®Ò cng TiÓu luËn TriÕt häc ®Ò c¬ng Lêi nãi ®Çu 2 I TÝnh triÕt häc trong PhËt gi¸o 3 1 Sù xuÊt hiÖn cña PhËt gi¸o 3 2 TÝnh triÕt häc trong PhËt gi¸o 4 a TÝnh triÕt häc ®îc thÓ hiÖn qua ba ph¹m trï chÝ[.]
Trang 1b.Tính triết học đợc thể hiện qua bốn chân lý của Phậtgiáo…………
6
đế”………
6
Trang 3b Những hạnchế………
khảo………
19
Lời nói đầu
Trớc đây đã từng có quan điểm cho rằng Hy Lạp cổ
đại là cái nôi duy nhất của nền Triết học thế giới Nhng ngàynay nhờ có sự đi sâu nghiên cứu các nhà nghiên cứu đãkhẳng định rằng không chỉ có Hy Lạp cổ đại mà ấn Độ cổ
đại và Trung Hoa cổ đại cũng đều là những cái nôi củanền Triết học thế giới Có thể nói rằng nếu phơng Đông làchiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại thì ấn Độ là mộttrong những trung tâm văn hóa và triết học cổ xa, rực rỡ,phong phú nhất của nền văn minh ấy
Những t tởng triết học, những triết lý tôn giáo của ấn
Độ nh đạo Phật, đạo Jaina, đạo Hindu… đã từng tỏa sáng tớinhiều quốc gia trên thế giới Phật giáo là một trào lu triết họctôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trớc C.N ở miềnBắc ấn Độ, phía nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn Độ
Trang 4và Nêpan bây giờ Sở dĩ phật giáo có sức lan truyền trongnhân dân và sức sống nh vậy là do Phật giáo không những
đã có những phát hiện tài tình về tôn giáo, trở thành tiếngnói đồng cảm với nhân dân tầng lớp dới, mà trong nội dungchính của Phật giáo còn đã thể hiện đợc những nội dungcủa triết học, làm cơ sở cho sự phát triển của triết học saunày, đặc biệt là triết học về con ngời
ở Đông-Nam á, trong đó có Việt Nam, Phật giáo đã đợctruyền bá sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân từ nhữngnăm đầu kỷ nguyên và sự ảnh hởng của nó đối với đời sốngnhân dân ta ngày nay còn khá sâu đậm Tại sao Phật giáo
đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn, tìnhcảm, trong phong tục tập quán và cảnh quan của dân tộcViệt Nam nh vậy? Để có đợc câu trả lời, chúng ta sẽ cùngxem xét vấn đề đợc đề cập tới trong phạm vi bài viết này:
“Tính triết học trong Phật giáo và sự ảnh hởng của Phật giáo ở Việt Nam.”
i tính triết học trong phật giáo.
1 Sự xuất hiện của Phật giáo.
Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của
đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗikhổ và tìm con đờng giải thoát con ngời khỏi nỗi khổ triềnmiên, đè nặng trong xã hội nô lệ ấn Độ Phật giáo xuất hiệnvào khoảng cuối thế kỷ VI trớc C.N ở miền Bắc ấn Độ, phíanam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn Độ và Nêpan bâygiờ
Trang 5Ngời sáng lập ra đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni có tênthật là Tất Đạt Đa họ là Cù Đàm con vua Tịnh Phạn dòng họSakya, có kinh đô là thành Ca-ti-la-vệ Phật Thích Ca sinhngày mồng 8 tháng 4 năm 563 trớc C.N và mất năm 483 trớcC.N Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vơng giả
đi tu luyện tìm con đờng diệt trừ nỗi khổ của chúng sinh.Sau 6 năm liền tu luyện, Tất Đạt Đa đã “ngộ đạo”, tìm rachân lý “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” Tất Đạt Đa
đã trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni Khi đó Ngài vừa đúng
kinh-Trong quá trình phát triển về sau của đạo Phật, trong
Phật giáo đã hình thành hai tông phái chính là phái Tiểu thừa và phái Đại thừa Điểm khác nhau cơ bản giữa hai phái này là: Phái Tiểu thừa có thái độ chủ yếu là thụ động tìm
cách trốn tránh đau khổ do nghiệp lực và nhân sinh gây
ra bằng cách chạy sang cõi khác; Phái Đại thừa có thái độ tích
cực, đơng đầu với những khổ nạn để thực hiện lời thềnguyện và thực hành Đạo của Bồ tát để đạt đợc cảnh giới
Phật Trong khi mục đích của phái Tiểu thừa là sự nỗ lực hoàn thiện của một cá thể thì mục đích của phái Đại thừa
là cải thiện toàn xã hội và cứu vớt toàn chúng sinh Nhng cho
dù hai phái Tiểu thừa và Đại thừa có một số điểm khác nhau
Trang 6thì hai phái này vẫn trung thành và tuân theo những giáo
lý và mục đích cơ bản của Phật giáo, trên cơ sở đó làmcho Phật giáo có sự phát triển phong phú hơn, làm cho tôngiáo này trở nên gần gũi, dễ hoà nhập đối với dân chúnghơn, đợc truyền bá rộng rãi hơn
2 Tính triết học trong Phật giáo.
T tởng triết học Phật giáo nguyên thuỷ chứa đựngnhững yếu tố duy vật và biện chứng chất phác đợc thểhiện rõ nét nhất qua ba phạm trù và bốn chân lý của ĐạoPhật
a Tính triết học đợc thể hiện qua ba phạm trù chính của Phật giáo.
Phật giáo phủ định “tinh thần vũ trụ siêu nhiên” (Bratman) cũng nh phủ nhận “linh hồn” hay cái “tôi” (atman)
và đa ra quan niệm “Duyên khởi”, “Vô ngã”, “Vô thờng”.
Đây chính là ba phạm trù chính của Phật giáo
* “Duyên khởi”: Phật giáo cho rằng tất cả các sự vật,
hiện tợng tồn tại trong vũ trụ, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vôcùng lớn, đều không thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhânduyên Vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội tụnhân duyên mà thành ra “có” (tồn tại) Cái nhân nhờ có cáiduyên mới sinh ra đợc mà thành quả Quả lại do cái duyên màthành ra nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành
ra quả mới… Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thếgiới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh, hoá hoá mãi Nh vậy, t t-
ởng triết học trong phạm trù “Duyên khởi” của đạo Phật đã
chỉ rõ rằng những cái gì phù hợp với nhau sẽ thúc đẩy nhau
Trang 7phát triển, sinh sôi, nảy nở, ngợc lại những cái gì không phùhợp sẽ bị huỷ diệt, tàn phá.
* “Vô ngã”: Phật giáo cho rằng ngay bản thân sự tồn tại
của thực thể con ngời chẳng qua cũng là do nhân duyênkết hợp và đợc tạo thành bởi hai thành phần: thể xác và tinhthần Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của ngũ uẩn Cáitôi sinh lý, tức thể xác gọi là sắc gồm: địa, thủy, hoả,phong, tức là cái có thể cảm giác đợc Cái tôi tâm lý, tinhthần, tức là tâm gọi là danh, với bốn yếu tố chỉ có tên gọi
mà không có hình chất là: Thụ, cảm thụ về khổ hay lạc đa
đến sự lãnh hội với thân hay tâm; Tởng tức suy nghĩ, t ởng; Hành tức ý muốn thúc đẩy hành động; Thức tức là sựnhận thức, phân biệt đối tợng tâm lý, phân biệt ta là ta…Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn, do nhân duyên hợpthành mỗi con ngời cụ thể có danh sắc Duyên hợp ngũ uẩnthì là ta, duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt,nhng không phải là mất đi mà là trở lại với ngũ uẩn- Cónghĩa khi nào ta từ bỏ đợc cái tôi thì sẽ trở về đợc với bảnchất
t-Nh vậy rõ ràng rằng phạm trù “Vô ngã” trong Phật giáo
muốn nói đến bản chất của sự vật, hiện tợng (trong đó cócả con ngời) nằm ngay trong chính bản thân sự vật chứkhông phải ở đâu xa, không phải do một lực lợng siêu nhiên,thần thánh nào tạo ra cả
* “Vô thờng”: Quan điểm “vô ngã” của Phật giáo gắn
liền với quan điểm “vô thờng” Vô thờng nghĩa là khôngvĩnh hằng, luôn luôn biến đổi Phật giáo quan niệm rằngmuôn vật sinh ra, tồn tại, rồi mất đi (sinh, trụ, hoại, diệt),
Trang 8dẫu có trong khoảng thời gian dài thì so với thời gian vô tậncũng chỉ là trong chốc lát.
Nh vậy, qua phạm trù “Vô thờng” Phật giáo đã thể hiện
đợc cái nhìn mang tính biện chứng: Không có cái gì đứng
im một chỗ, giữ nguyên một chỗ mà mọi sự vật luôn luônbiến chuyển, thay đổi theo quy luật sinh, trụ, hoại, diệt
Có thể nói rằng, với ba phạm trù chính “Duyên khởi”,
“Vô ngã”, “Vô thờng” của Phật giáo, thời kỳ đầu Phật giáo đã
chứa đựng đầy đủ tính duy vật và tính biện chứng
b Tính triết học đợc thể hiện qua bốn chân lý của Phật giáo.
Khi nghiên cứu về Phật giáo, chúng ta còn cần phải chú
ý đến bốn chân lý của đạo Phật (Tứ diệu đế) Bốn chân
lý lớn này của Phật giáo đã thể hiện đợc quan niệm vềnhân sinh quan và con đờng cứu khổ của đạo Phật
* “Khổ đế”: Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ.
Cuộc sống nhân sinh không có gì khác ngoài sự khổ đau,ràng buộc, hệ lụy, không có tự do Đạo Phật phân chia nỗi
khổ của con ngời ra làm tám loại (Bát khổ): Sinh, Lão, Bệnh,
Tử, Thụ biệt ly (yêu thơng nhau mà phải chia lìa), Oán tăng hội (oán ghét nhau mà phải sống với nhau), Sở cầu bất đắc (cái mong muốn mà không đạt đợc), và Ngũ thụ uẩn.
“Khổ đế” là sự phát hiện tơng đối đầy đủ của Phật
giáo về nỗi khổ đau của con ngời, vì thế Phật giáo đợc coi
nh một tiếng nói đồng cảm với tầng lớp dới Có lẽ cũng chínhvì lý do đó mà nó có sức lan truyền nhanh trong nhân
Trang 9dân Tuy nhiên, dới góc độ triết học đó là cái nhìn thiếutoàn diện, nó chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề, do đó
nó chỉ là tiếng nói đồng cảm chứ nó không thể là động lựckích thích con ngời ta vơn lên
* “Nhân đế”: Phật giáo không chỉ phát hiện ra nỗi
khổ đau của con ngời mà còn tìm ra nguyên nhân củanhững nỗi khổ đau của con ngời Phật giáo cho rằng có mời
hai nguyên nhân gây nên nỗi khổ của con ngời- thập nhị nhân duyên: Vô minh (không sáng suốt, ngu tối); Hành (tri thức); Thức (trí tuệ); Sắc (bản ngã); Lục nhập – xúc (cảm
xúc), thụ (vui buồn), ái (say mê), thủ (muốn giữ), hữu (ý thứctồn tại), sinh, lão, tử Chuỗi này đợc xác lập từ sinh duyên(sinh, lão, tử); từ sinh, lão, tử mà có ý thức về sự tồn tại củamình (hữu duyên); do đó mà muốn chiếm đoạt, muốnnắm giữ (thú); ý muốn dẫn đến say mê, ớc muốn (ái); từ ớcmuốn say mê gây ra tình cảm vui buồn (thụ); do có tìnhcảm vui buồn mà lục trần (6 giặc) mới nhập vào con ngời(xúc); do cảm xúc trần tục này mà thể xác mê muội, chỉnghĩ về bản thân mình (sắc); thể xác mê muội thì trítuệ không sáng suốt (thức); trí tuệ không sáng suốt thìkhông thể có tri thức đúng đắn (hành)
Qua chân lý “Nhân đế” Phật giáo đã tìm ra đợc
những nguyên nhân dẫn đến những nỗi khổ đau của conngời Tuy nhiên đây cũng là một cái nhìn thiếu toàn diện,bởi vì những nguyên nhân mà Phật giáo nêu ra còn là
động lực thúc đẩy con ngời ta phấn đấu, vơn lên lao độngtrong cuộc sống, là động lực thúc đẩy phát triển xã hội,phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật
Trang 10* “Diệt đế”: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đau có thể tiêu diệt để đạt tới trạng thái “Niết bàn” Diệt đế là lần
theo thập nhị nhân duyên, tìm ra cội nguồn của nỗi khổ
và ái dục, dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc mọi hình thức đaukhổ, đa chúng sinh thoát khỏi nghiệp chớng, luân hồi, đạttới cảnh trí Niết bàn Có ba biện pháp hoặc ba bậc ngăn dục
từ thấp đến cao Đó là Giới, Định, thiền Giới là tự răn mình,
tự kiềm chế theo quy định cấm của nhà Phật nh cấm sátsinh, ăn trộm, tà dâm, nói dối, uống rợu, có của riêng, bạo lực
v.v…Định là trạng thái yên nghỉ trong t tởng, vô cảm để cắt đứt quan hệ với ngoại cảnh Thiền là trạng thái sáng suốt của kẻ đã diệt đợc dục bởi “giới” và “định”, đạt tới “bát nhã”,
tới trạng thái vô ngã, vô thức h không tuyệt đối, tới thờng trụ,tới chân tâm Từ biện pháp chung, Phật giáo đi tới đề ra
phơng pháp cụ thể cho nhận thức Đó là Đạo đế.
* “Đạo đế”: Đạo đế gồm Bát chính đạo, đó là:chính kiến (thấy mục đích đúng đắn, thấy cái đúng); chính t (suy nghĩ đúng đắn không lẫn lộn); chính ngữ (lời nói ngay thẳng); chính nghiệp (không làm hại ngời khác); chính mệnh (không dục vọng); chính tinh tiến (rèn luyện không biết mệt mỏi); chính niệm (có niềm tin đúng đắn); chính định (tập chung t tởng).
Nh vậy qua ba cặp phạm trù và bốn chân lý của đạoPhật, Phật giáo đã thể hiện đợc những mặt tích cực vànhững hạn chế của nó
Mặt tích cực của Phật giáo là đã phủ định thợng đế
Bàlamôn, phủ định chế độ đẳng cấp, phủ định thuyếtkhổ hạnh và chủ trơng hiến tế để giải thoát của đạo
Trang 11Bàlamôn, đồng thời chủ chơng bình đẳng, bác ái, từ bi,
đề cao địa vị con ngời, coi Phật là tâm, là sáng tỏ, là giácngộ, là có thể đạt tới đợc Về mặt phơng pháp luận và nhậnthức luận, Phật giáo đã thể hiện đợc những yếu tố duy vật
và t tởng biện chứng tự phát trong khuôn khổ của chủnghĩa duy tâm chủ quan mà hạt nhân của nó là luật nhânquả tính vô thờng, sự kết hợp giữa nội tâm và ngoại cảnhgây ra nỗi khổ Có thể nói rằng Phật giáo là sự phát hiện tàitình không những chỉ về tôn giáo mà nó còn chứa đựngcả những nội dung của triết học, làm cơ sở cho sự pháttriển của triết học sau này, đặc biệt là triết học về conngời Phật giáo đã góp phần làm cho xã hội có đời sống tốt
đẹp hơn, ngời với ngời đối với nhau thân ái hơn
Tuy nhiên phật giáo cũng có những mặt hạn chế củanó
Mặt hạn chế của Phật giáo là tính ảo tởng do bản
chất Phật giáo là duy tâm chủ quan, chỉ thấy khổ có tínhchất sinh lý, sinh là đau khổ, Phật thơng ngời nhng phủnhận đời sống, tách con ngời khỏi cuộc sống, diệt dục để
đạt dục vọng cao nhất v.v… Hạn chế trong t tởng của Phậtgiáo là còn mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộcsống, chủ trơng “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duytâm, không tởng về những vấn đề xã hội Nh vậy hạn chếcủa Phật giáo chính là ở chỗ Phật giáo thiếu tính toàn diện,thiếu sự kích thích con ngời ta vơn lên trong cuộc sống,làm cho con ngời ta dễ bằng lòng với cuộc sống hiện tại,thậm chí ngay cả khi cuộc sống đó còn nhiều bất công
ii Sự ảnh hởng của phật giáo ở việt nam.
Trang 121 Thời gian và con đờng Phật giáo du nhập vào Việt Nam.
Ngày nay, căn cứ vào các tài liệu và các lập luận khoahọc của nhiều học giả, giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ýrằng Đạo Phật đã đợc truyền vào Việt Nam rất sớm, vàokhoảng từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III saucông nguyên
Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo nhiều con đờngkhác nhau, mang nhiều màu sắc địa phơng Nhng có haicon đờng chính Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam: Sự dunhập từ phía Tây và sự du nhập từ phía Bắc
Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam theo con đờng từphía Tây, thông qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia.Theo con đờng này, Phật giáo đã du nhập chủ yếu vào
miền Nam Việt Nam, mà chủ yếu là tông phái Tiểu thừa.
Theo tông phái này, ngời tu hành phải chịu khổ hạnh nhiềuhơn, họ cố gắng giữ những giáo lý nguyên thủy của Phậtgiáo cổ đại Những ngời tu hành của tông phái này cho rằng
họ càng tu hành khổ ải bao nhiêu thì càng dễ đắc đạobấy nhiêu; họ cần phải sống cuộc sống khổ cực của chúngsinh thì mới hiểu rõ đợc nỗi khổ của chúng sinh
Con đờng thứ hai Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam
là từ phía Bắc, qua Tây Tạng, Trung Hoa Theo con đờng
này chủ yếu là phái Đại thừa và chủ yếu là du nhập vào miền Bắc Việt Nam Những ngời tu hành theo tông phái Đại thừa có xu hớng gắn bó với cuộc sống hơn Theo họ làm thế
nào để cứu chúng sinh thoát khỏi khổ ải những ngời tuhành không nhất thiết phải chịu mọi cực hình khổ đau,
Trang 13mà Phật là ngay tại tâm của mỗi ngời, ai cũng có thể trởthành Phật nếu nh có cái tâm hớng Phật.
Tuy Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo những con
đờng khác nhau và có những tông phái khác nhau, nhng tấtcả đều trung thành với t tởng của Đạo Phật Thích Ca Ngàynay ở nớc ta đang có xu hớng hoà hợp giữa các tông phái vớinhau, thống nhất theo sự chỉ đạo chung của Hội Phật giáoViệt Nam
2 Sự ảnh hởng của Phật giáo đến đời sống xã hội ở Việt Nam.
Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếpnghĩ, lối sống của dân tộc Việt Nam và đã trở thành mộtphần của bản sắc dân tộc Trong bài xã luận của tạp chí
“Phật giáo Việt Nam” đã viết: “Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam thật đã sẵn có mầm mống tinh thần Phật giáo Hèn gì
mà Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần hai ngàn năm nay, bao giờ cũng theo nhau nh bóng với hình Đã là viên đá nền tảng cho văn hoá dân tộc, cố nhiên Phật giáo Việt Nam vĩnh viễn phải là một yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện Ngày nay những hoàng nhoáng của một nền văn minh vật chất đã làm mờ mắt của một số đông ngời, nhng nền tảng cơ bản của nền văn hoá dân tộc vẫn đang còn bền chặt, khiến cho ngời Việt Nam dù có bị lôi cuốn phần nào trong một thời gian, rồi cũng hồi đầu trở lại với cội nguồn yêu dấu ngàn xa…”
Thật vậy, Đạo Phật đã ảnh hởng đến mọi lĩnh vựctrong đời sống xã hội của ngời Việt Nam Tuy nhiên sự ảnhhởng đó cũng có tính hai mặt của nó Đó là sự ảnh hởng