Ước lượng Trạng Thái Sạc Pin Cho Xe Ô Tô Điện Dựa Trên Phương Pháp Mạng Nơ Ron Học Sâu-Deep Learning Võ Thanh Hà1, Phạm Thị Giang2, Đào Thanh Toản1 và Trịnh Lương Miên1 1Khoa Điện-Điện
Trang 1Ước lượng Trạng Thái Sạc Pin Cho
Xe Ô Tô Điện Dựa Trên Phương Pháp Mạng Nơ Ron Học Sâu-Deep Learning
Võ Thanh Hà1, Phạm Thị Giang2, Đào Thanh Toản1 và Trịnh Lương Miên1
1Khoa Điện-Điện Tử, Trường Đại học Giao Thông Vận Tải
2Khoa Điện, Trường Đại học Kinh Tế Kỹ Thuật Công Nghiệp
Email: vothanhha.ktd@utc.edu.vn
Abstract— Trong bài báo đã đề xuất mô hình ước lượng
trạng thái sạc của pin Lithium-ion cho xe ô tô điện dựa
trên phương pháp mạng nơ ron học sâu deep learning Mô
hình gồm 3 lớp như 1 lớp vào với 5 tín hiệu đặc trưng
(điện áp, dòng điện, nhiệt độ, trung bình điện áp và dòng
điện), 1 lớp ẩn với 50 nút mạng nơ ron và 1 lớp ra Mô
hình dự đoán dùng thuật toán bình phương trung bình
RMSE, để tối ứu hoá hàm mất mát với sai lệch nhỏ Mô
hình này đã ước lượng được thiết kế và hiệu quả của
phương pháp này được chứng minh thông qua kết quả
mô phỏng MATLAB Ước lượng trạng thái SOC của pin
LG HG2 trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau đã đạt
được hiệu quả với sai số nhỏ
Keywords- Xe ô tô điện, Deep Learning, Học Sâu, Pin
Xe Điện, AI, RMSE
I GIỚITHIỆU Trong những năm gần đây, phương tiện xe ô tô điện
ngày càng có xu hướng sử dụng sẽ dần thay thế cho xe
động cơ đốt trong Xe ô tô điện mang lại nhiều lợi ích
cho môi trường và khắc phục nhiều nhược điểm của xe
truyền thống như phát huy mô-men nhanh, không thải
khí ra mô trường Vì vậy xe ô tô điện sẽ là một lựa chọn
nhiều hàng sản xuất cũng như người sử dụng trong
nước cũng như trên thế giới Trong đó vấn đề nghiên
cứu về hệ thống quản lý năng lượng pin đã và đang thu
hút nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Bời vì pin là
thành phần đặc biệt quan trọng quyết đến hiệu suất sử
dụng, giá thành của xe ô tô điện [1] Các loại pin có thể
được sử dụng trên xe điện như pin axit chì, NiMH, pin
lithium-ion [2] Trong số đó, pin lithiumion được sử
dụng rộng rãi do mật độ năng lượng cao, hiệu suất cao,
tuổi thọ dài, tốc độ tự xả thấp và điện áp cao [3] Một
số công ty thích pin lithium-ion hơn các loại pin khác vì
những ưu điểm của pin, chẳng hạn như sạc nhanh, công
suất cao, ít ô nhiễm và kéo dài tuổi thọ và thị phần pin
lithium-ion trên thị trường đang tăng lên liên tục [4] Do
những đặc điểm nổi trội đó nên đã thu hút được nhiều
nhà khoa học nghiên cứu quản lý năng lượng pin trong
những năm gần đây [5]
Hệ thống quản lý pin (BMS) đảm nhận công đoạn
truyền dữ liệu giữa các pin và chương trình quản lý năng
lượng của xe ô to điện Hệ thống BMS này bao gồm các
giải pháp và thuật toán điều khiển để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn của bộ pin Hệ thống này bao gồm các phương pháp xác định tình trạng pin như trạng thái sạc (State-of-Charge- SOC) và Trạng thái tuổi thọ (State-of- Health -SoH) Từ SOC cho biết dung lượng pin còn lại
và được yêu cầu để xác định chính xác tuổi thọ của pin [6] Do đó, cần phải có một ước tính chính xác về SOC của pin Tuy nhiên, do các đặc tính phi tuyến của pin, đặc biệt là ở dòng điện cao và nhiệt độ thấp, ngành công nghiệp ô tô vẫn phải đối mặt với một vấn đề trong việc cải thiện các phương pháp dự đoán SoC Hiện này các phương pháp ước tính trạng thái bộ sạc pin đều có những đặc điểm riêng Phương pháp đếm dung lượng theo thời gian - Coulomb (CC) sử dụng tích ohaan dòng
xả hoặc sạc để tính dung lượng còn lại trong pin
Phương pháp này thực hiện tính toán đơn giản nên phương pháp được sử dụng rất rộng rãi Tuy nhiên, phương pháp CC không chính xác trong thời gian dài và khó khăn trong việc xác định giá trị SOC ban đầu, ảnh hưởng do quá trình tự xả của pin và sai số của cảm biến [7] Phương pháp OCV (Open Circuit Voltage) sử dụng sức điện động ổn định của pin ở trạng thái hở mach kết hợp với quan hệ tuyến tính giữa OCV và SOC để ước lượng giá trị SOC Phương pháp này thực hiện đơn giản nhưng độ chính xác không cao, mất nhiều thời gian Vì vậy chỉ phù hợp với trường hợp tồn tại mỗi liên quan này, trong khi đó pin Lithum-ion không có mối quan hệ giữa OCV và SOC [8] Phương pháp dựa trên mô hình pin bao gồm mô hình điện hoá và mạch tương đương
Trong đó mô hình mạch tương đương chủ yếu là điện trở và RC Mô hình mạch cho pin Đây là mô hình lý tưởng, đã bỏ qua hiệu ứng có độ trễ và tác động của môi trường làm việc (nhiệt độ lớn) Vì vậy phương pháp này không phù hợp để ước lượng giá trị SOC [9] Bên cạnh
đó, các phương pháp với các thuật toán lọc thích nghi
và dựa vào tích luỹ thời gian để chẩn đoán trạng thái bộ sạc như bộ lọc Kalman (KF), bộ lọc Kalman mở rộng (EKF) là một trong những lựa chọn giải pháp ước lượng giá trị SOC Trong đo phương pháp KF ước lượng chính xác trạng bất định.Tuy nhiên, KF không sử dụng được trực tiếp để dựn đoán trạng thái của hệ phi tuyến.Đồng thời, KF còn đòi hỏi tính toán phức tạp [10] Phương pháp EKF được thiết kế để khắc phục những nhược
Trang 2điểm của phương pháp KF và vẫn đảm bảo ước lượng
trạng thái chính xác [11] Các phương pháp KF v à EKF
đòi hỏi phải sử dụng một mô hình pin chính xác với các
thông số để cung cấp ước tính chính xác về SOC [12]
Bên cạnh đó, kết hợp phương pháp dựa trên mô hình
với bộ quán sát phi tuyến như bộ quan sát trượt,
Luenberger đã tăng độ tin cậy của các kết quả ước lượng
[13]
Ngày nay, phương pháp trí tuệ nhân tạo (AI) đã và
đang ứng dụng nhiêu trong lĩnh vực xử lý ảnh, nhận
dạng giọng nói, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và dự đoán
trạng thái Trong đó, phương pháp học sâu (deep
learning-DL) là một dạng nâng cấp của mạng nơ ron
kinh điển Bên cạnh đó, các nhà khoa học đã kết hợp
hiệu quả của DL với các chương trình đào tạo và sửa
đổi thông minh để dự báo sạc SOC của bộ pin Li-ion
Các tác giả của [11] sử dụng DL perceptron đa lớp để
dự báo trạng thái xả và sạc của pin nhằm cải thiện độ
chính xác Tuy nhiên, các biến thể DL khác vẫn chưa
được kiểm tra để ước tính SOC Các tác giả của [12] đã
sử dụng mạng bộ nhớ ngắn hạn LSTM đã được đào tạo
và thử nghiệm trên các chu kỳ làm việc cụ thể Kết quả
cho thấy rằng tăng độ chính xác trong việc chấn đoán
các trạng thái Vì vậy, trong bài báo này sẽ ứng dụng
phương pháp DL-LSTM để giải quyết vấn đề ước tính
trạng thái sạc củau pin SOC
Bài báo được sắp xếp năm phần như sau Tham số
chính của sạc pin xe điện được thể hiện phần 2 Mô hình
ước lượng trạng thái sạc của pin ô tô điện sử dụng DL
được thảo luận chi tiết trong Phần 3 Phần 4 mô tả xây
dựng mô phỏng quá trình ước lượng của DL-STM Cuối
cùng, trong phần 5 đưa ra kết luận và hướng nghiên cứu
trong tương lai
II THAMSỐCHÍNHCỦASẠCPINXE
ÔTÔ ĐIỆN Tham số chính của sạc pin xe ô tô điện được xác định từ mỗi chu kỳ xả, đó là dựa trên dữ liệu về điện
áp xả, dòng điện xả, nhiệt độ và thời gian [15]
2.1 Nội điện trợ DC
Theo tài liệu [13], nội điện trợ DC được xác định bởi công thức (1) Công thức với giải thiết sụt dung
lượng pin trong một khoảng thời gian xác định nhỏ, sao
cho sụt điện áp do nội điện trở DC gây nên
𝑅𝐷𝐶 =!!" "!!#
Trong đó: Vt1; Vt2 là cực điện áp của pin tại t1 và t2; It2 là
dòng xả tại thời điểm t2
2.2 Phương sai của nhiệt độ
Nhiệt độ bề mặt tăng lên trong quá trình sinh nhiệt, không đổi và thay đổi trong giai đoạn xả Nhiệt độ
này được tạo bởi I2R và phản ứng hoá học Khi dung
lượng pin suy giảm thì nhiệt độ tăng lên dẫn đến phương
sai nhiệt lớn Phương sai nhiệt độ trong mỗi chu kỳ
được tính toán bởi công thức (2)
Trong đó: E là sức điện động; Ti là mẫu nhiệt độ thứ i
trong n chu kỳ
2.3 Phương sai điện áp xả
Khi điện áp xả nhanh hơn khi dung lượng pin suy giảm Phương sai điện áp xả trong mỗi chu kỳ được viết như công thức (3)
𝑉 = E (𝑉$− 𝜇)%
Trong đó: E là sức điện động; Vi là mẫu điện áp thứ i trong n chu kỳ
2.4 Chênh lệch điện áp
Chênh lệch điện áp giữa chu kỳ đầu và các chu
kỳ sau đó là chênh lệch năng lượng phóng giữa chu kỳ đầu và các chu kỳ sau Sự chênh lệch năng lượng này
có mối quan hệ phi tuyến với suy giảm dung lượng pin
∆𝑄&"'= 𝑄'− 𝑄& (4)
CỦAPINÔTÔĐIỆNSỬDỤNGDEEPLEARNING Như đã biết, phương pháp deep leaning được xây dựng từ nhiều kiểu mạng nơ ron (truyền thẳng, lan truyền ngược….) Trong đó, mạng nơ-ron truyền thẳng
xử lý dữ liệu theo một chiều, từ nút đầu vào đến nút đầu
ra Mỗi nút trong một lớp được kết nối với tất cả các nút trong lớp tiếp theo Mạng truyền thẳng sử dụng một quy trình phản hồi để cải thiện dự đoán theo thời gian Mạng nơ-ron deep learning, có nhiều lớp ẩn với hàng triệu nơ-ron nhân tạo liên kết với nhau Trọng số, có chức năng kết nối giữa hai nút Trọng số sẽ dương nếu một nút kích thích nút còn lại, hoặc âm nếu một nút ngăn cản nút còn lại Các nút với trọng số cao hơn sẽ có ảnh hưởng lớn hơn lên các nút khác Về mặt lý thuyết, mạng nơ-ron chuyên sâu có thể ánh xạ bất kỳ loại dữ liệu đầu vào với bất kỳ loại dữ liệu đầu ra nào Tuy nhiên, mạng
DL cũng cần được đào tạo hơn rất nhiều so với các phương pháp máy học khác Mạng DL cần hàng triệu
dữ liệu đào tạo
Trong bài báo đưa ra cấu trúc mạng nơ ron như hình 1 bao gồm một lớp đầu vào có 5 tín hiệu như điện
áp, dòng điện, nhiệt độ, phương sai nhiệt độ và điện áp, lớp ẩn có 50 lớp và một lớp ra Để đào tạo nơ ron sâu bao gồm phương pháp đào tạo, tối ưu hoá các hàm mất mát (loss) và báo lỗi Thuật toán tối ưu hóa thực hiện nhiệm vụ quan trọng tìm điểm hội tụ trong suốt quá trình đào tạo mạng nơ-ron sâu được đề xuất Để đạt được hiệu quả tìm nghiệm hội tụ mong muốn, thông thường
sử dụng tối ưu hóa Stochastic Gradient Descent (SGD)
để đào tạo các mạng nơ ron sâu Tuy nhiên, ngày nay các kỹ thuật tối ưu hóa nhanh hơn, chẳng hạn như giảm
độ dốc ngẫu nhiên, truyền bình phương trung bình gốc, tối ưu hóa Adam, tối ưu hóa Nesterov Adam, để cải thiện độ chính xác của giải pháp Bài báo này sử dụng tối ưu kỹ thuật tối ưu SGD để tối ưu hóa khung nơ ron sâu Để đào tạo, mô hình nơ ron sâu được đề xuất, SGD với kỹ thuật tối ưu hóa được sử dụng chia dữ liệu với kích thước là 256 Quá trình học được lặp đi lặp lại để cập nhật trọng số, giá trị bias và độ chệch để thực hiện cho các thuật toán học có giám sát sao cho giảm sai số giữa giá trị thử nghiệm và giá trị ước tính Giá trị ước tính được biểu thị bằng vectơ Yk (SoCk), trong trường
Trang 3hợp này đại diện cho SOC đo được Trong bài báo, sử
dụng sai số bình phương trung bình là hàm
Root-Mean-Square-Error (RMSE) làm hàm mất mát, được trình
bày trong công thức (5), trong đó N là số mẫu dữ liệu
mẫu và 𝑌0 (𝑆𝑂𝐶( 3 ) là SOC được xác định bởi thuật toán (
đề xuất
𝑅𝑀𝑆𝐸6)'∑) 8(𝑆𝑂𝐶3 − 𝑆𝑂𝐶( ()
Dự đoán các lỗi bằng cách tính toán đạo hàm riêng của hàm mất mát đối với mỗi biến có thể học, sau
đó được sử dụng để sửa đổi các giá trị tham số Phương
pháp DL là quá trình học đi lặp đi lặp lại nhiều lần cho
đến khi các tiêu chí đào tạo được đáp ứng (lỗi nhỏ nhất)
Chính vì vậy, bài báo lựa chọn dữ liệu vào mạng nơ ron
(Epochs) là 1200, sử dụng chia dữ liệu (bactchsize) là ,
tốc độ học ban đầu là 0.01, khoảng thời gian giảm tốc
độ học là 400ms, hệ số giảm tốc độ học là 0,1, tần suất
xác thực là 30, cứ sau 500 giây cho đến khi hoàn thành
giai đoạn đào tạo Toàn bộ quá trình của mô hình được
đề xuất để ước tính SOC của pin Li-ion được thể hiện
qua hình 2
Hình 1: Cấu trúc mạng nơ ron học sâu cho SOC
Hình 2: Cấu trúc Deep learning cho ước
lượng trạng thái sạc của pin SOC
Trong bài báo sử dụng thông số mạng nơ ron deep-learning như
Bảng 1: Thông số mô phỏng mạng deep-learning
cho lớp ẩn và hàm RELU cho lớp ra Khoảng thời giảm tốc độ học 400ms
Ước lượng trạng thái sạc của pin ô tô điện dựa trên deep learning sẽ được thực hiện ba bước như thu nhập
dữ liệu đầu vào, tiếp theo tạo tập dữ liêụ mẫu và cuối cùng cho mạng nơ ron đào tạo và đưa ra kết quả
Bước 1: Dữ liệu đâù vào
Bên cạnh đó để ước lượng được trạng thái SOC, bàì báo sử dụng dữ liệu đào tạo của pin LG 18650HG2 Li-ion, 3Ah mới 100% được thử nghiệm trong buồng nhiệt với 75A, 5 V Độ chính xác điện áp và dòng điện trong phạm vi 0,1% của thang đo 3Ah Một loạt các thử nghiệm đã được thực hiện ở bốn nhiệt độ khác nhau Pin được sạc sau mỗi lần thử nghiệm với tốc độ một chu
kỳ trên giây đến 4,2 V với mức cắt 50 mA khi nhiệt độ pin đạt 22 ° C trở lên
Trong bài báo này, tập dữ liệu ở nhiệt độ môi trường xung quanh 25 ° C, 10 ° C, 0 ° C và -10 ° C được xem xét Các cấu hình đầu ra của chu kỳ hoạt động được thực hiện cho đến khi nơ ron đã được xả đến 95% khả năng xả 1C của pin ở nhiệt độ thích hợp Điện áp, dòng điện và nhiệt độ của các tế bào LG HG2 trong các chu
kỳ xả khác nhau với các điều kiện nhiệt độ khác nhau, như hình 5a – 5d minh họa các chu kỳ hoạt động khác nhau của LG HG2 dưới nhiệt độ âm 10 ° C, 10 ° C, 0 °
C và 25 ° C
Bước 2: Tạo tập mẫu
Đầu tiên, tạo lớp đầu vào gồm có năm tín hiệu đặc trưng của sạc pin xe ô tô điện (điện áp, dòng điện, nhiệt
độ, trung bình điện áp và dòng điện); số lớp ần được lựa chọn là 50 và một lớp đầu ra Dự liệu đầu vào được thể hiện qua hình 4
Quá trình tạo tập mẫu mạng nơ ron sâu sử dụng hàm mất mát là bình phương sai trung bình RMSE đưa giá trị sai số giữa trạng thái SOC dự báo với SOC mẫu trong từng trường hợp nhiệt độ được thể hiện qua hình
3 Sai số giữa trạng thái SOC dự đoán với SOC mẫu từ
791 đến 1200 dữ liệu đầu vào với tần số hội tụ 30, tốc
độ học 0.01 thì sai số giữa mô hình SOC dự đoán và mẫu có giá nhỏ 98.9%
Trang 4Hình 3: Kết quả đào tạo giữa trạng thái SOC dự báo với SOC mẫu
Hình 4: Đáp ứng dữ liệu dòng điện, điện áp, nhiệt
độ
Để tiến hành kiểm tra tập mẫu thì đưa ra dự đoán
trên dữ liệu thử nghiệm bằng cách sử dụng dự đoán Để
tránh phải thêm các trình tự để đảm bảo rằng tất cả các
trình tự trong một lô nhỏ có cùng độ dài, hãy đặt kích
thước lô nhỏ thành 1 Mạng nơ ron sâu thực hiện tính
sai số giữa SOC dự đoán và SOC mẫu cho mỗi nhiệt độ
khác nhau (−10 ° C, 0 ° C, 10 ° C và 25 ° C) lần lượt, có kết quả như hình 5
Hình 5: Chu kỳ hoạt động nhiệt độ của pin LG HG2
Trang 5Qua hình 5 nhận thấy rằng chu kỳ hoạt động nhiệt
độ pin ô tô điện dự đoán được tạo đúng với từng trường
hợp nhiệt độ mẫu
Tính toán sai số bình phương trung bình gốc
(RMSE) và sai số tuyệt đối lớn nhất giữa SOC dự đoán
và SOC mẫu cho mỗi nhiệt độ môi trường tương ứng
Chỉ định các hàm mất mát tùy chỉnh định để tính toán
các giá trị tổn thất dựa trên các giá trị dự đoán đã được
cắt giảm Kết quả mô phỏng được thể hiện tại hình 6
Qua hình 6 nhận thấy rằng các giá trị thấp hơn
trong đồ thị RMSE và đồ thị sai số tuyệt đối tối đa cho
thấy các dự đoán chính xác hơn cho các nhiệt độ tương
ứng Nếu các giá trị lớn hơn trong các ô giống nhau cho
thấy các dự đoán kém chính xác hơn cho các nhiệt độ
tương ứng
Hình 6: Đồ thị RMSE và sai số tuyệt đối max giữa SOC dự đoán và mẫu tại mỗi nhiệt độ xác định
Bước 3: Đào tạo và kết quả
Kết quả dự đoán mô hình SOC của pin được thể hiện qua hình 7
Hình 7: Đáp ứng dự đoán trạng thái sạc của pin xe ô tô điện
Hình 7 cho thấy sự phù hợp đường cong của SOC
thử nghiệm và SOC dự đoán Qua đồ thị hình 7 hiện
thị các dự đoán mạng nơ-ron của SOC theo thời gian
Các dự đoán mạng nơ ron sâu gần với giá trị SOC thu
được từ dữ liệu thử nghiệm Mạng nơ ron sâu dự đoán
trạng thái tích điện với độ chính xác 3 lớp với 50 nơ
ron trong 1 lớp nơ ron trong phạm vi nhiệt độ từ –10˚
C đến 25˚, dự đoán các giá trị SOC với độ chính xác cao
Trong nghiên cứu này, một phương pháp dự đoán SOC dựa trên deep learning mới cho pin Li-ion được thiết kế và hiệu quả của phương pháp này được chứng minh thông qua kết quả mô phỏng Matlab Ước lượng
Trang 6SOC của pin LG HG2 trong các điều kiện nhiệt độ khác
nhau đã đạt được hiệu quả với sai số dưới 5% Do đó,
mô hình DL được đề xuất hứa hẹn và việc sử dụng mô
hình trong các kịch bản ước tính SoC cho xe ô tô điện,
tuy nhiên cần được kiểm tra kỹ lưỡng khi áp dụng các
kỹ thuật học máy Nghiên cứu này đóng góp quan trọng
bằng cách thúc đẩy sự phát triển của pin Li-ion Ước
lượng SOC thông qua thuật toán DN, kết quả là nâng
cao hiệu suất ước tính SOC và giảm tỷ lệ lỗi trong các
thử nghiệm chu kỳ truyền động EV khác nhau Tuy
nhiên, hiệu quả của mô hình này cần phải tiến hành so
sánh với các mô hình tương tự khác trong tương lai
bằng mô phỏng và thực nghiệm
[1] JC idal, O Gross, R Gu, P Kollmeyer and A
Emadi, “xEV li-ion battery low-temperature
effects-review,” IEEE Transactions on Vehicular Technology,
vol 68, no 5, pp 4560–4572, 2019
[2] C Zhu, F Lu, H Zhang and C C Mi, “Robust
predictive battery thermal management strategy for
connected and automated hybrid electric vehicles based
on thermoelectric parameter uncertainty,” IEEE
Journal of Emerging and Selected Topics in Power
Electronics, vol 6, no 4, pp 1796–1805, 2018
[3] C Vidal, P Kollmeyer, E Chemali and A Emadi,
“Li-ion battery state of charge estimation using long
short-term memory recurrent neural network with
transfer learning,” in Proc of IEEE Transportation
Electrification Conf and Expo (ITEC), Detroit, MI,
USA, pp 1–6, 2019
[4] C She, L Zhang, Z Wang, F Sun, P Liu et al.,
“Battery state of health estimation based on incremental
capacity analysis method: Synthesizing from cell-level
test to real-world application,” IEEE Journal of
Emerging and Selected Topics in Power Electronics,
vol 10, no 1, pp 28–41, 2022
[5] S Guo, R Yang, W Shen, Y Liu and S Guo,
“DC-AC hybrid rapid heating method for lithium-ion
batteries at high state of charge operated from low
temperatures,” Energy, vol 238, no B, pp 121809,
2022
[6] A Samanta, S Chowdhuri and S S Williamson,
“Machine learning-based data-driven fault detection/di-
agnosis of lithium-ion battery: A critical review,”
Electronics, vol 10, no 11, pp 1309, 2021
[7] R Xiong, J Cao, Q Yu, H He and F Sun, “Critical
review on the battery state of charge estimation
methods for electric vehicles,” IEEE Access, vol 6, pp
1832–1843, 2018
[8] M Premkumar, M K Ramasamy, K
Kanagarathinam and R Sowmya, “SoC estimation and
monitoring of li-ion cell using kalman-filter algorithm,”
International Journal on Electrical Engineering and
Informatics, vol 6, no 4, pp 418–427, 2018
[9] E Chemali, P J Kollmeyer, M Preindl and A
Emadi, “State-of-charge estimation of li-ion batteries using deep neural networks: A machine learning
approach,” Journal of Power Sources, vol 400, no 5,
pp 242–255, 2018
[10] M Zhang and X Fan, “Review on the state of charge estimation methods for electric vehicle battery,”
World Electric Vehicle Journal, vol 11, no 1, pp 23,
2020
[11] Z Nan, L Hong, C Jing, C Zeyu and F Zhiyuan,
“A fusion-based method of state-of-charge online estimation for lithium-ion batteries under low-capacity
conditions,” Frontiers in Energy Research, vol 9, pp
790295, 2021
[12] D N T How, M A Hannan, M S H Lipu, K
S M Sahari, P J Ker et al., “State-of-charge
estimation of li-ion battery in electric vehicles: A deep
neural network approach,” in Proc of IEEE Industry
Applications Society Annual Meeting, MD, USA, pp 1–
8, 2019
[13] V Chandran, C K Patil, A Karthick, D
Ganeshaperumal, R Rahim et al., “State of charge
estimation of lithium-ion battery for electric vehicles
using machine learning algorithms,” World Electric
Vehicle Journal, vol 12, no 1, pp 38, 2021 [14] M A Hannan, M S H Lipu and A Hussain,
“Toward enhanced state of charge estimation of lithium-ion batteries using optimized machine learning
techniques,” Scientific Reports, vol 10, no 1, pp 4687,
2020
[15] Kollmeyer, Phillip, Carlos Vidal, Mina Naguib, and Michael Skells “LG 18650HG2 Li-Ion Battery Data and Example Deep Neural Network XEV SOC