Đặc biệt thông tin chi phí do kế toán quản trị cung cấp chủ yếu phục vụ cho yêu cầu quản lí của doanh nghiệp, nó điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vàlà cơ
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 7
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 7
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 7
1.1.2 Sự phát triển của KTQT chi phí ở các nước và sự vận dụng ở Việt Nam 9
1.1.3 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí 11
1.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ PHỤC VỤ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 13
1.2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động 13
1.2.2 Phân loại chi phí theo cách ứng của chi phí 14
1.2.3 Phân loại chi phí phục vụ kiểm tra và ra quyết định 16
1.3 LẬP DỰ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT 18
1.4 KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM……… 21
1.5 KIỂM SOÁT CHI PHÍ SẢN XUẤT 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Trang 42.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY PROCIMEX VIỆT NAM 282.1.1 Giới thiệu về Công ty 282.1.2 Quátrình hình thành và phát triển của Công ty 292.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạtđộng sản uất của Công ty và quy trình công nghệ……… 302.1.4 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty 342.1.5 Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty 372.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PROCIMEX VIỆT N AM 392.2.1 Phân loại chi phí tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam… 39 2.2.2 Công tác lập dự toán .42 2.2.3 Kế toán chi phí và tính giá thành tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam……… 452.2.4 Công tác kiểm soát chi phí sản uất tại Công ty .52 2.2.5 Đánh giá tổng hợp KTQT chi phí sản uất tại Công ty cổ phẩn Procime Việt Nam 55KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
Trang 5NAM…… 60
3.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PROCIMEX VIỆT NAM 60
3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện 60
3.1.2 Yêu cầu hoàn thiện 61
3.2 MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PROCIMEX VIỆT NAM 63
3.2.1 Hoàn thiện phân loại chi phí theo cách ứng của chi phí phục vụ cho kế toán quản trị chi phí tại Công ty 63
3.2.2 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí linh hoạt ở Công ty 69
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp tính giá thành 74
3.2.4 Hoàn thiện báo cáo và phân tích chi phí phục vụ kiểm soát chi phí tại Công ty .75
3.2.5 Tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí sản uất tại công ty 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 6BHXH Bảo hiểm ã hội
Trang 7Số hiệu
2.6 Bảng tổng hợp giá và khối lƣợng Cá ngừ phi lê thu mua trong
2.7 Bảng khối lƣợng Cá ngừ phi lê cho sản uất trong tháng 12-2012 48
3.1 Bảng phân loại chi phí sán xuất theo cách ứng ứ của chi phí 55
3.6 Bảng dự toán biến phí đơn vị cho các mặt hàng Tháng 12 năm
Trang 83.8 Bảng tổng hợp giá thành theo sản phẩm tháng 12 năm 2012 74
Trang 9Số hiệu Tên hình Trang
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay Việt Nam đã gia nhập vàoWTO, có nghĩa là nước ta đã hoàn toàn tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa Điều này đã đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh ra những thị trường mới, đồng thời các doanh nghiệp cũng đứng trước những thách thức và
sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt
Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải có đầy đủ những thông tin liên quan đến những hoạt động kinh doanh của mình và những thông tin đó phải kịp thời, chính ác để có thể chớp lấy thời cơ và ra những quyết định đúng đắn
Để đáp ứng được yêu cầu này hệ thống kế toán phải hình thành nên hai phân
hệ là kế toán tài chính và kế toán quản trị Trong đó, kế toán quản trị có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản lý sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp Đặc biệt thông tin chi phí do kế toán quản trị cung cấp chủ yếu phục vụ cho yêu cầu quản lí của doanh nghiệp, nó điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vàlà cơ sở để các nhà quản lí đưa ra các quyết định tối ưu Tuy nhiên, việc vận dụng hệ thống kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng ở các doanh nghiệp chưa được quan tâm và thực hiện một cách khoa học Dẫn đến các thông tin chi phí cung cấp cho nhà quản lí chưa hợp lí, kịp thời và chính xác Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm công tác kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất là hết sức cần thiết và cấp bách
Công ty cổ phần Procimex Việt Nam đã và đang tổ chức kế toán quản trị trong đó tập trung vào kế toán quản trị chi phí nhằm cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh Song thực tế kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng chưa được tổ chức khoa học
Trang 11mà vẫn còn mang nặng nội dung của kế toán tài chính Hiện tại, nhu cầu s dụng thông tin chi phí còn tự phát, các công việc của kế toán quản trị chi phí được thực hiện đan en giữa nhiều bộ phận mà chưa có bộ phận chuyên trách
Do đó, việc tìm hiểu để hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty là một yêu cầu rất thiết thực nhằm giúp công ty hoàn thành nhiệm
vụ và tạo thế đứng vững vàng trên thị trường
Xuất phát từ nhận thức mang tính khách quan cả về lý luận và thực tiễn,
tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại
Công ty cổ phần Procimex Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhằm mục đích làm rõ bản chất, vai trò và đặc điểm của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất
Bên cạnh đó luận văn còn nghiên cứu thực tiễn về kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần Procimex Việt Nam và đánh giá kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất phù hợp với đặc thù của Công ty
3 Câu hỏi nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu KTQT chi phí sản uất tại Công ty cổ phần Procimex Việt Nam còn những vấn đề gì cần phải hoàn thiện?
Áp dụng những giải pháp gì để hoàn thiện KTQT chi phí sản uất tại Công ty cổ phần Procimex Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu
Trang 12những vấn đề về lí luận, thực trạng kế toán quản trị chi phí sản uất tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản uất tại Công ty này
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu vấn đề về hoạt động sản uất các mặt hàng
thủy sản tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam, số liệu s dụng trong đề tài
được thu thập trong năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn s dụng phương pháp quan sát và mô tả nhằm mô tả thực trạng hoạt động sản uất kinh doanh tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam
Phương pháp giải thích được vận dụng để giải thích hiện tượng quan sát được dựa vào cơ sở lý thuyết có liên quan Qua đó đánh giá những ưu điểm, nhược điểm về KTQT chi phí sản uất tại Công ty
Phương pháp tổng hợp và suy diễn được vận dụng nhằm đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện KTQT chi phí sản uất ở Công ty Phương pháp suy diễn dựa vào cơ sở lý thuyết về KTQT chi phí sản uất, đối chiếu với thực
trạng KTQT chi phí sản uất
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn nghiên cứu, hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản uất trong doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng công tác công tác kế toán quản trị chi phí sản uất tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam, từ đó đánh giáthực trạng tình hình chi phí sản uất của công ty
- Trên cơ sở lý thuyết và thực trạng tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam luận văn đề uất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi
Trang 13Công ty
7 Tổng quan tài liệu
Vấn đề KTQT trong đó có KTQT chi phí sản uất đóng vai trò quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường có cạnh tranh Nó được coi là công cụ quản lý hữu hiệu bởi tính linh hoạt, hữu ích và kịp thời của thông tin kế toán
phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ của doanh nghiệp KTQT chi phí sản uất là
nội dung có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát , tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm tối đa hóa lợi nhuận và tăng cường khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp Vì vậy việc nghiên cứu kế toán quản trị chí
sản uất được nhiều tác giả quan tâm đến Đối với đề vấn đề này đã được nhiều bài báo, tạp chí kế toán đã đề cập đến như:
Tác giả ThS Phạm Ngọc Toàn (2012) có bài viết đăng trên tạp chí Kế
toán và Kiểm toán số 2/2011 (89) về “Tổ chức công tác kế toán quản trị phục
vụ cho các quyết định ngắn hạn” Qua bài viết này tác giả đã đề uất một số
vấn đề nhằm tăng cường hiệu quả đối với việc ra quyết định ngắn hạn của nhà quản trị doanh nghiệp Bên cạnh đó còn đề cập đến các giải pháp hỗ trợ việc thực hiện các quyết định ngắn hạn của nhà quản trị
Tác giả TS Trần Hải Long (2012) có bài viết đăng trên tạp chí Kế toán
và Kiểm toán số 12/2012 (111)về “Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất
trong doanh nghiệp” Bài viết đã đề cập đến việc lập dự toán chi phí sản uất,
tổ chức KTQT chi phí trong doanh nghiệp Qua bài viết này tác giả đã giúp chúng ta hiểu được rằng để phát huy được vai trò của KTQT nói chung và vai trò của KTQT chi phí nói riêng nhằm giúp các nhà quản trị có những quyết định hiệu quả, các doanh nghiệp cần ây dựng và lựa chọn cho doanh nghiệp mình một mô hình KTQT chi phí sao cho phù hợp
Bài viết của tác giả PGS.TS Phạm Văn Dược (2009) được đăng trên tạp
Trang 14chí kế toán số 77 về “giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động trong doanh nghiệp” Tác giả đã đề cập đến các giải pháp để kiểm
soát chi phí trong doanh nghiệp đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Từ đó có thể cung cấp kiến thức hữu ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp có định hướng vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý doanh nghiệp
Đối với các luận văn, đầu tiên có thể kể đến đó là nghiên cứu trong lĩnh
vực thủy sản của tác giả Dương Thị Yến (2012) với đề tài “Tổ chức kế toán
quản trị chi phí tại công ty chế biến và xuất kh u thủy sản Th uang thuộc công ty xuất nhập kh u thủy sản Miền Trung”-Luận văn thạc sĩ quản trị kinh
doanh, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về KTQT chi phí, nghiên cứu thực tiễn về đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý, cơ cấu bộ máy kế toán,
đi sâu tìm hiểu thực trạng tổ chức KTQT chi phí tại công ty Đồng thời đã đưa
ra nhận ét và đánh giá khách quan về thực trạng công tác tổ chức KTQT chi phí tại công ty từ đó đề uất giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức KTQT chi phí tại công ty
Trong lĩnh vực thủy sản còn có đề tài nghiên cứu của tác giả Đinh Tuyết
Diệu (2011) nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ
phần Thực ph m Xuất nhập kh u Lam Sơn”-Luận văn thạc sĩ quản trị kinh
doanh, chuyên ngành kế toán, đại học Đà Nẵng Trong luận văn này đã đánh giá được thực trạng chi phí sản uất tại doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện KTQT chi phí sản uất tại doanh nghiệp Tuy nhiên luận văn chủ yếu đi vào đặc trưng của doanh nghiệp sản uất thủy sản nên đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác KTQT chi phí sản uất uất phát từ đặc thù
Trang 15Trong lĩnh vực dệt may của tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh(2010) với
đề tài “ Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Tổng Công ty Cổ phần dệt may
Hòa Th ” -Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành kế toán, Đại
học Đà Nẵng Luận văn đi sâu vào việc nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị sản uất tại Công ty Qua đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện Kế toán quản trị chi phí sản uất tại Tổng Công ty
Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị và đề uất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp sản uất uất khẩu
Chính vì vậy, vấn đề mà Luận văn cần tập trung nghiên cứu là kế toán quản trị chi phí sản uất trong doanh nghiệp sản uất mà cụ thể ở đây là tại Công ty cổ phần Procime Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu về bản chất, vai trò và nội dung của kế toán quản trị chi phí sản uất
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN
XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Hệ thống kế toán Việt Nam đang được chuyển đổi phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường, thông lệ và chuẩn mực quốc tế về kế toán Việc phân định giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị là một trong các yêu cầu cần thiết đang được sự quan tâm của các chuyên gia kế toán và những người s dụng thông tin kế toán
Kế toán tài chính là việc thu thập, lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu s dụng thông tin của đơn vị kế toán
Kế toán quản trị là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo cho việc s dụng có hiệu quả các tài sản
và quản lý chặt chẽ các tài sản này
Theo Điều 4, Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thu thập, lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" 1 Tuy nhiên, có thể định nghĩa đầy đủ về kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị kế toán Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến
Trang 17việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị
Định nghĩa đầy đủ trên đây tập trung vào mục đích, nội dung của kế toán quản trị Mục đích cơ bản của kế toán quản trị là cung cấp thông tin giúp cho nhà quản trị đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động của một tổ chức Còn kế toán tài chính là cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, cơ quan thuế, ngân hàng, cổ đông, nhà cung cấp, Với mục đích khác nhau nên nội dung của kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng có nhiều điểm khác nhau Thông tin của kế toán tài chính thường phản ánh quá khứ tuân theo các chuẩn mực, chế
độ kế toán hướng dẫn Còn thông tin của kế toán quản trị thường hướng về tương lai, hiện tại và rất linh hoạt Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà còn cung cấp thông tin phi tài chính về quá trình hoạt động trong nội bộ tổ chức cũng như môi trường bên ngoài tổ chức Kỳ của báo cáo tài chính thường theo chế độ quy định Còn kế toán quản trị kỳ báo cáo phụ thuộc vào yêu cầu quản trị nội bộ
Bên cạnh khái niệm kế toán quản trị, kế toán tài chính, còn có khái niệm
kế toán chi phí Kế toán chi phí vừa cung cấp thông tin cho các đối tượng s dụng bên ngoài, vừa cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ Thông tin kế toán chi phí cung cấp vừa mang tính linh hoạt thường uyên, vừa mang tính chuẩn mực và định kỳ Rõ ràng là kế toán chi phí vừa có mặt trong kế toán tài chính, vừa có mặt trong kế toán quản trị Bộ phận kế toán chi phí có trong kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí Và như vậy, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị đó là lập kế hoạch, kiểm soát, đánh
giá và ra quyết định
Trang 181.1.2 Sự phát triển của KTQT chi phí ở các nước và sự vận dụng ở Việt Nam
Cùng với sự ra đời và phát triển của kế toán nói chung, KTQT chi phí nói riêng cũng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài:
- Sự phát triển của KTQT chi phí diễn ra vào đầu thế kỷ XIX Cuối thế
kỷ XIX, KTQT chi phí được s dụng rộng rãi trong các cơ sở sản uất Chủ các ưởng dệt ở Mỹ lưu giữ những bản ghi chi phí chi tiết, ác định chi phí cho từng công đoạn kéo sợi, dệt vải, nhuộm vải Các nhà quản lý các hãng xe
l a đã áp dụng các hệ thống kế toán chi phí khá lớn và phức tạp có thể tính toán chi phí cho các mức hàng chuyên chở khác nhau Các ưởng thép cũng
có các bản ghi chi tiết về chi phí nguyên vật liệu và nhân công, những thông tin này trợ giúp việc nâng cao hiệu quả quản lý và định giá sản phẩm Hầu hết các cách thức của kế toán chi phí và kế toán nội bộ thực hiện trong thế kỷ XX đều được bắt đầu phát triển trong giai đoạn 1880 – 1925
- Sau những năm cuối thập niên 1920, KTQT chi phí hầu như không có những bước phát triển mới Các nhà nghiên cứu cũng chưa tìm ra những lý do chính ác cho sự chững lại của kế toán quản trị chi phí trong giai đoạn này Nhưng thông tin về chi phí trên các báo cáo của kế toán tài chính được yêu cầu cao hơn có thể là một trong những nguyên nhân để hệ thống KTQT chi phí hầu như chỉ tập trung vào việc đáp ứng các yêu cầu đó và sao nhãng việc cung cấp thông tin chi phí một cách chi tiết hơn về từng sản phẩm riêng lẻ Đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong khi các nền kinh tế khác đều kiệt quệ thì nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng, chiếm một n a tổng giá trị sản phẩm của cả thế giới Với bối cảnh như vậy, các công ty Mỹ không thấy có sức ép về nhu cầu thông tin đối với lợi nhuận của từng loại sản phẩm đơn lẻ Những năm 1950 – 1960 cũng có một số nỗ lực nhằm nâng cao tính
Trang 19những nỗ lực này chủ yếu tập trung vào việc làm cho các thông tin kế toán tài chính có ích hơn đối với nội bộ
- Đến tận thập niên 1960, 1970 nền kinh tế thế giới không chỉ có sự thống trị của một mình kinh tế Mỹ, mà với sự phát triển của các nền kinh tế
Âu – Á, đặc biệt là nền kinh tế Nhật Bản, cạnh tranh giữa các nền kinh tế này ngày càng gay gắt, dẫn đến nhu cầu cần có một hệ thống kế toán quản trị chi phí hiệu quả hơn, hiện đại hơn Chính vì vậy, trong những năm cuối thế kỷ
XX có rất nhiều đổi mới trong hệ thống KTQT chi phí được thực hiện ở các nước Mỹ, Âu, Á Hệ thống KTQT chi phí được thiết kế lại để đáp ứng các nhu cầu thông tin thay đổi do sự thay đổi của cách thức sản uất và phân phối các sản phẩm Hệ thống KTQT chi phí không chỉ cần thiết trong các đơn vị sản uất mà còn cần thiết trong cả các đơn vị kinh doanh dịch vụ Các phương pháp KTQT chi phí mới được ra đời và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, như các phương pháp target costing (chi phí mục tiêu), Kaizen costing (chi phí hoàn thiện liên tục)…
- Ở Việt Nam, trước những năm 1990, với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các đơn vị không phải chịu sức ép cạnh tranh nên không thấy nhu cầu cần phải có hệ thống KTQT chi phí Khái niệm KTQT chi phí không tồn tại trong ý niệm của các nhà quản lý cũng như trên thực tế, mặc dù các chế độ kế toán thời đó cũng có những dáng dấp của hệ thống KTQT chi phí Cùng với
sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về KTQT và KTQT chi phí uất hiện tại Việt Nam từ đầu những năm 1990 và được nghiên cứu có
hệ thống từ những năm 1999, tuy nhiên thực tế áp dụng KTQT tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế
Trang 201.1.3 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí
a Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Các tổ chức trong ã hội dù thuộc nhóm nào cũng đều cần thông tin kế toán Doanh nghiệp cần thông tin kế toán để theo dõi chi phí và kết quả kinh doanh trong từng kỳ kế toán; Tổ chức nhà nước cần thông tin kế toán để đánh giá mức độ cung cấp các dịch vụ phục vụ công cộng; tổ chức phi lợi nhuận cần thông tin kế toán để theo dõi hoạt động của tổ chức, ác định mức độ phục vụ ã hôi Như vậy đối với bất kỳ một tổ chức nào thì thông tin kế toán đều có vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với hoạt động của tổ chức
đó và chính thông tin kế toán lại có ảnh hưởng quyết định đến mức độ đạt được các mục tiêu
Có hai loại đối tượng s dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức
và nội bộ tổ chức Đối tượng s dụngthông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế Đối tượng s dụng thông tin kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận) trong tổ chức Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần những thông tin với các tính chất khác nhau Bên ngoài tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của tổ chức Các nhà quản
lý nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tương lai cho tổ chức
Trong quá trình hoạt động sản uất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí phát sinh ở tất cả các giai đoạn, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy, thông tin chi phí giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin hoạt động của doanh nghiệp Dưới góc độ kế toán tài
Trang 21phát sinh trong tổ chức theo đúng nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá trị thành phẩm, giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên các báo cáo kế toán Dưới góc độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ; các hoạt động và các bộ phận của tổ chức phục
vụ cho các quyết định quản trị sản uất, định hướng kinh doanh, thương lượng với khách hàng, điều chỉnh tình hình sản uất theo thị trường; phục
vụ tốt hơn quá trình kiểm soát chi phí, đảm bảo tính tiết kiệm, hiệu quả và gia tăng năng lực cạnh tranh
Như vậy kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tài chính vừa có trong hệ thống kế toán quản trị, trong đó bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy ét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí có bản chất là một bộ phận của hoạt động quản
lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin về chi phí hoạt động kinh doanh của một
tổ chức
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí phục vụ chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các họat động, nhằm ây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý
b.Vai trò của kế toán quản trị chi phí
KTQT là công cụ quản trị, một công cụ rất quan trọng trong quá trình hoạch định và kiểm soát chi phí, thu nhập, tính toán hiệu quả quá trình kinh doanh nhằm đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn Thật vậy, quá trình sản uất kinh doanh của một doanh nghiệp ở bất kỳ hình thái kinh tế ã hội nào, thành phần kinh tế nào muốn đạt được hiệu quả cao cũng cần phải biết được
Trang 22thông tin về tình hình hoạt động kinh tế tài chính một cách kịp thời, đầy đủ, chính ác và trung thực Những thông tin về tình hình chi phí mà các doanh nghiệp đã chi ra cho từng hoạt động kinh doanh, từng địa điểm kinh doanh hoặc từng loại sản phẩm Những thông tin về thu nhập và ác định kết quả sản uất kinh doanh theo từng hoạt động, địa điểm hoặc sản phẩm đó chỉ có thể nhận biết được một cách cụ thể thông qua việc thu nhận, lý và cung cấp thông tin của KTQT Trên cơ sở các thông tin đã thu nhận được, KTQT có nhiệm vụ phân tích, diễn giải, lập dự toán chi tiết để phục vụ cho nhà quản trị lựa chọn, quyết định phương án tối ưu nhất trong quản lý Việc quyết định đưa vào sản uất sản phẩm nào đó, sản lượng là bao nhiêu, chi phi và lợi nhuận ở mức nào, tại sao chi phí thực tế với dự tính vượt và phải có biện pháp
gì để giảm thấp chi phí, tăng lợi nhuận Những vấn đề này chỉ có thể quyết định được khi nhà quản trị có đầy đủ số liệu do KTQT cung cấp Hoạt động quản trị doanh nghiệp là quá trình liên tục từ khâu lập kế hoạch đến khâu tổ chức kiểm tra thực hiện kế hoạch vì thế không thể thiếu những thông tin do KTQT cung cấp
Mục đích và yêu cầu của KTQT là phải tính toán được chi phí của từng hoạt động kinh doanh, từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ hoặc từng địa điểm kinh doanh; phân tích chi tiết được kết quả của từng hoạt động, từng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ đó Tập hợp được các số liệu cần thiết để phác hoạ, lập kế hoạch kinh doanh cho tương lai Ngoài ra, KTQT còn phải tính toán nhu cầu thị trường nhằm có kế hoạch ổn định chương trình sản uất, bán hàng hợp lý và đưa ra các biện pháp cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển doanh nghiệp theo hướng có lợi nhất
1.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ PHỤC VỤ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 1.2.1.Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Trang 23động có chức năng khác nhau trong quá trình sản uất kinh doanh mà chúng phục vụ, chi phí đƣợc chia thành hai loại là chi phí sản uất và chi phí ngoài sản uất
- Chi phí sản uất chung: là những chi phí để sản uất ra sản phẩm nhƣng không kể chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Chi phí sản uất chung bao gồm chi phí khấu hao TSCĐ s dụng trong sản uất và quản lý sản uất, chi phí s a chữa bảo trì, chi phí quản lý phân ƣởng
1.2.2 Phân loại chi phí theo cách ứng của chi phí
Mối quan hệ giữa chi phí với hoạt động đƣợc gọi là cách ứng của chi
Trang 24phí Có 3 loại chi phí: biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp
a Biến phí
Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ theo mức độ hoạt
động của doanh nghiệp nhưng không thay đổi khi tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động Chi phí biến đổi rất quan trọng đối với mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, kiểm soát tốt chi phí biến đổi sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Biến phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng khác nhau:
+ Biến phí thực thụ: là các biến phí mà sự biến động của chúng thực sự thay đổi theo tỷ lệ thuận với biến động của mức độ hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng
+ Biến phí cấp bậc: là những loại chi phí không biến động liên tục so với sự biến động liên tục của mức độ hoạt động Sự hoạt động phải đạt đến một mức độ nào đó mới dẫn đến sự biến động về chi phí như: chi phí tiền lương của bộ phận bảo dưỡng, s a chữa máy móc, thiết bị, chi phí điện, nước
Định phí
Định phí là những chi phí không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt
động đạt được Vì tổng số chi phí định phí là không thay đổi cho nên, khi mức
độ hoạt động tăng thì chi phí định phí tính theo đơn vị các mức độ hoạt động
sẽ giảm và ngược lại
+ Định phí bắt buộc: là những loại chi phí liên quan đến việc s dụng tài sản dài hạn và không thể cắt giảm đến không cho dù mức độ hoạt động được giảm uống hoặc khi hoạt động sản uất bị gián đoạn như chi phí khấu hao TSCĐ, tiền lương nhân viên quản lý
+ Định phí không bắt buộc: là những chi phí có thể thay đổi trong từng
kỳ kế hoạch do nhà quản trị quyết định Định phí này có hai đặc điểm đó là có
Trang 25bản chất ngắn hạn và trong những trường hợp cần thiết người ta có thể cắt
giảm chúng đi như chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo, nghiên cứu
c hi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hổn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí Thông thường ở mức độ hoạt động quá căn bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí như chi phí điện thoại
Phần định phí của chi phí hỗn hợp hợp thường phản ảnh chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì phục vụ và để giữ dịch vụ đó luôn luôn ở tình trạng phục
1.2.3 Phân loại chi phí phục vụ kiểm tra và ra quyết định
Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí của Doanh nghiệp còn được phân thành các loại chi phí sau:
a) Chi phí trực tiếp v chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp là những chi phí khi phát sinh được tính trực tiếp vào các đối tượng s dụng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp
- Chi phí gián tiếp là những chi phí khi phát sinh không thể tính trực tiếp cho một đối tượng nào đó mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù hợp như chi phí sản uất chung sẽ được phân bổ theo số giờ lao động trực
Trang 26tiếp, số giờ máy chạy, số lượng sản phẩm
hi phí kiểm soát được v chi phí không kiểm soát được
Một khoản chi phí được em là chi phí kiểm soát được hoặc chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là tùy thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay không
Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị có quyền quyết định hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát sinh chi phí
Chi phí không kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị không có quyền quyết định hoặc không có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát sinh chi phí Chi phí không kiểm soát được ở bộ phận nào đó thường thuộc hai dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lý của bộ phận hoặc là các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiểm soát từ cấp quản lý cao hơn như chi phí khấu hao các phương tiện kho hàng, chi phí phát sinh ở bộ phận bán hàng nhưng lại là chi phí không kiểm soát được đối với người quản lý bán hàng bởi vì quyền quyết định cách thức tính khấu hao của nó hay quyết định ây dựng các kho hàng thuộc về bộ phận quản lý DN
c hi phí chênh lệch
Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương án so với một phương án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, hoặc là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí
ở các phương án khác nhau Chi phí chênh lệch là những thông tin để người quản lý lựa chọn phương án
d hi phí cơ hội
Trong hoạt động kinh doanh, bất kỳ một khoản mục chi phí nào phát
