Microsoft Word LUANVAN TRAM17 doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG HÀ THỤY PHÚC TRẦM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG VƯƠNG LUẬN VĂN THẠC[.]
Trang 1HÀ THỤY PHÚC TRẦM
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG VƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2HÀ THỤY PHÚC TRẦM
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG VƯƠNG
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MẠNH TOÀN
Trang 3Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hà Thụy Phúc Trầm
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 7
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 7
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí 9
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp 10
1.2 VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 11
1.2.1 Vai trò của Công ty trong hoạt động sản xuất xây lắp 11
1.2.2 Đặc điểm sản phẩm xây lắp 12
1.2.3 Đặc điểm chi phí và phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 13
1.3 NỘI DUNG KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 20
1.3.1 Lập dự toán chi phí xây dựng 20
1.3.2 Phương pháp tập hợp và xác định chi phí sản xuất 25
1.3.3 Kiểm soát chi phí 26
1.3.4 Tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Trang 52.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY CP CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG
VƯƠNG 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Cty CP Cơ điện và Xây lắp Hùng Vương 34
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 36
2.1.3 Quy trình hoạt động xây lắp của công ty 38
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty CP Cơ điện và Xây lắp Hùng Vương 39
2.1.5 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây lắp Hùng Vương 43
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG VƯƠNG 45
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất 45
2.2.2 Thực trạng công tác lập dự toán chi phí tại Công ty CP Xây lắp và Cơ điện Hùng Vương 47
2.2.3 Công tác hạch toán và tập hợp chi phí sản xuất tại Công ty 59
2.2.4 Thực hiện kiểm soát chi phí 73
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỐ PHẦN CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG VƯƠNG .74
2.3.1 Những kết quả đạt được 74
2.3.2 Tồn tại 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78
Trang 63.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG YÊU CẦU PHẢI HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CP CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG VƯƠNG 79 3.2 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN VÀ XÂY LẮP HÙNG VƯƠNG 80
3.2.1 Hoàn thiện về mô hình tổ chức Kế toán quản trị chi phí 80 3.2.2 Hoàn thiện về phân loại chi phí sản xuất tại Công ty 81 3.2.3 Hoàn thiện việc hạch toán và tập hợp chi phí sản xuất tại Công ty84 3.2.4 Hoàn thiện lập báo cáo chi phí 85 3.2.5 Hoàn thiện phân tích chi phí phục vụ công tác kiểm soát chi phí 90
3.3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 97
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100 KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 7BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
CCDC : Công cụ dụng cụ
CPNCTT : Chi phí nhân công trực tiếp CPNVLTT : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp CPSDMTC : Chi phí sử dụng máy thi công CPSXC : Chi phí sản xuất chung
DNXL : Doanh nghiệp xây lắp
GTGT : Giá trị gia tăng
KPCĐ : Kinh phí công đoàn
Trang 81.1 Phân loại chi phí theo phương pháp chi phí toàn
bộ và phương pháp chi phí trực tiếp
25
2.2 Giá trị sản xuất kinh doanh qua các năm 2009 - 2011 35
2.4 Bảng dự toán tổng hợp nguyên vật liệu thi công hạng
mục công trình
50
2.10 Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thi công 62
2.12 Bảng hợp hợp chi phí sản xuất xây lắp 73 2.13 Bảng so sánh chi phí sản xuất xây lắp 74 3.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí tại Công ty
Cổ phần Cơ điện và Xây lắp Hùng Vương
82
3.2 Kết hợp hệ thống tài khoản KTQT và KTTC 84
3.7 Bảng phân tích tình hình biến động nguyên vật liệu 92
Trang 9Số hiệu Tên sơ đồ Trang
1.1 Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp 11 1.2 Cách xây dựng định mức chi phí sản xuất 24 2.1 Sơ đồ tổ chức Ban chỉ huy công trường 36 2.2 Tóm tắt quy trình hoạt động xây lắp của Công ty 38
2.4 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại công ty 44 2.5 Quản lý việc hoàn thành chứng từ của các đội xây dựng 45 2.6 Quy trình lập kế hoạch chi phi sản xuất tại công ty 48 3.1 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí 80
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị, một tổ chức và ngày càng giữ vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành, kiểm soát các hoạt động kinh tế của các đơn vị, có ý nghĩa quan trọng cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tuỳ theo mục đích khác nhau
Xuất phát từ yêu cầu và tính chất của thông tin cung cấp, thông tin kế toán được chia thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị Thông tin kế toán tài chính chủ yếu cung cấp cho các đối tượng bên ngoài đơn
vị sử dụng để ra các quyết định hữu ích tuỳ từng đối tượng Thông tin kế toán quản trị chỉ cung cấp cho các nhà quản trị nội bộ đơn vị để ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Kế toán quản trị (KTQT) mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã thực sự trở thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của đơn vị
Ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ
có hệ thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục
vụ cho công tác quản lý và ra quyết định hầu như chưa có Đồng thời, việc triển khai ứng dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước
ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy, chế độ hướng dẫn về hệ thống
kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh nghiệp, còn kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với các doanh nghiệp trong thời gian gần đây
Trang 11Mặc dù vậy, kế toán quản trị vẫn được coi là một hoạt động thiết yếu trong một tổ chức để giúp lãnh đạo xem xét, đánh giá các hoạt động của tổ chức nhằm đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất
Hơn nữa, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh việc quản lý tốt chi phí luôn được doanh nghiệp quan tâm và đặt lên hàng đầu Kiểm soát và quản lý tốt chi phí là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, hiệu quả nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Chính vì vậy, việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững trên thương trường
Ngành xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Việc triển khai và ứng dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý tại các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Qua quá trình nghiên cứu thực tế tổ chức công tác kế toán tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương cũng không nằm ngoài xu thế đó và công tác kế toán quản trị cũng còn bộc lộ những mặt hạn chế nhất định cần phải hoàn thiện Việc hoàn thiện công tác kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí nói riêng tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương là cần thiết, điều đó sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, điều hành của công ty nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường khả năng hội nhập và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí nói riêng cả trên phương diện lý luận và
thực tiễn, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương” nhằm
góp phần vào việc nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Công ty Cổ Phần
Trang 12Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương nói riêng và các doanh nghiệp xây lắp nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp xây lắp
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương, từ đó đánh giá thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty về những tồn tại, hạn chế cần khắc phục và đưa ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan
- Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã nghiên cứu tác giả đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương góp phần cung cấp thông tin hữu ích phục vụ công tác quản lý công ty hiệu quả hơn trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương ngoài hoạt động xây lắp còn có hoạt động sản xuất công nghiệp (sản xuất chế tạo sản phẩm máy móc, khung kèo thép, tư vấn thiết kế …) Tuy nhiên hiện nay, giá trị sản xuất hoạt động xây lắp vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, khoảng 90% Vì vậy mà luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu và hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho hoạt động xây lắp của Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp: Các giáo trình, tạp chí và các công trình của các tác giả đã nghiên cứu trước
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp: Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trực tiếp tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương, phương pháp thực hiện là phỏng vấn Đối tượng được phỏng vấn: giám đốc, kế toán trưởng,
Trang 13chỉ huy công trường, kỹ thuật, nhân viên phòng Kỹ thuật chất lượng, Phòng vật
tư thiết bị, các nhân viên kế toán và dựa vào việc thu thập dữ liệu thứ cấp tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương tác giả có thể rút ra kết luận về thực trạng áp dụng kế toán quản trị chi phí tại công ty từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương
5 Bố cục đề tài
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về KTQTCP trong doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương
Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kế toán quản trị, trong đó có kế toán quản trị chi phí là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong hơn 20 năm trở lại đây và đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã bước đầu vận dụng
và xây dựng cho mình một bộ máy kế toán quản trị riêng biệt và cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này Những nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Việt (1995) với luận án “Vấn đề hoàn thiện kế toán Việt Nam”, Phạm Văn Dược (1997) với “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam” đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên những nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng
Trang 14ngành Đến đầu những năm 2000 đã có một số nghiên cứu về một số vấn đề cụ thể của kế toán quản trị, hoặc về việc áp dụng riêng kế toán quản trị cho từng loại hình doanh nghiệp cụ thể Tác giả Phạm Quang (2002) nghiên cứu về
“Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị và tổ chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả Trần Văn Dung (2002) nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam”, tác giả Phạm Thị Kim Vân (2002) nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch”, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (2004) nghiên cứu “Xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thanh Quí (2004) nghiên cứu “Xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông”, tác giả Phạm Thị Thuỷ (2007) nghiên cứu “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam” Trong các công trình này, các tác giả
đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuý (2010) nghiên cứu
“Tăng cường kiểm soát chi phí tại Công ty Cổ phần Vinaconex 25” trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra những lý luận, những đánh giá về thực trạng
và giải pháp tăng cường kiểm soát chi phí tại Công ty Cổ phần Vinaconex 25 Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp, trong khi xây lắp là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, là ngành đang rất cần những thông tin kế toán quản trị chi phí phục vụ cho công tác ra quyết định của nhà quản trị
Trang 15Chính vì vậy, các vấn đề mà luận văn cần tập trung nghiên cứu là hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp mà cụ thể ở đây là tại Công ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương trên cơ sở nghiên cứu
về bản chất, vai trò và nội dung của kế toán quản trị chi phí qua đó đề tài góp phần giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp nói chung và nhà quản trị Công
ty Cổ Phần Cơ điện và Xây Lắp Hùng Vương nói riêng nhận thức đúng hơn về tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí qua đó có thể vận dụng cho doanh nghiệp mình nhằm cải tạo cách tổ chức hệ thống kế toán tại đơn vị để giảm thiểu chi phí sản xuất mang lại lợi ích kinh tế cao hơn
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Kế toán ra đời là tất yếu khách quan của nền sản xuất xã hội để phục vụ quản lý kinh tế Khi nền sản xuất xã hội phát triển với trình độ ngày càng cao cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì kế toán không ngừng phát triển và hoàn thiện về nội dung, phương pháp cũng như hình thức tổ chức để đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao của nền sản xuất xã hội Kế toán thực
sự trở thành môn khoa học trong hệ thống khoa học quản lý, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị đó
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị, một tổ chức cho các đối tượng sử dụng thông tin thông qua việc cung cấp các báo cáo tài chính, hoạch định các kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của đơn vị, kiểm soát kết quả các hoạt động của đơn vị Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, đối tượng sử dụng thông tin ngày càng mở rộng, nhu cầu thông tin càng tăng với các mục đích cụ thể khác nhau Điều đó đã thúc đẩy kế toán phát triển và hình thành các loại kế toán khác nhau Xét theo phạm vi cung cấp thông tin và đối tượng sử dụng thông tin, kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài là chủ yếu, kế toán quản trị chỉ cung cấp cho các cấp quản trị trong nội bộ đơn vị để đưa ra các quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh
Để đạt được mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận tối đa trên mỗi sản
Trang 17nào, sản phẩm nào có lãi, mặt hàng nào, sản phẩm nào sẽ bị lỗ bằng cách tính toán, phân tích, tổng hợp từng yếu tố chi phí để so sánh với doanh thu của từng nhóm sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh Điều này đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải được cung cấp những thông tin đặc biệt khác nhau từ kế toán quản trị
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất; nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động Cho đến nay, khi bàn về bản chất của
kế toán quản trị có nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn như:
Theo quan điểm của Giáo trình Kế toán quản trị - Trường Đại học kinh
tế quốc dân xuất bản năm 2002: "Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này"
Theo Điều 4 Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" [5, tr 15]
Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung về kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể, giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp tồn tại và hoạt
Trang 18động phải chi nhiều khoản chi phí khác nhau trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Do đó, vấn đề được đặt ra là làm sao có thể kiểm soát được tất cả các khoản chi phí Kế toán quản trị chi phí là công cụ hữu hiệu đáp ứng nhu cầu thông tin chi phí cho các nhà quản trị để đưa ra các quyết định kinh doanh, cơ sở cho kiểm soát, sử dụng chi phí của đơn vị một cách có hiệu quả
Như vậy, kế toán quản trị chi phí là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phí của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng quản trị chi phí trong quá trình kinh doanh
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Trước khi nghiên cứu bản chất của kế toán quản trị chi phí, ta xem xét bản chất của kế toán quản trị nói chung:
- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung của doanh nghiệp, đồng thời là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trị nội bộ doanh nghiệp Kế toán quản trị được coi như một hệ thống nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý doanh nghiệp, không cung cấp cho các đối tượng bên ngoài
- Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính định lượng vì nó gắn với các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp
- Mục đích sử dụng thông tin kế toán quản trị là để hoạch định và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, nó được cụ thể hoá thành các chức năng cơ bản của nhà quản trị: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phân tích đánh giá và
ra quyết định
Trang 19Theo thông tư số 53/2006/TT- BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ tài chính: "Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế".
