Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện Ngày 23 tháng 10 năm 2021 103 THAY ĐỔI VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỂM QUÁ TRÌNH VÀ ĐIỂM THI KẾT THÚC HỌC PHẦN CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI HỌC PHẦN KỸ NĂNG TÌM VIỆC ThS Nguyễn Văn Phong[.]
Trang 1THAY ĐỔI VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỂM QUÁ TRÌNH VÀ ĐIỂM THI KẾT THÚC HỌC PHẦN CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI HỌC PHẦN
KỸ NĂNG TÌM VIỆC
ThS Nguyễn Văn Phong1
TÓM TẮT
Một nhà nghiên cứu đào tạo nước ngoài đã viết “Nếu muốn người học thay đổi cách học thì trước hết hãy thay đổi cách đánh giá”, một tác giả Việt Nam khác thì cho rằng “Đổi mới cách đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động tổ chức dạy học, đổi mới quản lý, …” Các tác giả không nêu tên cũng như chúng ta đều thừa nhận tầm quan trọng của việc đánh giá các hoạt động giáo dục
và đào tạo nói chung và đánh giá kết quả học tập của sinh viên nói riêng ở tầm vi mô hoặc tầm vĩ mô
Tiếp cận ở tầm vi mô, bài viết này chỉ xem xét một khía cạnh đánh giá kết quả học tập của sinh viên trên góc độ của một học phần; cụ thể hơn là cách thức đánh giá điểm quá trình
và đánh giá điểm thi kết thúc học phần kỹ năng Tìm việc Với hy vọng làm rõ về thực trạng cũng như một số ý kiến về thay đổi, đổi mới cách thức đánh giá điểm quá trình và điểm thi kết thúc học phần của học phần kỹ năng Tìm việc sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
kỹ năng mềm tại Trường Đại học Tài chính-Marketing trong thời gian tới
TỪ KHÓA
Đánh giá, điểm quá trình, điểm thi kết thúc học phần, kỹ năng Tìm việc
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, học phần kỹ năng Tìm việc là một trong 8 học phần kỹ năng mềm mà sinh viên chọn học theo quy định chuẩn đầu ra về kỹ năng mềm tại Trường Đại học Tài chính-Marketing Qua thời gian khoảng 6 năm đào tạo học phần này, việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo hai bộ phận là đánh giá điểm quá trình và đánh giá điểm thi kết thúc học phần của học phần này luôn được quan tâm và đổi mới nhưng cũng chưa thật nhiều Bây giờ, cũng đã đến lúc chúng ta cần phải có sự nhìn nhận sâu sắc, đầy đủ và toàn diện hơn về vấn
đề này để kịp thời phát huy những ưu điểm, hạn chế nhược điểm, tìm ra những cái chưa làm tốt để từ đó có cách làm mới phù hợp hơn, đúng đắn hơn, giúp ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng mềm nói chung và kỹ năng Tìm việc nói riêng
Các câu hỏi sẽ được tác giả làm rõ trong bài viết này là: Hiểu thế nào ? Đã làm gì ? Cần thay đổi, đổi mới và làm gì để việc đánh giá điểm quá trình và điểm thi kết thúc học phần học phần kỹ năng Tìm việc của sinh viên được chính xác hơn?
1 Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Tài chính-Marketing
Trang 22 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
Đánh giá điểm quá trình, điểm thi kết thúc học phần thực chất là đánh giá kết quả học tập của sinh viên Đánh giá kết quả học tập của sinh viên bao gồm tất cả cách thức người dạy thu thập và sử dụng thông tin trong lớp của mình, bao gồm thông tin định tính, định lượng thu thập được trong quá trình giảng dạy trên lớp học nhằm đưa ra những phán xét, nhận định, quyết định, giúp người dạy hiểu được mức độ kết quả và chất lượng dạy và học, để từ đó điều chỉnh, phân loại, xếp hạng, báo cáo kết quả học tập Theo Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Vũ Bích Hiền (2014), thường có các hình thức đánh giá kết quả học tập như sau:
- Đánh giá tổng kết (Summative Assessment)
- Đánh giá quá trình (Formative Assessment) là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học, khóa học; cung cấp thông tin phản hồi cho người học về mức độ nắm vững thông tin của họ và những lĩnh vực cần cải thiện; đồng thời giúp người dạy thiết kế phương pháp giảng dạy phù hợp hơn nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động giảng dạy
- Đánh giá chính thức (Formal Assessment)
- Đánh giá không chính thức (Informal Assessment)
- Đánh giá truyền thống (Traditional Assessment)
- Đánh giá xác thực (Authentic Assessment) là hoạt động đánh giá đòi hỏi người học vận dụng cái đã có và được học để thực hiện một nhiệm vụ của thực tiễn, hoặc thực hiện một
dự án nào đó, hoặc tạo ra một sản phẩm hoặc thực hiện một công việc nhằm mục đích kiểm tra các năng lực cần có trong cuộc sống hàng ngày và được thực hiện trong bối cảnh thực tế Đánh giá xác thực không chỉ quan tâm đến sản phẩm học tập mà quan tâm đến cả quá trình làm ra sản phẩm đó Việc đánh giá xác thực chú trọng đến năng lực thực hành, năng lực hành động giải quyết những vẫn đề đặt ra trong thực tiễn có thể khắc phục được những nhược điểm của đánh giá truyền thống (được cho là đã đặt người học vào một vai trò thụ động hơn là vai trò chủ động), huy động mọi khả năng của bản thân để giải quyết các vấn đề từ bối cảnh thực Đánh giá xác thực kết hợp với việc đánh giá thái độ chính là đánh giá năng lực người học
Theo Nghiêm Xuân Nùng, Lâm Quang Thiệp (Biên dịch, 1995), để đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với một học phần được hiệu quả cần thực hiện theo quy trình gồm các bước sau:
Bước 1 Xác định các mục tiêu cần đánh giá của học phần: Mục đích của bước này là xác định chính xác các mục tiêu cần đạt của sinh viên sau khi học xong học phần nhằm đạt được chuẩn đầu ra của học phần
Bước 2 Xác định mục đích của đánh giá: Cần phải làm rõ mục đích của việc kiểm tra, đánh giá quá trình là thái độ, kiến thức, thực hành và mục đích của việc kiểm tra, đánh giá thi kết thúc học phần về các mặt chủ yếu như kiến thức, thực hành
Bước 3 Xác định hình thức đánh giá: Hình thức đề kiểm tra, đánh giá kết quả học của học phần được xác định trong những hình thức sau: Bài tập lớn, thực hiện một dự án, vấn đáp
cá nhân hay nhóm, trắc nghiệm, tự luận, khác
Trang 3Bước 4 Thiết lập ma trận đề đánh giá
Bảng 1 Ma trận chuẩn đầu ra học phần
Mức độ đạt được Nội dung chuẩn đầu ra Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương…
Mức 1 (Hiểu, biết) Chuẩn đầu ra 1 X
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Cấp độ nhận thức trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các học phần kỹ năng mềm gồm có 3 mức (theo thang phân loại Bloom) như sau:
Mức I (Hiểu): Là khả năng phân tích, giải thích được ý nghĩa, nội dung, mối quan hệ
bên trong của các kiến thức (giải thích hoặc tóm tắt), diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu của mình; hoặc khả năng người học có thể chuyển dịch các kiến thức đó theo thuật ngữ hay hình thức thể hiện khác (chẳng hạn từ ngôn từ sang số liệu), suy luận dựa trên thông tin
đã có
Mức II (Vận dụng): Là khả năng người học biết sử dụng thông tin, áp dụng các quy