Trang 27sinh đều được phản ánh và theo dõi trên các sổ sách kế toán Tuy nhiên, có một loại chi phí hoàn toàn không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng, cần được em ét đến mỗi khi nhà quản lý lựa chọn các phương án kinh doanh, đầu tư Đó là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội được định nghĩa là lợi ích (lợi nhuận) tiềm tàng bị mất đi khi chọn một phương án này
1.3 LẬP DỰ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
Dự toán là các kế hoạch chi tiết mô tả việc huy động và s dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định
Lập dự toán là phục vụ cho việc hoạch định và kiểm soát hoạt động kinh doanh, bao gồm:
- Cụ thể hóa các mục tiêu kinh doanh để làm căn cứ đánh giá mức độ thực hiện sau này
- Cung cấp thông tin một cách có hệ thống toàn bộ kế hoạch của doanh nghiệp, tính toán được các nguồn lực và lường trước được những khó khăn để
Trang 281.3.1 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản uất đã được thể hiện trên
dự toán khối lượng sản phẩm sản uất Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần ác định:
- Sản lượng sản phẩm sản uất theo kế hoạch
- Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản uất một sản phẩm
- Đơn giá nguyên vật liệu
1.3.2 Dự toán chi phí nhân c ng trực tiếp:
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được ây dựng từ dự toán khối lượng sản uất Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Đối với chi phí nhân công trực tiếp, để lập dự toán doanh nghiệp cần ây dựng:
- Sản lượng sản phẩm sản uất theo kế hoạch
- Định mức lao động để sản uất sản phẩm
- Đơn giá giờ công hoặc đơn giá tiền công cho một đơn vị sản phẩm nếu Doanh nghiệp trả lương theo sản phẩm
1.3.3 Dự toán chi phí sản uất chung:
Chi phí sản uất chung bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí, nên dự toán chi phí sản uất chung phải tính đến cách ứng của chi phí để ây dựng định mức phí dự toán hợp lý trong kỳ
-Dự toán biến phí sản uất chung:
Biến phí sản uất chung có thể được lập theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động ( chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp ) Tuy nhiên thường làm cách này khá phức tạp, tốn nhiều thời gian Do vậy khi
dự toán chi phí này, người ta thường ác định biến phí sản uất chungcho từng đơn vị hoạt động Biến phí sản uất chung được thực hiện theo
Trang 29Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khi đó biến phí sản uất được ác định như sau:
Dự toán biến phí
Dự toán biến phí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phí sản uất chung
- Dự toán định phí sản uất chung:
Dự toán định phí sản uất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc và định phí tùy ý
+ Đối với các yếu tố định phí sản uất chung bắt buộc: căn cứ vào định phí sản uất chung hàng năm chia đều cho 4 quý để ác định định phí SXC hàng quý
+ Đối với các yếu tố định phí sản uất chung tùy ý: căn cứ vào kế hoạch nhà của nhà quản trị trong kỳ dự toán Dự toán định phí hằng năm có thể được lập dựa vào mức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh nghiệp Lập dự toán định phí sản uất chung tùy ý được ác định như sau:
Dự toán định phí
sản uất chung =
Định phí SXC thực tế kỳ trước x
Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí SXC theo dự kiến Căn cứ vào dự toán biến phí và dự toán định phí sản uất chung tổng hợp thành dự toán chi phí sản uất chung:
Trang 301.4 KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.4.1 Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
- Đối tượng tập hợp chi phí: Là phạm vi được ác định trước để tập hợp
chi phí Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là ác định giới hạn các
bộ phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí phục vụ cho tính giá thành
- Đối tượng tính giá thành: Là kết quả của quá trình sản uất hoặc quá
trình cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành để phục vụ các yêu cầu của quản lý Xác định đối tượng tính giá thành thường gắn với yêu cầu của nhà quản trị về kiểm soát chi phí, định giá bán và ác định kết quả kinh doanh về một đối tượng, một hoạt động nào đó
1.4.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản uất và tính giá thành
Tùy thuộc vào yêu cầu thông tin để lập báo cáo phục vụ quản lý mà kế
toán tập hợp chi phí sản uất và tính giá thành có thể được thực hiện theo 2 phương pháp:
- Phương pháp toàn bộ:
Là phương pháp mà tất cả các chi phí tham gia vào quá trình sản uất sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản uất chung) đều được tính vào giá thành sản phẩm sản uất hoàn thành Cơ sở tính các chi phí này vào giá thành được chuẩn mực kế toán chấp nhận như là một nguyên tắc khi ác định giá gốc của thành phẩm ở doanh
nghiệp sản uất
Phương pháp tính giá thành toàn bộ gồm hai hệ thống tính giá thành sản
Trang 31quá trình sản uất
Kế toán tài chính s dụng phương pháp này nhằm mục đích lập báo cáo tài chính theo quy định Trên phương diện kế toán quản trị chi phí, áp dụng phương pháp này có ích cho nhà quản lý trong việc ra các quyết định chiến lược Thí dụ, về mặt dài hạn giá bán sản phẩm phải bù đắp được cả các chi phí biến đổi và chi phí cố định để sản uất sản phẩm Tuy nhiên phương pháp này không đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập các kế hoạch linh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản uất khác nhau và các quyết định về giá bán sản phẩm với mức sản lượng khác nhau
Phương pháp này được s dụng trong kế toán quản trị để ác định giá bán của sản phẩm, lập dự toán, lập báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, phân
tích mối quan hệ C-V-P
1.5 KIỂM SOÁT CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.5.1 Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắn liến với các nhân tố về giá và nhân tố lượng có liên quan
