Công trình được chính thức triển khai từ cuối năm 2004 với sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học thuộc các trường đại học lớn, các viện, trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước, tro
Trang 1
CHUUNG TRINH KHOA HỌC GẤP NHÀ NƯỚC KX.09 -
NGUYÊN TRÍ DĨNH
(Chủ biên)
KINH TE | 1 G HOA `
„ Nhi? Và HINH NGHIỆM PHÁT TRIEN
fa NHA XUAT BAN HA NOI
Trang 3Ban Chủ nhiệm chương trình KX.09:
UVTW Đảng, Chủ tịch UBND TP Hà Nội
GS VS, NGUYEN DUY QUY
Nguyên Viện trưởng Viện KHXH Việt Nam
Các ủy viên:
ThS NGÔ THỊ THANH HÀNG
“Thành ủy viên, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội
GS TSKH LUGNG XUAN QUY
Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kính tế quốc dân
TS NGHIÊM XUÂN ĐẠT
Nguyên Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
PGS TS PHAM QUANG LONG Giám đốc Sở'Văn hóa - Thể thao - Du lịch Hà Nội
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam Kinh tế hàng hóa của Thăng Long - Hà Nội: Đặc trưng và kinh nghiệm phát
triển / Nguyễn Trí Dĩnh (ch.b.), Lương Xuân Quỳ, Hoàng Văn Hoa - H : Nxb Hà
Nội, 2010 - 396tr : bảng, đồ thị ; 24cm - (Tủ sách Thăng Long 1000 nam)
“Thư mục: tr 380-390
ISBN 9786045500248
1 Kinh tế hàng hoá 2 Lịch sử 3 Hà Nội
Trang 4CHUGNG TRINH KHOA HOC CAP NHÀ NƯỚC KX.09
Tham gia bién soan:
GS TSKH LUONG XUAN QUY - PGS TS HOANG VAN HOA
PGS TS PHAM THI QUY - TS PHAM HUY VINH
GS TS NGUYEN QUANG NGOC - GS TS NGUYEN VAN KHANH
inl
Mị nll NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI - 2010
Trang 5Ủy viên Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.09
Các ủy viên Hội đông:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
ThS NGUYEN TRONG TUẤN
Chánh VP Ban chỉ đạo quốc gia Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
ThS NGUYỄN KHẮC OÁNH
Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội
Trang 6LOI GIGI THIEU
Nhân dip Dai lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được
tổ chức vào tháng Mười năm 2010, mỗi người Hà Nội, mỗi người
Việt Nam, với tất cả tấm lòng, đều mong muốn làm một công việc thiết thực, tốt đẹp, đóng góp trí tệ, sức lực chuẩn bị cho sự kiện trọng đại của Thủ đô muôn vàn yêu dấu, của đất nước, dân tộc biết mấy tự hào Bộ sách II tập, tổng kết mội thiên niên kỷ xây dựng và bảo vệ Thăng Long - Hà Nội được ra mắt vào thời điểm giàu ý nghĩa này là thành quả lao động bên bỉ của hon mét trăm
nhà khoa học với ước nguyện được góp một nhành hoa trong một rừng hoa, những tấm lòng trong muôn triệu tấm lòng thành kinh
hướng về thiêng liêng Đại lễ ngàn năm
Bộ vách phản ánh kết quả nghiên cứu của Chương trình khoa học cấp nhà nước, mã số KX.09 “Nghiên cứu phát huy điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn hóa, phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô” được khởi nguồn từ tư tưổng chỉ đạo và tâm nhìn xa của Lĩnh dạo Đảng, Nhà nước Mùa hè năm 1998,
Bộ Chính trị khóa VIH đã ban hành Chỉ thị số 32 - CTITW về kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, trong đó nhấn mạnh chủ trương “cần thực hiện Chương trình khoa học nghiên
cứu - tổng kết và phát huy các giá trị, các kinh nghiêm lịch sử quý
báu của Thăng Long - Hà Nội”
Công việc được bắt đầu từ thời điểm gạch nối giữa hai thiên niên kỷ - cuối năm 1999 Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội giao Ban Tuyên giáo Thành ủy làm đầu mốt, phối hợp cùng
một số nhà khoa học bắt tay chuẩn bị nội dụng chương trình
Trang 7nghiên cứu Tại Văn Miếu - Quốc Tử Giảm đã liên tiếp diễn ra
hàng chục cuộc hội thảo khoa học, thu hút hàng trăm nhà nghiên
Cứu lịch sử, văn hóa Những ý tưởng, ý kiến đóng góp tâm huyết, trí tHệ được chung đúc thành một hệ thống những vấn đề cần nghiên cứu, tổng kết Đề cương tư tưởng và phác thảo noi dung
thuyết mình chương trình nghiên cứu đã trải qua nhiều vòng thẩm
định nghiêm ngặt của các cơ quan chức năng thành phố, của Bộ Khoa học và Công nghệ: cHối năm 2003 được báo cáo trực tiếp và nhận được sự quan tâm đặc biệt của Thủ tướng Phan Văn Khải và
Thường trực Chính phu
Công trình được chính thức triển khai từ cuối năm 2004 với sự
tham gia của hàng trăm nhà khoa học thuộc các trường đại học
lớn, các viện, trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước, trong
số đó có người nhiều năm là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Thành phố, nhiều người là chuyên gia dầu ngành trong các lĩnh vực khoa
học xã hội và nhân văn, khoa học quán sự, khoa học tự nhiên Từ
khi bắt đâu triển khai cho đến khi hoàn tất công trình, tập thể tác
gia luôn tâm niệm, đây là một vĩnh dự lớn lao, một trách nhiệm
nặng nề, chỉ có quyên phấn đấu làm thát tốt để đền đáp, dù là nhỏ
nhoi, công ơn cao đẩy của các bậc tiên liệt đã khai sáng kinh
thành Thăng Long và những cống hiến to lớn của các thế hệ ông cha trong suốt một thiên niên kỳ dựng xây, bảo vệ mảnh đất linh
thiêng này
Hơn năm năm làm việc với lương tâm và trách nhiệm, tập thể tác giả cùng các cộng sự đã sưu tâm, nghiên cứu hàng triệu trang trr liệu, tài liệu ở trong nước và nước ngoài - nhiều tư liệu quý đã được dưa vào ngân hàng đữ liệu, phục vụ việc tra cứu, tìm hiểu lâu đài về Thăng Long - Hà Nội; đã tiến hành hàng chục cuộc khảo sát trong nước, ngoài nước, tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi khoa học, trong đó có năm cuộc hội thảo quy mô
quốc gia, quốc tế Kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc Chương trình đã được các hội đồng đánh giá cấp cơ sở, cấp nhà
Trang 8nước nhận vét, góp ý thẳng thắn, nghiêm túc Do vậy, công trình này đã trở thành sản phẩm trí tuệ của hàng ngàn nhà khoa học,
đà không thể kể tên trong khuôn khổ hạn hẹp của Lời giới thiệu,
nhưng tập thể tác giả mãi mãi tri an
Sau khi nghiệm thu, kết quá nghiên cứu của Chương trình đã được
tu chính, hoàn thiện theo sự chỉ đạo thống nhất của Hội đông Biên (ap do uy bạn nhân dân Thành phố Hà Nội quyết định thành lập và cược Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản thành bộ sách gồm HH tap
1 Điều kiện tr nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi Irường trong định hướng phát triển không gian thủ đô Hà Nội
2 Quản lý và phát triển Thăng Long - Hà Nội, lịch sứ và bài học
3 Hoạt động đối ngoại trên đất Thăng Long - Hà Nội
4 Bài học kính nghiệm trong sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội
$ Kimh tế hàng hoá của Thăng Long - Hà Nội: Đặc trưng va
kinh nghiêm phát triển
6 Giáo đục, đào tạo Thăng Long - Hà Nội (Quá trình, bài học lịch xử và định hướng phát triển)
7 Phái triển khoa học và trọng dụng nhân tài của Thăng Long
11 Phát huy tiêm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử
- văn hoá, phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Trang 9Mỗi tập sách có đối tượng nghiên cứu cụ thể, được Hiếp cận và
thể hiện theo những phương pháp phù hợp Song giữa các tập sách
có mối quan hệ mát thiết, được biên soạn theo một tu tong cht đạo thống nhất và tuân thủ phương pháp luận chung, hợp thành
một bộ sách hoàn chỉnh Tập thứ nhất giới thiệu tổng quan môi
trường địa lý, tự nhiên - một không gian vật chất, nơi người Thăng Long - Hà Nội, thế hệ tiếp nối thế hệ, lao động, tranh đấu không mệt mới để sáng tạo nên một kinh đô - thủ đô ngàn năm Chín tập tiếp theo, rập trung phán tích, đánh giá, tổng kết những nét đặc
sắc, những giá trị lịch sử - văn hóa nổi bật trên những lĩnh vực hoạt động chủ yếu, chung dúc thành trí tuệ, khí phách của Thăng
Long - Hà Nội văn hiển, anh hàng Tập cuối của bộ sách, Tập thứ mười một, chát lọc, nâng cao kết quả nghiên cứu của các tập trước
gắn với phản tích tình hình hiện nay, dự báo chăng đường sắp tới,
đề xuất phương hướng phát triển bên vững Thủ đô trong một vài thập niên đâu thế kỷ XXI - có thể xem đây là phần kết luận gói lại toàn bộ công trình
Bộ sách này không phải là bộ thông sử, tái hiện diễn trình phát triển 1000 năm Thăng Long - Hà Nội; cũng không phải là bộ sách chuyên khảo, ải sâu nghiên cứu một hoặc một vài vấn đề của lịch
sử kinh đô, thủ đô - công việc mà một số nhà sử học đã làm và sẽ còn tiếp tục Mục đích của tập thể tác giả là thông qua việc phan tích, đánh giá các sự kiện, các nhân vật tiêu biểu qua các thời kỳ,
cố gắng làm sáng tỏ những đặc trưng, những gid tri tinh hoa,
những bài học lịch sử sáng giá phan anh ban chất và sự vận động
có tính quy luật xuyên vuốt 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
những đi sản vô giá mà các thế hệ ông cha đã tích lũy, bồi đắp,
trao truyền từ bao đời cho đến hôm nay và cần phải giữ gin mai đến mai sau
Là công trình tổng kết lịch sử mang tính chất nghiên cứu cơ bán, bộ sách này đồng thời còn mang tính chất một công trình nghiên cứu ứng dụng Thấm nhuần lời dạy của người xưa “ôn cố
tri tan”, theo tính thần kết hợp truyền thống với hiện đại, tập thể
tác giả chú trọng tìm tòi, gạn lọc, hướng các nguồn lực tự nhiên,
Trang 10kinh tế, xã hội, các giá trị văn hóa vốn tiêm tàng trong lịch sứ vào
việc phục vụ thiết thực nhụ câu phát triển toàn diện Thủ đô hôm
nay Truyền thống nghìn năm như nguồn mạch dm thẩm xuyên chảy qua không gian, thời gian, được sàng lọc, bồi đắp, đổi mới để
thích ứng và trở thành di sản vô giá, thành nguồn lực nội sinh của
Thủ đô trên con đường tiến lên văn mình, hiện đại
Hy vọng bộ sách này sẽ mang đến những trị thức cần thiết, giúp bạn đọc hiểu đây đủ hơn, để yêu và tự hào nhiều hơn, sống
có trách nhiệm hơn với Thủ đô yêu dấu, giúp các đồng chí cán bộ
chủ chốt các cấp ngành của Thành phố có thể hiểu sâu hơn những
nguồn lực quý báu của Thủ đô ta, suy ngẫm những điều các thế hệ
tiền nhân đã nghĩ, đã làm, kiểm nghiệm, vận dụng sáng tạo vào sự
nghiệp phát triển, bdo vệ Thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
Mua thu năm 2008, khi công trình tổng kết lịch sử Thăng Long
- Hà Nội đang hoàn tất những công việc cuối cùng, thì Quốc hội
quyết định mở rộng địa giới hành chính Thành phố Hà Nội Lịch
sử Thủ đô sang trang mới Mặc dù, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh, bốn xã thuộc tỉnh Hòa Bình mới hợp nhất với Hà Nội không phải
là đối tượng nghiên cứu của công trình này, song với ý thức phục
vụ, các tác giả đã khẩn trương cập nhật các tư liệu cần thiết nhất
về những địa bàn mới, bổ sung, điều chỉnh một số định hướng phát triển, những đề xuất, kiến nghị cho phù hợp với quy mô, tâm vóc
Hà Nội mới Trước- mắt còn rất nhiều việc phải làm, trong đó có
việc phải nghiên cứu, tổng kết bổ sung lịch sử những vùng đất đã trở thành bộ phân hữu cơ của Thủ đô mở rộng Trong hoàn cảnh
mới, Tháng Long - Hà Nội với bề dày 1000 năm lịch sử, với những
giá trị tình hoa, đã, đang và sẽ mãi là dòng mạch chủ đạo, là bộ
phận cốt lối đóng vai trò nên tảng trong quá trình hòa hợp các thành tố văn hóa trên địa bàn Hà Nội hôm nay, tạo thành động lực
phát triển bền vững của Thủ đô
Trang 11Mặc dù dd làm việc với tỉnh thần trách nhiệm cao nhất, song, khi bản thảo của bộ sách đã được chuyển sang Nhà xuất bản,
những người viết vẫn cảm thấy bảng khuáng nhự tâm trạng đoàn thủy thu viên dương van niềm vui kết thúc một chăng đường nhiều
hi lý, vân thấy choáng ngợp trước một đại dương còn tiềm ẩn bao điều chưa dược khám phá Còn biết bao nhiêu sự kiện, nhân vái lịch sử chưa được biết đến? Còn biết bao nhiên tầng văn hóa với bao nhiêu di chi, hién vat quy hiém nam sau trong lòng đất chưa phát lộ? Và do vậy, mọt sự tổng kết, đánh giá lịch sử bảy giờ làm sao tránh khởi những khiếm khuyết, thám chí cả phiến điện, vai lant! B6 sdch nay Am được xem là mội viên đá góp vào con đường
nghiên cứu lịch sự Thăng Long - Hà Nội còn rồng dài phía trước
Thay mặt tập thể tác gid xin duoc bay tỏ lòng biết ơn chân thành về sự định hướng đúng đắn và sự quan tâm sản sắc của Đang Nhà nước; cám ơn xự Chỉ đạo, ghtp đỡ thường xuyên, hiệu qua của Bộ Khoa học Công nghệ của Thành tv Hội đồng nhân
dan, Uy bạn nhân dân, các «ở, bạn, ngành, đoàn thể Thành phố
Hà Nội; cám ơn" sự tỉng hộ, cộng tác quý báu của các nhà khoa học trong và ngoài nước sự phối hợp chặt chế đây tỉnh thần rách nhiệm của Văn phòng Ban Chỉ đạo ký niêm 1000 năm Thăng Long -
Hà Nội, Nhà xuất bạn Hà Nội
Xin được giới thiệu bộ sách cùng đông đáo bạn đọc và mong nhận được sự phê bình, góp ý, gutp táp thể tác giá có thể tiếp tục hoàn thiện công trùnh vào dip tai ban
GS.TS PHÙNG HỮU PHÚ
Chủ nhiệm Chương trình Khoa học cấp Nhà nước
Mã số KX.09
Trang 12LOI MO DAU
Thăng Long - Hà Nội vùng đất địa linh, nhân kiệt, từ năm 1010 được vua Lý Thái Tổ chọn làm Kinh đô của đất nước Đại Việt Với vị thế về địa
tự nhiên - kinh tế - chính trị - văn hóa, Thang Long - Hà Nội có một nền
kinh tế hàng hóa đô thị lâu đời nhất nước ta Khi Thang Long - Hà Nội trở
thành Kinh đỏ cư đân buôn bán, thợ thủ công từ nhiều miền đã kéo về đây sinh cơ lập nghiệp những phường thủ công buôn bán đã xuất hiện Xét về phương diện kinh tế, những yếu tố của nền kinh tế hàng hóa giản đơn đã xuất hiện từ rất sớm Các phố phường chợ búa, bến sông ở nội đô và
những thôn phường chuyên nghiệp phụ cận là những nơi tập trung của các
hoạt động kinh tế Vào thế kỷ XVII - XVIII kinh tế Thang Long có sự phát triển hưng thịnh Khi đó ở Thăng Lons đã xuất hiện những thương
điểm của người Hà Lan Anh, Pháp đến giao dịch buôn bán Thăng Long
- Hà Nội là nơi tập trung nhiều thợ tài hoa, những người kinh đoanh buôn bán giỏi và tạo nên truyền thống “khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ” là bản sắc văn hóa vật chất, tỉnh thần của Thăng Long - Hà Nội nghìn năm
van hiến
Ngày nay, Hà Nội là thú đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, văn là nơi tập trunø nguồn nhăn lực chất lượng cao và là nơi thu hút,
hội 1ụ nhân tài, vật lực của cả nước, nơi có điều kiện tiếp thu những thành tựu của khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại của thế giới Hà Nội đang trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế đề hướng đến một
Hà Nội giàu mạnh, văn minh hiện đại là đầu tàu phát triển kinh tế và có
ảnh hưởng lan tỏa đến sự phát triển kinh tế của các địa phương, các vùng
trong nước
Xét về phương diện lịch sử, Thăng luong - Hà Nội xưa và nay vẫn là đầu mối giao thông quan trọng của đất nước, là trung tâm kinh tế vùng
Trang 13một giao điểm của trục tuyến kinh tế có quan hệ mậi thiết gắn bó với các
địa phương trong cả nước Hà Nội cũng là nơi tập kết trung chuyển và trao đổi hàng hóa, là nơi kết tỉnh của những tiềm năng kinh tế, Điều đó cho
thấy khi Hà Nội được mở rộng vẻ địa giới, sức mạnh kinh tế của Hà Nội
sẽ được nhân lên và tạo ra động thái phát triển mới cả về bể rộng và bề
sâu Trong sự phát triển kinh tế hàng hóa kinh tế thị trường vai trò địa -
chính trị của Hà Nội sẽ tiếp tục phát huy ảnh hưởng tích cực vì là trung tâm chính trị của cả nước, là nơi tập trung các cơ quan đầu não Trung ương
và cũng là trung tâm giao dịch quốc tế lớn của cả nước, là đầu mối của các quan hệ hợp tác quốc tế nên Hà Nội có những điều kiện thuận lợi để khai thác sự hỗ trợ, hợp tác từ bên ngoài khi Việt Nam đã gia nhập WTO và từng bước hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế Như vậy, yếu
tố nội lực và ngoại lực sẽ tạo ra sự chuyển biến về chất trong sự phát triển kinh tế hàng hóa của Hà Nội cũng như tao ra những bước phát triển đột phá trong công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
ngày nay
Trong sự phát ưiển của Thăng Long - Hà Nội, đặc biệt trong những
năm đôi mới kinh tế hàng hóa có sự khởi sắc làm sống động hoạt động
kinh tế - xã hội của Thủ đô Kinh tế Hà Nội tăng trưởng nhanh và liên tục Khu vực kinh tế dân doanh phát triển đa dang đã huy động được nguồn lực của mọi tầng lớp dân cư cho phát triển Nhiều làng nghề, phố nghẻ truyền thống được phục hồi cùng với sự xuất hiện của các ngành nghề
mới Bên cạnh đó, việc mở rộng hợp tác và thu hit dau tu quốc tế cũng làm xuất hiện một số ngành công nghiệp mới, các khu công nghiệp tập
trung có quy mô lớn, hiện đại Do vậy, những sản phẩm hàng hóa của Hà
Nội cũng phong phú về loại hình, chất lượng được nâng cao, mẫu mã da dạng nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu đùng trong nước và xuất khẩu Đồng thời, các loại hình kinh doanh thương mại, dịch vụ tài chính - tiền tệ cũng
được phát triển để hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa gắn kết kinh tế Thủ đô với các vùng trong nước và thị trường
ngoài nước
Trang 14Để hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (1010 - 2010)
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cho xuất bản cuốn sách Kinh tế hàng
hóa của Thăng Long - Hà Nội: Đặc trưng và bài học kinh nghiệm phát triển
Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Nhà nước (Mã số KXO9.06) trong Chương trình: “Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên -
kinh tế - xã hội và giá trị lịch sử - văn hóa 1000 năm Thăng Long - Hà
Nội, phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô” (Mã số KX0O9) Đề tài do
GS TS Nguyén Tri Dinh lam chú biên với sự tham gia của tập thể các nhà
khoa học của trường Đại học Kinh tế quốc dân và các viện nghiên cứu, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (thuộc Đại học Quốc g1a Hà
Nội) Nội dung cuốn sách gồm 7 chương:
Chương I: Kinh tế hàng hóa và phát triển kinh tế hàng hóa ở Thủ đô - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương IT: Kinh tế hàng hoá Thăng Long thời kỳ phong kiến (1010 -
Chương VỊ: Đặc trưng và bài học kinh nghiệm trong tiến trình phát
triển kinh tế hàng hoá của Thăng Long - Hà Nội (từ năm 1010 đến nay)
Chương VII: Phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh
tế hàng hoá, từng bước xây dựng và phát triển kinh tế thị trường ở Hà Nội
đến năm 2020
Thăng Long - Hà Nội là trái tim của Tổ quốc, là vùng đất mang dấu
ấn nghìn nam lịch sử, nghìn năm văn hiến, là niềm tin yêu của cả nước Mục đích của cuốn sách giúp cho độc giả thấy được động thái phát triển kinh tế hàng hóa Thăng Long - Hà Nội cùng với những giá trị vật chất và tình thần thể hiện sức sống của Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch
Trang 15sử Từ đó, việc kế thừa những thành quả kinh tế để tiếp tục thúc đẩy kinh
tế hàng hóa Thủ đô trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường cùng quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế
Nhân địp cuốn sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ban chủ nhiệm Chương trình KX.09, Văn phòng Ban Chỉ đạo 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Hà Nội,
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành phố Hải Phòng, Ủy ban nhân dan tinh Ninh Binh, tinh Bac Ninh, các nhà khoa hoc, nhà quan lý
trons và ngoài nước đã tạo điều kiện và giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành
cuốn sách này
Kinh tế hàng hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội là vấn đề rất rộng lớn và phức tạp Cuốn sách có thể chưa phản ánh hết được đặc trưng, bài học kinh nghiệm từ sự phát triển kinh tế hàng hóa của Thăng Long - Hà
Nội như mong muốn của độc giả Mặc đù các tác giả đã hết sức cố pắng
nhưng khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng tôi mong nhận
được ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa hoc, nha quản lý cùng
bạn đọc trong và ngoài nước để tiếp tục hoàn thiện công trình nghiên
cứu này
Thay mặt tập thể tác giả
GS TS NGUYEN TRI DINH
Trang 16DANH MUC CAC CHU VIET TAT
KT-XITI: Kinh tế - xã hội
XHƠN: Xã hội chủ nghĩa
LLSX: Luc lượng sản xuất
ISX: Phuong thức sản xuất
QHSX: Quan hè sản xuất
GNP: Tổng sản phẩm quốc dân
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
['DI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA: IIỗ trợ phát triển chính thức
HDI: Chí số phát triển con người
VTIHKCC: Vận tải hành khách công
CNH, HbDH: Cong nghiép hoa,
hién dai hoa
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á GD-DT: Gido duc - dao tao
CSHI: Cơ sở hạ tầng
ITX: Hợp tác xã CLB: Cau lac bộ
KH&DT: Ké hoach va dau tu
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng GPMH: Giải phóng mat bằng
CEPT: Chương trình ưu đãi thuế quan
có hiệu lực chung AFTA: Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học
.Vvà Văn hoá Liên Hợp quốc
DN: Doanh nghiệp TPKT: Thành phần kinh tế
Trang 17Bảng 2.1 Cơ cấu thuế môn bài và thành phần kính doanh giữa 176
người Việt, Âu, Á tại Hà Nội
Bảng 22 Một số mặt hàng chính của công nghiệp chế biến 184
(1952-1954) Bang 2.3 | Tốc độ phát triển bình quân hàng năm của các thời kỳ 208
5 năm của một số chỉ tiêu chủ yếu
Bang 2.4 Số lượng và cơ cấu tổng mức bán lẻ thương nghiệp 217
Bảng 2.5 Tổng giá trị hàng hóa đo ngành thương nghiệp Hà Nội 220
Cơ cấu GDP các npành kinh tế Thủ đô trong hơn 20 240
, năm đổi mới |
Bang 2.9 | Co cấu thành phần kinh tế Hà Nội (theo GDP) 241
16 thi 2.1 | Gid tri tổng sản lượng công nghiệp ở Hà Nội 209
“Đồ thị 2.2 | Sản lượng lưỡng thực quy thóc của Hà Nội 211
Đồ thị 2.3 : Cơ cấu tếng mức bán lẻ thương nghiệp xã hội Hà Nội 218
Trang 18
Chương I
KINH TẾ HÀNG HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HÀNG HOÁ Ở THỦ ĐÔ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN
I MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE KINH TE HANG HOA
1 Kinh tế hàng hóa và quá trình vận động của kinh tế hàng hóa 1.1 Khái niệm kinh tế hàng hoá
Sự phát triển kinh tế hàng hoá là một quá trình chuyển biến từ kinh tế
hàng hoá siản đơn sang kinh tế hàng hoá và kinh tế hàng boá phát triển
đến siai đoạn cao tức Kinh tế thị trường
Lịch sử hình thành và phát triển của loài người cũng là lịch sử hình thành phát triển kinh tế Lúc đầu hoạt động kinh tế còn hết sức đơn giản, chủ yếu khat thác các nguồn lợi sẵn có trong tự nhiên, nhằm kiếm sống
và sinh tồn Vẻ sau, con người tích lũy được trị thức và kinh nghiệm lao
động, đã chuyển sang chủ động tố chức chăn nuồi và trồng trọt, chế tác các sản phẩm thô sơ để phục vụ đời sống của cá nhân và cộng đồng Công
cụ lao động được cái tiến, phân công hoàn thiện, sản phẩm tạo ra ngày
càng nhiều hơn, đã thúc đấy trao đổi các sản phẩm dư thừa giữa những cá nhân cộng đồng với nhau Trên cơ sở tư hữu và lợi thế tự nhiên Nền kinh
tê đã trút bỏ hình thái tự nhiên để khoác lấy hình thái hàng hoá dù hãy còn đơn siản và mang tính ngẫu nhiên
Để hiểu rõ khái niệm kính rế hàng hoá cần giải thích các phạm trù liên quan, trước hết là phạm trù hởng hoá và lao động sản xuất hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm được chế tạo đành cho trao đổi (để bán trên thị
Trang 19KINH TE HANG HOA CUA THANG LONG - HA NO}
trường) Nhưng sản phẩm để có thể trao đói được với nhau tức trở thành hàng hoá thì phái có thuộc tinh hai mat /d var mune eid wi si dụng và dong thot mang giá trí, với tự cách là kết tỉnh lao động của con người Tương ứng, hoạt động lao động cá nhân của người sản xuất hàng hoá (øồm những lao động cụ thể trons các ngành nehẻ và lĩnh vực nhất định
để chế tạo ra các giá trị sử dụng có ích) cũng trở thành hoạt động lao đóng
xã hội (thứ lao động trừu tượng sỏm các hao phí về thần kinh trí lực và
thé luc của con người nói chung - lao động sản xuất ra hàng hoá nhằm
mục đích trao đôi)
C.Mác kháng định: "Hàng hoá chỉ có gid tri trong chừng mực là
những biểu hiện của cùng một thể thống nhất có tính chất xã hội tức là
lao dong cua con người, nhờ đó giá trị của hàng hoá chỉ có một tính chất thuần túy xã hội thì giá trị chỉ có thê thể hiện ra trong mới quan hệ xã hội giữa hàng hoá này so với hàng hoá khác mà thỏi Điều này khác biệt hẳn
với nên kinh tế tự nhiên khi mà "mỗi gia đình nông dân dường như tự cấp
tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêu dùng và do
đó, Kiếm tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên hon
là giao tiếp xã hội:
Đại Từ điển Kinh tế thị trường đưa ra khái niệm kinh tế hàng hoá khá hoàn chính: “Kinh tế hàng hoá hình thức sản xuất xã hội lấy sản xuất hàng hoá và trao đốt để liên kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng
( ) Ngay từ đầu, kinh tế hàng hoá đã quyết định sản xuất là vì người =
`
khác vì xã hội; sản phẩm mà người sản xuất làm ra không phải để tự tiêu dùng mà để cho xã hội tiêu dùng ( ) VÌ vậy, sản xuất hàng hoá là sản
xuất nhằm mục đích trao đối: sản xuất hàng hoá phải được bố sung bằng
trao đổi hàng hoá hai cái đó kết hợp làm một mới hình thành kinh tế hàng
hoá”),
(1) C.Mác & Ph.Angghen (1981) Tuyển tập tập II NXB Sự thật Hà Nội, tr.515 (2) Đạt 1ừ diện Kinh tế thị trường (Sách dịch) (1998) Viên Nghiên cứu & Pho bién tri thức Bách khoa Hà Nội tr.l11.
Trang 20ĐẶC LRUNG VÀ KINH NGHIÊM PEAT TRIEN
Trong kinh tế hàng hoá hoạt động xơn vất hàng hoá luôn sẵn chat
vl rae doi VA thi trường, Trao đổi hàng hoá được hiểu là siai đoạn kế tiếp tất yếu của sản xuất hàng hoá nhàm thực hiện giá trị của hàng hoá và đây mới chính là mục tiêu của người san xuất hàng hoá Bởi thông qua trao đöi trên thị trường người san xuất hàng hoá mới bán được sản phẩm của
mình và thu về một khoản tiền đủ bù đắp chỉ phí bỏ ra bạn đầu và có lãi
nhờ thế có thể Hiếp tục quá trình sản xuất mới với quy mó ngày càng lớn hon (tai san xuất mỡ rộng), Trong kinh tế hàng hoá, việc thực hiện giá trì
hàng hoá (bán hàng) là vô cùng quan trọng: bởi nếu không thực hiện được, quá trình sản xuất hàng hoá sẽ bị phá vỡ - nguy cơ khủng hoảng luôn tiểm
ấn trong kinh tế hàng hoá
Cùng với hoạt động trao đối, // trường cũng là phạm trù không thê
tách rời của kinh tế hàne hoá Thị trường theo cách hiểu thông thường là
mot dia diém cụ thể - nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá Nhưng
về sau khái niệm thị trường được mở rộng ra, bao hàm cả các hoạt động
mua bán và quan hệ trao đối, với các định chế và hạ tầng tương ứng, cho
phép trao đổi thông tin và hàng hoá, sản liền giữa sản xuất với lưu thông
sản xuất với tiêu dùng Trong kinh tế hàng hoá, thị trường có ý nghĩa quan
trọng, vì xét cho cùng thì nó là căn cứ xuất phát và quy định sản xuất hàng
hoá Thị trường phát triển hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất hàng hoá diễn ra thông suốt và mở rộng: Hệ thống các loại thị trường hình thành và phát triển Theo thuộc tính của hàng hoá thì có năm loại thị trường cơ bản: Thị trường hàng hoá và dịch vụ: Thị trường sức lao động: Thị trường bất động sản: Thị trường tài chính và Thị trường khoa học và cone nghét!)-
(1) Nguyễn Đình Hướng Hoàng Văn Iloa (2004) Phát triển đòng bộ các loại thị trường
ở nước tá, trong “Kinh tế thị trường dịnh hướng XHƠN ở Việt Nam ` NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội tr.236
Trang 21KINH TE HANG HOA CUA THANG LONG - HA NỘI
Đồng thời với hoạt động trao đối và thị trường, c2 chế thị trường và
hệ thống các quy luật thị trường cũng phát huy tác đụng và giữ vai trò điều
tiết đối với sản xuất hàng hoá Sự vận động của kinh tế hàng hoá dựa trên
cơ sở cơ chế thị trường và các quy luật thị trường Cơ ch thị trường là cơ chế vẻ mối liên hệ và tác động qua lại giữa các bộ phản chủ yếu của thị trường như c9 câu và gid cá Cơ chế thị trường thực hiện vai trò phối
hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế riêng và điều tiết sự phân bố các
nguồn lực trong nền kinh tế thị trường
Cóc gMY thật thị trường là một hệ thống bao sồm quy luật giá trị quy
luật giá trị tháng dư quy luật cung - cầu quy luật lưu thông tiền tệ
Đáng lưu ý là các quy luật sau:
- Quy luật giá trừ là quy luật chung của kinh tế hàng hoá, nó yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
Điều quan trọng là khi thừa nhận sự tồn tại và vận hành của quy luật giá trị, thì mọi hình thức can thiệp trực tiếp của nhà nước hay các chủ thể kinh
doanh vào mức giá cả thị trường đều làm méo mó giá cả Quy luật giá trị
tự bản thân nó không mang bản chất xã hội các chủ thể kinh tế và nhà nước cần và có thể sử đụng mặt tích cực của quy luật giá trị nhằm hạch toán các chi phí và quản lý nên kinh tế
- Quy luật giá trị tháng dư là quy luật tất yếu của nên kinh tế hàng hoá
phát triển kinh tế tăng trưởng và tích lũy, tái sản xuất mở rộng không
ngừng Sản xuất giá trị thăng dư là quá trình sản xuất giá trị được kéo dài vượt quá một điểm nào đấy hay vượt quá giá trị sức lao động; nhưng về nguyên tác thì quá trình sản xuất giá trị và giá trị thăng dư là thống nhất
Các nước muốn phát triển đều phải vận dụng tốt quy luật gid tri thang du
- Quy luật cung - cẩu cũng là quy luật kinh tế quan trọng, thể hiện
tương quan và tác động mật thiết giữa hai đại lượng cơ bản của kinh tế
hàng hoá là “cung” và “cầu” Sự vận động của hai đại lượng này theo chiều hướng ngược nhau và tác động mạnh mẽ tới mức giá cả thị trường
Khi cung tăng lên vượt cầu thì giá cả hạ thấp và ngược lại khi câu tăng
lên vượt cung thi gid ca tang cao; do đó, chúng sẽ kích thích hay hạn chế
sản xuất hàng hoá Có thể nói, cân bằng cung - cầu và giá cả giống như
hàn thử biểu trong kinh tế hàng hoá
Trang 22DAC TRUNG VA KINH NGHIEM PHAT TRIEN
Vận động của kinh tế hàng hoá được thực hiện dưới tác động của các quy luật thị trường Điều này có nghĩa rằng các phạm trù cúa kinh tế hàng hoá như cung - cầu, giá trị, giá cả, giá thành lợi nhuận, tiên tệ, cạnh tranh phải được tôn trọng và vận dụng phù hợp với quy luật thị trường Chỉ trone những điều kiện này quy luật và cơ chế thị trường mới thực sự
phát huy tác dụng điều tiết phản bố nguồn lực, kinh tế hàng hoá mới thực
tế vận hành như một hệ thống chỉnh thể thay cho hệ thống kinh tế tự nhiên
hay kinh tế chỉ huy
Có thể nói kinh tế hàng hoá là phát minh vĩ đại nhất của con người,
có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất và đời sống xã hội:
Thứ nhát, phất triển kinh tế hàng hoá là biện pháp cơ bản để nâng cao
lực lượng sản xuất, phá vỡ trạng thái kinh tế tự cấp tự túc lạc hậu Sự tác động của quy luật kinh tế hàna hoá đã thúc đẩy mạnh mẽ phân công lao động tạo nên sức sản xuất xã hội to lớn, Kinh tế hàng hoá là sản phẩm và thành tựu của văn mình nhân loại Các quốc gia, không ngoại trừ có chế
độ xã hội - chính trị khác nhau, để phát triển đều phải sử dụng kinh tế hàng
hoá và cơ chế thị trường
Thứ hi, phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá trên cơ sở tôn trọng quy luật giá trị, chấp nhận cạnh tranh bình đẳng, mở cửa với nền kinh tế
thế giới là điều kiện cần thiết để kích thích cải tiến công nghệ và áp dụng
các phương pháp quản lý hiện đại, tăng năng suất lao động và thúc đấy
tàng trưởng bền ving
Thứ ba, phát triển kinh tế hàng hoá, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ và
bình đăng kinh doanh theo pháp luật cho mọi thành phần kinh tế là cơ sở
của đán chủ kinh tế, sóp phần khắc phục ảnh hưởng của cơ chế quan liêu
bao cấp Mặt khác, dân chủ trong kinh tế là điều kiện của dân chủ trong đời sống chính trị - xã hội và hình thành nền dân chủ XHCN
Ở Việt Nam, lý thuyết kinh tế hàng hoá được phát triển cùng với thc
tiên kinh tế thị trường Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Kinh tế hàng hoá
là loại hình kinh tế tạo ra sản phẩm nhằm để trao đối kinh doanh trên thị
DL te
trường”: “Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá trong đó sản xuất theo yêu
Trang 23KINH TẾ HÀNG HOA CUA THANG LONG - HA NOI
cầu cua thị trường”, phản biệt với “Kinh tế tự nhiên là loại hình kinh tế
dựa chủ yếu khai thác tự nhiên để dam bảo đời sống và nói chung không
có sản phẩm hang hod"):
1.2 Quá trình vận động của kinh tế hàng hoá
Trong lịch sử tiến hoá của nhân loại, xét về mặt tính chất xã hội hoạt động Kinh tế của con người đã trải qua ba giai đoạn chủ yếu tương
ứng với ba nên kinh tế lớn Căn cứ vào cách thức giải quyết những vấn
để cơ bản của nên sản xuất xã hội mà kinh tế học đã chỉ ra là sản xuất cái øì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai, có thể phân chia thành
ba nền kinh tế như sau: Kính tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá và Kinh tế
thị trường
Ngoài ra, còn có một nên kinh tế đặc thù cũng đã từng tồn tại trong Lịch sử là kinh tế Kế hoạch hoá tập trung hay kinh tế mệnh lệnh kinh tế
phì thị trường ở Liên Xô cũ và các nước XHCN trước đây
- Nền kinh tế tr nhiên, là hệ thống kinh tế sớm nhất và sơ khai, găn
với thời Kỳ bình minh cúa xã hội loài người nó phản ánh trình độ phát
triển thấp của lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất, Kinh tế tự nhiên có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
+ Mục đích và sản phầm sản xuất ra là nhằm thoa mãn nhụ cầu tiều dùng tại chỗ hay tiêu dùng nội bộ của con người Hệ thống Kinh tế này còn được sọi là kinh tế tự cunø tự cấp, khép kín váng bóng của trao
đối và thị trường Vì vậy hệ thống kính tế này còn được sọi là kinh tế hiện vật
+ Tổ chức kinh tế và sản xuất mang tính khép kín trong môi đơn vị cơ
sở (chủ yếu là hộ gia dinh) ‘Tinh trang này cũng đồng nghĩa với sự tách rời cô lập và phan tán của các đơn vị kinh tế, không có sự phân công, hiệp
tác giữa các đơn vị sản xuất
(1) Hoàng Phê (chủ biến) (2006), 7 điển 7iểng Việt, NXB Đà Nẵng (xuất bản lần
thứ 12) Hà Nói - Đà Năng tr.Š30,
Trang 24DAC TRUNG VA KINIT NGHIEM PHAT TRIEN
+ Kỹ thuật sản xuất chủ yếu là thú công, phương pháp san xuất theo
kinh nghiệm và thói quen màng tính báo thu và lạc hậu Vì lẽ đó Kinh tế
tự nhiên đã từng tồn tại hàng ngàn năm mà không đưa lại tiến bộ gì đáng
ke trong Kỹ thuật sản xuất, nâng suất lao động cũng như tổ chức sản xuất
xã hội
Nhu vậy cơ sở của kinh tế tự nhiền là trình độ thấp kém của lực lượng
sản xuât và phản công lao động xã hội Kết qua là, năng suất sản xuất xã
hội rất thấp kém: san phẩm làm ra chỉ đủ thoả mãn những nhụ cầu tiêu
dùng hạn hẹp của chính ban thân noười sản xuất Kinh tế tự nhiên cũng đồng nghĩa với giai đoạn nông nghiệp thuần tuý truyền thống theo hàm
nehfa là sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lấy việc khai thác độ
mầu mỡ phì nhiều của dal dai lam yếu tố chính tạo ra sự phát triển Kinh
tế tự nhiên đã tồn tại trong xã hội nguyên thuy thời kỳ trung cố và tần dư
của nó vần còn tiếp tục tồn tại dai dang nhất là ở các một số nước phương Đông Tuy nhiên theo yêu cầu phát triển nuày càng cao của lực lượng sản
xuất Khoa học - kỹ thuật và phản công lao động quan hệ trao đối hàng hoá cũng đản đân xuất hiện làm phá vỡ Kinh tế tự nhiên khép kín để chuyên sang thời đại kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường
- Nền kính tế hàng hoá, là nên kinh tế Kế tiếp và phát triển tiến bộ so
với kinh tế tự nhiên Kinh tế hàng hoá là hình thái tổ chức kinh tế - xã hội
mà ở đó mục đích của sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm nhằm thoả mãn
nhu câu xã hội thong qua trao đổi Trong hệ thống kính tế này các vấn đề
cơ bản của sản xuất (như sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai2) đều được 0iái quyết thông qua thị trường và đo thị trường quyết định Trong lịch sử, kinh tế hàng hoá ra đời gắn với những điều kiện - tiên đề cơ bản là: + Sự phát triển ở trình độ cao hơn của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội tức là sự phân công xã hội về lao động và hình thành những lĩnh vực sản xuất vật chất hay ngành kinh tế khác nhau
+ Sự tách biệt về kinh tế giữa những neười sản xuất tức phân chia
xã hội vẻ sở hữu và hình thành sở hữu tư nhân đối với các yếu tố sản xuất chủ vếu
Trang 25KINH TE HANG HOA CUA THANG LONG - HA NỘI
Kinh tế hàng hoá có ưu thế rõ rệt so với kinh tế tự nhiên là kích thích sản xuất, cải tiến công cụ lao động và thúc đấy lực lượng sản xuất phát
triển: mở rộng phân công, chuyên môn hoá và phát huy lợi thế so sánh của sản xuất xã hội; phát triển giao lưu và hợp tác sản xuất tạo lập nền kinh
tế thông nhất trong phạm vị quốc gia dân tộc và toàn cầu
Những mầm mống của kinh tế hàng hoá xuất hiện từ rất sớm, ngay trong thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ Tuy nhiên trong suốt thời kỳ trung cô hàng ngàn năm nghĩa là ở các phương thức sản xuất tiền TBCN nó vẫn ở trình độ thấp, phổ biến vẫn là kinh tế hàng hoá nhỏ
gian đơn,
Trong quá trình phát triển, kinh tế hàng hoá vừa phụ thuộc vào thể chế
chính trị - xã hội và không phai lúc nào cũng phát triển theo chiều đồng hành tiến hoá ở các thời kỳ khác nhau Với các chế độ chính trị xã hội khác nhau thì mức độ phát triển kinh tế hàng hoá cũng khác nhau
- Nền kinh tế thị trường không phải là giai đoạn hoàn toàn độc lập
khác biệt so với kinh tế hàng hoá, mà là sự phát triển cao của kinh tế hàng hoá Chỉ khi lực lượng sản xuất và phân công đạt tới trình độ cao, sản xuất hàng hoá phát triển mạnh, trao đối trở nên phố biến và thị trường mở rộng
các quan hệ thị trường được hoàn thiện bao gồm cơ cấu các quan hệ sở hữu quan hệ quản lý va thé chế phù hợp các loại hình thị trường (thị trường hàng hoá và địch wụ, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường tài chính thị trường khoa học và công nghệ) hình thành đồng
bộ và vận hành thông suốt nghĩa là hoạt động như một hệ thống (chỉnh
thể) kjnh tế - xã hội hữu cơ, thì mới thực sự có kinh tế thị trường phát triển
Như vậy, kinh tế thị trường là giải đoạn phát triển xã hội hoá tất yếu của san xuất, là thành tựu của văn mình nhân loại Kinh tế thị trường là giải
doạn phát triền cao của kinh tế hàng hoá
Trong lịch sử, sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường trong
giai đoạn đầu được sản liên với sự ra đời của CNTB, hay được gọi là kinh
tế hàng hoá TBCN Những điều kiện - tiền đề kinh tế và xã hội cho sự ra
đời kinh tế hàng hoá TBCN là:
Trang 26DAC TRUNG VA KINIL NGHIEM PHAT TRIEN
+ Tư bản tiền tệ được tích tị vào tay các nhà tư bản cá biệt ở mức độ
đủ lớn để hình thành các xí nghiệp sản xuất lập trung, quy mô lớn Trong
thời kỳ đầu nếu chị dựa vào tác động phân hoá của quy luật siá trị làm phân hoá những người sản xuất nhỏ và tập trung tư bản vào giới chủ doanh nghiệp thì sẽ mất nhiều thời gian Để rút ngăn quá trình này giai cấp tư san đang lên đã sử dụng phương pháp “tích luỹ nguyên thuỷ” llọ chủ
trương đây mạnh buôn bán và phát triển thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương nhằm cướp bóc thuộc địa khai thác lợi thế so sánh và sự chênh lệch năng suất tự nhiên giữa các quốc øia Chủ nghĩa trọng thương và chính sách bảo hộ mau dich duce nhà nước tư sản áp dụng để thúc đầy tích luỹ của cái vào tay giới chủ Sự ra đời của kinh tế hàng hoá TBCN ở nước
Anh trong thế kỷ XVI - XVII 1a ví dụ điển hình
+ Xuất hiện loại hờng hoá đặc biệt - vức lao đóng Đây cũng là quá trình tách lao động khỏi các tư liệu sản xuất để biến họ thành người lao động tự đo nhà nước ban bố các đạo luật - thiết chế cho sự hình thành thị
trường lao động Nhằm cung cấp nguồn nhân công rẻ cho các công xưởng
TBCN vừa mới ra đời, giới chủ ở nước Anh đã tiến hành nhiều biện pháp khác nhau kể cả tước đoạt ruộng đất, để tách nông dân khỏi ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu của họ Nông đân bi `tước đoạt tư liệu sản xuất” và
gia nhap vào đội quân lao động ở các công xưởng Nhà nước tư sản đã đóng
vai trò “bà đỡ` tích cực cho quá trình này, khi bạn bổ các đạo luật cho phép
nỏng đân giải phóng khói ruộng đất và trở thành người lao động tự đo
Như C Mác đã chỉ ra: nhờ có thứ hàng hóa đặc biệt - sức lao động va cách két hợp tr bản chủ nghĩa (sức lao động + tế liêu vdn xwđ?) mà một phương thức san xuất mới đã ra đời sản liền với chiếm đoạt giá trị thăng
dư dựa vào việc khai thác siá trị sử dụng của thứ hàng hóa đặc biết - sức lao dong hay Kéo dài quá trình chế tạo giá trị vượt quá một điểm nhất định
(vượt quá giá trị sức lao động) Điều này cũng sợi ý rằng: nếu loại bở tính chất TBCN của quá trình tích lũy nguyên thuy cũng như loại bỏ cách kết hợp TBRCN giữa vức lao động với các yêu tố sản xuất, thì sự tích lữy vốn
tà phát triển thị trường lao động cũng chính là quá trình phái triển kính
té thị trường nói chụng
Trang 27KINH TE HANG HOA CUA THANG LONG - HA NOI
Nooài ra sự phát triển của kinh tế hàng hoá TBCN và kinh tế thị trường nói chung con có các điều kiện khác như:
- Sự phát triển của thị trường tài chính với hai bộ phận cấu thành là thi
trường vốn và thị trường tiền tệ ở mức độ nhất định Trong nền kinh tế thi
trường phát triển, mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá và biểu hiện đưới hình thái chung nhất là tư bản - tiền tệ Tư bản - tiền tệ mà hình thái
cao nhất là tư bạn - tín dụng giữ vai trò chỉ phối chứ không phải tư bản -
hàn» hoá Việc đam bảo cung cấp vốn cũng như yêu cầu chu chuyển các dòng vốn là rất to lớn và nghiệm ngặt cũng như lưu thông của máu cho cơ thể nền kinh tế Thị trường tài chính được coi là thể chế bậc cao và trái tim của nền kinh tế thị trường hiện đại
- Hệ thống kết cấu hạ tầng cũns như các loại thị trường phải phát triển mạnh đồng bộ nhằm đảm bảo lưu thông hằng hoá và thông tín thông suối,
đáp ứng yêu cầu mơ rộng quy mô, lang dung lượng thị trường một cách nhanh chóng kịp thời Mặt khác cho phép phát huy hiệu quả các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất tạo môi trường thuận lợi - hấp dẫn để kích
thích các hoạt động đầu tư và Kinh đoanh
- Cudi cling var 6 của nhà nước là điều kién “can va du” cho phát triển kính tế thị trường Thực tiễn lịch sử cho thấy trong giai đoạn chuyển
từ kinh tế hàng hóa giản đơn sàng kinh tế thị trường, nhà nước tư sản đã đóng vai trò "bà đỡ” nhắm thúc day cho kinh tế thị trường ra đời như: nhà
nước can thiệp trực tiếp nham tạo ra những tiền đề kinh tế - xã hội cần
thiết cho kinh tế thị trường, thí hành chính sách bảo hộ mậu dịch và khuyến khích ngoại thương Nhưng sang thời Kỳ sau, khi giai cấp tư sản
đã tích luỹ được nhiều của cái và mạnh lên trong kinh doanh, họ lại chủ
trương chủ nghĩa tự do Kinh tế và phản đối sự can thiệp của nhà nước Nhà nước TBRCN từ vai trò "bà đỡ” chuyển sang vai trò “người gác đêm để định ra các luật lệ - chính sách nhằm siữ sìn trật tự và sự ôn định của Xã hội tư sản
Từ sau Khủng hoàng kính tế 1929-1933, nhiều nhà kinh tế chủ trương nhà nước phải can thiệp vào Kinh tế, Nhà nước tư sản lúc này từ vai trò
"người gác đêm” và “nhân tố bên ngoài” chuyển thành cÓñ thể lớn nhất
Trang 28DAC TRUNG VA KINH NGHIEM PHAT TRIEN
và nhận tố cấu thành hữu cơ của nền kinh tế thị trường hiện dại Ö day
mội mặt nhà nước được xác định là chủ thể thống nhât giữ vai trò quan trọng về quản lý vĩ mô: mặt khác nhà nước còn tham gia trực tiếp vào
kinh doanh như một lực lượng thị trường đối trọng nhưng được giới hạn
trong những phạm vi nhất định chỉ ở đâu mà quy luật thị trường không phát huy tác dụng hay tư nhân không thể đám đương hoặc nhằm cung cấp các địch vụ xã hội cơ bản cho khu vực tư nhân hoạt động
Trong điều Kiện hiện đại khi KTT đã hình thành những liền hệ và cần đối vĩ mỏ, thậm chí là mane tính toàn cầu nó không thể ra đời tự phát cũng như tự vận hành nếu thiểu “bàn tay hữu hình” của nhà nước Cách thức và công cụ mà nhà nước sử dung đẻ tác động vào thị trường là mang tính tổng hợp: pháp luật - hành chính - kinh tê Nhưng sự tác động này nhái dựa trên nguyên tặc tôn trọng quy luật thị trường nhằm bó sung và
hiệu chỉnh cho những khiếm khuyết và thất bại của thị trường, duy trì các
cân đối vĩ mô, giúp cho thị trường vận hành nhịp nhàng, đồng bd, thong suốt Trên cơ sở này, đã diễn ra các cuộc cải cách mạnh mẽ nền KTTT theo hướng tự do hoá tư nhân hoá và toàn cầu hoá Ngoài ra phải Kẻ tới các yếu
tô tác động Khác như hoàn thiện chế độ sở hữu thị trường hiện đại, xây dựng thể chế kinh tế phù hợp phát triển khoa học - công nghệ và kinh tế tri thie
Trong lịch sử, phát triển KTTT cũng đồng thời là quá trình tiến hành
ƠNH và thực hiện bước quá đó từ phương thức sản xuất phong Kiến sang
phương thức sản xuất TBCN., Phát triển KTTTT theo con đường 0uần tự - cố
dien cua các nước Âu - Mỹ phái lần lượt trải qua những giải đoạn nhất
định và do đó thời gian kéo dài hàng trăm năm Ngày này, hoàn cảnh không bát buộc phải lặp lạt con đường phát triển Kinh tế thị trường (án
Trang 29KINH Ti HANG HOA CUA THANG LONG - HA NO]
nước, tận đụng triệt để xu hướng toàn cầu hoá, mở cửa rộng rãi nền kính
tế và tranh thủ tối đa tư bản nước ngoài tạo ra cú hích cho nền Kinh tế Nhờ thế, NÍCs châu Á trong những năm đầu nửa sau thế ký XX chỉ cần khoảng thời gian 30 năm để từ tình trạng nông nghiệp lạc hậu, cất cánh trở thành "những con rồng” về kinh tế trong khu vực Như vậy, tồn tại quy luật phát triển theo gia tốc tăng dần và rút ngắn khoảng cách KTTT đang
ngày càng phát huy tác dụng Theo quy luật này thì một nền kinh tế có
điểm xuất phát thấp có thể bứt phá vượt lên và đuổi kịp các nền kinh tế phát triển bằng cách tận dung loi thé cba KTTT
- Nền kinh tế kế hoạch hoá táp trung Thế kỷ XX còn được phi dấu bởi một mô hình kinh tế đặc thù - kinh tế kế hoạch hoá tập trung Đây là nền kinh tế phi thị trường phi hàng hoá Nó như là sự thể nghiệm không
thành công mô hình nền kinh tế hậu thị trường tương lai Nền kinh tế này được xây dung tại một số nước XHCN trước đây, hiện còn để lại những
hậu quả nặng nề cần được khắc phục để chuyển sang quỹ đạo KTU Có thể tóm tắt những đặc irưng chỉ vếu của mô hình này như sau:
+ Áp dụng chế độ công hữu thuần nhất một cách vô điều kiện, thay thế cho sở hữu tư nhân và động cơ lợi ích
+ Áp dụng cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ thay cho vai trò điều
tiết của thị trường và quy luật giá trị
+ Thực hiện chính sách đóng cửa với thế giới, không tính đến xu
hướng toàn cầu hoá và phân công lao động quốc tế,
Do tích tụ lâu các sai lắm trong nhận thức và đánh gia vé CNXH thoát
ly thực tế, nôn nóng muốn đối cháy giai đoạn và bỏ qua giải đoạn kinh tế thị trường, nên CNXH không được củng cố vững mạnh, ngày càng lún sâu
vào bế tắc, trì trệ và khủng hoảng Cuối cùng, nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung phi thị trường sau gần 70 năm tồn tại, rốt cuộc đã tỏ ra thiếu sức
sống và sự tự phát triển nội sinh đã đi đến sụp đổ buộc phải quay về với nên kinh tế thị trường
Tóm lại quy luật chung của tiến hoá nhân loại là từ kinh tế tự nhiên,
tự củng, tự cấp sẽ chuyển lèn kính tế hàng hod va KTTT Qua trinh nay đã
trải qua hang ngàn năm, gắn với những biến đổi của LLSX quan hệ sản
Trang 30ĐẶC TRƯNG VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN
xuất, phản ánh trong sự thay đói của kết cấu kinh tế - xã hội của thời đại,
kéo theo sự biến đối của PTSX Như €, Mác nói: “PTSX đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội chính trị và tĩnh thần nói chung Vé
đại thể có thể coi các PTSX châu Á, cổ đại phong kiến và tư sản hiện đại
là những thời đại tiến triên đần dần của hình thái kinh tế xã hội”G):
KT là kiểu tổ chức sản xuất mang tính xã hội hoá, nó phán ánh
trình độ phát triển cao của văn mình nhân loại KTTT kế từ Khi ra đời đã tồn tại và phát triển trong nhiều chế độ xã hội và các PTSX khác nhau, bản
chất xã hội của nó được quy định bởi QHSX trong hệ thống kết cấu kinh
tế - xã hội của một thời đại Tuy nhiên, KT TT chỉ đạt tới trình độ cao và phon thinh dưới thời đại TBCN: CNTB cũng là xã hội đầu tiên đã sử dụng,
thành công KTT phục vụ cho mục tiêu phát triển, thông qua việc lạo ra động cơ lợi ích, thúc đấy cạnh tranh, khơi dậy các tiềm năng kinh doanh, giải phóng LLSX công nghiệp hoá và xã hội hóa nền kinh tế
Phát triển kinh tế hàng hoá là quy luật phát triển tất yếu của xã hội
loài người; các quôc gia với thể chế chính trị - xã hội khác nhau nếu muốn phát triển thì không có cách lựa chọn nào khác ngoài con đường phát triển
kinh tế hàng hoá và thị trường
2 Phát triển kinh tế hàng hóa ở Thủ đô
2.1 Tính tất yếu và điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá ở Thủ đô
Nếu như kinh tế hàng hoá là quy luật phát triển tất yếu cho mọi quốc
gia thì các thủ đô - thành thị lớn trên thế giới do những điều kiện và lợi thế đặc thù về địa - chính trị kinh tế, văn hoá và thể chế, là những trung
tâm phát triển hàng đầu về kinh tế hàng hoá và đo đó, là thể hiện sinh động
của quy luật tiến hoá trên đây, Nhờ thể, các thủ đô - thành thị lớn trên thế siới với tư cách trune tâm kinh tế hàng hoá đồng thời có vai trò động lực,
(1) CMác (1964) Lời rưư "Góp phần phé phán kinh tế chính tị học ` NXB Sự thật
Hà Nội tr 7-8
Trang 31KINH TE UANG HOA CUA THANG LONG - HA NOT
sức lan toa và chỉ phới mạnh mẽ đối với toàn bộ sự phát triển Kinh tế của đất nước
Kinh tế hàng hoá phát triển không đồng đều ở các quốc gia ngay
trong một nước thì sự phát triển này cũng không giống nhau Thông thường, những vùng trune tầm hay các thủ đỏ - thành phố lớn là những địa bàn luôn đi tiên phong về phát triển kinh tế hàng hoá rồi sau đó theo hiệu ứng làn sóng lan toa ra các vùng ngoại vị hay địa phương xa hơn, 77ớc het, diéu này được lê gi bọt lễ do nằm ngoài kính tố - những diéu kién thuận lọt đặc biệt về chính trị, hành chính Có thể nói đây là yếu tô tiên quyết và cần bản cho sự ra đời, phát triển mạnh mẽ và năng động của kinh
tế hàng hoá ở các thành phô - thủ đỏ,
Không phái ngàu nhiên mà các nhà nghiên cứu thường phân chia thành phố ra hai yếu tố cơ bản: "thành" và "thị, để xem xét chúng trong mới quan hệ và tác động qua lai lan nhau Sự thực thì yếu tố “thành” ra đời sớm hơn, trước hết với tư cách là những trung tâm chính trị - hành
chính, đại bản doanh cua bộ máy chính quyền nhà nước trung ương Chính
nhu cau “an cư, cai trị và phòng thủ” của bộ máy nhà nước tập quyền, ké
từ thời cổ đại ở Hy Lạp La Mã và sau này là các quốc gia phương Đồng,
đã thúc đáy sự ra đời, củng cố các thành phố - thủ đô như Athel
Alecxangdrop Vơnijiơ, Kiev, Bắc Kinh, Thăng Long Tokyo.v.v
Tát đây, nhà nước trung ương tập quyền định đô và thực thì vương
quyền (quyên cai trị tối cao đối với đất nước), Quyền lực chính trị đẻ ra
kinh tế, hay ít ra lúc đảu là như vậy Bộ máy nhà nước cũng có "nhu cau
sinh tồn” như mọi cơ thể sống (ăn, mặc, nghỉ ngơi giải trí ) Và thế là
hình thành các lĩnh vực cung ứng hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu đùng của bộ máy nhà nước Mặt khác nhà nước ban hành chế độ thuế khoá và xây dựng nền tài chính quốc gia, dựa vào đó để nuôi dưỡng bộ
máy hành chính và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Không phải đến báy giờ mà ngay từ thời xa xưa, chính nhu cầu mua săm của nhà nước với các “đơn hàng lớn” cũng như nhu cầu tiêu dùng (thậm chí xa xi) của các tầng lớp vua chúa, quan lai trong bộ máy nhà
nước đã kích thích mạnh mẽ sản xuất hãng hoá phát triển Lịch sử cũng
Trang 32DAC TRUNG VA KINH NGHIEM PHAT TRIEN
cho thấy ràng khi mới ra đời, kính tế hàng hoá chịu anh hưởng nhiều của
thị trường bên trong hơn là bền ngoài Đại diện cho thị trường này là nhóm đổi tượng người mưa đặc biệt - gốm những bậc vương giả, quý Lộc quan lại, chức sắc và thấp hơn nữa là binh lính nha dịch tức là nhting “quan chức” hay "công bộc” trong bộ máy nhà nước tập quyên Không phải những người mua "phổ thóng” mà chính là tầng lớp “tỉnh hoa” hay "thượng lưu” mới là những khách hàng đầu tiên, có ý nehĩa trên thị trường hàng hoa, dịch vu
Theo đó Không phải mọi thứ bất kỳ đều trở thành hàng hoá, mà chi
gồm một nhóm tương đối hẹp các sản phẩm và dịch vụ “chất lượng cao" nhằm thoa mãn cho những như cầu “đặc thù” trên Ví dụ, các đồ trang sức tình xảo chạm khảm bằng vàng, bạc, sừng, đá quý: các loại vải đoạn, sa tình gấm vóc các lâm hái sản, những của ngon vật lạ là những hàng hoá dich vu chat lượng cao đấu tiên Ngày nay, số lượng và chúng loại hàng hoá dịch vụ đã phong phú hơn nhiều và đối tượng tiêu đùng cũng khòng
chỉ bó hẹp trong tầng lớp "tỉnh hoa và thượng lưu”
Tóm lại sự ra đời của kinh tế hàng hoá trong lịch sử, ngoài tính quy luật thông thường (sự phân công lao động và chế độ tư hữu) trên thực tế còn bị chỉ phối bởi một logic khác: đó là yếu tố chính trị - quyền lực, còn gọi yếu tố "thành” - hay có thể nói “thành đẻ ra thị, thành gắn với thị"
Thực chất vẫn không phủ nhận ly thuyét “phan cong”, chi có điều ở đây
phân công được bổ sune nội dung đảy đủ phong phú hơn cho sát với hiện thực lịch sử bao gồm cả sự phân công hình thành bộ máy nhà nước tập
quyền và giai cấp thống trị - quản lý xã hội cùng với các trung tâm chính
trị - hành chính tập quyền tại thủ đó của các quốc gia Giá định loại bỏ
yếu tố này thì chắc chắn sự ra đời ban đầu của kinh tế hàng hoá sẽ rất Khó khăn và lâu dài Đặc biệt, chúng ta sẽ không thể lý giải vì sao kinh tế hàng hoá lại chỉ xuất hiện và phát triển mạnh mẽ ở một số trung tâm chính trị - hành chính lớn Cho đến ngày nay các thành phố - thủ đô vẫn và sẽ là
những trung tầm và động lực của kinh tế hàng hoá
Tuy nhiên phải lưu ý răng, không nên tuyệt đối hoá logic "thành -
thị" Nói yếu tố “thành” có vai trò thúc đầy tích cực nhưng không ngoại
Trang 33KINH TE HANG HOA CUA THANG LONG - HA NO}
trừ nó cũng kìm hãm, một khi yếu tố này quá mạnh lấn át và chị phối một
cách hành chính quan liêu tới đời sống kinh tế Ví dụ như các đạo luật của
nhà nước một! số thời kỳ mâu thuẫn với tự do trao đổi và thị trườna, các chính sách trọng nòng ức thương của nhà nước trung có phương Tây và chuyên chế phương Đông, những quy định “cong nạp” nặng nề hay "trưng
tập” thợ thủ công giỏi vào làm trons quan xưởng hoặc biến họ trở thành
kẻ nô bộc phục vụ cho cung vua phủ chúa (trường hợp một số triều đại phong Kiến Việt Nam và Trung Quốc)
Ngoài ra tính tất yếu phát triển kinh tế hàng hoá ở thủ đô còn bị chỉ
phối bởi các nhân tố khác cũng không kém quan trọng Có bốn ¡" các ciếu kiện - nhân tổ thuận lợi về địa lệ - tự nhiên, cơ vở hạ tầng vật chất -
kỹ thuật, văn hoá - xã hội và thể chế, như sau:
Thứ nhất, nhân tổ địa lý - tự nhiên
Các quốc gia thường chọn đặt thủ đô ở nơi có lợi thế về vị trí địa lý đặc biệt Theo quan niệm phương Đông thì đó là nơi “địa linh nhân kiệt” trung tâm của “trời đất vũ trụ”, Nhìn chung, thủ đô của một nước phải đặt
ở vị trí trung tâm, thuận tiện về giao thông thuỷ bộ “trên bến đưới thuyền”, vừa là đầu mối lan toa đi cả nước lại vừa là cánh cửa mở rộng ra thế giới
bên ngoài vừa có "thế công” lại vừa có “thế thủ”, nơi tập trung các hoạt
động kinh tế và thương mại sầm uất Có thể nói, những lợi thế này là điều
kiện địa lý - tự nhiên khách quan thuận lợi cho phát triển kinh tế hàng hoá
ở các thủ đô
Thứ hai, điều kiện về hạ tầng, siao thông liên lạc
Vốn đã có sẵn itu thế về địa lý - tự nhiên, thủ đô các nước đồng thời được tập trung ưu tiên phát triển hạ tầng và giao thông liên lạc, tạo dựng
bộ mặt đô thị khang trang hiện đại cho quốc gia Hon dau hết thủ đô cũng điển ra quá trình đô thị hoá mạnh mẽ Cìng với việc tập trung bộ máy nhà
nước trung ương phát triển các ngành nghề sản xuất và dịch vụ, nhiều cơ
hội công ăn việc làm và thu nhập cũng được tạo ra, do đó, dân cư cé xu
hướng đồn về đô th] sinh sống và kiếm việc làm
Để đáp ứng yêu cầu củng cố vị thế - quyền lực chính trị, tập trung về
kinh tế và dân cư các đô thị - thủ đô luôn luôn phải mở rộng quy mô, xây
Trang 34DAC TRUNG VA KINH NGHIEM PHAT TRIEN
đựng mới và cải tạo lại các khu nhà ở, chính trang đô thị, hiện đại hoá cơ
sở hạ tảng Ngoài ra các thành phố lớn - thủ đô thường có xu hướng phát triển mở rộng ra vùng ngoại vi theo kiểu mạng lưới, để hình thành các
thành phố vệ tĩnh hay chuối thành phố vệ tỉnh Giữa thủ đô (trung tâm)
và các thành phố vệ tĩnh (ngoại vi) được kết nối với nhau bởi hệ thống hạ
tầng và giao thông liên lạc phát triển Nhờ thế có thể thực hiện chuyên môn hoá và hợp tác, thúc đây và bổ sung cho nhau giữa các thành phố trong phát triển sản xuất và giao lưu hàng hoá
Thứ ba, điều kiện về dân số và chất lượng nguồn nhân lực
Do tập trung về chính trị - hành chính, có lợi thế về địa lý - tự nhiên
và hệ thống hạ tầng hiện đại các ngành nghề sản xuất và dịch vụ phát triển, nên các thủ đô cũng là những trung tâm thu hút nguồn nhân lực
chất lượng cao Đây cũns là lợi thế đặc biệt của thủ đô đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá Lợi thế này không chỉ thuần tuý về mật số lượng -
tức quy mô đàn số, cho phép hình thành một thị trường tiêu dùng rộng
lớn mà quan trọng hơn là chất lượng nguồn nhân lực Thủ đỏ thường là nui tap trune các viện nghiên cứu, các trường đại học với lực lượng lao
động được đào tạo, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao đội ngũ
động đảo các nhà khoa học đầu đàn Có thể nói, thủ đô là cái nôi tập hợp
nhàn tài, trí tuệ và chất xám của đất nước tạo nên tiềm lực và sức cạnh
tranh về KH-CN cho quốc gia Chính đột ngũ nguồn nhân lực này cho
phép các thủ đô phát triển những ngành nehẻ sản xuất và dịch vụ mili
nhọn, trình độ cao, chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm hàng hoá có
oid tri gia tang cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Thứ trí, điều kiến về thể chế và chính sách
Đây cũng là lợi thế riêng có của các thành phố - thủ đô Lợi thế này
khó có thể lượng hoá bằng các tiêu chuẩn thông thường Đó là thứ tài sản
võ hình nhưng hết sức quan trọng, cho phép kết nối và khai thác, phát
huy một cách tốt nhất, hiệu quả nhất các lợi thế - điều kiện vừa nói trên day để phát triển kinh tế hàng hoá Nhờ thế, tạo nên sự phát triển nâng
động và nhảy vọt về chất cho các thủ đô cũng như toàn bộ quốc gia
Trang 35KINI TE HANG HOA CUA THANG LONG - HA NOI
Cac thu đô là nơi tập trung bộ máy chính quyền trung ương nơi khỏi
nguồn các quyết sách quan trọng của đất nước Cùng với những ưu tiên về
nhiều mặt thủ đô thường được wu tiêu dp dung, thứ nghiệm những cơ chế, chính sách có tính đột phá cái cách và mở đường Trong đó, bao gêm cả việc cho phóp áp dụng những cở chế, chính sách đặc thì cho thủ đỏ
Chang hạn cơ chế đặc thù cho phép nâng cao quyền tự chủ mở cửa nền kinh tế chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nhân tài và sử dung tong hợp các
nguồn lực quốc gia cho phát triển vùng trung tâm Về thực chất đây là xu
hướng tập quyền - đối lập lại xu hướng tản quyền luôn điển ra trong mọi
thời kỳ
2.2 Đạc điêm, vai trò của kinh tế hàng hoá thủ đô đối với phát
triển kinh tế đất nước
Từ việc nghiên cứu những điều kiện bối cảnh ra đời và phát triển của
kinh tế hàng hoá ở các thú đỏ có thể khái quát những đặc điểm chính và
vai trò của kính tế hàng hoá thủ đô đối với nên kinh tế đất nước như sau:
- Đặc điềm của kính tế hàng hoá thủ đó:
+ Quy mô tích tụ và tập trung sản xuất hàng hoá lớn với tốc độ nhanh
+ Có trình độ ứng dụng KH-CN và hàm lượng giá trị gia tăng cao + Phát triển mạnh các ngành mũi nhọn địch vụ cao và kinh tế tri thúc + Mang đặc tính mở đặc tính liên kết, đặc tính cạnh tranh và hội nhập cao
Thứ hai thúc day phân công và hợp tác kinh tế trong nước hình thành
các khu vực chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá quy mô tập trung Val trò này bất nguồn từ tác dụng dẫn dắt, đòn bấy đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của kinh tế hàno hoá thủ đô
Trang 36PAC FRUNG VA KINH NGHIEM PHAT TRIEN
Thứ ba do ưu thế về các điều kiện thể chế áp dụng các cơ chế chính sách ưu đãi, tổ chức sản xuất tập trung quy mô, thuận lợi về vị trí địa lý
và ha tầng giao thông - liên lạc v.v mà thủ đô các nước trở thành đầu mối trung tâm và kênh dẫn quan trọng thu hút đầu tư và phân phối hang hoá - địch vụ đối với trong nước cũng như quốc tế
Thứ r, những điều kiện trên cũng bàm nghĩa rằng kinh tế hàng hoá ở
các thủ đô có vai trò tàng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung
và nâng cao khả năng hội nhập cho cả nên kinh tế đất nước - nhất là với những nước chậm phát triển và hội nhập muộn vào nền kinh tế toàn cầu như Việt Nam
Tlie ndm, dan dat tién bộ KH - CN và phát triển kinh tế tri thức Cũng
do được tập trung phát triển những ngành kinh tế chủ lực và mũi nhọn, có hàm lượng KH - CN và giá trị eia tăng cao mà nền kinh tế hàng hoá thú
đó có vai trò dan dat lin bo KH - CN và đi tiên phong phát triển kinh tế trì thức Chính điều này tạo ra tiềm nàng công nghệ - trí thức và lợi thế cạnh tranh cho các thủ đồ trong điều kiện hiện nay
2.3 Các nhân tố ảnh hướng đến sự phát triển kính tế hàng hoá ở Thang Long - Ha Noi
Ngoài những nhân tố và tính quy luật chung chỉ phối sự phát triển kinh
tế hàng hoá ở các thú đô Kinh tế hàng hoá Thang Long - Hà Nội ra đời và phát triển qua suốt chiều đài 1000 năm lịch sử còn chịu ảnh hướng của các
nhân tố đặc thù
Thứ nhất, nhân tố địa lý - tự nhiên: năm ở trung tâm vùng châu thô
sân với nến văn nĩnh sông Hỏng - lúa nước phát triển rực rỡ từ rất sớm Nông nghiệp lúa nước như cái nôi lớn cho con người và các ngành nghề cùng chung sống, phát triên nhưng lại khó vượt ra khỏi cái bóng rợp của
nó C Mác nói: điều kiện tự nhiên quá hào phóng dắt tay con người như
dat mot dita bé tap di!
Thứ hút, nhân tô chính trị - hành chính: Thủ đô - trung tam quyền lực
của nhà nước phong kiến tập quyên Trong thành có thị, “thành” đẻ ra
Trang 37KINIH TE HANG HOA CUA THANG LONG - IIA NOI
“thi” theo logic: nhu cầu tiêu dùng của quan lại và bộ máy chính quyền
trune ương là những kích thích ban đầu mạnh mẽ cho phát triển kinh tế hàng hoá Thăng Long Mặt khác yếu tố “thành” vẫn nổi trội so với yếu
tố "thị", vừa có tác dụng kiểm chế "th[”
Thứ ba, nhân tố văn hoá - nhân văn: hơn ở đâu, Thăng Long - Hà Nội
tập trung đậm đặc và giao thoa giữa các tầng văn hoá, các nền văn hoá của các thời kỳ lịch sử các đân tộc trong cả nước và giữa các quốc Ở đây có
sự pha trộn giữa tư tưởng Không giáo Nho giáo và chủ nghĩa trọng nông
truyền thống Trong Lứ đản sĩ - nông - công - thương, thì thương nhân bị coi là tầng lớp thấp nhất Thời phong kiến có đạo luật cấm thương nhân
không được ởi thì ra làm quan
Thier ue, nhân tố kinh tế - xã hội: nơi tập trung các hoạt động buôn bán
công nghiệp và ngành nghẻ thủ công truyền thống được phát triển từ khá
sớm và sảm uất với `'36 phố phường”, “Thứ nhất Kinh kỳ thứ nhì phố Hiến”; nơi thu hút các thợ thủ công lành nghề từ muôn phương quy tụ về
đây Một khi đã trở thành người Thăng Long họ tạo nên ban sac riêng: khéo tay hay nghề, bản lĩnh và sáng tạo, tình tế và tài hoa - “Chẳng thơm
cũng thể hơa nhài, đẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” Có thể
thấy, chính việc đấp ứng nhu cầu về hàng hoá - địch vu cao cấp cho giới phong kiến quý tộc thượng lưu đã thu hút và quy tụ những ttnh hoa của các ngành nghẻ và nhân tài từ bốn phương
Il KINH NGHIEM PHAT TRIEN KINH TE HANG HOA 6 MOT
SỐ THỦ ĐÔ
1 Phát triển kinh tế hàng hóa ở Băng Cốc, Xơun, Bắc Kinh và
Tokyo
1.1 Phat trién kinh té hang hoá ở Băng Cốc (Thái Lan)
Bang Cốc luôn là trung tâm kinh tế của Thái Lan kể từ khi Băng Cốc
trở thành thủ đô của Vương quốc Thái Lan (năm 1782) Giai đoạn phát triển hiện đại của nền kinh tế hàng hóa ở Băng Cốc bắt đầu từ đầu những năm 1930 sau khi có những thay đối chính trị điễn ra ở Thái Lan với xu
hướng tập quyền hóa và Băng Cốc trở thành trung tâm kinh tế, công
Trang 38ĐẶC TRUNG VÀ KINH NGHIÊM PHÁT TRIÊN
nghiệp và tài chính của ca nước Tuy nhiên, kinh tế hàng hoá ở Băng Cốc thực sự phát triển mạnh mẽ từ đầu những năm (970, khi Bang Coc có quyền tự chủ cao hơn, được chính quyền trung ương công nhận là Khu hành chính thủ đô Băng Côc - BangRkok Metropolitan Administration (năm
1972) và chính quyền thành phố được giao nhiều quyền hạn hơn trong quan lý và phát triển Kinh tế Ba kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đầu
tiên của Thái Lan (1961-1966 1967-1971 và 1972-1976) đã đành nhiều
ưu tiên cho phát triển kính tế ở Băng Cốc
Trone thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX, sự phát triển các ngành công nghiệp của Băng Cốc tiều biểu cho chiến lược công nghiệp hóa thay thế
nhập kháu của Thái lan Các ngành công nghiệp quan trọng nhất trong thời kỳ này là sản phẩm cao su, đệt may, đồ đa công nghiệp thực phẩm đường, thuốc lá và sửa chữa máy móc thiết bị nông nghiệp
Tir dau những nam 1980 thủ đồ Bàng Cốc và vùng phụ cận đóng vai
Wd lam dau tau cho su tăng trưởng kinh tế theo hướng xuất khẩu đầy
ngoạn mục của Thái Lan Kinh tế thú đô chuyển sang lấy khu vực công nehiệp xuất khâu làm trụ cột, với những ngành công nghiệp quan trọng là đệt mav, điện - điện tử, chế tạo ô tô - xe máy, máy tính Nhiều doanh nghiệp quốc đoanh được tư nhân hóa Chính sách tôn trọng tự đo Kinh doanh của các doanh nghiệp bất đầu phát huy tác đụng Hàng loại chính
sách biện pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực thị Nhờ đó,
các ngành điện - điện tử và ô tô - xe máy đã nhận được lượng vốn, công nghệ và bí quyết quản lý để phát triển mạnh trẽ
Khu vực dịch vụ của Băng Cốc bát đầu phát triển mạnh mẽ từ thời kỳ này Các ngành dịch vụ được thúc đẩy cùng với sự bùng no cba các ngành công nghiệp Du lịch trở thành một nguồn thu nhập quan trọng và Băng Cốc được đánh giá là một trong những điểm du lịch đông khách nhất thế giới Trong tổng số 11.2 triệu lượt du khách tới Thái Lan năm 2004, có
khoảng 8,2 triệu lượt người (tức khoảng 70,6%) đến Băng Cốc Rất nhiều
du khdch chon Bang Céc lam điểm truns chuyển đến những điểm du lịch khác ở khu vực Dịch vụ tài chính phát triển mạnh từ những năm 1980,
Bảng Cốc chiếm một phần ba tổng số các ngân hàng với ba phần tư tổng tiền eửi của cả nước
Trang 39KINH THANG HOA CUA THANG LONG - HA NOI
Bang Coc còn phát triền được một nền kinh tế văn phòng thịnh vượng Nhiều công ty đa quốc gia đã đặt trụ sở khu vực tại Băng Cốc Điều này không chỉ súp ngành xây dựng và kinh doanh bất động sản phát triển, mà
còn rất hấp dẫn FDI vào Băng Cốc Ngành ngân hàng cũng nhận được nhiều cơ hội lầm ăn với các công ty xuyên quốc gia này
Trong những năm 1990 GNP của Băng Cốc tầng với tốc độ I3%/năm Bàng Cốc trở thành thành phố tăng trường nhanh nhất và năng động nhất
cla Dong Nam Á, cạnh tranh với vai trò trung tâm khu vực của Singapo
và Hồng Kông Tuy nhiên, sự tăng trưởng quá nóng này đã tạo nên nhiều
áp lực vẻ quan lý kinh tế cho thành phố Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, Bang Coc dang dan quay trở lại trạng thái tăng trưởng can bang hon
1.2 Phat trién kinh té hang hoa ở Xơun (Hàn Quốc)
Xơun có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi so với các thành phố khác trone khu vực Chỉ cách Bắc Kính và Tôkyvô chưa tới 2 giờ máy bay thành phỏ này trở thành điểm giao thông chính và là trung tâm kinh tế tại Đông Bac A,
Xơun là một thành phố đặc biệt với nền văn hóa 7000 năm Tuy nhiên,
chỉ từ năm 1394, sau khi trở thành thủ đô của nước Triều Tiên thống nhất, Xơun mới bát đầu trở thành mội trung tâm buôn bán lớn Từ thế kỷ XVII, Xơun bất đầu đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kính tế và thương mại của Triều Tiên Năm 1876, vua Joseon đã thực hiện chính sách
mở cửa, và từ cuối thế ký XIX, Xơun trở thành trung tâm chính trị, kinh
tế và ngoại ølao của đất nước
Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng từ năm 1910 và đối tên thủ đô
thành GOycongseone, quy mô của Xơun đã tăng thêm ca vùng phía nam song Hàn Thời kỳ này đánh dấu những thay đồi quan trọng về kinh tế do
những kỹ thuật mới từ phương Tây đã được du nhập vào Xơun Sau chiến
tranh thế giới thứ HH, Triều Tiên bị chia cắt Xơun chính thức trở thành thủ
đô của lần Quốc (năm 1948) Thủ đô Xơun đã bị tàn phá nghiêm trọng trone thời kỳ chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)
Trang 40ĐẶC TRƯNG VÀ KINH NGHIỆM PHÁ F TRIỂN
Từ thập ky 6O của thế ký XX, Xơun đã được tập trung phát triển thành
trung tâm công nghiệp của Hàn Quốc Do vị trí đặc biệt quan trọng của Thủ đỏ nên từ năm 1962 Xơun được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ
tướng theo “Điều luật đặc biệt điều hành thành phố đặc biệt Xơun” Năm
1963 dan số Xơun đã tăng tới 3 triệu người, quy mô của thành phố cũng
được mở rộng tới trên 600km2 lớn gấp 2.3 lần so với trước Trong thập
ký 70 Hàn Quốc đã có những bước nhảy vọt về tốc độ tăng trưởng và Xơun là đầu tàu của quá trình tăng trưởng này, Năm 1970, dân số Xơun
đã tăng lẻn tới 5.Š triệu người
Xơun trở thành đồ thị lớn với 8.5 triệu dân vào năm [980 (chiếm 22.3% tong dan số toàn quốc), và J0.8 triệu dân vào năm 1989 Thập ky
§O của thế ký XX đã thúc đầy sự phát triển của Xơun trở thành thành phố
quốc tế với việc đãng cai tô chức Đại hội thể thao châu Á năm 1986 và Thế vận hội mùa hè năm 1988 lrone thời gian này nhiều sân vận động
các làng thể thao, trung tâm luyện tập đã được xây dựng, hệ thống cơ sở
hạ tầng ở thủ đỏ được hiện đại hoá
Nam 1989, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng 5 thành phố vệ tính của
Xơun là: Ilsan Pundaneg, Sanbon, Pyongchon, và Chungdong Xơun không còn là một thành phỏ biệt lập mà là trung tâm của một hệ thống các thành phố đô thị vệ tính với quy mô đân số hơn 20 triệu người Mức độ tập trung dân số tại Xơun làm tăng thêm sức ép đô thị khi nhu cầu nhà ở
giao thông và giáo dục neày càng tăng Trong thập ký 90 của thế ký XX, Xơun được định hướng phát triên trở thành trung tâm của khu vực Đông Bắc Á
Xơun tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thập ký 90 của thế kỷ XX
Trong thời kỳ này, khu vực công nghiệp của Xơun đã chuyển từ các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động cao sang các ngành sử dụng
nhiều vốn và có hàm lượng công nghệ cao Các ngành công nghiệp công
nghệ cao đã lan rộng trong thập ký 90 và đóng vai trò trụ cột để chuan
bị cho Xơun trở thành một thành phố công nghệ thông tin Thành phổ Xơun thực sự trở thành trung tâm khoa học - công nghệ và đào tạo lớn
nhất Hàn Quốc,