tắc, phương pháp, khái niệm, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết tình huống tương tự hoặc gần giống với tình huống đã học, đã gặp trên lớp; hoặc giải quyết vấn đề mới, tình huống mới
Mức III (Thành thạo): Là khả năng người học có thể phân chia thông tin, kiến thức ra
thành những phần nhỏ để hiểu và chỉ ra mối liên hệ của chúng với tổng thể; sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới, mô hình hoặc cấu trúc mới; đưa ra nhận định, nhận xét, đánh giá, phán quyết của bản thân đối với thông tin dựa trên các chuẩn mực, tiêu chí
Bước 5 Biên soạn câu hỏi theo ma trận đề đánh giá
Bước 6 Xây dựng tiêu chí đánh giá cho các đề đánh giá: Tiêu chí đánh giá được xây dựng trên cơ sở ma trận chuẩn đầu ra của học phần và ma trận đề đánh giá, vận dụng kỹ thuật rubric để trình bày theo dạng biểu bảng Với tính chất đặc thù của từng học phần, tiêu chí
đánh giá các đề đánh giá (rubric) kết quả học tập gồm các thành phần chính sau: Tên tiêu chí, mô tả tiêu chí (mô tả bài tập, công việc, nhiệm vụ), thang điểm (thang đo hoặc các mức
độ thành tích), điểm theo thang đo hay mức độ thành tích
Sau khi biên soạn xong câu hỏi và tiêu chí đánh giá (bước 5 và 6), Bộ môn tổ chức trao đổi, thảo luận và thống nhất để tổng hợp thành bộ công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học phần và xin ý kiến chuyên gia về bộ công cụ
Bước 7 Xin ý kiến chuyên gia về bộ công cụ đánh giá: Để kiểm tra, rà soát hoặc thẩm định các câu hỏi trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên, phương pháp chuyên gia đã được sử dụng bằng cách đề nghị một số chuyên gia cho ý kiến nhận xét về những câu hỏi đánh giá cụ thể theo một số tiêu chí đề ra Những người được hỏi là các chuyên gia môn học,
có kinh nghiệm về đánh giá, đo lường trong giáo dục; có khả năng bình phẩm, phê phán các câu hỏi đánh giá Hình thức xin ý kiến chuyên gia có thể dùng phiếu khảo sát Những câu hỏi
Trang 4chuyên gia đánh giá là “Ít phù hợp”, phải xem xét điều chỉnh hoặc viết lại; đánh giá là “Không phù hợp”, phải loại bỏ
Bước 8 Thử nghiệm bộ công cụ đánh giá: Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các chuyên gia về câu hỏi để đánh giá, giảng viên điều chỉnh lại câu hỏi (hoặc thư viện câu hỏi) và tiến hành thử nghiệm bộ công cụ (tổ chức cho sinh viên làm bài đánh giá) Việc thử nghiệm bộ công cụ đánh giá được tiến hành trên mẫu đã chọn Mục đích chính của thử nghiệm là thu thập dữ liệu để phân tích các câu hỏi đánh giá, chỉ ra những câu hỏi đánh giá cần phải chỉnh sửa
Bước 9 Xem xét kết quả thử nghiệm và điều chỉnh, hoàn thiện bộ công cụ: Sau khi chấm điểm, giảng viên có thể sử dụng phương pháp định lượng hoặc định tính để phân tích thống kê kết quả làm bài của sinh viên và đánh giá tình hình Các phương pháp phân tích số liệu và bình phẩm, đánh giá đều rất quan trọng giúp nâng cao chất lượng câu hỏi giao cho sinh viên nhằm đo lường được thành tích học tập tương đối và mức độ đạt chuẩn đầu ra của sinh viên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp: Đọc, phân tích, tổng hợp nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và hoàn thiện được một hệ
thống cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu;
- Phương pháp trực tiếp: Trực tiếp tham gia dự giờ giảng viên; tham gia giảng dạy, công tác đề thi và chấm thi kết thúc học phần kỹ năng Tìm việc để thu thập thông tin dữ liệu;
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn giảng viên tham gia giảng dạy, sinh viên và một vài đối tượng khác để thu thập thông tin dữ liệu và làm rõ các vấn đề nghiên cứu;
- Phương pháp thống kê: So sánh; sử dụng thống kê mô tả, với các tham số như số tuyệt đối, số tương đối, … Phần mềm sử dụng: Excel
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng về đánh giá điểm quá trình, điểm thi kết thúc học phần của sinh viên đối với học phần kỹ Tìm việc
Học phần kỹ năng Tìm việc được đưa vào chương trình học kỹ năng mềm theo chuẩn đầu ra cho sinh viên bậc đại học chính quy các khóa tuyển sinh từ năm 2015 trở về sau dưới dạng môn tự chọn thuộc nhóm 2, nhóm gồm 4 kỹ năng: Kỹ năng Giao tiếp; Kỹ năng Giải quyết vấn đề; Kỹ năng Tìm việc; Kỹ năng Khám phá bản thân và Lập kế hoạch nghề nghiệp
Số tiết của học phần kỹ năng Tìm việc cho chương trình đại trà 15 tiết (1 tín chỉ) và
số tiết cho chương trình chất lượng cao 30 tiết (2 tín chỉ)
Hiện nay, việc đánh giá kết quả học tập học của sinh viên đối với phần kỹ năng Tìm việc được xác định như sau:
- 50% đánh giá quá trình, trong đó tính chuyên cần (sự chăm chỉ, siêng năng một cách đều đặn) chiếm 10%, đánh giá tính chuyên cần của sinh viên, có giảng viên dựa vào số buổi tham gia lớp học của sinh viên, có số ít giảng viên có xem xét thêm tinh thần, thái độ của sinh viên trong các tiết học và các giờ thảo luận Đây là sự cần thiết, bởi sinh viên tham gia
Trang 5lớp học để nghe giảng viên hướng dẫn những nội dung cơ bản của môn học; từ đó, sinh tự nghiên cứu, mở rộng kiến thức, liên hệ thực tiễn, thực hành, Do đó, việc đánh giá chuyên cần sẽ tạo điều kiện cho sinh viên nắm được những nội dung cơ bản của môn học và định hướng tự nghiên cứu, vận dụng, thực hành cho mình Còn đánh giá về chuyên môn chiếm 90%, có giảng viên thực hiện cá nhân và cũng có giảng viên thực hiện cho nhóm
- 50% đánh giá thi kết thúc học phần, hình thức thi vấn đáp cá nhân trong phòng thi được sử dụng để đánh giá kết quả thi kết thúc học phần của sinh viên, với yêu cầu sinh viên phải chuẩn bị một Hồ sơ dự tuyển và mang theo khi thi cùng với trang phục phù hợp; cán bộ chấm thi gồm 2 người, cán bộ chấm thi 1 và cán bộ chấm thi 2 sử dụng bảng câu hỏi gợi ý theo các tiêu chí đánh giá thể hiện trong bảng 2 để làm cơ sở chấm điểm
Bảng 2 Tiêu chí đánh giá thi kết học phần kỹ năng Tìm việc
3
Sự hiểu biết về công việc chuyên môn:
- Thái độ đối với công việc
6 Thái độ: tự tin, khiêm tốn, chân thành, cầu tiến,… 1 điểm
Nguồn: Viện NCKTUD
Một thực tế là số sinh viên cho một lớp học phần kỹ năng Tìm việc khá nhiều, khoảng
50 sinh viên, thời gian cho 1 lớp ngắn; thi vấn đáp cá nhân cho 1 học kỳ với số lượng vài trăm sinh viên và thời gian thi cũng rất ngắn; số lượng cán bộ chấm thi ít nên cũng ảnh hưởng phần nào đến việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng như việc tìm ra và áp dụng cách thức đánh giá mới kết quả học tập của sinh viên đối với học phần này Kết quả đạt loại khá, giỏi (từ 7 điểm trở lên) đối với học phần này chiếm tỷ trọng khá cao (74%), chi tiết xem Bảng 3
Bảng 3 Tình hình sinh viên học kỹ năng Tìm việc
STT Năm
Số sinh viên học đạt yêu cầu học phần kỹ năng Tìm việc
Ghi chú
Tổng số
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Nguồn: Viện NCKTUD
Trang 63.2 Nhận xét, đánh giá của Tác giả
Việc phân chia các bộ phận điểm như vậy được coi là hợp lý, nhưng trong từng điểm
bộ phận lại chưa thật sự hiệu quả trong đánh giá Bởi, có tình trạng giảng viên là người đưa
ra điểm đánh giá nhưng hầu như chưa có sự tham gia của sinh viên vào quá trình đánh giá; đánh giá thiên về sự có mặt của sinh viên và coi nhẹ mục tiêu đánh giá thái độ học tập của sinh viên; có trường hợp sinh viên đi học đầy đủ nhưng không tham gia làm bài tập nhóm, thảo luận vẫn có được điểm chuyên cần cao nhất hay rất cao, sinh viên có thái độ và năng lực học tốt nhưng vì lý do khách quan và chủ quan không đi học đầy đủ thì điểm chuyên cần rất thấp hoặc không đạt, đây là những điều chưa hợp lý Mặt khác, có tình trạng điểm đánh giá quá trình mà đặc biệt là điểm đánh giá nhận thức, thái độ của sinh viên thường không có hoặc
có nhưng thang điểm lại không rõ ràng, chi tiết; có giảng viên chưa quan tâm hoặc chưa thực hiện theo đúng các bước của Quy trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên như đã đề cập
quan giữa các sinh viên; ngay cả việc hiểu con số 10% điểm chuyên cần trong điểm đánh giá quá trình của sinh viên có giảng viên cũng hiểu chưa đúng nên dẫn đến có trường hợp sinh viên phản hồi về điểm
Việc đánh giá thi kết thúc học phần, hình thức thi vấn đáp trong phòng thi với các tiêu chí chấm thi trong Bảng 2 chỉ quan tâm đến vấn đề Hồ sơ tìm việc và phỏng vấn (Chương 2
và một phần chương 3) Trong khi nội dung của học phần này cũng còn những phần quan trọng khác như lập kế hoạch tìm việc, Hợp đồng lao động, Luật lao động, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân, …
Thực tế trong thời gian vừa qua, thi kết thúc học phần kỹ năng Tìm việc, hình thức thi vấn đáp cá nhân với số lượng sinh viên dự thi lớn, thời gian thi ngắn, số lượng giảng viên giảng dạy môn học kỹ năng Tìm việc không nhiều, có tình trạng giảng viên không giảng dạy học phần này nhưng cũng tham gia chấm thi nên phần nào cũng đã ảnh hưởng phần nào đến chất lượng của việc đánh giá kết quả thi, kết quả học tập của sinh viên
Hiện nay, vẫn có tình trạng giảng viên chưa hiểu đầy đủ các công việc phải làm của việc đánh giá điểm quá trình của sinh viên; giảng dạy thiên về tính hàn lâm, đề cập khá nhiều đến lý thuyết cũng như các công cụ; việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng chưa thực sự được chú trọng, có trường hợp chỉ làm cho xong nhiệm vụ, mục đích đánh giá kết quả học tập thường chỉ quan tâm đến mức độ ghi nhớ các thuật ngữ, khái niệm, sự kiện, nguyên lý, quy trình, hoặc cao hơn là đánh giá mức độ hiểu của sinh viên về các tư liệu đã được học, có khả năng mô tả tóm tắt, diễn giảng, phân tích các thông tin nhận được, ; chưa quan tâm và thực hiện nhiều về yêu cầu sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào một tình huống thực tế trong cuộc sống, trong công việc cũng như chưa đánh giá hết được năng lực vận dụng và sáng tạo của sinh viên Giảng viên là người đưa ra điểm đánh giá quá trình, thi kết thúc học phần và thường sinh viên chưa biết rõ thông tin cũng như tham gia vào quá trình đánh giá này
3.3 Một số ý kiến của Tác giả
Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng của đánh giá điểm quá trình, điểm thi kết thúc học phần kỹ năng Tìm việc, theo tác giả cân lưu ý và thực hiện một số công việc sau:
Trang 7- Giảng viên cần hiểu rõ, quan tâm và làm tốt hơn công việc đánh giá điểm quá trình học phần kỹ năng Tìm việc Nên sử dụng kết hợp giữa hình thức đánh giá quá trình, đánh giá xác thực với đánh giá thái độ
giá năng lực hay được đề cập hiện nay, việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập theo năng lực chú trọng đến khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau, đây cũng là hình thức đánh giá giúp xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học và có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của sinh viên Cụ thể có thể hiểu, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ; đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng Để chứng minh sinh viên có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho sinh viên được giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn, khi đó sinh viên vừa phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã được học ở Trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả nhận thức, thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học
- Thực hiện đúng và linh hoạt từ bước 1 đến bước 9 của Quy trình thực hiện đánh giá
Cụ thể, việc sử dụng quy trình này trong việc đánh giá điểm quá trình, từ bước 1 đến bước 6 cho học phần kỹ năng Tìm việc với nội dung gồm 3 chương, trong điều kiện số lượng sinh viên đông và số tiết trên lớp không nhiều như sau:
Bước 1 Mục tiêu học phần đối với sinh viên: Thành thạo và hiệu quả trong tìm việc làm dài hạn ở một công ty hay đơn vị tầm trung trở lên ngay khi tốt nghiệp
Bước 2 Mục đích của kiểm tra đánh giá: Phân loại chính xác sinh viên khi tham gia học học phần kỹ năng Tìm việc với đầy đủ nội dung 3 chương có sự liên thông nhau
Bước 3 Hình thức đánh giá: Kết hợp đánh giá quá trình, đánh giá xác thực với đánh giá thái độ Thực hiện công việc nhóm theo yêu cầu của giảng viên, một nhóm khoảng 6-10 sinh viên
Bước 4 Thiết lập ma trận đề đánh giá
Bảng 4 Ma trận đề đánh giá điểm quá trình học phần kỹ năng Tìm việc
Mức độ đạt được Nội dung chuẩn đầu ra Chương 1 Chương 2 Chương 3
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Bước 5 Biên soạn câu hỏi theo ma trận đề đánh giá: Thí dụ 1 đề đánh giá, công việc giao cho các nhóm: Kể một câu chuyện về một người tìm việc thành công trong một công ty hay đơn vị bất kỳ có minh chứng kèm theo (Việc làm dài hạn, công ty tầm trung trở lên, trình