Trang 32Nhân tố về lượng: Là chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu trực tiếp ở
kỳ thực tế với lượng nguyên vật liệu trực tiếptheo dự toán để sản uất ra sản phẩm nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ra sao
Biến động về lượng nếu là kết quả dương thể hiện lượng vật liệu s dụng thực tế nhiều hơn so với dự toán và ngược lại Nhân tố lượng s dụng thường
do nhiều nguyên nhân, gắn liền với trách nhiệm của bộ phận s dụng vật liệu (phân ưởng, tổ, đội) Đó có thể là do khâu tổ chức sản uất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản uất… Ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu hao nhiều Khi tìm hiểu nguyên nhân biến động về lượng cũng cần em đến các nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, mất điện,
Nhân tố giá: Là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệu trực tiếp kỳ thực tế với giá nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản uất ra lượng sản phẩm nhất định Nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì nó phản ánh giá của một đơn
vị nguyên vật liệu để sản uất ra một đơn vị sản phẩm đã thay đổi như thế nào
so với dự toán
Ảnh hưởng biến động về giá có thể âm hay dương Nếu ảnh hưởng là âm chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn so với giá vật liệu dự toán đặt ra Tình hình này được đánh giá tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng dương thể hiện giá vật liệu tăng so với dự toán và sẽ làm tăng tổng chi phí sản uất của doanh nghiệp Xét trên phương diện các trung tâm trách nhiệm thì biến động về giá gắn liền với trách nhiệm của bộ phận cung ứng vật
tư Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân do biến động của giá vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng nguyên
Trang 331.5.2 Kiểm soát chi phí nhân c ng trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí như chi phí công đoàn, chi phí BHXH, chi phí BHYT, chi phí BHTN của công nhân trực tiếp vận hành từng quá trình sản uất Biến động của công nhân trực tiếp gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan
Nhân tố về lượng: Là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản uất sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi
về số giờ công để sản uất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công hay còn gọi là nhân tố năng suất Ảnh hưởng của nhân tố lượng thể hiện như sau: Nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: có thể là trình độ, năng lực của người lao động thay đổi, điều kiện trang bị máy móc thiết bị và chính sách lương của doanh nghiệp Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đến chi phí sản uất có thể do chính quán trình sản uất của doanh nghiệp hoặc vì biến động của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Nhân tố về giá: Là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực
tế so với dự toán để sản uất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản uất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp
Biến động do giá thương do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công lao động như chế độ lương, tình hình thị trường cung cầu lao động, chính sách của nhà nước… Nếu ảnh hưởng tăng(giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hoặc tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp, thì việc kiểm soát chi phí nhân công còn cho phép làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm làm ảnh hưởng đến công tác quản
lý và tính giá thành Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng của công nhân tức trình độ và năng lực
Trang 34làm việc của công nhân Nếu giảm giá so với dự toán nhưng chất lượng và số lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại Việc phân tích biến động chi phí sản uất theo các khoản mục và nhân tố về giá, nhân tố về lượng giúp người quản lý phát hiện, em ét các yếu tố đã gây ra biến động nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp
1.5.3 Kiểm soát chi phí sản uất chung
Chi phí sản uất chung biến động là do sự biến động biến phísản uất chung và biến động định phí sản uất chung
- Kiểm soát biến động biến phí sản uất chung
Biến phí sản uất chung gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục
vụ và quản lý hoạt động sản uất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản uất của doanh nghiệp như: chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, tiền lương bộ phận quản lý trả theo sản phẩm gián tiếp, chi phí năng lượng thay đổi theo số lượng sản phẩm sản uất…
Biến động của biến phí sản uất chung do nhiều nguyên nhân nhưng về phương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành nhân tố lượng và nhân tố giá như đối vơi CPNVLTT và CPNCTT
Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí sản uất chung thường do sự thay đổi của các mức chi phí được em là biến phí sản uất chung Các mức này thay đổi thường do nhiều nguyên nhân như: đơn giá mua vật tư gián tiếp cũng như các chi phí thu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổi mức lương…Nếu biến phí sản uất chung được thay đổi được ây dựng cho nhiều yếu tố chi phí theo mức hoạt động thì ảnh hưởng của nhân tố giá được ác định
- Kiểm soát biến động định phí sản uất chung
Trang 35Định phí sản uất chung là các chi phí phục vụ và quản lý sản uất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm
vi phù hợp Chẳng hạn, tiền lương bộ phận quản lý phân ưởng trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm, tiền thuê mặt bằng, khấu hao tài sản cố định… là những chi phí không thay đổi theo quy mô sản uất trong phạm vi hoạt động Biến động định phí sản uất chung thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản uất của doanh nghiệp hoặc do hiệu quả s dụng năng lực sản uất của doanh nghiệp
