cơ sở khối lượng các loại công tác xây lắp tính từ bản vẽ kỹ thuật hoặc bản vẽ thi công, đơn giá xây dựng cơ bản do liên sở Tài chính - xây dựng thông báo hoặc đơn giá công trình đối với những công trình được lập đơn giá riêng, định mức các chi phí tính theo tỷ lệ % do Bộ xây dựng ban hành, và các chế độ chính sách của Nhà nước có liên quan Dự toán chi phí xây lắp bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng

và chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công

+ Chi phí trực tiếp bao gồm chi phí vật liệu (kể cả vật liệu do chủ đầu

tư cấp), chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí trực tiếp khác

Vật liệu trực tiếp được xây dựng trên cơ sở khối lượng vật tư tiêu hao trực tiếp nhân với đơn giá Vật tư tiêu hao trực tiếp được Phòng Kỹ thuật bóc tách từ thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công của dự án

Nhân công trực tiếp được xây dựng trên cơ sở định mức nhân công cho từng hạng mục công việc nhân với đơn giá ngày công cho từng loại bậc thợ

Chi phí máy thi công bằng số lượng ca máy nhân với đơn giá ca máy cho từng công việc thi công tập hợp cho từng đối tượng, hạng mục công trình Chi phí trực tiếp khác: được tính bằng 1,5% trên tổng chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công

+ Chi phí chung bao gồm: chi phí quản lý và điều hành sản xuất tại

công trường, chi phí phục vụ công nhân, chi phí phục vụ thi công tại công trường và một số chi phí khác Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công trong dự toán theo quy định đối với từng loại công trình

Trang 37

Bảng 1.2 Dự toán chi phí xây lắp

Đơn

vị tính

Khối lượng

Vật liệu

Nhân công Máy

Vật liệu

Nhân công

Máy

1 Đắp nền đường bằng máy đầm16T, K=0,95 (tận dụng) m3

2 Đắp nền đường bằng máy đầm16T,K=0,95 (cự ly vận chuyển đất 10km) m3

3 Đắp nền đường bằng máy đầm16T,K=0,98 (cự ly vận chuyển đất 10km) m3

4 Đào bốc thảm thực vật và đất di chuyển đến công viên (cự ly 300m) m3

5 Đào nền và di chuyển đến lô công viên và lô 1 (cự ly 300m) máy cạp

9m3,ủi 110cv,đất C2 m3

6 Đắp cát hạt mịn(cự ly vận chuyển11km) máy đầm 16T,K=0,90 m3

7 Đào nền đường máy đào <=0,8m3, máy ủi <=110cv, đất C2 m3

8 Đào khuôn đường máy đào <=0,8m3, máy ủi <=110cv, đất C2 m3

9 Đào khuôn đường C2 bằng thủ công (5% LK đào) m3

10 Làm móng đường làm mới lớp trên cấp phối đá dăm loại 1 m3

11 Làm móng đường làm mới lớp dưới cấp phối đá dăm loại 2 m3

………

Cộng

Trang 38

Bảng 1.3 Bảng tổng hợp dự toán chi phí xây lắp

T

Thành tiền

1,50%

Giá trị dự toán xây dựng sau thuế GXDCPT G+GTGT

- Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp: Có thể lập dự toán chi phí

này căn cứ vào tính chất tác động của chi phí theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Căn cứ để lập dự toán này thường là các bản

dự thảo cá nhân về chi phí do những người có trách nhiệm ở bộ phận lập

Trang 39

Bảng 1.4 Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp

1 Chi phí nhân viên

- Tiền lương

- Bảo hiểm xã hội

- Bảo hiểm y tế

- Kinh phí công đoàn

- Bảo hiểm thất nghiệp

2 Chi phí vật liệu quản lý

- Vật liệu

- Xăng dầu

- Văn phòng phẩm

3 Đồ dùng văn phòng, công cụ lao động

4 Khấu hao tài sản cố định

- Dự toán nhu cầu vật liệu: Dự toán này cung cấp thông tin về lượng

vật tư mua vào, sử dụng, tồn kho trong kỳ nhằm đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh, tránh tình thiếu hụt làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh hay ứ đọng làm lãng phí vốn đầu tư Dự toán này được lập căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp

Trang 40

Bảng 1.5 Dự toán nhu cầu vật liệu thi công Tên vật tư Khối lượng xây lắp trong kỳ Định mức vật liệu liệu trong kỳ Nhu cầu vật Tồn kho vật liệu đầu kỳ Dự kiến số vật liệu cần mua

Ngày đăng: 22/02/2023, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ xây dựng (2010), Thông tư hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình số 04/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình số 04/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010
Tác giả: Bộ xây dựng
Năm: 2010
[2] Chính phủ (2009), Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
[3] Học viện tài chính, TS Nguyễn Vũ Việt, THS Nguyễn Thị Hòa (2010), Giáo trình kế toán doanh nghiệp xây lắp, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán doanh nghiệp xây lắp
Tác giả: Học viện tài chính, TS Nguyễn Vũ Việt, THS Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2010
[4] Khoa Kế toán - Đại học Kinh tế Đà nẵng (2007), Lý thuyết hạch toán kế toán, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết hạch toán kế toán
Tác giả: Khoa Kế toán - Đại học Kinh tế Đà nẵng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
[5] Huỳnh Lợi (2009), Kế toán chi phí, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán chi phí
Tác giả: Huỳnh Lợi
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2009
[6] TS. Nguyễn Phương Liên (2010), Hướng dẫn kế toán doanh nghiệp xây lắp, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kế toán doanh nghiệp xây lắp
Tác giả: TS. Nguyễn Phương Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2010
[7] Võ Văn Nhị (2004), Hướng dẫn thực hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
Tác giả: Võ Văn Nhị
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
[8] PGS.TS Trương Bá Thanh (2006), Giáo trình môn Kế toán quản trị, Đại học Kinh tế Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình môn Kế toán quản trị
Tác giả: PGS.TS Trương Bá Thanh
Nhà XB: Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Năm: 2006
[9] PGS. TS Đoàn Xuân Tiên (2009), Giáo trình Kế toán quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế toán quản trị doanh nghiệp
Tác giả: TSĐoàn Xuân Tiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2009
[10] Trường Đại học Kinh tế quốc dân- Khoa Kế toán và Kiểm toán, PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang (2009), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế toán quản trị
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
[11] PGS.TS. Đào Văn Tài, TS.Võ Văn Nhị, TS. Trần Anh Hoa (2003), Kế toán quản trị áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tài, Võ Văn Nhị, Trần Anh Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm