137 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN GẮN VỚI CHUỖI GIÁ TRỊ TẠI VIỆT NAM ThS NCS Hồ Ngọc Khương Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh khuonghn@hcmute edu vn Tóm tắt S[.]
Trang 1CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN
GẮN VỚI CHUỖI GIÁ TRỊ TẠI VIỆT NAM
ThS.NCS Hồ Ngọc Khương
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
khuonghn@hcmute.edu.vn
Tóm tắt: Sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là hướng đi bền vững giúp
nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người nông dân Trong nhiều năm, thu nhập
và đời sống người dân nông thôn còn thấp, sản xuất nhỏ quy mô hộ gia đình là chủ yếu, năng suất lao động còn thấp, các sản phẩm chủ yếu là sơ chế, thị trường tiêu thụ chủ yếu tại địa phương, số doanh nghiệp và hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp còn ít Trước những vấn đề đó, tác giả đã trình bày khung phân tích lý phát triển hàng nông sản gắn với chuỗi sản phẩm sẽ đem lại một số cơ hội phát triển Song song đó, việc phát triển hàng nông sản gắn với chuỗi giá trị hiện nay cũng còn một số tồn tại và bài nghiên cứu này cũng đề ra một số khuyến nghị để việc phát triển gắn với chuỗi giá trị nông sản sẽ hiệu quả hơn
Từ khóa: hàng nông sản, chuỗi giá trị, sản phẩm nông nghiệp
Tổng quan lý thuyết
Trên thế giới, chuỗi giá trị đã được đưa ra trong nghiên cứu ngành hàng, đặc biệt
là cho các sản phẩm trong ngành nông nghiệp (Porter, 1985; Gereffi,1999 và Kaplinsky, 2000) Theo Porter thì chuỗi giá trị là chuỗi của một hệ thống các hoạt động thực hiện trong một doanh nghiệp thuộc một ngành cụ thể để sản xuất ra một sản phẩm nhất định
Mô hình cơ bản chuỗi giá trị mà Porter đưa ra chia hoạt động giá trị thành hoạt động sơ cấp và thứ cấp Các hoạt động sơ cấp có thể phân thành năm lĩnh vực chính: cung ứng đầu vào, sản xuất, cung ứng đầu ra, tiếp thị và bán hàng, và dịch vụ Mỗi hoạt động này được liên kết với các hoạt động hỗ trợ để cải thiện hiệu lực và hiệu suất của các hoạt động đó Các hoạt động hỗ trợ gồm: thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, và cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp
Theo Kaplinsky và Morris (2001) cho rằng chuỗi giá trị là những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm từ lúc còn là ý tưởng, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và loại bỏ sau khi đã sử dụng
Trong lĩnh vực nông nghiệp, chuỗi giá trị thường bắt đầu từ cánh đồng và kết thúc với người tiêu dùng cuối cùng Nó bao gồm các thành phần như nhà nước và tư nhân khác nhau Các hoạt động bao gồm làm đất, gieo hạt, thu hoạch mùa màng; sau đó,
Trang 2bảo quản và chế biến, các hoạt động tiếp thị và bán hàng và cuối cùng là hoạt động tiêu thụ của người tiêu dùng cuối cùng (Jaffee et al, 2010)
Theo Gereffi và cộng sự (2005) cho rằng chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp là một cách tiếp cận giúp nông dân có thể tiếp cận thị trường một cách có hiệu quả nhất hiện nay Cụ thể, chuỗi giá trị sản phẩm trong ngành nông nghiệp là:
- Một chuỗi các hoạt động chức năng, từ khâu cung cấp các dịch vụ đầu vào cho một sản phẩm cụ thể cho đến sản xuất, thu hoạch, chế biến, phân phối, tiếp thị và cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm; qua mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng;
- Sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối người sản xuất, nhà chế biến, các thương gia, và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể;
- Mô hình kinh tế kết hợp chặt chẽ giữa việc chọn lựa sản phẩm và công nghệ hiện đại thích hợp với cơ sở hạ tầng, viễn thông cùng với cách thức tổ chức các tác nhân liên quan sản xuất, nguồn nhân lực, nhà phân phối để tiếp cận thị trường
Do đó, chuỗi giá trị nông sản là tổng thể các hoạt động liên quan đến một ngành hàng nông sản bao gồm các hoạt động có quan hệ mật thiết với nhau, từ khâu cung ứng đầu vào, tổ chức sản xuất, thu gom, chế biến và cuối cùng là bán sản phẩm cho người tiêu dùng
Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị nông sản
Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển sản phẩm nông sản Nhìn chung có ba cách tiếp cận:
Thứ nhất, phương pháp Filière (chuỗi) mô tả các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng Phương pháp này được áp dụng trong việc phân tích ngành hàng và phân tích ma trận chính sách Về mặt kinh tế, việc đánh giá chuỗi chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập
và phân phối trong chuỗi giá trị ngành hàng nông sản và phân biệt các khoản chi phí, thu nhập giữa kinh doanh trong nước và quốc tế
Thứ hai, khung phân tích Porter (1985): dùng để đánh giá chuỗi giá trị mà doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kết nối với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ ba, phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu: các hoạt động kinh doanh
có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị đầu vào cho một sản phẩm đến sơ chế, chuyển đổi, tiếp thị, cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng Cách tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu do Gereffi (1999), Kaplinsky và Morris (2001),và Gibbon và Bair (2008) đề xuất
Trang 3Các cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị hàng nông sản có một số lợi thế: làm cơ
sở để thiết kế các hoạt động phù hợp cho phát triển ngành; tạo ra khả năng tiếp cận tổng hợp toàn ngành sản xuất; cung cấp thông tin cho các nhân tố trong chuỗi giá trị; gắn kết được các chính sách một cách đồng bộ từ sản xuất đến tiêu thụ và cho phép phân tích và thiết lập chính sách tổng hợp
Hình 1: Chuỗi giá hàng nông sản
- Giống
- Phân bón
- Thuốc: bảo
vệ thực vật, thú y
- Thức ăn
- Lao động
- Làm đất
- Gieo trồng
- Chăm sóc
- Thu hoạch
-Thu gom
- Vận chuyển
- Làm sạch
- Đóng gói
- Bán lẻ
- Bán sỉ
Các nhà cung ứng đầu vào
Nông dân, hợp tác xã Người
thu gom Nhà sơ chế
Người bán
lẻ, người bán sỉ
Hình 1 thể hiện các hoạt động của giai đoạn sản xuất, kinh doanh; các tác nhân chính trong chuỗi và những mối liên kết của họ; và các đơn vị hỗ trợ chuỗi giá trị
Cơ hội và thách thức trong phát triển chuỗi giá trị hàng nông sản
Cách tiếp cận chuỗi giá trị có thể được sử dụng để giải quyết các khác nhau như thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cụ thể là xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an ninh lương thực Một số cơ hội phát triển nông sản theo chuỗi giá trị:
Một là, hiệu quả về giảm nghèo có thể đạt được bằng cách tạo ra và tăng thu nhập thông qua tăng năng suất, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường và tạo việc làm trong sản xuất và chế biến
Trong nước
Xuất khẩu
Thương mại
Chế biến
Cung cấp đầu
vào
Sản xuất
Thu gom
Chính quyền sở, ban, ngành, địa phương; tổ chức tín dụng
Cung ứng đầu
vào
Sản xuất
Tiêu dùng
Trang 4- Nông nghiệp Việt Nam năm 2021 có tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tăng 2,9% so với năm 2020 Cụ thể, nhiều sản phẩm nông nghiệp duy trì sản xuất
và phát triển tương đối tốt (ước tính sản lượng năm 2021 so với năm 2020) như: lúa tăng 2,6%, cà phê nhân tăng 2,98%, hồ tiêu tăng 3,7%, điều tăng 10%, xoài tăng 4,85%, cam tăng 33,18%, chè tăng 2,08%, cao su tăng 2,77%, bưởi tăng 8,04%, nhãn tăng 6,09%, vải tăng 22,57%, thịt lợn tăng 3,6%, thịt gia cầm tăng 3,2%, sữa
bò tươi tăng 10,5%, gỗ khai thác tăng 5,04%, tôm sú tăng 1,19%, tôm thẻ chân trắng tăng 5,96% Qua đó, tạo ra nhiều giá trị cho hộ nông dân và hợp tác xã trong gia tăng thu nhập và giải quyết việc làm
- Về mặt xã hội, gần 50% các hộ gia đình làm nông nghiệp ở nông thôn năm
2016 cho biết nguồn thu nhập chính của họ vẫn từ nông nghiệp, mặc dù tỉ lệ này giảm từ 41.78% năm 2006 xuống còn 28.26% năm 2016 Chuyển đổi nông nghiệp
đã góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, thông qua tăng thu nhập từ các hoạt động phi trồng trọt
Biểu đồ 1: Đóng góp của Nông nghiệp trong thu nhập của hộ gia đình nông thôn,
phân theo vùng (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cả nước
Đồng bằng sông Hồng
Trung du
và miền núi phía Bắc
Bắc trung bộ
và Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
0
10
20
30
40
50
60
70
Tỷ lệ trong tổng thu nhập
Trang 5Hai là, đảm bảo an ninh lương thực thông qua việc tăng sản xuất trong nước (cải thiện nguồn cung cấp lương thực) hoặc tăng thu nhập cho người dân Về mặt xã hội, ngành nông nghiệp giúp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cung cấp đủ lương thực cho hơn dân số 96 triệu người, thông qua gạo – lương thực chính của Việt Nam Sự sẵn
có về thực phẩm bình quân tính theo đầu người của Việt Nam ở mức cao trong số các nước thu nhập trung bình
Biểu đồ 2: Mức cung thực phẩm hàng ngày ở một số nước châu Á,
giai đoạn 1961-2009 và 2009 – 2030 (dự báo)
Khu vực/
Quốc gia
hàng năm
1961 2009 2030 1961-2009 2009-2030
Nguồn: World Bank
Ba là, chuyển đổi phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển mạnh các sản phẩm chủ lực và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô tương đối lớn Theo Tổng cục thống kê (2021), tính đến cuối năm 2021, cả nước có 5.401 sản phẩm OCOP đạt 3 sao trở lên (gấp 1,7 lần so với năm 2020), trong đó 62,6% sản phẩm 3 sao, 35,8% sản phẩm 4 sao và 1,6% sản phẩm tiềm năng 5 sao Hơn 2.944 chủ thể tham gia, trong đó có 38,8% là hợp tác xã, 27,4% là doanh nghiệp, 31,5% là cơ sở sản xuất, còn lại là tổ hợp tác Cải tạo, chuyển đổi, thay thế nhiều giống cây trồng vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 6Bốn là, để đưa được nông sản từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng, mỗi ngành hàng của nông sản phải xây dựng nên chuỗi ngành hàng của riêng nó Chuỗi ngành hàng được xem như là chuỗi cung cấp của ngành hàng đó, là tập hợp tác tác nhân kinh
tế quy tụ trực tiếp vào việc đưa ra môt sản phẩm cuối cùng Việc lựa chọn hàng nông sản gắn với chuỗi giá trị tùy thuộc vào từng địa phương gắn với những sản phẩm chủ lực, chẳng hạn nhóm sản phẩm chăn nuôi (nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm lợn, gà, bò,…), nhóm sản phẩm trồng trọt (nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm cà phê, chè, lúa, xoài, cam, ổi,…)
Hình 2: Chuỗi giá trị sản phẩm nông sản
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Khi tham gia vào chuỗi giá trị, người nông dân được tiêu thụ sản phẩm với giá
cả ổn định, an toàn, ít rủi ro; được doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư nông nghiệp phục
vụ sản xuất Đồng thời, doanh nghiệp cũng chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và quản lý chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, chuỗi giá trị sản phẩm nông sản hiện nay còn tồn tại một số thách thức sau:
- Hiệu quả sản xuất lương thực, thực phẩm giảm do chi phí tăng trong khi tiêu thụ sản phẩm bị gián đoạn Kết quả là thu nhập và đời sống của nông dân bị ảnh hưởng
- Việc ứng dụng, chuyển giao các thành tựu khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm; việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị còn hạn chế
- Thiếu vốn và khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay để thực hiện chuỗi giá trị sản phẩm
- Liên kết trong sản xuất còn hạn chế, như chưa gắn kết được các khâu chế biến
và tiêu thụ sản phẩm
Người tiêu dùng Nhà trồng
trọt, chăn
nuôi
Thương lái
Nhà chế biến
Nhà bán lẻ
Nhà bán sỉ
Trang 7- Hoạt động của các hợp tác xã hiệu quả chưa cao, tình trạng sản xuất nông nghiệp còn mang tính nhỏ lẻ, thiếu nhà đầu tư có tiềm lực liên kết sản xuất, thu mua, chế biến tiêu thụ sản phẩm và doanh nghiệp có khả năng ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm nông nghiệp quy mô lớn với nông dân
Khuyến nghị
Xuất phát từ những thách thức đã nêu trên, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển chuỗi giá trị nông sản trong thời gian tới như sau:
- Để ổn định thu nhập, người nông dân và hợp tác xã nông nghiệp phải điều chỉnh
kế hoạch sản xuất linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn
- Tăng cường đầu tư nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất, bảo quản, chế biến lương thực, thực phẩm Đặc biệt, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực cho người sản xuất và các tác nhân tham gia chuỗi ung ứng sản phẩm
- Cung cấp các chính sách hỗ trợ và cách tiếp cận các cơ hội nguồn vốn và các chương trình cho vay của ngân hàng
- Khuyến khích hộ nông dân, hợp tác xã áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến giảm chi phí đầu vào, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, gia tăng sử dụng phế phụ phẩm trong nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
- Nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng và kết nối thị trường tiêu thụ Đồng thời, đổi mới tư duy sản xuất, chuyển từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang
“tư duy làm kinh tế nông nghiệp”; tập trung vào nâng cao giá trị, hiệu quả, đa dạng theo chuỗi giá trị phù hợp với yêu cầu của thị trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Gereffi, G, 1999 A commodity chains framework for analyzing global industries Institute of Development Studies, No 8(12), pp.1-9
Gereffi, G., Humphrey, J and Sturgeon, T., 2005 The Governance of Global Value Chains Review of International Political Economy, 12, pp 78-104
Gibbon, P., J Bair, and S Ponte, 2008 Governing Global Value Chains: An Introduction Economy and Society No 37(3), pp 315-338
Jaffee, S., S Paul and A Colin, 2010 Rapid Agricultural Supply Chain Risk Assessment: A Conceptual Framework Agriculture and Rural Development Discussion Paper 47 The World Bank: Washington D.C