Như vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin
về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp
Như phần trên đã trình bày, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của
hệ thống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp nhà quản lý thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá
Để thực hiện vai trò của mình, kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra, kế toán quản trị chi phí đã cung cấp thông tin cho việc quản lý đến từng công việc cụ thể, như: quản lý sản xuất tác nghiệp, quản lý tồn kho, quản lý chi phí Kế toán quản trị chi phí giúp thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý một cách rất hiệu quả thông qua việc thu thập và cung cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi
Trang 20ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp… Có thể nói,
kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm soát toàn bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách rất cụ thể, chi tiết và thường xuyên Vai trò của KTQT chi phí được thể hiện qua sơ đồ:
S ơ đồ 1.1 Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp
1.2 VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.2.1 Vai trò của Công ty trong hoạt động sản xuất xây lắp
Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, chuyên hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm xây lắp trên thị trường xây dựng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Tùy theo hình thức sở hữu vốn mà DNXL có thể tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn… các doanh nhiệp này giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì xây dựng là một nhu cầu thường xuyên và ngày một tăng Các DNXL giữ một vai trò quan trọng trong việc nộp ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần
Lập kế hoạch
Tổ chức thực hiện Kiểm tra, đánh giá
Ra quyết định
Trang 21Đối với Việt Nam, với việc hội nhập kinh tế thế giới và phát triển như hiện nay, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến ngành xây dựng, ngành xây dựng phát triển sẽ là tiền đề để phát triển các ngành công nghiệp khác
1.2.2 Đặc điểm sản phẩm xây lắp
Ngành xây dựng là ngành sản xuất độc lập có những điểm đặc thù về mặt kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ thuật chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng Sự chi phối này được thể hiện như sau:
- Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ, sản phẩm sản xuất xây lắp không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào, mỗi sản phẩm có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu về tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc diểm của từng công trình cụ thể,
có như vậy việc sản xuất thi công mới mang lại hiệu quả cao và bảo đảm cho sản xuất được liên tục
Do sản phẩm có tính chất đơn chiếc và được sản xuất theo đơn đặt hàng nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo các thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở những địa diểm khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất cũng khác nhau
- Sản phẩm XDCB có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công tương đối dài Do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thường không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước tuỳ thuộc vào kết cấu đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây lắp Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trong việc quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả cao nhất
Trang 22- Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp tương đối dài, các công trình XDCB thường có thời gian sử dụng dài nên mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại Sai lầm trong XDCB vừa gây lãng phí, vừa
để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình
Một công trình XDCB hoàn thành, điều đó có nghĩa là người công nhân xây dựng không còn việc gì làm ở đó nữa, phải chuyển đến thi công ở một công trình khác Do đó, sẽ phát sinh các chi phí như điều động công nhân, máy móc thi công, chi phí về xây dựng các công trình tạm thời cho công nhân và cho máy móc thi công
Cũng do đặc điểm này mà các đơn vị xây lắp thường sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình, để giảm bớt các chi phí di dời Tóm lại, cần phải chú ý đến những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm xây lắp, quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp để đưa ra các biện pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho phù hợp và có tác dụng thiết thực đối với việc tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp
1.2.3 Đặc điểm chi phí và phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
a Đặc điểm chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Chi phí là những tổn thất nguồn lực kinh tế gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh Trong doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm sản phẩm xây lắp
cố định tại nơi sản xuất nên ngoài những khoản mục chi phí sản xuất thông thường còn làm phát sinh thêm một số khoản mục chi phí như: chi phí vận chuyển máy thi công đến công trường, chi phí huy động công nhân, chi phí lán trại cho công nhân, chi phí kho nhà xưởng bảo quản vật tư trong quá trình thi công, chi phí đảm bảo giao thông đi lại thuận lợi cho con người và các phương tiện lưu thông trên đường Vì vậy công tác hạch toán chi phí sản xuất
Trang 23chung cần phân bổ đến từng công trình, từng hạng mục cụ thể, kế toán xây dựng cần có cách thức phân bổ phù hợp để phục vụ công tác quản lý chi phí, giá thành theo công trình
Chi phí thầu phụ cũng là một loại chi phí đặc thù trong xây dựng Chi phí này phát sinh khi doanh nghiệp thuê ngoài thi công một phần công trình Kế toán thường hạch toán khoản chi phí này như một dịch vụ mua ngoài Trong quá trình thi công nếu chủ đầu tư chưa chuyển tiền về thì đơn vị xây lắp phải vay vốn và trả lãi vay Khi công trình được bàn giao, đưa vào sử dụng, có thể phát sinh các chi phí liên quan đến sửa chữa, bảo hành công trình, kế toán cần phải trích trước các khoản dự phòng bảo hành công trình Tất cả những khoản chi phí này cần được vốn hoá vào giá trị sản phẩm xây lắp
Trong chi phí xây dựng, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như gạch ngói, cát, đá, xi măng, sắt, bê tông đúc sẵn…chiếm tỷ trọng lớn (thường là 60-65%)
và rất đa dạng về chủng loại, kích cỡ Trong đó có một vài loại nguyên vật liệu dễ bị hư hỏng tuỳ thuộc vào thời tiết, khí hậu như: xi măng, cát nên dễ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của công ty (đội), cần chú ý đến biện pháp bảo quản và kiểm soát chi phí Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm khoảng 13 - 15% trong tổng chi phí sản xuất tuỳ theo từng công trình sử dụng nhiều lao động tay nghề cao hay thấp Chi phí sử dụng máy thi công chiếm tỷ trọng cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng công trình thi công bằng máy hay thủ công Trong công tác kế toán chi phí cũng cần dựa vào những đặc điểm này của chi phí để bước đầu có thể đánh giá được mối tương quan của từng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm của từng công trình, hạng mục công trình phục vụ kiểm soát chi phí
Đối với công ty xây dựng, với đặc thù sản phẩm mang tính đơn chiếc, giá trị lớn và thời gian thi công dài nên đặt ra yêu cầu trước khi thực hiện thi công, xây lắp cần phải có dự toán Dự toán biểu thị giá xây dựng công trình trên cơ sở thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công được xác định trong
Trang 24giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Việc tập hợp chi phí thực phát sinh, đối chiếu với dự toán là một công việc thường xuyên và cần thiết của kế toán để kiểm tra chi phí phát sinh đó có phù hợp với dự toán hay không cũng như để kiểm tra tính hiệu quả trong việc quản trị chi phí
Do đặc điểm thời gian thi công kéo dài nên việc theo dõi chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng không chỉ dừng lại ở việc tập hợp
và theo dõi chi phí phát sinh trong năm tài chính mà còn phải theo dõi chi phí phát sinh, giá thành và doanh thu luỹ kế qua các năm kể từ khi công trình bắt đầu khởi công cho đến thời điểm hiện tại
b Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Việc phân loại chi phí một cách linh hoạt có ý nghĩa rất lớn đối với công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đối với nhà quản trị nhận diện được bản chất, sự biến động của chi phí đầy đủ, kịp thời sẽ là nguồn thông tin thích hợp cho quá trình ra quyết định Việc phân loại chi phí
trong doanh nghiệp xây lắp thường dựa vào các tiêu thức sau:
* Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
Chi phí được phân theo yếu tố phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí Đối với doanh nghiệp xây lắp, toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ đều được chia thành 7 yếu tố:
- Chi phí NVL: Xi măng, gạch, sắt, thép… và các vật liệu phụ khác
- Chi phí CCDC sản xuất: Quần áo bảo hộ, mặt nạ…
- Chi phí nhiên liệu: Xăng, dầu, mỡ…
- Chi phí nhân công: là tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân viên trực tiếp, gián tiếp thi công và quản lý
Trang 25- Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh: nhà làm việc, máy thi công và tài sản vô hình khác…
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh: điện thoại, điện, nước…
- Chi phí bằng tiền khác: bao gồm các chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài các yếu tố chi phí sản xuất đã nêu trên
Việc phân loại chi phí thành các yếu tố chi phí của các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu phục vụ cho việc xây dựng dự toán chi phí cho từng công trình
và hạng mục công trình nhằm góp phần kiểm soát chi phí
* Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Theo cách phân loại này chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh được chia thành 3 loại:
- Biến phí: là loại chi phí phụ thuộc vào khối lượng công tác xây lắp làm
ra trong một đơn vị thời gian Ví dụ như các chi phí về nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công
- Định phí: là loại chi phí không phụ thuộc vào khối lượng công tác xây dựng làm ra trong một đơn vị thời gian và mức độ khai thác sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp Tính chất ổn định, không thay đổi của các chi phí này chỉ tương thích với một khoảng năng lực sản xuất nhất định của doanh nghiệp xây dựng
- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí biểu hiện bản chất vừa là định phí vừa
là biến phí.(ví dụ: chi phí điện thoại trong khoảng thuê bao là định phí, vượt qua khoảng đó là biến phí ) Phần định phí của chi phí hỗn hợp phản ảnh phần chi phí căn bản tối thiểu để duy trì và giữ cho dịch vụ đó luôn trong tình trạng sẵn sàng phục vụ, yếu tố biến phí biến thiên tỷ lệ thuận với mức dịch vụ hoặc mức sử dụng quá định mức
Trang 26Phân tích chi phí h ỗn hợp: Để đạt được mục đích phân loại chi phí cho
phù hợp với mục đích đề ra cần phải phân tích nhằm lượng hoá để tách riêng định phí và biến phí trong chi phí hỗn hợp
Có ba phương pháp được ứng dụng vào việc phân chia định phí và biến phí trong chi phí hỗn hợp, đó là: Phương pháp cực đại - cực tiểu, Phương pháp bình phương bé nhất, Phương pháp đồ thị phân tán
Các doanh nghiệp xây lắp ngoài việc lập kế hoạch, kiểm soát chi phí, điều tiết chi phí khi tổ chức thi công xây lắp các công trình nhằm mục đích hạ giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh còn phải đưa ra các quyết định lựa chọn công trình, dự án, hạng mục công việc nào hiệu quả nhất (đấu thầu công trình) Việc lựa chọn cách thức phân loại chi phí này sẽ giúp nhà quản trị có
cơ sở đưa ra quyết định tham gia xây dựng công trình dự án đó hay không và định giá bỏ thầu phù hợp với mục tiêu, chiến lược, năng lực của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
* Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
+ Chi phí sản xuất: giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: là giá trị của những nguyên vật liệu cấu thành thực thể của sản phẩm và có thể xác định được một cách tách biệt, rõ ràng, cụ thể cho từng sản phẩm Đặc điểm của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí, thường mang tính chất biến phí, nó cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chiếm tỷ trọng khá cao trong giá thành sản phẩm Thông thường chi phí nguyên vật liệu trực
Trang 27tiếp có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm vừa cơ sở xây dựng dự toán, vừa là cơ sở kiểm soát chi phí
Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí về tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương, tiền ăn ca của những lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm Chi phí nhân công trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho đối tượng chịu chi phí Khoản mục chi phí này thường mang tính chất biến phí, thường xây dựng định mức cho một đơn vị sản phẩm nhằm góp phần kiểm soát chi phí, xây dựng hệ thống dự toán chi phí
Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng, đội sản xuất: là tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương và các khoản khác phải trả cho nhân viên phân xưởng, đội sản xuất như: Quản đốc, phó quản đốc phân xưởng, đội trưởng, đội phó các đội sản xuất, nhân viên kế toán
- Chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: văn phòng phẩm, các vật liệu khác cần thiết khi sửa chữa, bảo dưỡng phân xưởng
- Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: quần áo bảo hộ lao động của công nhân, các dụng cụ phục vụ công nhân sản xuất như búa, cưa, que hàn
- Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị Mỗi tài sản cố định có những đặc điểm khác nhau do vậy việc vận dụng phương pháp khấu hao cho các tài sản cũng khác nhau nhằm thu hồi vốn đầu tư
- Chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện thoại, tiền điện, tiền nước phục vụ cho quá trình sản xuất
Trang 28- Chi phí khác bằng tiền như: chi phí tiếp khách ở phân xưởng, thiệt hại trong quá trình sản xuất
Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều yếu tố chi phí, có yếu tố mang tính chất định phí, có yếu tố mang tính chất biến phí, có yếu tố hỗn hợp mang
cả tính chất định phí và biến phí Do vậy, các nhà quản trị muốn kiểm soát được các yếu tố trong khoản mục chi phí này cần phải tách các yếu tố thành hai bộ phận định phí và biến phí
Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất ngoài 3 khoản mục trên còn có khoản mục chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công: là các khoản chi phí phục vụ cho đội máy thi công hoặc mua ngoài để thi công cho các công trình và hạng mục công trình Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: tiền lương phải trả cho công nhân điều khiển máy thi công, chi phí nguyên vật liệu sử dụng cho máy thi công, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền phục vụ cho máy thi công Đặc điểm của chi phí sử dụng máy thi công là chi phí hỗn hợp mang cả tính chất định phí và biến phí
Chi phí sản xuất chung và chi phí sử dụng máy thi công theo mối quan
hệ của chi phí với đối tượng chịu phí thường là chi phí gián tiếp Do vậy, cuối mỗi kỳ hoạt động cần phải phân bổ các khoản mục chi phí này theo tiêu thức phù hợp tuỳ theo tính chất của chi phí và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, dịch vụ
+ Chi phí ngoài sản xuất: là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 29Chi phí bán hàng: Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn doanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố cũng thường bao gồm cả định phí và biến phí Do vậy, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành 2 bộ phận định phí và biến phí Chi phí ngoài sản xuất được coi là chi phí gián tiếp nếu xét theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí Do vậy, để xác định chính xác kết quả tiêu thụ, kết quả kinh doanh của các bộ phận cần phải có các tiêu thức phân bổ chi phí phù hợp
1.3 NỘI DUNG KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.3.1 Lập dự toán chi phí xây dựng
a Khái quát về dự toán chi phí xây dựng
Lập dự toán sản xuất kinh doanh là việc lập dự kiến chi tiết những chỉ tiêu trong hệ thống quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng kỳ Bất cứ một công trình nào trước khi thi công cũng phải lập dự toán chi phí
Dự toán chi phí xây lắp được lập căn cứ vào hồ sơ thiết kế, hệ thống định mức, kinh nghiệm thi công của các công trình trước và khảo sát thực tế mặt bằng thi công để đưa ra các dự tính cụ thể Chúng phải được lập cụ thể, chi tiết cho từng công việc của công trình để tổng hợp lại thành giá thành kế
Trang 30hoạch toàn công trình Lập dự toán chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp có
ý nghĩa hết sức quan trọng:
- Thông qua dự toán, nhà quản trị cũng dự tính được trong tương lai cần phải làm gì, kết quả đạt được của những hoạt động đó, từ đó có những phương án cụ thể, hợp lý để điều hành quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin dự toán chi phí có thể cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định thực hiện hợp đồng xây lắp này với mức giá bao nhiêu là phù hợp?
- Trên cơ sở lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cụ thể, tạo điều kiện cho nhà quản trị quản lý được chặt chẽ từng khoản mục chi phí, lường được trước những khó khăn và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý các chỉ tiêu, đồng thời có sự điều chỉnh hợp lý các phương án đã lựa chọn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
- Dự toán làm cơ sở cho việc phân tích tình hình biến động của chi phí, xác định rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán, từ đó đảm bảo cho nhà quản trị biết được thực chất về quá trình sản xuất của doanh nghiệp để có các điều chỉnh cho phù hợp
Để lập được dự toán chi phí trong xây lắp cho các công trình, hạng mục công trình cần dựa vào:
- Bản vẽ thiết kế thi công
- Định mức xây dựng cơ bản phần xây dựng, lắp đặt khảo sát của Bộ xây dựng (Quyết định số 24/2005/QĐ – BXD, ngày 29/7/2005 của Bộ Xây Dựng)
- Đơn giá xây dựng cơ bản của Tỉnh, Thành phố
- Thông tư hướng dẫn lập dự toán (số 04/2010/TT-BXD ngày 26/05/2010 Bộ trưởng Bộ xây dựng hướng dẫn lập và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình)
- Thông tư điều chỉnh dự toán
- Thông tư hướng dẫn áp dụng Luật thuế GTGT
Trang 31- Thông tư về chế độ tiền lương, phụ cấp
- Công bố giá nguyên vật liệu của Sở Tài chính
Trước khi đi vào lập dự toán cần phải xây dựng định mức cho từng khoản mục chi phí
b Xây dựng định mức
Chi phí định mức là chi phí dự tính cho việc sản xuất một khối lượng công việc cụ thể trong xây lắp Ví dụ để xây dựng 1m2 tường thì cần có bao nhiêu gạch, bao nhiêu cát, bao nhiêu xi măng Chi phí định mức được sử dụng như là một thước đo trong hệ thống dự toán của doanh nghiệp Một doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất sản phẩm sẽ lập dự toán để xác định tổng chi phí dự toán chi phí sản xuất và sau khi quá trình sản xuất được tiến hành,
kế toán quản trị sẽ so sánh giữa chi phí thực tế và dự toán để xác định sự biến động về chi phí Đây chính là cơ sở để kiểm soát chi phí
* Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Định mức về lượng: là lượng vật liệu cần thiết để thi công một đơn vị khối lượng công việc như 1 m3 bê tông, 1m2 tường… có cho phép những hao hụt bình thường
Định mức về giá nguyên vật liệu: phản ánh đơn giá bình quân của 1 đơn
vị nguyên vật liệu, bao gồm:
+ Giá mua vật liệu theo hóa đơn
+ Chi phi thu mua: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho …
+ Trừ các khoản giảm giá chiết khấu
Định mức chi
phí NVLTT
= Định mức về
lượng NVL x
Giá nguyên vật liệu dự kiến
* Định mức chi phí nhân công trực tiếp: Cần xác định được lượng thời
gian cần thiết cho một khối lương công việc và đơn giá cho 1 đơn vị thời gian
Trang 32- Định mức lượng thời gian hao phí: là lượng thời gian bình quân cần thiết để hoàn tất công việc đối với công nhân ở mức độ lành nghề trung bình, bao gồm:
+ Thời gian cho nhu cầu sản xuất cơ bản
+ Thời gian cho vận hành máy móc thiết bị
+ Thời gian ngừng nghỉ hợp lý của máy móc thiết bị, người lao động
- Định mức đơn giá cho một đơn vị thời gian: phản ánh chi phí nhân công trả cho một đơn vị thời gian hao phí, gồm:
+ Tiền lương cơ bản cho một đơn vị thời gian ở các bậc thợ khác nhau + Các khoản phụ cấp theo lương
+ Các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN
Định mức chi phí nhân công trực tiếp được xác định như sau:
Định mức chi
phí NCTT =
Định mức về lượng thời gian hao phí x
Giá nhân công dự kiến cho một đơn vị thời gian
* Định mức chi phí sử dụng máy thi công
Định mức về giá chi phí máy theo giờ hay theo khối lượng thực hiện một công việc được xác định căn cứ vào:
- Đơn giá ca máy theo định mức nhà nước
- Khấu hao máy trong kỳ của doanh nghiệp
- Định mức sử dụng nhiên liệu theo thiết kế máy của nhà sản xuất kết hợp với kiểm tra bấm giờ tiêu hao nhiên liệu thực tế của đơn vị
Về thời gian để thi công một hạng mục công việc được xác định như sau:
- Căn cứ vào định mức thi công công việc của nhà nước
- Căn cứ vào điểm dừng kỹ thuật lập tiến độ thi công cho từng hạng mục công việc trong bản tiến độ chung của dự án
Trang 33Xây dựng định mức chi phí sản xuất tại đơn vị được tóm theo sơ đồ:
S ơ đồ 1.2: Cách xây dựng định mức chi phí sản xuất
c Dự toán chi phí xây dựng
- Chi phí nguyên v ật liệu trực tiếp: nhằm dự kiến số lượng nguyên vật
li ệu cần cho quá trình sản xuất thi công
+ Lượng NVL tồn cuối kỳ -
Lượng NVL tồn đầu kỳ
Định mức biến phí
Định mức chi phí NVL trực tiếp
Định mức chi phí NC trực tiếp
Định mức về lượng Đơn giá dự kiến
Đơn giá dự kiến Định mức về lượng
Trang 34- Chi phí nhân công tr ực tiếp: là dự kiến số giờ công trực tiếp cần thiết
để thi công hạng mục công trình
- Chi phí s ử dụng máy thi công: là dự kiến số ca máy cần thiết cho quá trình thi công t ừng nội dung công việc, từng hạng mục công trình, công trình
Chi phí sử dụng máy
thi công dự toán =
Khối lượng công việc theo kế hoạch x
Định mức sử dụng chi phí máy thi công
- Chi phí s ản xuất chung: nhằm tính toán biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất
chung dự toán =
Biến phí sản xuất chung dự toán +
Định phí sản xuất chung dự toán
1.3.2 Phương pháp tập hợp và xác định chi phí sản xuất
Theo phương pháp chi phí trực tiếp: giá thành sản phẩm sản xuất chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung biến đổi)
Bảng 1.1: Phân loại chi phí theo phương pháp chi phí toàn bộ và phương pháp chi phí trực tiếp
Phương pháp toàn bộ Loại chi phí Phương pháp trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp Nhân công trực tiếp Biến phí sản xuất chung
Chi phí sản phẩm Chi phí sản phẩm
Định phí sản xuất chung Chi phí bán hàng
Trang 35nhằm cung cấp thông tin về chi phí cần thiết cho nhà quản trị để điều hành hoạt động SXKD và là cơ sở để nhà quản trị lập dự toán chi phí ở mức độ khác nhau đồng thời là căn cứ để kiểm tra, đánh giá các chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh
1.3.3 Kiểm soát chi phí
Các nhà quản lý không có nhiều thời gian để kiểm tra và xác định nguyên nhân của tất cả các biến động Phương pháp quản lý theo ngoại lệ (management by exception) sẽ giúp nhà quản lý tập trung thời gian và nỗ lực vào việc kiểm soát các biến động có ý nghĩa Khi nào một biến động cần được kiểm soát, khi nào thì bỏ qua Lúc này, nhà quản lý sẽ xem xét:
- Độ lớn của biến động: Nhà quản lý thường quan tâm đến những biến động có giá trị lớn về cả số tuyệt đối lẫn số tương đối Số tương đối của biến động cung cấp thông tin tốt hơn cho nhà quản lý trong việc kiểm soát
- Tần suất xuất hiện biến động: Những biến động lặp đi lặp lại liên tục cần được kiểm soát chặt chẽ hơn những biến động thỉnh thoảng mới phát sinh
- Xu hướng của biến động: Những biến động có xu hướng tăng dần theo thời gian là những biến động cần xác định nguyên nhân và kiểm soát
- Khả năng kiểm soát được biến động: Những biến động mà những người bên trong tổ chức có khả năng kiểm soát được thì cần tiến hành kiểm soát hơn những biến động mà tổ chức không có khả năng kiểm soát Ví dụ, khi mức giá nguyên liệu tăng do sự biến động giá của thị trường thì nằm ngoài khả năng kiểm soát của nhà quản lý
- Các biến động thuận lợi: Những biến động thuận lợi cũng cần được xem xét để phát huy và cải tiến
- Lợi ích và chi phí của việc kiểm soát: Quyết định nên kiểm soát một biến động hay không cần phải xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí để thực hiện việc kiểm soát
Các nhà quản lý xác định mức ý nghĩa của các biến động dựa vào kinh nghiệm và sự phán đoán chủ quan Biến động có giá trị lớn (về cả số tương
Trang 36đối và tuyệt đối), biến động lặp lại thường xuyên, biến động có xu hướng tăng dần, và biến động mà tổ chức có khả năng kiểm soát là những biến động cần phân tích xác định nguyên nhân để kiểm soát
Ta ký hiệu Q0, G0, TH0 lần lượt là các nhân tố khối lượng, giá mua, định mức nguyên vật liệu trực tiếp thi công theo dự toán công trình, hạng mục công trình
Q1, G1, TH1 lần lượt là các nhân tố khối lượng, giá mua, định mức nguyên vật liệu trực tiếp thực tế thi công công trình, hạng mục công trình
∆Q, ∆G, ∆TH lần lượt là biến động của các nhân tố khối lượng xây lắp, giá mua nguyên vật liệu, định mức nguyên vật liệu
∆CP là biến động của toàn bộ chi phí nguyên vật liệu thi công công trình, hạng mục công trình
a Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Biến động của chi phí NVL trực tiếp có thể kiểm soát gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan
- Bi ến động nhân tố giá (ký hiệu G): Là sự chênh lệch giữa giá NVL trực
tiếp thực tế với giá NVL trực tiếp theo dự toán để xây lắp một khối lương công việc nhất định Nếu tính trên một loại vật tư thì nó phản ánh giá cả của một loại nguyên vật liệu để thi công một khối lượng công việc đã thay đổi như thế nào so với dự toán Ảnh hưởng về giá có thể là âm hay dương Nếu ảnh hưởng là âm (∆G <0) chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá giá vật liệu dự toán đặt ra Tình hình này được đánh giá là tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng là dương (∆G >0) thể hiện giá vật liệu tăng
so với dự toán sẽ làm tăng tổng chi phí thi công của công trình Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân biến động của giá nguyên vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng NVL, thuế, các phương pháp tính giá NVL
Trang 37Ta có công thức ảnh hưởng của nhân tố giá đến chi phí sản xuất của công trình, hạng mục công trình như sau: ∆G = (G1 – G0)Q1TH1
- Bi ến động nhân tố lượng (ký hiệu Q): Là chênh lệch giữa lượng NVL
trực tiếp thực tế với lượng NVL trực tiếp theo dự toán để thi công một khối lượng công việc nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí NVL trực tiếp ra sao Nếu biến động về lượng là kết quả dương (∆Q>0) thể hiện lượng vật liệu sử dụng thực tế nhiều hơn so với dự toán tuy nhiên có trường hợp nhân tố lượng tăng
là do trong quá trình thi công công trình đã có sự thay đổi thiết kế so với ban đầu làm cho khối lượng thi công tăng điều này là hoàn toàn hợp lý; còn nếu kết quả là âm (∆Q<0) thể hiện lượng vật liệu sử dụng tiết kiệm so với dự toán Nhân tố lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân như trách nhiệm của đội thi công Đó có thể là do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản xuất ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt dẫn đến công trình bị hư hỏng phải phá đi làm lại
Ta có công thức ảnh hưởng của nhân tố khối lượng đến chi phí sản xuất của công trình, hạng mục công trình như sau: ∆Q = (Q1 – Q0)G0TH0
- Bi ến động nhân tố định mức (ký hiệu TH): là sự chênh lệch giữa định
mức nguyên vật liệu lập dự toán và định mức nguyên vật liệu thi công thực tế dùng để hoàn thành một khối lượng công việc Nếu biến động nhân tố định mức mà dương (∆TH>0) điều đó chứng tỏ rằng định mức tiêu hao nguyên vật liệu thực tế thi công cao hơn so với dự toán điều này chứng tỏ rằng định mức tiêu hao nguyên vật liệu do công ty lập ra là chưa hợp lý, không sát với quá trình thực tế thi công, hay ngược lại nếu biến động nhân tố định mức là số âm (∆TH<0) điều đó chứng tỏ rằng trong quá trình thi công công ty đã tiết kiệm được chi phí nguyên vật liệu nhưng với điều kiện đảm bảo rằng công trình thi công phải đạt tiêu chuẩn xây dựng quy định
Trang 38Ta có công thức ảnh hưởng của nhân tố khối lượng đến chi phí sản xuất của công trình, hạng mục công trình như sau: ∆TH = (TH1 – TH0)Q1G0
b Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp
Biến động của chi phí nhân công trực tiếp cũng gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan
- Biến động nhân tố giá: Là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực
tiếp thực tế với dự toán để hoàn thành một khối lương công việc nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động xây lắp ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp Biến động giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công lao động như chế độ lương, tình hình thị trường cung cầu lao động, Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hay tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp, việc kiểm soát chi phí nhân công còn cho phép làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí và giá thành Nhân tố tăng hay giảm được đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng của nhân công Nếu giá giảm so với
dự toán nhưng chất lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại Ảnh hưởng về giá đến
biến động chi phí
NCTT
=
Đơn giá NCTT thực tế
-
Đơn giá NCTT
dự toán
x
Thời gian lao động thực tế
- Bi ến động nhân tố lượng: Là chênh lệch giữa số giờ công lao động trực
tiếp thực tế với dự toán để thi công một khối lượng công việc nhất định Nhân
tố này phản ánh sự thay đổi về số giờ công để thi công một khối lượng công việc nhất định, ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp Ảnh hưởng của nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: có thể là do năng lực, trình
độ của người lao động, do điều kiện trang bị máy móc thiết bị
Ảnh hưởng của thời
gian lao động đến = Thời gian lao
Trang 39c Kiểm soát chi phí sử dụng máy thi công
- Phân tích bi ến động giá: là chênh lệch giữa ca máy thực tế thi công với
đơn giá ca máy theo dự toán Nếu tính trên một khối lượng công tác thì nó phản ánh đơn giá của một ca máy để hoàn thành một công tác xây lắp đã thay đổi như thế nào so với dự toán
- Phân tích biến động về lượng: Là chênh lệch giữa số ca máy thực tế
thi công xây lắp với số ca máy theo dự toán để thi công các hạng mục công trình: nếu biến động về lượng là kết quả âm thể hiện lương ca máy tiết kiệm
so với dự toán, nếu biến động về lượng là kết quả dương thể hiện lương ca máy lớn hơn so với dự toán Khi tìm hiểu nguyên nhân biến động về lượng ca máy thi công cần xem xét khối lượng công việc thi công xây lắp thực tế co phát sinh tăng, giảm so với dự toán
d Kiểm soát chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung biến động do sự biến động của biến phí sản xuất chung và biến động của định phí sản xuất chung
Biến động chi phí
sản xuất chung =
Biến động định phí sản xuất chung +
Biến động biến phí sản xuất chung
- Ki ểm soát biến động biến phí sản xuất chung: Biến động chi phí sản xuất
chung do nhiều nguyên nhân, nhưng về phương pháp phân tích trong kiểm tra
nó cũng được phân tích ảnh hưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng Ảnh
Trang 40hưởng của nhân tố giá thường do nhiều nguyên nhân như chi phí thu mua thay đổi, biến động giá cả chung của thị trường Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do nhiều nguyên nhân như tình hình thay đổi sản xuất theo nhu cầu kinh doanh, điều kiện trang thiết bị
- Ki ểm soát biến động định phí sản xuất chung: là các khoản chi phí
phục vụ và quản lý sản xuất, không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Biến động định phí sản xuất chung thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp hay do hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp Kiểm soát định phí sản xuất chung nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực tài sản cố định Khi phân tích định phí sản xuất chung, người ta cần xem xét định phí tùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được và định phí không kiểm soát được để xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của các bộ phận
Kiếm soát định phí sản xuất chung nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực
củ tài sản cố định
Biến động định
phí sản xuất chung =
Định phí sản xuất chung thực tế -
Định phí sản xuất chung theo dự toán
1.3.4 Tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí
Có ba kiểu tổ chức mô hình kế toán quản trị, bao gồm mô hình kết hợp, mô hình tách biệt và mô hình hỗn hợp
Mô hình kết hợp là mô hình gắn kết hệ thống kế toán quản trị và hệ thống kế toán tài chính trong một hệ thống kế toán thống nhất với bộ máy kế toán chung và công tác kế toán chung
Mô hình tách biệt là mô hình tổ chức hệ thống kế toán quản trị độc lập với hệ thống kế toán tài chính cả về bộ máy kế toán và công tác kế toán
Mô hình hỗn hợp là mô hình vừa có tính tách rời vừa có tính kết hợp Đối với các phần hành có tính tương đồng giữa kế toán tài chính và kế toán