1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tính triết học trong phật giáo và sự ảnh hưởng của phật giáo ở việt nam 1

25 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính triết học trong Phật giáo và sự ảnh hưởng của Phật giáo ở Việt Nam 1
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Phật giáo
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 140,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

®Ò c­ng TiÓu luËn TriÕt häc ®Ò c¬ng Lêi nãi ®Çu 2 I TÝnh triÕt häc trong PhËt gi¸o 3 1 Sù xuÊt hiÖn cña PhËt gi¸o 3 2 TÝnh triÕt häc trong PhËt gi¸o 4 a TÝnh triÕt häc ®îc thÓ hiÖn qua ba ph¹m trï chÝ[.]

Trang 1

b.Tính triết học đợc thể hiện qua bốn chân lý của Phậtgiáo…………

6

đế”………

6

Trang 3

b Những hạnchế………

khảo………

19

Lời nói đầu

Trớc đây đã từng có quan điểm cho rằng Hy Lạp cổ

đại là cái nôi duy nhất của nền Triết học thế giới Nhng ngàynay nhờ có sự đi sâu nghiên cứu các nhà nghiên cứu đãkhẳng định rằng không chỉ có Hy Lạp cổ đại mà ấn Độ cổ

đại và Trung Hoa cổ đại cũng đều là những cái nôi củanền Triết học thế giới Có thể nói rằng nếu phơng Đông làchiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại thì ấn Độ là mộttrong những trung tâm văn hóa và triết học cổ xa, rực rỡ,phong phú nhất của nền văn minh ấy

Những t tởng triết học, những triết lý tôn giáo của ấn

Độ nh đạo Phật, đạo Jaina, đạo Hindu… đã từng tỏa sáng tớinhiều quốc gia trên thế giới Phật giáo là một trào lu triết họctôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trớc C.N ở miềnBắc ấn Độ, phía nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn Độ

Trang 4

và Nêpan bây giờ Sở dĩ phật giáo có sức lan truyền trongnhân dân và sức sống nh vậy là do Phật giáo không những

đã có những phát hiện tài tình về tôn giáo, trở thành tiếngnói đồng cảm với nhân dân tầng lớp dới, mà trong nội dungchính của Phật giáo còn đã thể hiện đợc những nội dungcủa triết học, làm cơ sở cho sự phát triển của triết học saunày, đặc biệt là triết học về con ngời

ở Đông-Nam á, trong đó có Việt Nam, Phật giáo đã đợctruyền bá sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân từ nhữngnăm đầu kỷ nguyên và sự ảnh hởng của nó đối với đời sốngnhân dân ta ngày nay còn khá sâu đậm Tại sao Phật giáo

đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn, tìnhcảm, trong phong tục tập quán và cảnh quan của dân tộcViệt Nam nh vậy? Để có đợc câu trả lời, chúng ta sẽ cùngxem xét vấn đề đợc đề cập tới trong phạm vi bài viết này:

“Tính triết học trong Phật giáo và sự ảnh hởng của Phật giáo ở Việt Nam.”

i tính triết học trong phật giáo.

1 Sự xuất hiện của Phật giáo.

Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của

đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗikhổ và tìm con đờng giải thoát con ngời khỏi nỗi khổ triềnmiên, đè nặng trong xã hội nô lệ ấn Độ Phật giáo xuất hiệnvào khoảng cuối thế kỷ VI trớc C.N ở miền Bắc ấn Độ, phíanam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn Độ và Nêpan bâygiờ

Trang 5

Ngời sáng lập ra đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni có tênthật là Tất Đạt Đa họ là Cù Đàm con vua Tịnh Phạn dòng họSakya, có kinh đô là thành Ca-ti-la-vệ Phật Thích Ca sinhngày mồng 8 tháng 4 năm 563 trớc C.N và mất năm 483 trớcC.N Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vơng giả

đi tu luyện tìm con đờng diệt trừ nỗi khổ của chúng sinh.Sau 6 năm liền tu luyện, Tất Đạt Đa đã “ngộ đạo”, tìm rachân lý “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” Tất Đạt Đa

đã trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni Khi đó Ngài vừa đúng

kinh-Trong quá trình phát triển về sau của đạo Phật, trong

Phật giáo đã hình thành hai tông phái chính là phái Tiểu thừa và phái Đại thừa Điểm khác nhau cơ bản giữa hai phái này là: Phái Tiểu thừa có thái độ chủ yếu là thụ động tìm

cách trốn tránh đau khổ do nghiệp lực và nhân sinh gây

ra bằng cách chạy sang cõi khác; Phái Đại thừa có thái độ tích

cực, đơng đầu với những khổ nạn để thực hiện lời thềnguyện và thực hành Đạo của Bồ tát để đạt đợc cảnh giới

Phật Trong khi mục đích của phái Tiểu thừa là sự nỗ lực hoàn thiện của một cá thể thì mục đích của phái Đại thừa

là cải thiện toàn xã hội và cứu vớt toàn chúng sinh Nhng cho

dù hai phái Tiểu thừa và Đại thừa có một số điểm khác nhau

Trang 6

thì hai phái này vẫn trung thành và tuân theo những giáo

lý và mục đích cơ bản của Phật giáo, trên cơ sở đó làmcho Phật giáo có sự phát triển phong phú hơn, làm cho tôngiáo này trở nên gần gũi, dễ hoà nhập đối với dân chúnghơn, đợc truyền bá rộng rãi hơn

2 Tính triết học trong Phật giáo.

T tởng triết học Phật giáo nguyên thuỷ chứa đựngnhững yếu tố duy vật và biện chứng chất phác đợc thểhiện rõ nét nhất qua ba phạm trù và bốn chân lý của ĐạoPhật

a Tính triết học đợc thể hiện qua ba phạm trù chính của Phật giáo.

Phật giáo phủ định “tinh thần vũ trụ siêu nhiên” (Bratman) cũng nh phủ nhận “linh hồn” hay cái “tôi” (atman)

và đa ra quan niệm “Duyên khởi”, “Vô ngã”, “Vô thờng”.

Đây chính là ba phạm trù chính của Phật giáo

* “Duyên khởi”: Phật giáo cho rằng tất cả các sự vật,

hiện tợng tồn tại trong vũ trụ, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vôcùng lớn, đều không thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhânduyên Vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội tụnhân duyên mà thành ra “có” (tồn tại) Cái nhân nhờ có cáiduyên mới sinh ra đợc mà thành quả Quả lại do cái duyên màthành ra nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành

ra quả mới… Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thếgiới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh, hoá hoá mãi Nh vậy, t t-

ởng triết học trong phạm trù “Duyên khởi” của đạo Phật đã

chỉ rõ rằng những cái gì phù hợp với nhau sẽ thúc đẩy nhau

Trang 7

phát triển, sinh sôi, nảy nở, ngợc lại những cái gì không phùhợp sẽ bị huỷ diệt, tàn phá.

* “Vô ngã”: Phật giáo cho rằng ngay bản thân sự tồn tại

của thực thể con ngời chẳng qua cũng là do nhân duyênkết hợp và đợc tạo thành bởi hai thành phần: thể xác và tinhthần Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của ngũ uẩn Cáitôi sinh lý, tức thể xác gọi là sắc gồm: địa, thủy, hoả,phong, tức là cái có thể cảm giác đợc Cái tôi tâm lý, tinhthần, tức là tâm gọi là danh, với bốn yếu tố chỉ có tên gọi

mà không có hình chất là: Thụ, cảm thụ về khổ hay lạc đa

đến sự lãnh hội với thân hay tâm; Tởng tức suy nghĩ, t ởng; Hành tức ý muốn thúc đẩy hành động; Thức tức là sựnhận thức, phân biệt đối tợng tâm lý, phân biệt ta là ta…Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn, do nhân duyên hợpthành mỗi con ngời cụ thể có danh sắc Duyên hợp ngũ uẩnthì là ta, duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt,nhng không phải là mất đi mà là trở lại với ngũ uẩn- Cónghĩa khi nào ta từ bỏ đợc cái tôi thì sẽ trở về đợc với bảnchất

t-Nh vậy rõ ràng rằng phạm trù “Vô ngã” trong Phật giáo

muốn nói đến bản chất của sự vật, hiện tợng (trong đó cócả con ngời) nằm ngay trong chính bản thân sự vật chứkhông phải ở đâu xa, không phải do một lực lợng siêu nhiên,thần thánh nào tạo ra cả

* “Vô thờng”: Quan điểm “vô ngã” của Phật giáo gắn

liền với quan điểm “vô thờng” Vô thờng nghĩa là khôngvĩnh hằng, luôn luôn biến đổi Phật giáo quan niệm rằngmuôn vật sinh ra, tồn tại, rồi mất đi (sinh, trụ, hoại, diệt),

Trang 8

dẫu có trong khoảng thời gian dài thì so với thời gian vô tậncũng chỉ là trong chốc lát.

Nh vậy, qua phạm trù “Vô thờng” Phật giáo đã thể hiện

đợc cái nhìn mang tính biện chứng: Không có cái gì đứng

im một chỗ, giữ nguyên một chỗ mà mọi sự vật luôn luônbiến chuyển, thay đổi theo quy luật sinh, trụ, hoại, diệt

Có thể nói rằng, với ba phạm trù chính “Duyên khởi”,

“Vô ngã”, “Vô thờng” của Phật giáo, thời kỳ đầu Phật giáo đã

chứa đựng đầy đủ tính duy vật và tính biện chứng

b Tính triết học đợc thể hiện qua bốn chân lý của Phật giáo.

Khi nghiên cứu về Phật giáo, chúng ta còn cần phải chú

ý đến bốn chân lý của đạo Phật (Tứ diệu đế) Bốn chân

lý lớn này của Phật giáo đã thể hiện đợc quan niệm vềnhân sinh quan và con đờng cứu khổ của đạo Phật

* “Khổ đế”: Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ.

Cuộc sống nhân sinh không có gì khác ngoài sự khổ đau,ràng buộc, hệ lụy, không có tự do Đạo Phật phân chia nỗi

khổ của con ngời ra làm tám loại (Bát khổ): Sinh, Lão, Bệnh,

Tử, Thụ biệt ly (yêu thơng nhau mà phải chia lìa), Oán tăng hội (oán ghét nhau mà phải sống với nhau), Sở cầu bất đắc (cái mong muốn mà không đạt đợc), và Ngũ thụ uẩn.

“Khổ đế” là sự phát hiện tơng đối đầy đủ của Phật

giáo về nỗi khổ đau của con ngời, vì thế Phật giáo đợc coi

nh một tiếng nói đồng cảm với tầng lớp dới Có lẽ cũng chínhvì lý do đó mà nó có sức lan truyền nhanh trong nhân

Trang 9

dân Tuy nhiên, dới góc độ triết học đó là cái nhìn thiếutoàn diện, nó chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề, do đó

nó chỉ là tiếng nói đồng cảm chứ nó không thể là động lựckích thích con ngời ta vơn lên

* “Nhân đế”: Phật giáo không chỉ phát hiện ra nỗi

khổ đau của con ngời mà còn tìm ra nguyên nhân củanhững nỗi khổ đau của con ngời Phật giáo cho rằng có mời

hai nguyên nhân gây nên nỗi khổ của con ngời- thập nhị nhân duyên: Vô minh (không sáng suốt, ngu tối); Hành (tri thức); Thức (trí tuệ); Sắc (bản ngã); Lục nhập – xúc (cảm

xúc), thụ (vui buồn), ái (say mê), thủ (muốn giữ), hữu (ý thứctồn tại), sinh, lão, tử Chuỗi này đợc xác lập từ sinh duyên(sinh, lão, tử); từ sinh, lão, tử mà có ý thức về sự tồn tại củamình (hữu duyên); do đó mà muốn chiếm đoạt, muốnnắm giữ (thú); ý muốn dẫn đến say mê, ớc muốn (ái); từ ớcmuốn say mê gây ra tình cảm vui buồn (thụ); do có tìnhcảm vui buồn mà lục trần (6 giặc) mới nhập vào con ngời(xúc); do cảm xúc trần tục này mà thể xác mê muội, chỉnghĩ về bản thân mình (sắc); thể xác mê muội thì trítuệ không sáng suốt (thức); trí tuệ không sáng suốt thìkhông thể có tri thức đúng đắn (hành)

Qua chân lý “Nhân đế” Phật giáo đã tìm ra đợc

những nguyên nhân dẫn đến những nỗi khổ đau của conngời Tuy nhiên đây cũng là một cái nhìn thiếu toàn diện,bởi vì những nguyên nhân mà Phật giáo nêu ra còn là

động lực thúc đẩy con ngời ta phấn đấu, vơn lên lao độngtrong cuộc sống, là động lực thúc đẩy phát triển xã hội,phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật

Trang 10

* “Diệt đế”: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đau có thể tiêu diệt để đạt tới trạng thái “Niết bàn” Diệt đế là lần

theo thập nhị nhân duyên, tìm ra cội nguồn của nỗi khổ

và ái dục, dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc mọi hình thức đaukhổ, đa chúng sinh thoát khỏi nghiệp chớng, luân hồi, đạttới cảnh trí Niết bàn Có ba biện pháp hoặc ba bậc ngăn dục

từ thấp đến cao Đó là Giới, Định, thiền Giới là tự răn mình,

tự kiềm chế theo quy định cấm của nhà Phật nh cấm sátsinh, ăn trộm, tà dâm, nói dối, uống rợu, có của riêng, bạo lực

v.v…Định là trạng thái yên nghỉ trong t tởng, vô cảm để cắt đứt quan hệ với ngoại cảnh Thiền là trạng thái sáng suốt của kẻ đã diệt đợc dục bởi “giới” và “định”, đạt tới “bát nhã”,

tới trạng thái vô ngã, vô thức h không tuyệt đối, tới thờng trụ,tới chân tâm Từ biện pháp chung, Phật giáo đi tới đề ra

phơng pháp cụ thể cho nhận thức Đó là Đạo đế.

* “Đạo đế”: Đạo đế gồm Bát chính đạo, đó là:chính kiến (thấy mục đích đúng đắn, thấy cái đúng); chính t (suy nghĩ đúng đắn không lẫn lộn); chính ngữ (lời nói ngay thẳng); chính nghiệp (không làm hại ngời khác); chính mệnh (không dục vọng); chính tinh tiến (rèn luyện không biết mệt mỏi); chính niệm (có niềm tin đúng đắn); chính định (tập chung t tởng).

Nh vậy qua ba cặp phạm trù và bốn chân lý của đạoPhật, Phật giáo đã thể hiện đợc những mặt tích cực vànhững hạn chế của nó

Mặt tích cực của Phật giáo là đã phủ định thợng đế

Bàlamôn, phủ định chế độ đẳng cấp, phủ định thuyếtkhổ hạnh và chủ trơng hiến tế để giải thoát của đạo

Trang 11

Bàlamôn, đồng thời chủ chơng bình đẳng, bác ái, từ bi,

đề cao địa vị con ngời, coi Phật là tâm, là sáng tỏ, là giácngộ, là có thể đạt tới đợc Về mặt phơng pháp luận và nhậnthức luận, Phật giáo đã thể hiện đợc những yếu tố duy vật

và t tởng biện chứng tự phát trong khuôn khổ của chủnghĩa duy tâm chủ quan mà hạt nhân của nó là luật nhânquả tính vô thờng, sự kết hợp giữa nội tâm và ngoại cảnhgây ra nỗi khổ Có thể nói rằng Phật giáo là sự phát hiện tàitình không những chỉ về tôn giáo mà nó còn chứa đựngcả những nội dung của triết học, làm cơ sở cho sự pháttriển của triết học sau này, đặc biệt là triết học về conngời Phật giáo đã góp phần làm cho xã hội có đời sống tốt

đẹp hơn, ngời với ngời đối với nhau thân ái hơn

Tuy nhiên phật giáo cũng có những mặt hạn chế củanó

Mặt hạn chế của Phật giáo là tính ảo tởng do bản

chất Phật giáo là duy tâm chủ quan, chỉ thấy khổ có tínhchất sinh lý, sinh là đau khổ, Phật thơng ngời nhng phủnhận đời sống, tách con ngời khỏi cuộc sống, diệt dục để

đạt dục vọng cao nhất v.v… Hạn chế trong t tởng của Phậtgiáo là còn mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộcsống, chủ trơng “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duytâm, không tởng về những vấn đề xã hội Nh vậy hạn chếcủa Phật giáo chính là ở chỗ Phật giáo thiếu tính toàn diện,thiếu sự kích thích con ngời ta vơn lên trong cuộc sống,làm cho con ngời ta dễ bằng lòng với cuộc sống hiện tại,thậm chí ngay cả khi cuộc sống đó còn nhiều bất công

ii Sự ảnh hởng của phật giáo ở việt nam.

Trang 12

1 Thời gian và con đờng Phật giáo du nhập vào Việt Nam.

Ngày nay, căn cứ vào các tài liệu và các lập luận khoahọc của nhiều học giả, giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ýrằng Đạo Phật đã đợc truyền vào Việt Nam rất sớm, vàokhoảng từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III saucông nguyên

Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo nhiều con đờngkhác nhau, mang nhiều màu sắc địa phơng Nhng có haicon đờng chính Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam: Sự dunhập từ phía Tây và sự du nhập từ phía Bắc

Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam theo con đờng từphía Tây, thông qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia.Theo con đờng này, Phật giáo đã du nhập chủ yếu vào

miền Nam Việt Nam, mà chủ yếu là tông phái Tiểu thừa.

Theo tông phái này, ngời tu hành phải chịu khổ hạnh nhiềuhơn, họ cố gắng giữ những giáo lý nguyên thủy của Phậtgiáo cổ đại Những ngời tu hành của tông phái này cho rằng

họ càng tu hành khổ ải bao nhiêu thì càng dễ đắc đạobấy nhiêu; họ cần phải sống cuộc sống khổ cực của chúngsinh thì mới hiểu rõ đợc nỗi khổ của chúng sinh

Con đờng thứ hai Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam

là từ phía Bắc, qua Tây Tạng, Trung Hoa Theo con đờng

này chủ yếu là phái Đại thừa và chủ yếu là du nhập vào miền Bắc Việt Nam Những ngời tu hành theo tông phái Đại thừa có xu hớng gắn bó với cuộc sống hơn Theo họ làm thế

nào để cứu chúng sinh thoát khỏi khổ ải những ngời tuhành không nhất thiết phải chịu mọi cực hình khổ đau,

Trang 13

mà Phật là ngay tại tâm của mỗi ngời, ai cũng có thể trởthành Phật nếu nh có cái tâm hớng Phật.

Tuy Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo những con

đờng khác nhau và có những tông phái khác nhau, nhng tấtcả đều trung thành với t tởng của Đạo Phật Thích Ca Ngàynay ở nớc ta đang có xu hớng hoà hợp giữa các tông phái vớinhau, thống nhất theo sự chỉ đạo chung của Hội Phật giáoViệt Nam

2 Sự ảnh hởng của Phật giáo đến đời sống xã hội ở Việt Nam.

Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếpnghĩ, lối sống của dân tộc Việt Nam và đã trở thành mộtphần của bản sắc dân tộc Trong bài xã luận của tạp chí

“Phật giáo Việt Nam” đã viết: “Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam thật đã sẵn có mầm mống tinh thần Phật giáo Hèn gì

mà Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần hai ngàn năm nay, bao giờ cũng theo nhau nh bóng với hình Đã là viên đá nền tảng cho văn hoá dân tộc, cố nhiên Phật giáo Việt Nam vĩnh viễn phải là một yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện Ngày nay những hoàng nhoáng của một nền văn minh vật chất đã làm mờ mắt của một số đông ngời, nhng nền tảng cơ bản của nền văn hoá dân tộc vẫn đang còn bền chặt, khiến cho ngời Việt Nam dù có bị lôi cuốn phần nào trong một thời gian, rồi cũng hồi đầu trở lại với cội nguồn yêu dấu ngàn xa…”

Thật vậy, Đạo Phật đã ảnh hởng đến mọi lĩnh vựctrong đời sống xã hội của ngời Việt Nam Tuy nhiên sự ảnhhởng đó cũng có tính hai mặt của nó Đó là sự ảnh hởng

Ngày đăng: 22/02/2023, 19:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục đào tạo, Triết học (dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành Triết học), (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học (dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành Triết học)
Tác giả: Bộ giáo dục đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
2. PGS. TS. Lê Doãn Tá, Một số vấn đề triết học Mác- Lênin lý luận và thực tiễn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề triết học Mác- Lênin lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Doãn Tá
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
3. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Daisaku Ikêda, Phật giáo một ngàn năm đầu (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo một ngàn năm đầu
Tác giả: Daisaku Ikêda
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
5. Trờng đại học Tài chính –Kế toán Hà Nội, Đại c-ơng lịch sử Triết học (Nhà xuất bản thống kê, 1991) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Triết học
Tác giả: Trường đại học Tài chính – Kế toán Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1991
6. Thiền S Đinh Lực, C Sĩ Nhất Tâm, Phật giáo Việt Nam và Thế giới (Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Việt Nam và Thế giới
Tác giả: Thiền S Đinh Lực, C Sĩ Nhất Tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w