97 ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG HAI THẬP KỶ TỪ NĂM 1999 ĐẾN 2020 ThS Trần Anh Tuấn Bộ môn Toán, Trường Đại học Thương mại Th S Nguyễn Thị Yến Hạnh Bộ môn Kinh tế[.]
Trang 197
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM TRONG HAI THẬP KỶ TỪ NĂM 1999 ĐẾN 2020
ThS Trần Anh Tuấn
Bộ môn Toán, Trường Đại học Thương mại
Th.S Nguyễn Thị Yến Hạnh
Bộ môn Kinh tế học, Trường Đại học Thương mại
ThS Nguyễn Ngọc Diệp
Bộ môn Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Thương mại
1 Tóm tắt
Trong một nền kinh tế mở, tỷ giá hối đoái là một loại giá đặc biệt có ảnh hưởng sâu rộng đến các hoạt động kinh tế Trong các ảnh hưởng của mình, tỷ giá hối đoái có khả năng gây ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại
Để lượng hoá ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại, bài viết sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển để xem xét mối quan hệ đó (mô hình này giải thích xuất khẩu và nhập khẩu bằng một số biến trong đó có tỷ giá) và số liệu nhóm tác giả sử dụng là số liệu từ quý I/1999 đến quý IV/2020 về tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và số liệu về xuất khẩu và nhập khẩu của Tổng cục Hải quan Từ
mô hình và số liệu thực tế của Việt Nam, nhóm tác giả rút ra được kết luận là tỷ giá có mối quan hệ thuận chiều với đối với cả xuất khẩu và nhập khẩu (Điều này không đúng hoàn toàn với lý thuyết) và trong bài viết này nhóm tác giả cũng đã lý giải một số nguyên nhân vì sao ở Việt Nam lại có thực trạng trên
Từ khóa: Tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại việt Nam
2 LÝ THUYẾT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 2.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ trao đổi tiền tệ của một đồng tiền này ra tiền tệ của một đồng tiền khác Ví dụ: nếu một người đến ngân hàng, người đó có thể thấy tỷ giá hối đoái được niêm yết là 23.000 đồng/ một đô la Mỹ Nếu người đó đưa ngân hàng 1
đô la Mỹ thì ngân hàng sẽ trả cho họ là 23.000 đồng; hoặc nếu bạn đưa ngân hàng 23.000 đồng, thì bạn sẽ nhận được 1 đô la Mỹ Trong thực tế ngân hàng sẽ niêm yết giá bán và mua đô la khác nhau Sự chênh lệch này là một trong những nguồn lợi nhuận của ngân hàng Để cho đơn giản, chúng ta sẽ bỏ qua sự chênh lệch này
Tỷ giá hối đoái có thể được biểu diễn dưới 2 dạng là niêm yết trực tiếp hoặc niêm yết gián tiếp Nếu tỷ giá hối đoái là 23.000 đồng/ 1 đô la Mỹ thì nó cũng là 1/23.000 (
0.000043) đô la Mỹ/ 1 đồng Trong bài viết này, chúng ta hiểu tỷ giá hối đoái danh nghĩa là số đơn vị nội tệ đổi lấy một đơn vị ngoại tệ như là 23.000 đồng/ 1 đô la Mỹ
Nếu tỷ giá hối đoái thay đổi sao cho 1 đô la có thể đổi được nhiều Việt Nam đồng hơn thì chúng ta gọi đó là sự giảm giá của đồng Việt Nam Ngược lại, nếu 1 đô la mua được ít Việt Nam đồng hơn thì chúng ta gọi đó là sự lên giá của đồng Việt Nam Ví dụ như khi tỷ giá hối đoái tăng từ 20.000 lên 23.000 đồng/ 1 đô la, đồng Việt Nam được coi là giảm giá và đồng đô la được coi là lên giá
Trang 298
Đôi khi chúng ta thấy các phương tiện truyền thông nói rằng đồng Việt Nam mạnh hay yếu Mô tả này thường chỉ đề cập đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa Khi một đồng tiền lên giá, người ta gọi đồng tiền đó mạnh hơn vì nó có thể mua được nhiều ngoại tệ hơn Ngược lại, khi một đồng tiền giảm giá, người ta gọi đồng tiền
đó yếu đi
2.2 Tỷ giá hối đoái thực tế
Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ mà tại đó các đồng tiền trao đổi cho nhau Do vậy, sự thay đổi trong tỷ giá có thể làm thay đổi giá hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu khi tính bằng đồng nội tệ, và có khả năng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến mức giá chung của nền kinh tế
Tuy vậy, hành vi xuất, nhập khẩu lại không chỉ phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái danh nghĩa Hành vi này còn phụ thuộc vào so sánh giá cả giữa trong nước và ở nước ngoài Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát tương đối giữa trong
nước và ở nước ngoài được gọi là tỷ giá hối đoái thực tế Chúng ta có thể tóm tắt cách
tính tỷ giá hối đoái thực tế (RER) theo công thức sau:
RER = (Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá nước ngoài) / Giá trong nước
Tỷ giá hối đoái thực tế cho biết giá cả một giỏ hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài so với giá một giỏ hàng hoá và dịch vụ trong nước tính theo cùng một loại tiền (trong trường hợp này là tính theo đồng bản tệ) Khi RER tăng, đồng bản tệ được coi là giảm giá thực tế so với đồng tiền nước ngoài Khi RER giảm, đồng bản tệ được coi là lên giá thực tế so với đồng tiền nước ngoài
Tại sao tỷ giá hối đoái thực tế lại quan trọng? Tỷ giá hối đoái thực tế là nhân tố quyết định một nước sẽ xuất khẩu và nhập khẩu mặt hàng nào với số lượng bao nhiêu
Ví dụ như, khi các nhà nhập khẩu nước ngoài quyết định xem nên mua gạo của Việt Nam hay của Thái Lan, họ sẽ quan tâm xem gạo của nước nào rẻ hơn Tỷ giá hối đoái thực tế giúp họ có câu trả lời Trong một ví dụ khác, bạn đang cân nhắc nên đi tham quan ở đâu: Vinperland – Nha Trang hay Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc) Bạn có thể hỏi giá khách sạn ở Nha Trang (bằng Việt Nam đồng) và giá khách sạn ở Trung Quốc (bằng đồng NDT) và tỷ giá giữa NDT và VND Nếu bạn quyết định sẽ đi nghỉ mát
ở đâu bằng cách so sánh chi phí, bạn đã dựa quyết định của bạn vào tỷ giá hối đoái thực
tế rồi đấy
2.3 Cơ chế tỷ giá của Việt Nam giai đoạn 1989- nay
Tại Việt Nam, chính sách tỷ giá có thể coi là một thành phần trong chính sách tiền tệ, bao gồm việc lựa chọn chế độ tỷ giá, các công cụ can thiệp và điều tiết tỷ giá (như mua bán ngoại hối, điều chỉnh lãi suất, xác lập biên độ dao động tỷ giá, phá giá/ nâng giá đồng nội tệ, sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối ,…) để tác động đến cung cầu ngoại
tệ trên thị trường ngoại hối và đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát và ổn định sức mua của đồng tiền; khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và góp phần vào tăng trưởng kinh tế
Bảng dưới đây tổng kết lại cơ chế điều hành tỷ giá Việt Nam áp dụng kể từ 1989 tới nay, theo hệ thống phân loại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Theo đó, tháng 3/1989, Việt Nam chính thức áp dụng cơ chế neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh, tỷ giá chính thức được điều chỉnh dựa trên các tín hiệu lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán; tỷ giá thị trường tự do, tỷ giá ngân hàng thương mại được phép dao động trong giới hạn 5% tỷ
Trang 399
giá chính thức Trong giai đoạn 1990-1991, tỷ giá chính thức thường xuyên thấp hơn tỷ giá tự do và để giải quyết vấn đề này, thị trường ngoại hối chính thức được thành lập vào năm 1991 bao gồm 2 sàn giao dịch ngoại hối ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Tỷ giá chính thức được xác định dựa trên tỷ giá đấu thầu tại 2 sàn, tỷ giá ngân hàng thương mại chỉ được phép dao động không quá 0,5% so với tỷ giá chính thức Đến năm
2016, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiến hành điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm Cụ thể:
Bảng 1 Cơ chế tỷ giá của Việt Nam giai đoạn 1989-2020 Thời gian Cơ chế
áp dụng
Đặc điểm chế độ tỷ giá thực tế
Trước
1989
Cơ chế nhiều tỷ giá
- Ba tỷ giá chính thức; Tỷ giá thị trường tự do tồn tại song song với các tỷ giá của nhà nước; Tỷ giá chính thức (OER) được thống nhất
1989-1990
Neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh
- OER được Ngân hàng nhà nước điều chỉnh dựa trên các tín hiệu lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán và tỷ giá thị trường
tự do
- Các ngân hàng thương mại được phép thiết lập tỷ giá giao dịch trong biên độ +/-5%
- Việc sử dụng ngoại tệ được kiểm soát chặt chẽ
- Kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ chặt chẽ hơn; hạn chế mang tiền ra khỏi biên giới
1991-1993
Neo tỷ giá trong biên độ
- Thành lập quĩ dự trữ ngoại tệ chính thức để ổn định tỷ giá
- Thành lập 2 sàn giao dịch ngoại tệ ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội
- OER được hình thành dựa trên các tỷ giá đấu thầu tại hai sàn; Ngân hàng Nhà nước can thiệp mạnh vào giao dịch trên hai sàn
- Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động thấp hơn 0,5% OER công bố
1994-1996
Cơ chế
tỷ giá neo cố định
- Thị trường ngoại hối liên ngân hàng được hình thành thay thế cho 2 sàn giao dịch tỷ giá; Ngân hàng nhà nước tiếp tục can thiệp mạnh vào giao dịch trên thị trường này
- OER được hình thành và công bố dựa trên tỷ giá liên ngân hàng
- Tỷ giá tại các Ngân hàng thương mại dao động trong biên
độ +/-0,5% OER công bố Đến cuối 1996, biên độ được nới rộng từ thấp hơn +/-0,5% OER công bố Đến cuối năm 1996, biên độ được nới rộng từ thấp hơn +/-0,5% lên +/-1% (11/1996)
Trang 4100
- OER được giữ ổn định ở mức 11.100VND/USD
1997-1998
Neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh
- Biên độ tỷ giá tại các ngân hàng thương mại so với OER được nới rộng từ 1% lên 5% (02/97) và từ 5% lên +/-10% (13/10/97) và sau đó được điều chỉnh xuống không quá 7% (7/8/98)
- OER được điều chỉnh lên 11.800 VND/USD (16/02/98) và 12.998 VND/USD (07/08/98)
1999-2000
Cơ chế
tỷ giá neo cố định
- OER công bố là tỷ giá liên ngân hàng trung bình ngày làm việc hôm trước (28/2/99)
- Biên độ tỷ giá tại các ngân hàng thương mại giảm xuống không quá 0,1%
- OER được giữ ổn định ở mức 14.000VND/USD
2001-2007
Cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh
- OER được điều chỉnh dần từ mức 14.000VND/USD năm
2001 lên 16.100 VND/USD năm 2007
- Biên độ tỷ giá tại các Ngân hàng thương mại được điều chỉnh lên mức +/-0,25% (từ 1/7/02 đến 31/12/06) và +/-0,5% năm 2007
2008-2011
Neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh
- OER được điều chỉnh dần từ mức khoảng 16.100 VND/USD vào đầu năm 2008 lên 16.500 VND/USD (06/08 đến 12/08), lên 17.000 VND/USD (01/09 đến 11/09), lên 17.940 VND/USD (12/09 đến 01/10), lên 18.544 VND/USD (từ 02/10 đến 08/2020), lên 18.932 VND/USD (từ 08/10 đến 02/11) và điều chỉnh tăng dần đến 20.828 vào cuối năm 2012
- Biên độ tỷ giá tại các Ngân hàng thương mại được điều chỉnh nhiều lần lên mức +/-0,75% (từ 23/12/07 đến 09/03/08), +/-1% (10/03/08 đến 25/06/08); +/-2% (26/05/08 đến 05/11/08), +/-3% (06/11/08 đến 23/03/09), +/-5% (24/03/09 đến 25/11/09), và +/-3% (26/11/09 đến 11/02/2011), và sau
đó được thu hẹp xuống +/-1% (từ 11/02/2011)
2012-2013
Cơ chế
tỷ giá neo cố định
- OER giữ nguyên ở 20.828 VND/USD từ tháng 1/2012 đến 28/06/2013, tăng lên 21.036 VND/USD
- Biên độ giao dịch được giữ cố định +/-1%
2014-2015
Cơ chế tỷ giá neo
cố định
- Những tháng đầu năm 2014, OER được giữ ổn định ở mức 21.036 VND/USD; đến ngày 19/06/2014 NHTW điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng 1% (từ 21.036 đến 21.246
- 07/01/2015: Tỷ giá tăng thêm 1 % (từ 21.246 VND/USD đến 21.458 VND/USD)
Trang 5101
- 07/05/2015: Tỷ giá tăng thêm 1% (từ 21.458 VND/USD đến 21.890)
- 12/08/2015: Tăng biên độ tỷ giá từ +/-1% lên +/-2% (Đồng nhân dân tệ giảm giá mạnh nhất trong vòng 2 thập kỷ vừa qua
- 19/08/2015: Tăng tỷ giá 1% (Từ 21.673 VND/USD đến 21.890 VND/USD), nới biên độ lên +/-3% (Đồng Nhân dân
tệ tiếp tục phá giá mạnh, khả năng Fed điều chỉnh tăng lãi suất trong thời gian tới)
2016-2017
Cơ chế tỷ giá trung tâm
- Từ 04/01/2016, NHNN thực hiện công bố tỷ giá trung tâm biến động linh hoạt hàng ngày theo sát diễn biến thị trường trong, ngoài nước, xác định dự trên cung, cầu ngoại tệ thị trường và giá trị của đồng nội tệ so với 8 đồng tiền tham chiếu
So với đầu năm, tỷ giá VND/USD tăng khoảng 1,1-1,2% (Tỷ giá tham chiếu cuối năm chỉ tăng 1,18% so với đầu năm 2016,
ở ngưỡng 22.154 VND/USD;
- Về điều hành tỷ giá năm 2017 cơ bản ổn định; tỷ giá USD/VND chỉ tăng 1,2%
2018-2020
Cơ chế tỷ giá trung tâm
- Giai đoạn 1 (Tháng 01/2018-05/2018): Tiếp nối thành công trong năm 2017, tỷ giá và thị trường ngoại hối tiếp tục duy trì trạng thái ổn định cho đến thời điểm cuối tháng 5/2018
- Giai đoạn 2 (Tháng 6/2018-8/2018): Tỷ giá VND/USD liên tục 23.650 VND/USD vào ngày 17/08/2018
- Giai đoạn 3 (Tháng 3/2018-12/12/2018): Tỷ giá VND/USD
ổn định xoay quanh mức cân bằng mới khoảng 23.400 VND/USD
- Kết thúc năm 2019, NHNN đã tăng tỷ giá trung tâm giữa VND/USD thêm 330 đồng, lên mức 23.169 VND/USD, tương đương tăng 1,4% so với hồi đầu năm 2019 (3 lần lập đỉnh mới từ 23.004 đồng cuối tháng 4 lên đến 23.115 đồng vào đầu tháng 8 và 23.169 vào cuối tháng 12/2019
- Năm 2020: Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam và Đô la
Mỹ được NHNN công bố ở mức 23.131 VND/USD
Nguồn: Tác giả cập nhật từ Nguyễn Thị Thu Hằng, Đinh Tuấn Minh,
Tô Trung Thành, Lê Hồng Giang và Phạm Văn Hà (2010) và NHNN
2.4 Cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một bộ phận của tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại các hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu được gọi
là xuất khẩu ròng (NX)
Ta có: NX = X – IM
Trang 6102
Trong đó: X là xuất khẩu, IM là nhập khẩu Nếu X = IM thì NX = 0, Cán cân thương mại cân bằng Nếu X > IM thì NX > 0, Cán cân thương mại thặng dư Nếu X < IM thì NX < 0, Cán cân thương mại thâm hụt
3 MÔ HÌNH VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
Tỷ giá thường được coi là có ảnh hưởng quan trọng đến cán cân thương mại của một nước Các tổ chức tài chính quốc tế như WB và IMF thường khuyến nghị các nước
phá giá 8 đồng nội tệ khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế với lập luận cho rằng phá giá sẽ làm tăng giá trong nước của hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó Cả hai tác động này đều cải thiện sức cạnh tranh quốc
tế của hàng trong nước Các nguồn lực sẽ được thu hút vào các ngành sản xuất nội địa
mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiêụ quả hơn so với hàng nhập khẩu, và nguồn lực cũng
sẽ được thu hút vào các ngành xuất khẩu mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiệu quả hơn trên các thị trường quốc tế Kết quả là xuất khẩu tăng lên và nhập khẩu giảm đi Cả hai điều này làm cho cán cân thương mại của nước phá giá được cải thiện
Theo điều kiện Marshall-Lerner, việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới cán cân thương mại, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá cả của xuất khẩu và
độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1 Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu đối với hàng xuất khẩu tăng lên Đồng thời giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu
Tuy nhiên, có một số điểm cần chú ý về tác động của phá giá đến cán cân thương mại:
- Sự chậm trễ trong phản ứng của người tiêu dùng Cần phải có thời gian để người
tiêu dùng ở cả nước phá giá lẫn thế giới bên ngoài điều chỉnh hành vi mua hàng trước môi trường cạnh tranh đã thay đổi Chuyển từ tiêu dùng các hàng nhập khẩu sang các hàng sản xuất trong nước nhất định cần phải có thời gian vì người tiêu dùng trong nước khi quyết định mua hàng không chỉ quan tâm đến sự thay đổi của giá cả tương đối mà
cả nhiều yếu tố khác chẳng hạn thói quen và sự nổi tiếng của hàng ngoại so với hàng nội; trong khi người tiêu dùng nước ngoài có thể không thích chuyển từ tiêu dùng hàng
họ vốn đã quen sử dụng sang hàng nhập khẩu từ nước phá giá
- Sự chậm trễ trong phản ứng của người sản xuất Ngay cả khi phá giá cải thiện
được khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, những người sản xuất trong nước cũng cần có thời gian để mở rộng sản xuất Hơn nữa, các đơn đặt hàng thường được đặt trước
và những hợp đồng như vậy không thể huỷ bỏ trong ngắn hạn Các nhà máy không thể huỷ bỏ hợp đồng đối với đầu vào và nguyên liệu thô quan trọng
- Sự cạnh tranh không hoàn hảo Sự thâm nhập và gây được ảnh hưởng trên thị
trường thế giới là một công việc khó khăn và mất nhiều thời gian Các nhà xuất khẩu nước ngoài có thể không chịu chia xẻ thị trường và có thể phản ứng trước sự suy giảm
8 Thuật ngữ phá giá thường được sử dụng để nói tới bất kỳ hiện tượng giảm giá danh nghĩa nào của đồng bản tệ một cách chủ ý và với mức độ đáng kể (20: 190-191).
Trang 7103
khả năng cạnh tranh của họ bằng cách giảm giá hàng xuất khẩu của họ sang nước phá giá Tương tự, những ngành công nghiệp nước ngoài phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ các nước phá giá có thể phản ứng trước sự suy giảm của khả năng cạnh tranh bằng cách giảm giá cả trên thị trường trong nước, và do đó hạn chế khối lượng nhập khẩu từ các nước phá giá
- Cuối cùng, việc giảm giá đồng nội tệ có thể không cải thiện được cán cân thương
mại trong thời gian trước mắt Bởi vì cán cân thương mại chính là giá trị của xuất khẩu trừ đi giá trị của nhập khẩu Giả sử chúng ta tính cán cân thương mại bằng đồng Việt Nam Nếu giá nội địa của hàng xuất khẩu không thay đổi và lượng hàng xuất khẩu chưa thay đổi nhiều lắm, thu nhập từ xuất khẩu sẽ chỉ cao hơn một chút trong thời gian trớc mắt Và nếu lượng hàng nhập khẩu chưa giảm nhiều lắm, nhưng giá hàng nhập khẩu tính bằng đồng Việt Nam có thể tăng đáng kể Khi tính về giá trị, cán cân thương mại trong ngắn hạn có thể trở nên xấu hơn
Hình 1: Đường hình chữ J về ảnh hưởng của phá giá đến cán cân thương mại
Trong thời gian dài hơn, khi những người mua và những người bán điều chỉnh lượng xuất khẩu và nhập khẩu, cả lượng xuất khẩu cao hơn và lượng nhập khẩu thấp hơn chắc sẽ làm cải thiện cán cân thương mại Như vậy, việc giảm giá đồng nội tệ lúc đầu có thể làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi nhưng sau đó sẽ được cải thiện
Các nhà kinh tế đôi khi mô tả hiện tượng này bằng đường cong hình chữ J Khi thời gian
trôi đi sau khi giảm giá đồng nội tệ, cán cân thương mại giảm tới đáy của đường J, nhưng sau đó lại cải thiện và tăng cao hơn vị trí ban đầu của nó
Để đánh giá tác động của tỷ giá đến xuất nhập khẩu, ta tập hợp số liệu về tỷ giá (VND/USD) và số liệu về xuất khẩu, nhập khẩu (tỷ USD) lấy theo quý từ quý 1/1999 đến quý 4/2020 Theo lý thuyết khi tỷ giá thay đổi thì xuất khẩu và nhập khẩu cũng thay đổi theo và phương trình được mô tả dưới dạng:
1 2
Y X U
Trong đó biến độc lập là: RATE: tỷ giá (VND/USD), biến phụ thuộc là EX: giá trị xuất khẩu (triệu USD), IM:giá trị nhập khẩu (triệu USD)
Số quan sát là 88 kỳ Phương pháp hồi quy: Phương pháp bình phương bé nhất
Sử dụng mô hình EVIEW để chạy mô hình hồi quy đơn này ta được kết quả như sau:
Bảng 2: Kết quả tóm tắt thống kê bộ dữ liệu giai đoạn 1999 - 2020