Kiểm soát định phí sản uất chung nhằm đánh giá việc s dụng năng lực tài sản cố định
Khi phân tích định phí sản uất chung, người ta cần phải em ét định phí tùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được với định phí không kiểm soát được để ác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể các
bộ phận
Việc s dụng kém hiệu quả năng lực sản uất ảy ra khi công ty sản uất thấp hơn dự toán đặt ra hoặc thấp hơn năng lực bình thường dẫn đến biến động không tốt Ngược lại, việc s dụng hiệu quả năng lực sản uất khi doanh nghiệp sản uất vượt trội mức sản uất dự toán (các điều kiện khác không đổi)
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán quản trị là công cụ cung cấp thông tin kịp thời cho việc thực hiện các chức năng quản trị trong doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí là một nội dung hết sức quan trọng của kế toán quản trị, thực hiện lý và cung cấp thông tin chi phí cho các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh, bởi hầu hết các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp đều liên quan đến chi phí Chương này của luận văn đi sâu nghiên cứu bản chất, vai trò và nội dung kế toán quản trị chi phí sản uất
Đây là những tiền đề làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng công tác
kế toán quản trị chi phí sản uất cũng như định hướng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản uất tại Công ty Cổ phần Procime Việt Nam
Trang 37đồng
Công ty cổ phần Procime Việt Nam với các lĩnh vực kinh doanh khác
nhau như: Chế biến - uất khẩu thuỷ sản: Sản phẩm chủ đạo của Công ty là
cá ngừ phi lê ngoài mặt hàng cá còn có các mặt hàng thủy sản giá trị gia tăng truyền thống khác như mực sami, tôm Các sản phẩm của Công ty được tiêu thụ với doanh số lớn ở nhiều thị trường trên toàn thế giới bao gồm Nhật, Châu
Âu, Mỹ, Châu Á, Châu Úc; Sản uất - kinh doanh thức ăn nu i thuỷ sản: Công ty sản uất, kinh doanh các loại thức ăn nuôi tôm, cá trên dây
chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, theo qui trình kiểm soát chặt chẽ, hệ số tiêu tốn thức ăn tối ưu, tổng hợp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho thuỷ sản nuôi Ngoài ra còn thực hiện các dịch vụ kỹ thuật công nghệ, vật tư,
thiết bị phục vụ nuôi trồng thuỷ sản; Kinh doanh dịch vụ kho vận: Công ty
có hệ thống kho bảo quản lạnh với công suất lớn được đầu tư tại cả 2 khu vực
là Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh thỏa mãn tốt mọi nhu cầu cấp đông và
bảo quản lạnh các loại thuỷ hàng sản, súc sản, nông sản; Kinh doanh vật tư
Trang 38nhập khẩu: Kinh doanh vật tư nhập khẩu là lĩnh vực kinh doanh truyền
thống, chuyên nghiệp của Procime Việt nam với hơn 25 năm kinh nghiệm,
đã khẳng định được thương hiệu, uy tín của một nhà cung cấp, một nhà bán buôn và bán lẻ lớn của các đối tác, khách hàng trong và ngoài nước Tuy nhiên thực tế hiện nay hoạt động chính của Công ty hiện nay là tập trung vào sản uất chế biến và uất khẩu các mặt hàng thủy sản
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của C ng ty
Công ty Cổ Phần Procime Việt Nam, tiền thân là í nghiệp giết mổ gia súc gia cầm thuộc Công ty Nông sản thực phẩm Quảng Nam – Đà Nẵng, Công ty được thành lập năm 1977
Năm 1990, đơn vị được tách ra và đổi tên là Xí nhiệp chế biến thực phẩm đông lạnh uất khẩu, kinh doanh hàng Đông lạnh uất khẩu, sản phẩm chính là thịt súc sản uất sang thị trường Liên Xô theo đúng chất lượng và sản lượng Năm 1992-1993 Công ty nâng cấp phát triển sản uất ngành Hải sản: Tôm, cá, mực Năng suất nhà máy từ 5 tấn/ngày và mở rộng thị trường uất khẩu sang các nước Châu Á
Năm 1994, Xí nghiệp được đổi tên thành Công ty Kinh doanh chế biến hàng uất nhập khẩu Quảng Nam Đà Nẵng Công ty không ngừng phát triển
và được bổ sung chức năng kinh doanh hàng nhập khẩu, thị trường mở rộng sang khối Liên minh châu Âu, kỹ thuật chế biến càng tiến bộ, công nghệ được nâng cấp
Năm 1997, sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng , Thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương, Công ty vẫn tiếp tục hoạt động
Ngày 20/10/1999 đổi tên thành CÔNG TY KINH DOANH CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU ĐÀ NẴNG ( Tên viết tắt : PROCIMEX )
Trang 39Được sự hỗ trợ của các ngành chức năng, Công ty từng bước tháo gỡ khó khăn về vốn, ký nhiều hợp đồng với khách hàng, chủ động mở thêm hai chi nhánh mới tại Hồ Chí Minh và Hải Phòng
Tháng 1/2008 chuyển đổi CÔNG TY KINH DOANH CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU ĐÀ NẴNG theo quyết định 8797/QĐ-UB của UBND Thành phố Đà Nẵng thành CÔNG TY CỔ PHẦN PROCIMEX VIỆT NAM
Năm 2008-2013 cổ phần hóa Công ty dưới sự chỉ đạo hoạt đông của Hội đồng Quản trị công ty
2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản uất của C ng ty và quy trình
c ng nghệ
Tương ứng với nhịp độ phát triển của ã hội để sản phẩm của Công ty có sức cạnh tranh và đứng vững trên thương trường thì Công ty không ngừng mở rộng quy mô sản uất cải tiến quy trình công nghệ trong những năm đầu,máy móc thiết bị còn thiếu đồng bộ, các máy làm lạnh công suất nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu nhưng đến náy nhà máy đã đầu tư cải thiện các loại máy có công suất lớn vàdây chuyền tự động nên sản phẩm của nhà máy được nâng cao cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Do đặc điểm của ngành thuỷ sản nói chung và Công ty nói riêng, sản phẩm sản uất ra gồm nhiều loại Chúng phải trải qua một số công đoạn liên tiếp mới trở thành sản phẩm hoàn thành
Có thể mô tả quy trình công nghệ sản uất sản phẩm của Công ty như sau: