1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận văn thạc sĩ) kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ quảng nam đà nẵng

111 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng
Tác giả Đàm Thị Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Tùng
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể: Tác giả PGS.TS Trương Bá Thanh 2008, Giáo trình Kế toán quản trị, nhà xuất bản Giáo dục, đã tiếp cận các vấn đề về cơ sở lý luận của kế toán quản trị trong doanh nghiệp như khái

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐÀM THỊ HỒNG

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ

XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG TÙNG

Đà Nẵng - Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đàm Thị Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 7 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 7

1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí 7

1.1.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp 9

1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí 10

1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 11

1.2.1 Đặc điểm hoạt động xây dựng cơ bản 11

1.2.2 Đặc điểm sản phẩm xây lắp 11

1.2.3 Đặc điểm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 14

1.3 NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 15

1.3.1 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 15

1.3.2 Lập dự toán chi phí xây dựng công trình 23

1.3.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 26

Trang 5

1.3.4 Kiểm soát chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 36

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 36

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty 39

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 39

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 40

2.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất hoạt động xây lắp của công ty 43

2.1.5 Đặc điểm tổ chức kế toán của công ty 44

2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 48

2.2.1 Phân loại chi phí xây lắp tại Công ty 48

2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất ở Công ty 50

2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty 53

2.2.4 Kiểm soát chi phí sản xuất tại công ty 57

2.2.5 Tổ chức báo cáo tình hình thực hiện chi phí xây lắp ở Công ty 57

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 62

2.3.1 Những kết quả đạt được 62

2.3.2 Một số hạn chế 62

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM-ĐÀ NẴNG 65

3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CTCP QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 65

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CTCP QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 67

3.2.1 Về phân loại chi phí 67

3.2.2 Về công tác lập dự toán chi phí xây lắp 71

3.2.3 Về công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp 73

3.2.4 Lập báo cáo chi phí và phân tích chi phí phục vụ kiểm soát chi phí 74 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp

QL&XDDB QN-ĐN Quản lý và xây dựng đường bộ

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

1.2 Phân tích biến động chi phí NVLTT 31

1.4 Phân tích biến động chi phí sử dụng MTC 33 2.1 Bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục 50 2.2 Phân tích đơn giá công trình mở rộng QL1 đoạn qua

tỉnh Quảng Nam đoạn KM 947+000 - KM 987+000

- Gói thầu số 01: KM 955+178 - KM 957+000

51

3.1 Phân loại chi phí theo ứng xử chi phí 68 3.2 Phân loại theo cách ứng xử của chi phí 70 3.3 Bảng tính giá thành theo phương pháp trực tiếp 74 3.4 Bảng phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu

trực tiếp

77

3.5 Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp 80 3.6 Phân tích biến động chi phí máy thi công 85 3.7 Bảng phân tích chi phí sản xuất chung 87

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

1.1 Sự khác nhau giữa hai phương pháp xác định chi phí 30

2.2 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty 45

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất độc lập tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Sản phẩm của nó là những công trình có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài nên có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế - vật chất Bên cạnh đó sản phẩm của xây dựng cơ bản còn thể hiện ý thức thẩm mỹ, phong cách kiến trúc nên cũng mang ý nghĩa quan trọng về mặt tinh thần, văn hóa xã hội Hiện nay, ở nước ta với một nền kinh tế mở có sự đầu tư của nước ngoài cùng với việc hội nhập vào các khối thị trường chung và nhất là việc tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO, điều đó có nghĩa là khối lượng công việc của ngành xây dựng tăng lên mà song song với nó là vốn đầu tư xây dựng cơ bản cũng tăng.Vấn đề đặt ra là làm sao quản lý vốn một cách chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất

Do đặc điểm nổi bật của ngành xây dựng cơ bản là vốn đầu tư lớn, thời gian thi công thường kéo dài qua nhiều khâu, nên để giải quyết vấn đề là làm sao quản lý tốt có hiệu quả, đồng thời khắc phục được tình trạng thất thoát lãng phí trong sản xuất, giảm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh không phải là việc làm dễ dàng

Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xây lắp phụ thuộc vào giá bỏ thầu các công trình, hạng mục công trình Do vậy thông tin về chi phí có vai trò quan trọng giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí, có biện pháp hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình, hạng mục công trình nâng cao khả năng thắng thầu

Để phục vụ nhu cầu thông tin về chi phí cho nhà quản trị thì kế toán quản trị chi phí là công cụ rất hữu hiệu phục vụ nhu cầu đó Kế toán quản trị

Trang 11

chi phí có vai trò quan trọng trong các khâu của quá trình quản lý từ lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản trị Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng

là một trong những công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đã và đang phát triển cả về quy mô cũng như đa dạng hóa lĩnh vực ngành nghề kinh doanh Tuy nhiên, môi trường kinh doanh với nhiều biến động và cạnh tranh

đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty Công tác tổ chức

kế toán quản trị tại công ty còn hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến lợi thế cạnh tranh của công ty Công ty có nhiều Đội thi công công trình và Hạt quản

lý, các công trình thường phân tán ở nhiều nơi làm cho công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất trở nên khó khăn Công tác kế toán quản trị chi phí chưa được quan tâm đúng mức, hệ thống thông tin tại đơn vị chỉ nhằm phục vụ bộ phận kế toán tài chính chưa có sự phân tích nhằm phục vụ kế toán quản trị chi phí Để phục vụ quản trị nói chung và quản trị chi phí sản xuất nói riêng, việc

tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty là cần thiết

Từ những lý do đó tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: "Kế toán quản trị

chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng"

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp

Phân tích, đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng, nêu rõ những ưu điểm, chỉ ra những vấn đề tồn tại và nguyên nhân từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn kế toán quản trị chi phí sản xuất trong hoạt động xây lắp của Doanh nghiệp

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam-Đà Nẵng

4 Phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát thực tế về tình hình vận dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng thông qua các báo cáo kết hợp với việc tìm hiểu thực tế công tác kế toán của đơn vị

- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến kế toán quản trị chi phí từ đó hệ thống hóa các vấn đề mang tính lý luận vận dụng vào thực tế của công ty

- Tổng hợp, phân tích, so sánh qua đó để đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về mặt lý thuyết: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

- Về mặt thực tiễn: Phân tích và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam

- Đà Nẵng Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện cho hệ thống kế toán quản trị sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp

5 Bố cục đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo, các biểu phụ lục, luận văn được trình bày thành 3 chương:

Trang 13

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng

Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Xây dựng cơ bản giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vai trò và ý nghĩa của xây dựng cơ bản có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnh vực này trong quá trình tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, cải tạo sửa chữa lớn hoặc khôi phục các công trình hư hỏng hoàn toàn Cùng với sự phát triển của đất nước các DN xây dựng đang đứng trước nhiều cơ hội cũng như sự cạnh tranh gay gắt Trong bối cảnh đó, muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý, đổi mới công nghệ … để tự khẳng định vị trí, chỗ đứng cho mình

Kế toán quản trị là kênh cung cấp thông tin nhanh chóng và hiệu quả cho nhà quản trị doanh nghiệp để ra quyết định Ở nước ta kế toán quản trị còn khá mới mẻ và đa số các doanh nghiệp chưa phát huy hết tính năng của nó Vì vậy đã có nhiều văn bản hướng dẫn, nhiều tài liệu cũng như đề tài nghiên cứu

về kế toán quản trị mà đặc biệt là kế toán quản trị chi phí

Nhằm giúp các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tổ chức tốt kế toán quản trị, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 53/2006/TT – BTC ngày 12/6/2006 Thông tư nêu rõ nguyên tắc tổ chức thông tin kế toán quản trị không bắt buộc tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể thực hiện theo những yêu cầu của nhà quản lý của từng doanh nghiệp Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ

Trang 14

thống sổ kế toán quản trị cần thiết để phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả có tham khảo một số tài liệu và đề tài nghiên cứu về lĩnh vực liên quan Cụ thể:

Tác giả PGS.TS Trương Bá Thanh (2008), Giáo trình Kế toán quản trị,

nhà xuất bản Giáo dục, đã tiếp cận các vấn đề về cơ sở lý luận của kế toán quản trị trong doanh nghiệp như khái niệm, bản chất, vai trò của kế toán quản trị chi phí, phân loại chi phí theo các tiêu thức, tính giá thành trong các doanh nghiệp, dự toán chi phí sản xuất,… Tác giả đã sử dụng các vấn đề lý luận trên

để trình bày vào phần cơ sở lý luận phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình

Tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang (2011), Giáo trình kế toán quản

trị, nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân, đã tiếp cận các vấn đề chung về kế toán chi phí, phân loại chi phí và tính giá thành sản phẩm, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp, trong đó tác giả chỉ tập trung tiếp cận đến phần kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Tác giả đã tham khảo một số nội dung của phần này để trình

bày vào phần cơ sở lý luận khi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Tác giả PGS.TS Phạm Văn Dược (2010), Kế toán quản trị phần 1 và 2,

NXB Đại học công nghiệp TP Hồ Chí Minh, đã trình bày khái quát chung về

kế toán chi phí và kế toán quản trị Tác giả đã vận dụng các nội dung trong tài liệu này để viết cơ sở lý luận kế toán quản trị chi phí sản xuất trong luận văn của mình

Nguyễn Thị Kim Cường (2010), Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại

Công ty C ổ phần Vinaconex 25, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh Tài liệu

đã trình bày cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp, tác giả đã đi sâu nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí tại công ty

Trang 15

Cổ phần Vinaconex 25, đánh giá và đưa ra các biện pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty Cổ phần Vinaconex 25

Dương Thị Tú Trinh (2010), Hoàn Thiện kế toán quản trị chi phí tại

Công ty c ổ phần Vinaconex 25, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Tài

liệu đã trình bày cụ thể cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp Tác giả tham khảo phần cơ sở lý luận để thực hiện đề tài

nghiên cứu của mình

Phan Thanh Trà (2013), Kiểm soát chi phí xây lắp tại Công ty cổ phần

Vinaconex 25, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Tài liệu đã có những đóng góp lớn trong việc nêu rõ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng, chi phí xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng, lập dự toán chi phí xây lắp Tác giả chỉ tham khảo một số nội dung của phần cơ sở lý luận và một số giải pháp kiểm soát chi phí xây lắp để thực hiện đề tài của

ty Cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ Quảng Nam - Đà Nẵng và từ đó tác giả đưa ra các biện pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty

Trang 16

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí

Các đối tượng quan tâm tới tình hình kinh tế tài chính của một đơn vị gồm hai nhóm cơ bản: bên trong và bên ngoài đơn vị, các đối tượng này có mục tiêu ra quyết định khác nhau và do đó quan tâm tới những góc độ khác nhau dẫn đến sự hình thành 2 hệ thống thông tin kế toán để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng trên, đó là kế toán tài chính và kế toán quản trị, trong đó KTQT là hệ thống thông tin chủ yếu hướng tới nội bộ doanh nghiệp để phục

vụ cho quá trình ra quyết định trong điều hành, giám đốc hoạt động SXKD, lựa chọn phương án kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế và tối ưu nhất cho doanh nghiệp Còn kế toán tài chính là hệ thống thông tin cung cấp các thông tin về sự biến động của vốn trong một kỳ kế toán nhất định để báo cáo tình hình SXKD ra bên ngoài

Do bản chất của KTQT là phục vụ nhu cầu nội bộ, hướng tới đối tượng bên trong DN, bên cạnh đó mỗi DN đều có những nét đặc thù nên quan niệm

về KTQT ở các quốc gia khác nhau, cũng như các doanh nghiệp khác nhau trong một nền kinh tế cũng không giống nhau:

Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế - IFAC tổng kết các khái niệm về KTQT trên thế giới năm 1998, “KTQT là một quy trình định dạng, kiểm soát,

đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của tổ chức cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của Doanh nghiệp”

Trang 17

Theo Viện nghiên cứu KTQT Hoa Kỳ - IMA, “KTQT là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị lập chiến lược kinh doanh, hoạch định, kiểm soát hoạt động,

ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị DN, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ với việc quản trị và kiểm soát nội bộ”

Theo Luật Kế toán Việt Nam số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 06 năm

2003 thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh

tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”

Từ các quan điểm trên có thể thấy bản chất của KTQT là một hệ thống thông tin kế toán có chức năng quản lý trực tiếp và gián tiếp, là quá trình nhận dạng, đo lường, phân tích, truyền đạt không chỉ những thông tin tài chính mà còn có những thông tin phi tài chính cho quản trị DN, phục vụ cho quá trình

ra quyết định, hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát hệ thống

Kế toán chi phí dưới góc nhìn của KTTC là quá trình tính toán, đo lường những chi phí phát sinh theo đúng quy định, chuẩn mực để xác định giá trị ghi

sổ cho đối tượng của kế toán, ví dụ như thông tin về giá thành, giá vốn hàng bán, giá trị hàng tồn kho… để lập các báo cáo tài chính, còn theo KTQT thì

kế toán chi phí có chức năng định dạng, tổng hợp, phân tích, đánh giá và truyền đạt thông tin về chi phí (quá khứ, dự báo, ước tính trong tương lai) của các đối tượng để phục vụ cho việc ra quyết định quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của hoạt động SXKD

Theo tất cả những đánh giá, phân tích trên, tác giả quan niệm “KTQT chi phí là một hệ thống thông tin kế toán, là một chức năng của quản lý, nhằm thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá, tổng hợp và cung cấp thông tin về chi phí của

tổ chức cho các nhà quản trị phục vụ cho việc ra quyết định trong việc hoạch

Trang 18

định, tổ chức thực hiện, kiểm soát, đánh giá hệ thống để sử dụng có hiệu quả nguồn lực, nâng cao giá trị tổ chức”

1.1.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp

Nhiệm vụ cụ thể của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp bao gồm:

a Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung

kế toán quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng thời kỳ

Đới tượng nhận thông tin kế toán quản trị chi phí là ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về kế toán quản trị chi phí cho các đối tượng ở bên ngoài DN Phạm

vi KTQT chi phí không bị giới hạn và quyết định bởi nhu cầu thông tin về KTQT chi phí của DN trong tất cả các khâu của quá trình tổ chức, quản lý SXKD, lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành, ra quyết định, Kỳ KTQT chi phí thường là tháng, quý, năm như kỳ kế toán tài chính Doanh nghiệp được quyết định kỳ KTQT chi phí khác theo yêu cầu của mình, có thể là ngày, tuần hoặc bất kỳ thời gian nào

b Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán

Kế toán quản trị chi phí thường là phương tiện để ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả chi phí nói riêng và hoạt động của DN nói chung Chính vì vậy, KTQT chi phí phải biết xây dựng các đinh mức kinh tế kỹ thuật, biết lập dự toán chi phí, tiên liệu kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã đề ra

c Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo KTQT chi phí

DN được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hóa các tài khoản kế toán, thiết

Trang 19

kế các mẫu báo cáo KTQT cần thiết phục vụ cho KTQT chi phí của bản thân

DN DN được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính, để phối hợp và phục vụ cho KTQT chi phí

d Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của ban lãnh đạo Doanh nghiệp

Ban lãnh đạo DN phải lập kế hoạch và ra quyết định đối với toàn bộ các hoạt động SXKD của DN Theo đó KTQT phải thu thập, xử lý, phân tích thông tin trong suốt quá trình từ lúc mua hàng hóa, nguyên liệu, xác định được chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng ngành hoạt động, từng loại dịch vụ, từ đó tập hợp được các dữ kiện cần thiết để phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh cũng như dự kiến được phương hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp

1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc

tế trong môi trường kinh doanh cạnh tranh càng ngày càng khốc liệt, khi mà các doanh nghiệp không phải là người quyết định giá bán của sản phẩm, giá bán này do thì quy luật cung cầu trên thì trường tự điều tiết, để theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đặt ra một nhiệm vụ là phải kiểm soát chặt chẽ chi phí, cùng với nó vai trò của KTQT chi phí càng ngày càng được khẳng định

vị thế và xu hướng phát triển tại các doanh nghiệp trong nền kinh tế Những thông tin của KTQT chi phí mang lại sự thành công cho các nhà quản trị, cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế do có thể kiểm soát tốt chi phí, tối thiểu hóa chi phí đầu vào, gia tăng khoảng các doanh thu và chi phí, tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị doanh nghiệp

KTQT rất cần thiết cho quá trình xây dựng kế hoạch trong các DN vì nó cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết định về kế hoạch, nhưng trong quản trị DN việc lập kế hoạch thôi chưa đủ mà quan trọng hơn là cần

Trang 20

những thông tin liên quan đến việc thực hiện kế hoạch, KTQT đã xây dựng hệ thống các báo cáo có dạng so sánh, các nhà quản trị sử dụng các báo cáo này

để kiểm tra, đánh giá trong các lĩnh vực mà họ cần quan tâm, xem xét và điểu chỉnh, tổ chức thực hiện các mục tiêu đặt ra

Như vậy, trong hoạt động kinh doanh, nhà quản trị phải điều hành các hoạt động hàng ngày, lập kế hoạch cho tương lai, giải quyết vấn đề và thực hiện một khối lượng lớn các quyết định thường xuyên và không thường xuyên Tất cả những điều này đòi hỏi phải có các thông tin đặc biệt khác nhau

từ KTQT Do đó, KTQT là hệ thống đo lường, thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp các thông tin về kinh tế tài chính phục vụ cho yêu cầu quản trị DN trong việc lập kế hoạch, điều hành, theo dõi, thực hiện kế hoạch trong phạm

vi nội bộ Doanh nghiệp

1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.2.1 Đặc điểm hoạt động xây dựng cơ bản

Hoạt động kinh doanh của DN xây lắp gồm các giai đoạn cơ bản:

- Lập hồ sơ tham gia đấu thầu

- Ký kết hợp đồng xây dựng

- Khảo sát xây dựng

- Lựa chọn nhà thầu phụ (nếu có), mua sắm vật tư, thiết bị xây dựng

- Thực hiện thi công

- Kiểm nghiệm công trình khi hoàn thành

- Quyết toán công trình

1.2.2 Đặc điểm sản phẩm xây lắp

Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.Nó tạo nên cơ sở

Trang 21

vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước Hơn thế nữa, đầu tư XDCB gắn liền với việc ứng dụng các công nghệ hiện đại do

đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chất Nó có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích luỹ nói riêng với vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực XDCB

So với các ngành sản xuất khác, XDCB có những đặc điểm riêng sau:

- Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ xã hội để tránh bị lạc hậu Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần phải phù hợp với văn hoá dân tộc Trên thực tế,

đã có không ít các công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia,

do đó chất lượng của các công trình xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý

Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình và còn ảnh hưởng tới sự

an toàn cho người sử dụng

- Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về mặt kinh

tế, chính trị, kế toán, nghệ thuật Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị

dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Những đặc điểm này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng

- Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao

và đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau,

Trang 22

các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác dộng rất lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa, nắng, lũ, lụt đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những biến động này để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu của nó

- Sản phẩm xây dựng là sản phẩm đơn chiếc và được tiêu thụ theo cách riêng Các sản phẩm được coi như tiêu thụ trước khi được xây dựng theo giá trị dự toán hay giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ bởi vì sản phẩm xây lắp là hàng hoá đặc biệt

- Sản phẩm xây dựng mang tính chất cố định, nơi sản xuất đồng thời là nơi sử dụng sản phẩm.Do điều kiện như vậy nên việc phục vụ cho sản xuất thi công, về máy móc thiết bị, nhân lực, vật tư… phải di chuyển theo địa điểm sản xuất dẫn đến công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư, tiền vốn cũng trở nên phức tạp hơn đặc biệt đối với máy thi công, vật tư luân chuyển tham gia vào nhiều công trình trong một kỳ hạch toán

- Sản xuất XDCB thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trường, thiên nhiên, thời tiết và do đó việc thi công xây lắp ở một mức độ nào đó mang tính chất thời vụ Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường, thời tiết thuận lợi Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng thi công, có thể sẽ phát sinh các khối lượng công trình phải phá đi làm lại và các thiệt hại phát sinh do ngừng sản xuất, DN cần có kế hoạch điều động cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành

Tóm lại, cần chú ý đến những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm xây lắp, trong quá trình tiêu thu sản phẩm xây lắp để đưa ra các quyết định cho phù hợp và có tác dụng thiết thực đối với việc tổ chức SXKD của DN xây lắp

Trang 23

1.2.3 Đặc điểm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

Chi phí xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới, cải tạo, mở rộng công trình Do đặc điểm của quá trình sản xuất và quá trình xây dựng nên mỗi công trình có chi phí xây dựng riêng được xác định theo quy mô, đặc điểm, tính chất kỹ thuật và yêu cầu công nghệ của quá trình xây dựng

Trong DN xây lắp, do đặc điểm sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất nên ngoài những khoản mục chi phí sản xuất thông thường còn phát sinh thêm một số khoản mục chi phí như: chi phí vận chuyển máy thi công đến công trường, chi phí huy động công nhân, chi phí lán trại cho công nhân, chi phí kho nhà xưởng bảo quản vật tư trong quá trình thi công, chi phí đảm bảo giao thông đi lại thuận lợi cho con người và các phương tiện lưu thông trên đường Vì vậy công tác hạch toán CPSX trong DN xây lắp rất phức tạp, trong

đó có những khoản chi phí chung cần phân bổ đến từng công trình, từng hạng mục cụ thể, kế toán xây dựng cần có cách thức phân bổ phù hợp để phục vụ công tác quản lý chi phí, giá thành theo công trình

Chi phí thầu phụ cũng là một loại chi phí đặc thù trong xây dựng Chi phí này phát sinh khi DN thuê ngoài thi công một phần công trình Kế toán thường hạch toán khoản chi phí này như một dịch vụ mua ngoài Trong quá trình thi công nếu chủ đầu tư chưa chuyển tiền về thì đơn vị xây lắp phải vay vốn và trả lãi vay Khi công trình được bàn giao, đưa vào sử dụng, có thể phát sinh các chi phí liên quan đến sửa chữa, bảo hành công trình, kế toán cần phải trích trước các khoản dự phòng bảo hành công trình Tất cả những khoản chi phí này cần được vốn hóa vào giá trị sản phẩm xây lắp

Trong chi phí xây dựng, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như gạch ngói, cát, đá, xi măng, sắt, bê tông đúc sẵn, chiếm tỷ trọng lớn (thường là 60-65%) và rất đa dạng về chủng loại, kích cỡ Trong đó có một vài loại nguyên vật liệu dễ bị hư hỏng tùy thuộc vào thời tiết, khí hậu như: xi măng, cát, nên

Trang 24

dễ ảnh hưởng đến CPSX của công ty (đội), cần chú ý đến biện pháp bảo quản

và kiểm soát chi phí Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm khoản 15% trong tổng CPSX tùy theo từng công trình sử dụng nhiều lao động tay nghề cao hay thấp Chi phí sử dụng máy thi công chiếm tỷ trọng cao hay thấp tùy thuộc vào từng công trình thi công bằng máy hay thủ công Trong công tác kế toán chi phí cũng cần dựa vào những đặc điểm này của chi phí để bước đầu có thể đánh giá được mối tương quan của từng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm của từng công trình, hạng mục công trình phục vụ kiểm soát chi phí

13-Đối với công ty xây dựng, với đặc thù sản phẩm mạng tính chất đơn chiếc, giá trị lớn và thời gian thi công kéo dài nên đặt ra yêu cầu trước khi thực hiện thi công, xây lắp cần phải có dự toán Dự toán biểu thị giá xây dựng công trình trên cơ sở thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công được xác định trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Việc tập hợp chi phí thực tế phát sinh, đối chiếu dự toán là một công việc thường và cần thiết của kế toán để kiểm tra chi phí phát sinh đó có phù hợp với dự toán hay không cũng như để kiểm tra tính hiệu quả trong việc quản trị chi phí sản xuất

Do đặc điểm thời gian thi công kéo dài nên việc theo dõi CPSX và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng không chỉ dừng lại ở việc tập hợp và theo dõi chi phí phát sinh trong năm tài chính mà còn phải theo dõi chi phí phát sinh, giá thành và doanh thu lũy kế qua các năm kể từ khi công trình bắt đầu khởi công cho đến thời điểm hiện tại

1.3 NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.3.1 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp

Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp là các thông tin về chi phí sản xuất, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và làm giảm lợi nhuận của DN, do vậy một

Trang 25

yêu cầu đặt ra là cần phải kiểm soát chặt chẽ chi phí của DN Để quản lý được chi phí, cần thiết phải làm rõ các cách phân loại chi phí khác nhau trong kế toán quản trị vì mỗi cách phân loại chi phí đều cung cấp thông tin dưới nhiều góc độ để các nhà quản trị ra quyết định thích hợp

Trong kế toán tài chính, chi phí sản xuất được hiểu như một khoản hao phí bỏ ra để thu được một số sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó Bản chất của chi phí sản xuất là phải mất đi một khoản để đổi lấy một khoản thu về Còn trong KTQT, chi phí được nhìn nhận trong nhiều trường hợp khác nhau, bởi lẽ có rất nhiều khoản chi phí và những chi phí này được sắp xếp, phân loại theo nhiều tiêu thức tùy theo nhu cầu thông tin cần cho việc ra các quyết định Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp (gọi tắt là chi phí xây lắp) là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp của doanh nghiệp ở một thời kỳ nhất định và chi phí này cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp

Chi phí xây lắp có thể được phân loại theo nhiều cách như sau:

- Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế

- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

- Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định

a Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế

Theo cách phân loại này thì chi phí xây lắp được chia thành các khoản mục chi phí như sau:

- Chi phí nguyên v ật liệu trực tiếp: là tất cả các chi phí về NVLTT dùng cho thi công xây lắp như: xi măng, thép, cát, đá,…Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn, khoảng từ 55% - 70% giá trị công trình

- Chi phí nhân công tr ực tiếp: là khoản tiền lương, tiền công, các khoản

khác phải trả cho công nhân trực tiếp thi công; khoản mục chi phí này thường chiếm khoảng 20% - 30% giá trị công trình Đối với các công trình cải tạo thì

Trang 26

chi phí nhân công thường chiếm tỷ trọng lớn hơn

Khoản mục này bao gồm: tiền lương chính của công nhân trực tiếp tham gia xây dựng công trình; tiền lương chính của công nhân vận chuyển vật liệu thi công, công nhân làm nhiệm vụ bảo dưỡng bê tông, công nhân dọn dẹp vật liệu trên công trường, công nhân ghép cốt pha,…; Tiền lương chính của công nhân khuân vác từ kho đến chỗ xây lắp, tiền lương phụ của công nhân thi công, tiền thưởng, tiền ăn ca của công nhân trực tiếp xây lắp

- Chi phí s ử dụng máy thi công: chi phí sử dụng MTC gồm toàn bộ các

chi phí về vật tư, lao động, khấu hao và chi phí bằng tiền trực tiếp cho quá trình sử dụng máy thi công tại công trình xây dựng như: máy đào, máy ủi, xe

lu, xe cẩu, xe bê tông nhựa đường, cần cẩu cố định, xe trộn bê tông tươi, máy tời,… Chi phí sử dụng MTC bao gồm các loại:

+ Chi phí tạm thời: là những chi phí có liên quan đến việc tháo, lắp, chạy thử, vận chuyển,… máy thi công và chi phí cho những công trình tạm thời phục

vụ máy thi công Chi phí này được phân bổ dần theo thời gian máy ở công trường

+ Chi phí thường xuyên: là những chi phí hằng ngày cần thiết cho việc

sử dụng máy thi công, gồm: tiền khấu hao máy móc thiết bị, tiền thuê xe máy, lương chính của công nhân điều khiển điều khiển và phục vụ máy, nhiên liệu, động lực khác dùng cho máy, phí tổn sửa chữa thường xuyên và các chi phí khác

Trong chi phí sử dụng MTC không bao gồm các khoản mục: lương công nhân vận chuyển, phân phối vật liệu cho máy, chi phí trong thời gian máy ngừng sản xuất, chi phí lắp đặt lần đầu cho máy, chi phí sử dụng cho sản xuất phụ, các khoản trích theo lương của công nhân vận hành MTC

- Chi phí s ản xuất chung: là các chi phí chung khác liên quan đến việc

quản lý công trình trong phạm vi tổ (đội) sản xuất thi công xây lắp, bao gồm:

Trang 27

chi phí về tiền lương và các khoản chi phí khác cho nhân viên quản lý tổ (đội) sản xuất, quản lý công trình, chi phí về vật liệu, dụng cụ dùng cho quản lý và các công trình, chi phí lán trại công trình,… các khoản trích theo lương của công nhân vận hành MTC, công nhân xây lắp

Ngoài ra, trong xây dựng thường phát sinh các thiệt hại: thiệt hại phá đi làm lại và thiệt hại về ngừng sản xuất, thiệt hại do thiên tai Đây là những khoản chi phí không có trong kế hoạch và dự toán, là một trong những nhân

tố làm tăng giá thành sản phẩm xây lắp

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam: “Chi phí không được tính vào giá gốc hàng tồn kho gồm: chi phí nhiên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất, kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường”

Đối với các khoản thiệt hại do thiên tai và phá đi làm lại do không đúng

kỹ thuật thiết kế vượt quá mức công suất bình thường thì không được tính vào chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp

b Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Đây là cách phân loại chi phí theo khả năng phản ứng hoặc thay đổi như thế nào của chi phí khí có những thay đổi xảy ra trong các mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh Theo đó chi phí được chia thành ba loại:chi phí khả biến,

chi phí bất biến và chi phí hỗn hợp

- Chi phí kh ả biến (biến phí)

Chi phí khả biến là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với các mức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy

ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức

độ hoạt động thì không đổi

Trong doanh nghiệp xây lắp, biến phí có thể là :

+ Toàn bộ chi phí nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu,

Trang 28

vật liệu sử dụng luân chuyển, vật kết cấu có liên quan trực tiếp đến quá trình thi công xây lắp và cấu thành nên cơ sở vật chất của công trình Không tính vào chi phí này những khoản chi phí mà bên A hoặc do bên A uỷ quuyền cho bên B lắp đặt vào công trình nhận thầu Chi phí nguyên vật liệu chính như cát đá, sắt, thép, xi măng, nhựa đường,… Các chi phí này thường được xây dựng định mức chi phí và quản lý theo định mức đã thiết kế trong hồ sơ thiết kế Chi phí này liên quan đến từng hạng mục công trình, công trình Chi phí NVLTT chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí xây lắp

+ Tiền lương của công nhân liên quan trực tiếp đến quá trình thi công ngoài hiện trường Tiền lương chính và các khoản phụ cấp Chi phí nhân công trực tiếp không tính đến chi phí nhân công khi vận chuyển vật liệu ngoài cự ly công trường, lương nhân viên mua nguyên vật liệu trước khi đến kho công trường, lương công nhân khắc phục các trường hợp sau mưa bão ảnh hưởng đến công trường

Đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp theo phương thức hỗn hợp vừa bằng thủ công vừa kết hợp thi công bằng máy thì trong giá thành xây lắp còn khoản mục chi phí sử dụng MTC Chi phí sử dụng MTC là các chi phí trực tiếp liên quan đến quá trình vận hành máy thi công Nếu doanh nghiệp tính khấu hao thiết bị thi công theo số ca máy hoạt động thì chi phí khấu hao thiết bị thi công cũng được xem là biến phí

- Chi phí b ất biến (định phí)

Chi phí bất biến là những chi phí xét về lý thuyết không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động đạt được Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi cho nên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại Doanh nghiệp hoạt động hay không hoạt động vẫn tồn tại chi phí bất biến Có 2 loại chi phí bất biến: Chi phí bất biến bắt buộc

và chi phí bất biến không bắt buộc

Trang 29

Các định phí phát sinh trong doanh nghiệp xây lắp như:

+ Chi phí nhân viên quản lý công trình: tiền lương và các khoản trích theo lương Ngoài ra còn tính cả chi phí nhân viên về lương và các khoản trích theo lương của nhân viên xây lắp trực tiếp, của nhân viên vận hành MTC, tiền lương công nhân vận chuyển vật liệu ngoài cự ly thi công,…

+ Chi phí vật liệu cho đội xây dựng như vật liệu để sửa chữa bảo dưỡng tài sản cố định, công cụ dụng cụ thuộc đội quản lý, chi phí lán trại,…

+ Chi phí công cụ dụng cụ: như cuốc, xẻng, dụng cụ cầm tay, xe đẩy và các dụng cụ khác cho quản lý đội xây lắp

+ Chi phí khấu hao TSCĐ gồm chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội xây lắp

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài liên quan đến việc thi công xây lắp ngoài hiện trường như điện nước, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thi công

- Chi phí h ỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Các chi phí biểu hiện chi phí hỗn hợp như: chi phí điện thoại cố định trong dịch vụ viễn

thông - chi phí thuê bao là định phí, phí trả theo thời gian sử dụng là biến phí

Chi phí nhân công trực tiếp, trường hợp trả lương vừa bao gồm theo thời gian và theo sản phẩm, phần trả theo thời gian là định phí, phần trả theo sản phẩm là biến phí

Như vậy có thể thấy, phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động là cách phân loại chi phí đặc biệt quan trọng trong việc phục vụ cho nhà quản lý hoạch định, kiểm tra và ra quyết định Phân biệt chi phí giúp cho nhà quản trị xác định đúng phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả chi phí

Trang 30

sản xuất kinh doanh

c Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định

Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí của doanh nghiệp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác Nổi bật nhất là việc xem xét trách nhiệm của các cấp quản lý đối với các loại chi phí phát sinh Các nhà quản lý nên nhìn nhận đúng đắn sự thích đáng của các loại chi phí khác nhau phục vụ cho việc phân tích, so sánh để ra quyết định lựa chọn

phương án tối ưu trong các tình huống

- Chi phí ki ểm soát được và chi phí không kiểm soát được

+ Chi phí kiểm soát được: Là những chi phí mà ở một cấp quản lý nào

đó nhà quản trị xác định được một cách chính xác sự phát sinh của nó, đồng thời nhà quản trị cũng có thẫm quyền quyết định về loại chi phí đó, như: Chi phí quảng cáo riêng ở cửa hàng, người cửa hàng trưởng quyết định được mức chi tiêu,…

+ Chi phí không kiểm soát được: Là những chi phí mà nhà quản trị không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó, hoặc không có thẩm quyền quyết định về loại chi phí đó, như: Chi phí quảng cáo chung do công ty phân

bổ, người cửa hàng trưởng không quyết định được mức chi tiêu,…

- Chi phí tr ực tiếp và chi phí gián tiếp

+ Chi phí trực tiếp: Là các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng, do vậy

có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng, như: chi phí NVLTT và chi phí NCTT

+ Chi phí gián tiếp: Là các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục

vụ và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ phù hợp, như: Chi phí SXC, chi phí

Trang 31

bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháp hạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí

- Chi phí l ặn

Chi phí lặn được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau Hiểu một cách khác, chi phí lặn được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dù nhà quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chính vì vậy, chi phí lặn

là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý Tuy nhiên trong thực tế, việc nhận diện được chi phí lặn cũng như sự nhận thức rằng chi phí lặn cần được loại bỏ trong tiến trình ra quyết định không phải lúc nào cũng dễ dàng

- Chi phí chênh l ệch

Chi phí chênh lệch (còn được gọi là chi phí khác biệt) chỉ xuất hiện khi

so sánh chi phí gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương

án tối ưu Chi phí chênh lệch còn được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương án so với một phương án khác

Có 2 dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, hoặc là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích bộ phận chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định

Trang 32

nhưng cần phải được xem xét trước khi lựa chọn phương án thực hiện

Công dụng: cung cấp thông tin để người quản lý ra quyết định

1.3.2 Lập dự toán chi phí xây dựng công trình

Dự toán là những tính toán dự kiến một cách toàn diện và phối hợp làm căn cứ để huy động, sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, được xác định bằng một hệ thống các chỉ tiêu về sản lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai

Lập dự toán trong các doanh nghiệp xây lắp có ý nghĩa hết sức quan trọng, điều này thể hiện:

- Thông qua dự toán, nhà quản trị cũng dự tính được trong tương lai cần phải làm gì, kết quả đạt được của những hoạt động đó, từ đó có những phương án cụ thể, hợp lý để điều hành quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin dự toán chi phí có thể cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định thực hiện hợp đồng xây lắp với mức giá bao nhiêu là phù hợp

- Trên cơ sở lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cụ thể, tạo điều kiện cho các nhà quản trị doanh nghiệp quản lý chặt chẽ từng khoản mục chi phí, lường trước được những khó khăn và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý các chỉ tiêu, đồng thời có sự điều chỉnh hợp lý các phương án đã lựa chọn nhằm đạt hiệu quả cao nhất

- Dự toán làm cơ sở cho việc phân tích tình hình biến động của chi phí, xác định rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán, từ đó đảm bảo cho nhà quản trị biết được thực chất về quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó có các điều chỉnh cho phù hợp

Dự toán công trình được tính toán và xác định theo công trình xây dựng

cụ thể, trên cơ sở khối lượng các công việc, thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản

vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình, hạng mục công

Trang 33

trình và hệ thống định mức xây dựng, giá xây dựng công trình

Dự toán công trình là cơ sở để xác định giá gói thầu, giá xây dựng công trình, là căn cứ để đàm phán, ký kết hợp đồng, thanh toán với nhà thầu trong trường hợp chỉ định thầu

Nội dung cụ thể các khoản mục chi phí xây dựng trong dự toán công trình như sau:

Chi phí xây dựng: được xác định cho công trình, hạng mục công trình,

bộ phận, phần việc, công tác của công trình, hạng mục công tình đối với công trình chính, công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công, nhà tạm để ở

và điều hành thi công

Chi phí xây dựng bao gồm: chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng

Xác định chi phí xây dựng: căn cứ vào điều kiện cụ thể của công trình để quyết định phương pháp lập dự toán

+ Chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công trong chi phí trực tiếp được xác định theo khối lượng và đơn giá xây dựng công trình hoặc giá xây dựng tổng hợp của công trình

Chi phí trực tiếp khác được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên tổng chi phí vật liệu, nhân công, chi phí máy thi công tùy theo đặc điểm, tính chất của từng loại công trình

+ Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí trực tiếp hoặc bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công trong dự toán theo quy định đối với từng loại công trình

+ Thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí trực tiếp và chi phí chung theo quy định đối với từng loại công trình + Thuế giá trị gia tăng cho công tác xây dựng áp dụng theo quy định hiện hành

Trang 34

+ Chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công được tính bằng tỷ lệ 2% trên tổng chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước đối với các công trình đi theo tuyến như đường dây tải điện, đường dây thông tin bưu điện, đường giao thông, kênh mương, đường ống, các công trình thi công dạng tuyến khác và bằng tỷ lệ 1% đối với các công trình còn lại

Bảng 1.1 Cách lập dự toán chi phí xây lắp

STT Khoản mục chi phí Ký hiệu Cách tính

J D Q

1

1

nc n

j

nc j

III Thu nh ập chịu thuế tính trước TL (T+C) x Tỷ lệ

Chi phí xây dựng trước thuế G T+ C+ TL

D , , : Chi phí vật liệu, nhân công, MTC trong đơn giá xây dựng

Trang 35

chi tiết hoặc tổng hợp một nhóm công tác hoặc một đơn vị kết cấu, bộ phận thứ j của công trình

- Knc, Kmtc: Hệ số điều chỉnh nhân công, máy thi công

- Định mức tỷ lệ chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước được quy định theo thông tư 04/2010/TT-BXD

- G: Chi phí xây dựng công trình, HMCT trước thuế

- GXD : Chi phí xây dựng công trình, HMCT sau thuế

xây dựng nhà tạm

1.3.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp

a Kế toán tập hợp chi phí

* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí NVLTT xây lắp là

những chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp Chi phí NVLTT xây lắp không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho MTC và sử dụng cho quản lý đội công trình Nguyên vật liệu sử dụng cho xây lắp HMCT nào thì tính trực tiếp cho HMCT đó trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan, theo số lượng thực tế đã sử dụng và theo giá xuất kho Cuối kỳ hạch toán, khi công trình hoàn thành phải tiến hành kiểm kê số nguyên vật liệu chưa sử dụng hết ở các công trường, bộ phận sản xuất để tính số vật liệu thực tế sử dụng cho công trình, đồng thời phải hạch toán đúng đắn số nguyên vật liệu thu hồi

(nếu có) theo từng công trình hay địa điểm thi công

* K ế toán chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí NCTT bao gồm tiền

Trang 36

lương, tiền công phải trả cho công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp kể cả công nhân vận chuyển bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài Tiền lương phải trả cho công nhân liên quan đến công trình, HMCT nào thì phải hạch toán trực tiếp cho công trình, HMCT đó trên cơ sở các chứng từ gốc

về lao động và tiền lương Trong điều kiện sản xuất xây lắp không cho phép tính trực tiếp chi phí nhân công cho từng công trình, HMCT thì kế toán phải phân bổ chi phí NCTT cho các đối tương theo tiêu thức thích hợp Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp được tính vào chi phí SXC của

hoạt động xây lắp

* Kế toán chi phí sử dụng máy thi công:

Máy thi công là các loại xe máy chạy bằng động lực được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình như: máy trộn bê tông, cần cẩu, Các loại phương tiện thi công này có thể do doanh nghiệp tự trang bị hoặc thuê

ngoài

Chi phí sử dụng MTC là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng MTC và được chia thành hai loại: chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời

- Chi phí thường xuyên: là những chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng xe máy thi công, được tính thẳng vào giá thành của ca máy Chi phí này bao gồm: tiền khấu hao máy móc thiết bị, tiền thuê xe máy, lương chính của công nhân điều khiển điều khiển và phục vụ máy, nhiên liệu, động lực khác dùng cho máy, phí tổn sửa chữa thường xuyên và các chi phí khác

- Chi phí tạm thời: là những chi phí có liên quan đến việc tháo, lắp, chạy thử, vận chuyển,… máy thi công và chi phí cho những công trình tạm thời phục vụ máy thi công Chi phí này được phân bổ dần theo thời gian máy ở công trường

Trang 37

* Kế toán chi phí sản xuất chung:

Chi phí SXC trong doanh nghiệp xây lắp là các chi phí có liên quan đến

việc tổ chức, phục vụ và quản lý công trình trong phạm vi tổ (đội) sản xuất thi công xây lắp, bao gồm: chi phí về tiền lương và các khoản chi phí khác cho nhân viên quản lý tổ (đội) sản xuất, quản lý công trình, chi phí về vật liệu, dụng cụ dùng cho quản lý và các công trình, chi phí lán trại công trình,… các khoản trích theo lương của công nhân vận hành MTC, công nhân xây lắp Kế toán phải tiến hành tập hợp chi phí SXC theo từng nơi phát sinh chi phí (đội xây lắp, xí nghiệp xây lắp, ), sau đó phân bổ chi phí sản xuất chung cho các

công trình, HMCT có liên quan theo tiêu thức hợp lý

Do thông tin về giá thành sản phẩm sản xuất là rất quan trọng đối với việc ra quyết định quản lý và đòi hỏi có tính kịp thời mà phương pháp xác định chi phí thực tế không đáp ứng được nên các doanh nghiệp có thể tiến hành ước tính chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm sản xuất bằng việc áp dụng phương pháp chi phí thực tế kết hợp với chi phí ước tính Theo phương pháp này, chi phí của sản phẩm sản xuất được tính toán bằng cách cộng các chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí sử dụng MTC thực tế và chi phí SXC

Trang 38

ước tính phát sinh trong quá trình sản xuất Quá trình tính toán tỷ lệ chi phí SXC xác định trước như sau:

Đầu năm tài chính, doanh nghiệp tiến hành ước tính tổng chi phí SXC sẽ phát sinh trong năm và ước tính mức độ phát sinh của tiêu thức sẽ sử dụng để tính toán tỷ lệ chi phí SXC xác định trước (gọi là tiêu thức phân bổ) Tỷ lệ chi phí SXC xác định trước được tính theo công thức:

Tổng chi phí SXC ước tính

Tỷ lệ % chi phí

SXC xác định trước = Tổng tiêu thức phân bổ ước tính ×100% Trong kỳ, khi tiến hành sản xuất sản phẩm, kế toán sẽ tiến hành xác định mức độ thực tế của tiêu thức phân bổ và tính chi phí SXC phân bổ cho các sản phẩm sản xuất trong kỳ theo công thức trên

Chi phí SXC

phân bổ =

Mức độ thực tế của tiêu thức phân bổ ×

Tỷ lệ % chi phí SXC ước tính Cuối năm tài chính, phần chênh lệch giữa chi phí SXC thực tế phát sinh với chi phí SXC đã được phân bổ được xử lý vào tài khoản giá vốn hàng bán (nếu chênh lệch nhỏ) hoặc phân bổ vào ba tài khoản: giá vốn hàng bán, thành phẩm và chi phí sản xuất kinh doanh dở dang theo tỷ lệ với số dư của các tài khoản đó trước khi có các bút toán khóa sổ cuối kỳ (nếu chênh lệch lớn)

* Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp chi phí trực tiếp và phương pháp chi phí toàn bộ

Theo phương pháp chi phí toàn bộ, tất cả các chi phí tham gia vào quá trình sản xuất như chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí sử dụng MTC và chi phí SXC đều được tính vào giá thành sản phẩm sản xuất, không có sự phân biệt giữa các chi phí cố định và chi phí sản xuất biến đổi Điều này phù hợp theo các nguyên tắc của kế toán tài chính là tất cả các chi phí tham gia vào việc tạo ra tài sản thì phải được tính vào giá trị của tài sản

Trang 39

Theo phương pháp chi phí trực tiếp (còn gọi là phương pháp chi phí biến đổi) giá thành sản phẩm sản xuất chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi, còn các chi phí sản xuất cố định được coi là chi phí thời kỳ và được tính vào chi phí thời kỳ ngay trong kỳ kinh doanh

Phương pháp

Phương pháp trực tiếp

Nguyên vật liệu trực tiếp Nhân công trực tiếp Biến phí sản xuất chung

Chi phí

sản phẩm

Định phí sản xuất chung

Chi phí sản phẩm Chi phí bán hàng

Chi phí

thời kỳ Chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí thời kỳ

Sơ đồ 1.1: Sự khác nhau giữa hai phương pháp xác định chi phí

Tùy theo mục đích sử dụng thông tin mà KTQT chi phí áp dụng phương pháp thích hợp Phương pháp chi phí toàn bộ có ích cho nhà quản lý trong việc ra các quyết định chiến lược, ví dụ về mặt dài hạn giá bán sản phẩm phải

bù đắp được cả các chi phí biến đổi và chi phí cố định để sản xuất sản phẩm Ngược lại, phương pháp chi phí trực tiếp sẽ có ích hơn trong việc đánh giá hoạt động của nhà quản lý vì lợi nhuận báo cáo theo phương pháp này phản ánh đúng đắn hơn thực chất kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.4 Kiểm soát chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

Công tác kiểm tra, kiểm soát là một chức năng quan trọng trong KTQT Việc kiểm tra trước, trong và sau các quá trình KTQT không chỉ nhằm mục đích đánh giá trách nhiệm, thành tích của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận mà còn hỗ trợ cho việc tổ chức thực hiện cũng như điều chỉnh dự toán đã được lập của doanh nghiệp

và làm cơ sở dự toán cho các kỳ sau Vì vậy, nhiệm vụ của công tác kiểm tra là phải xác định chênh lệch giữa giá trị dự toán xây lắp và giá trị xây lắp thực hiện

Trang 40

Mục tiêu kiểm tra phải trả lời được các câu hỏi sau:

- Công tác lập dự toán của đơn vị được thực hiện như thế nào

- Cơ sở lập dự toán có đáng tin cậy không, có sát thực tế không

- Số liệu dự toán có bám sát mục tiêu doanh nghiệp đặt ra không

- Các giải trình để thực hiện được những số liệu đã dự toán

- Số liệu thực tế phải được theo dõi, ghi chép, phản ảnh lên các báo cáo

- So sánh số liệu thực tế với dự toán để xem xét xem doanh nghiệp có đạt được dự toán đã đặt ra hay không

- Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự biến động các khoản mục chi phí xây lắp

a Phân tích biến động chi phí NVLTT

Bảng 1.2: Phân tích biến động chi phí NVLTT

Σ Lượng NVL tiêu hao

có sự gian lận trong quá trình mua NVL Trường hợp có sự biến động về giá

cả giữa thời điểm lập dự toán với thời điểm thi công thì cần điều chỉnh chênh

Ngày đăng: 22/02/2023, 19:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w