Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của CTXH Theo tác giả Nguyễn Hồi Loan: “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và ph
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Qúy thầy cô trong khoa Tâm lý – Giáo dục đã truyền đạt kiến thức, kỹ năng và chia sẽ kinh nghiệm của mình về ngành Công tác xã hội đến với chúng em trong suốt 4 năm học tập tại giảng đường Trường Đại học
Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Trong quá trình học tập tại trường, chúng em không chỉ được học tập về lý thuyết mà còn được đi thực hành với các đối tượng cụ thể, đó là những hành trang quý báu để chúng em có đủ tự tin để đến thực tập tốt nghiệp tại cơ
sở Trong thời gian thực tập ở Phòng Lao Động - Thương Binh và Xã Hội của Uỷ ban Nhân dân xã Chà Vàl em đã học hỏi được rất nhiều điều thiết thực về tác phong, thái
độ làm việc cũng như các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp tại nơi em được thực tập
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Bùi Đình Tuân là giảng viên hướng dẫn luôn theo sát em trong quá trình thực tập Thầy đã có những lời hướng dẫn nhiệt tình, cụ thể để em có thể hiểu rõ và tiếp cận vấn đề thực tập một cách rõ ràng, cụ thể hơn Đồng thời, thầy cũng đóng vai trò là người bạn đồng hành và hỗ trợ em khi em gặp khó khăn trong suốt quá trình thực tập
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo của Uỷ ban Nhân Dân xã Chà Vàl nói chung và Phòng Lao Động - Thương Binh và Xã Hội của Uỷ ban Nhân Dân
xã Chà Vàl nói riêng đã tạo điều kiện cho em được thực tập ở đây Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị phụ trách em thực tập, nhờ có sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của các anh chị mà em có nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực tập
Trong thời gian thực tập 10 tuần tại cơ sở, em cũng đã cố gắng hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao Vì thời gian thực tập có hạn nên trong quá trình thực tập,
em có thể gặp một số sai xót và kế hoạch đặt ra có thể chưa được thực hiện tốt Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của Qúy thầy cô để em có thêm nhiều kinh nghiệm làm việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CTXH Công tác xã hội
2 NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
3 NVXH Nhân viên xã hội
Trang 3PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
1 Giới thiệu
Hình ảnh: Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl
Thời gian thực tập: thời gian thực tập bắt đầu từ ngày 04/01/2021 đến ngày
28/03/2021 Trong đó có 02 tuần nghỉ Tết Nguyên Đán (từ ngày 08/02/2021 đến ngày 21/02/2021)
Cơ sở: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội của Uỷ ban Nhân dân xã
Chà Vàl, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam
Mãi đến sau này, vào tháng 6 năm 1949, chính quyền Cách mạng đã thành lập đơn vị hành chính xã “Xã Chà Vàl”, ban đầu gồm các nhóm dân cư Ra-Ró; La Bơ (Nơ bhơr); A- Dinh (Da ding) và Tà Un (Jơ ul) Theo các vị bô lão, gia làng có uy tín của địa phương thì thì tên gọi Chà Vàl có xuất xứ như sau: Trên địa bàn xã Chà Vàl từ xưa đến nay tồn tại một con suối nổi tiếng, có tên là suối Chà Vàl Tập quán của bà
Trang 4con địa phương là thường lấy tên sông hoặc núi đặt tên cho làng, vì vậy tên gọi xã Chà Vàl được lấy từ tên suối Chà Vàl mà ra
Chà Vàl là một trong mười 12 xã, thị trấn thuộc huyện Nam Giang, là một trong những xã vùng cao của huyện Nam Giang Có thể nói, trong 8 xã vùng cao của huyện Nam Giang, Chà Vàl là trung tâm nằm trên trục Quốc lộ 14D, cách trung tâm huyện lỵ Nam Giang khoảng 50 km
Hiện nay, toàn xã có 4 thôn gồm: Pring, A Bát, A Dinh, La Bơ Phía Bắc của xã Chà Vàl tiếp giáp với xã Zuốih, phía Nam tiếp giáp với xã Đắc Tôi, phía Đông giáp với xã Tà Pơ và phía Tây giáp với xã La Dêê Toàn xã có tổng số dân 2.985 người, trong đó dân tộc Cơ tu: 2.684 người, chiếm 89,91%; Dân tộc Kinh: 215 người, chiếm 07%; Dân tộc Ve: 70 người, chiếm 02%; và một số Dân tộc khác: 106 người, chiếm 03%
Các đơn vị liên quan
Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội của Uỷ ban nhân dân huyện: chịu sự
lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện đến Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội của Uỷ ban nhân dân xã về toàn bộ công tác theo chức năng, nhiệm vụ của phòng
Cơ quan chuyên môn khác thuộc Uỷ ban nhân dân quận: thực hiện mối quan hệ
hợp tác và phối hợp trên cơ sở bình đẳng, theo chức năng nhiệm vụ, dưới sự điều hành chung của Uỷ ban nhân dân quận, nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch, nhiệm vụ chính trị của quận
Các tổ chức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn xã Chà Vàl: được trực
tiếp hướng dẫn, kiểm tra, giải quyết các chế độ, chính sách về lao động, người có công
và xã hội theo quy định của nhà nước
Mặt trận tổ quốc, các đơn vị sự nghiệp, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội cấp huyện của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội: phối hợp với Mặt trận
tổ quốc và các đoàn thể quần chúng thực hiện tốt chế độ chính sách lao động, người có công và xã hội, tiếp nhận những phản ánh về tình hình các đối tượng để giải quyết kịp thời; phối hợp với các đoàn thể quần chúng vận động các đối tượng chính sách, phát huy truyền thống của dân tộc và truyền thống cách mạng để thực hiện tốt các cuộc vận động của Đảng và Nhà nước
2 Đối tượng tại cơ sở thực tập
Đối tượng sử dụng dịch vụ tại cơ sở
Có rất nhiều đối tượng sử dụng dịch vụ tại cơ sở gồm:
Nhóm người có công: Mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng lao động, lực lực vũ trang; Thương binh, Bệnh binh các loại theo hạng mức; Mẹ, Vợ liệt sĩ hưởng trợ cấp; Người có công giúp đỡ cách mạng hưởng trợ cấp hàng tháng, một lần; Người, con của người nhiễm chất độc hóa học…
Trang 5Nhóm đối tượng bảo trợ xã hội: Người khuyết tật; Người cao tuổi; người đơn thân thuộc diện hộ nghèo; Trẻ em mồ côi; Hộ gia đình nhận nuôi trẻ em mồ côi, trẻ em
bỏ rơi; Hộ gia đình trực tiếp nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng…
Nhóm người nghèo: Người mắc bệnh hiểm nghèo; Người nghèo không còn sức lao động…
Các doanh nghiệp; các cơ sở kinh doanh dịch vụ…
Số lượng người sử dụng dịch vụ tại cơ sở:
- Nhóm người nghèo: 326 hộ
- Nhóm người có công: 67 người
- Đối tượng bảo trợ xã hội: 102 người
- Các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh: 57 đơn vị/cơ sở
3 Mục tiêu cơ sở
Mục tiêu dài hạn
Đạt 100% tất cả các chỉ tiêu đề ra trên địa bàn xã Hình thành và duy trì hoạt động ngày càng có hiệu quả của mạng lưới hỗ trợ, chăm sóc người dân từ xã đến thôn nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bảo vệ và chăm sóc người dân trên địa bàn, góp phần cải thiện đời sống nhân dân
Mục tiêu cụ thể
Tiến hành khảo sát, lập danh sách đối tượng chính sách cần hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở năm 2021; phối hợp với trưởng thôn, thực hiện các biện pháp hỗ trợ các hộ chính sách thuộc diện hộ nghèo giai đoạn 2017-2021 thoát nghèo bền vững Tập trung xóa 100% nhà tạm hộ nghèo có đất ở ổn định; huy động các nguồn lực, tạo điều kiện cho người nghèo từng bước ổn định cuộc sống và thoát nghèo bền vững, nhất là hỗ trợ
về nhà ở, các điều kiện sinh hoạt và các dịch vụ xã hội 100% người dân có nhu cầu tư vấn tại văn phòng được giúp đỡ kịp thời
Trang 6 Nhân sự chuyên môn
Ủy ban nhân dân xã Chà Vàl tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy trách nhiệm cá nhân của từng thành viên Ủy ban nhân dân, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số Ủy ban nhân dân xã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biều hiện tiêu cực khác trong cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước và trong bộ máy chính quyền địa phương, chủ động; sáng tạo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Xây dựng và phát triển xã về nhiều mặt nhằm phục vụ lợi ích thiết thực của nhân dân
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân xã Chà Vàl gồm: 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và 8 chức danh chuyên môn gồm: Trưởng công an, Chỉ huy trưởng Quân sự, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, Tư pháp - Hộ tịch, Tài chính - Kế toán, Văn hoá - Xã hội, Lao động – Thương binh và Xã hội
CHỦ TỊCH
Địa chính xây dựng
PHÓ CHỦ TỊCH
Tư pháp
hộ tịch
Tài chính
kế toán
xã hội
Ban chỉ huy Quân
sự
Ban Công
an
Lao động, Thương binh và
xã hội
Trang 7Cán bộ không chuyên trách gồm: Nội vụ - Thi đua khen thưởng - Dân tộc -Tôn giáo, Gia đình và Trẻ em, Văn thư - Lưu trữ, Chủ tịch Hội chữ thập đỏ, Chủ tịch Hội người cao tuổi, Văn hóa - thông tin, Phó chỉ hủy quân sự xã, Phó công an xã
Ủy ban nhân dân xã Chà Vàl làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể Ủy ban nhân dân; đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên Ủy ban nhân dân xã Do đó, với
cơ cấu tổ chức của mình Ủy ban nhân dân xã cố gắng phát huy vai trò, trách nhiệm của mỗi công chức chuyên môn trong Ủy ban nhân dân nhằm giải quyết công việc đúng phạm vi trách nhiệm, đúng thẩm quyền; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân xã và sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước cấp trên
5 Các hoạt động chăm sóc đối tượng và kết quả các hoạt động chăm sóc
Lĩnh vực người có công:
Theo Quyết định số 07/QĐ-CTN về việc tặng quà cho các đối tượng người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, Uỷ ban nhân dân
xã Chà Vàl đã thực hiện đến thăm và trao tặng quà cho những người có công:
Đại diện Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl đến thăm và tặng quà cho 1 người thuộc đối tượng BB, CĐHH > 81% với số tiền là 500.000 đồng
Đại diện Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl đến thăm và tặng quà cho 57 người thuộc đối tượng CĐHH < 61%; TB; BB2; BB3; CCCM với số tiền 400.000 đồng mỗi người Đại diện Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl đến thăm và tặng quà cho 4 người là con
đẻ của người có công nhiễm CĐHH với số tiền 400.000 đồng mỗi người
Đại diện Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl đến tặng quà cho 9 hộ gia đình của các liệt
sĩ với số tiền 400.000 đồng cho mỗi hộ
Nhóm người nghèo:
Nhân dịp đón xuân Tân Sửu năm 2021, đại diện Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl đến thăm và tặng quà cho 55 người là người nghèo với số tiền 300.000 đồng mỗi người Thực hiện Nghị quyết số 13 của HĐND tỉnh về Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2017-2021 (gọi tắt là Nghị quyết 13), UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2511 Quy định về thực hiện Chính sách Căn cứ nhiệm vụ được phân công, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội của Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl ban hành văn bản hướng dẫn xác định đối tượng đăng ký và quy trình đăng ký thoát nghèo bền vững; hướng dẫn quy trình, thủ tục hồ sơ công nhận hộ thoát nghèo bền vững; hướng dẫn cấp thẻ BHYT cho người thuộc hộ thoát nghèo bền vững; hướng dẫn thực hiện chế độ cấp bù học phí cho học sinh, sinh viên con hộ thoát nghèo bền vững; hướng dẫn thực hiện Chính sách thưởng cho hộ thoát nghèo bền vững và cho cộng đồng thôn có hộ thoát nghèo bền vững
Trang 8 Bảo trợ xã hội:
Trong năm 2020, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội của Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl đã triển khai và thực hiện theo Quyết định số 148/QĐ-LĐTBXH về việc hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19
Nhân dịp đón xuân Tân Sửu năm 2021, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội của
Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em:
Uỷ ban nhân dân xã Chà Vàl đã thực hiện cấp phát quà Tết của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cho 25 em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, vượt khó học tập
6 Nhận xét chung về cơ sở
Trong suốt quá trình thực tập, em nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo, các cô chú, anh chị trong cơ sở, đặc biệt là chú Hiên Vân – là người hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập Trong thời gian thực tập, em gặp rất nhiều khó khăn nhưng em cũng đã học hỏi được rất nhiều điều bổ ích, nó sẽ giúp ích rất nhiều cho công việc của em sau này
Kết thúc kỳ thực tập, em nhận được kết quả tốt và những lời nhận xét chân tình
từ đơn vị mà em thực tập Em hy vọng trong tương lai với những kiến thức mà em đã
có được trong suốt 4 năm đại học thì em sẽ gặt hái được thành công bằng chính sự cố gắng của bản thân mình
Trang 9PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM MỒ CÔI NHẰM GIẢM MẶC CẢM, TỰ TI ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ CHÀ VÀL, HUYỆN NAM GIANG, TỈNH
sự phối hợp có hiệu quả của các đoàn thể, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, đặc biệt là công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ngày càng được xã hội hóa
Trong lịch sử hình thành phát triển của mình tại các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam, ngành công tác xã hội đã và đang làm tốt vai trò của mình trong việc hỗ trợ những cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội Đồng thời, CTXH thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Hiện nay, ngành công tác xã hội đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác với trẻ em, thanh thiếu niên, đặc biệt là nhóm trẻ em mồ côi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Bên cạnh những trợ giúp của xã hội và cộng đồng về mặt kinh tế, tài chính thì những đóng góp về mặt chức năng xã hội, tâm lý, tình cảm, các kỹ năng đối phó với thách thức của công tác xã hội đối với trẻ em là không thể phủ nhận Trong nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em mồ côi là một nhóm đặc thù và có những đặc điểm riêng biệt cả về hoàn cảnh lẫn đặc tính xã hội, chịu nhiều tổn thương và thiệt thòi
Theo số liệu thống kê, ở Việt Nam có khoảng 1.500.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có khoảng 176.000 trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi Trên địa bàn xã Chà Vàl có
27 trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ Vấn đề của các em gặp phải không chỉ là đối mặt với
sự khác biệt về hoàn cảnh sống, tính cách, lối sống mà còn rất tự ti về bản thân Các
em tự ti vì mình là trẻ mồ côi cha, hoặc mẹ, không nhận được tình yêu thương từ cả bố
Trang 10mẹ như các bạn, tự ti khi không có quần áo đẹp, tự ti vì không được người khác yêu quý…
Chính vì tự ti nên các em lại càng gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập môi trường cộng đồng Vì vậy, nhiệm vụ của CTXH trong lĩnh vực chăm sóc trẻ mồ côi rất quan trọng, bằng các kiến thức và kỹ năng của mình, NVCTXH có thể đưa ra các biện pháp hỗ trợ về mặt tâm lý, xây dựng các chương trình can thiệp theo nhóm, cá nhân để giúp các em có cơ hội giải tỏa căng thẳng, học hỏi các hành vi mới, tăng khả năng giao tiếp, nhìn nhận một các khách quan về bản thân và có một thái độ lạc quan hơn trong cuộc sống
Trong quá trình tiếp xúc và làm việc với TC, tôi nhận thấy những khó khăn trong quá trình hòa nhập môi trường cộng đồng của em xuất phát chủ yếu từ mặc cảm tự ti
về hoàn cảnh xuất thân của chính em Chính vì vậy, quá trình hỗ trợ cho thân chủ không chỉ là vấn gia đình, người thân mà cần sự can thiệp của NVXH, sự hỗ trợ từ phía nhà trường để giúp em có một tâm thế vững vàng, tự tin hơn khi tiếp xúc với mọi người xung quanh và sẵn sàng đón nhận những mối quan hệ mới Xuất phát từ lý do
trên, em đã thực hành hỗ trợ cho đối tượng thông qua đề tài: “Công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi: nghiên cứu trường hợp tại xã Chà Vàl, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam” Với đề tài này, em sẽ hỗ trợ thân chủ giảm mặc cảm, tự ti để nâng
cao khả năng hòa nhập vào cộng đồng
Trang 111.3.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích hồ sơ tài liệu
Nghiên cứu có sử dụng những thông tin từ những nguồn tài liệu có sẵn dựa trên nguồn số liệu từ những cuộc khảo sát xác định trẻ em mồ côi theo tiêu chuẩn mới, các báo cáo về trẻ em mồ côi ở phường Hòa Khánh Nam để làm tư liệu cho quá trình phân tích trường hợp
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm mục đích thu thập thông tin thực nghiệm cho bài làm Thông qua quan sát NVCTXH có thể thấy những khó khăn trong cuộc sống mà trẻ em mồ côi đang gặp phải để có thể định hướng đúng trong quá trình
hỗ trợ họ Cụ thể đã quan sát những mặt sau:
- Quan sát hoàn cảnh gia đình: nhà cửa, vật dụng, cơ sở vật chất trong nhà…
- Quan sát thái độ của thân chủ thông qua các buổi nói chuyện
- Quan sát hành vi, cảm xúc của thân chủ thông qua các buổi gặp gỡ
Phương pháp vãng gia
Vãng gia hay còn gọi là thăm hộ gia đình, phương pháp này là một trong những phương pháp, công cụ quan trọng của CTXH cá nhân Vãng gia hoàn toàn có lợi vì khi vãng gia có thể quan sát môi trường tự nhiên và xã hội của gia đình thân chủ cũng như thấy được các mối quan hệ và thái độ, cách xử sự giữa các thành viên trong gia đình đối với thân chủ và có ảnh hưởng như thế nào đến thân chủ
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về vấn đề, nhu cầu của thân chủ, thăm dò, phát hiện, tìm hiểu những chính sách và biện pháp mà chính quyền địa phương đã triển khai hỗ trợ trẻ em mồ côi trên địa bàn
Mục đích của phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin về thực trạng, những khó khăn trong hòa nhập, nguyện vọng của họ trong quá trình vươn lên khó khăn
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm Công tác xã hội:
Có rất nhiều cách tiếp cận với khái niệm công tác xã hội, dưới đây là một số khái niệm cơ bản:
Theo Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (họp tại Cannada năm 2004): CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội( vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân
Trang 12Theo Hiệp hội các bộ Xã hội quốc tế Hiệp Hội các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế định nghĩa: Nghề CTXH thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi
Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, CTXH can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của CTXH
Theo tác giả Nguyễn Hồi Loan: “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên cơ
sở văn hó truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân và các nhóm người trong việc giải quyết các nan đề trong cuộc sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người
và tiến bộ xã hội” Khái niệm này được báo cáo hội thảo Quốc Tế của APASWE, tổ chức tại Mebourne ngày 14/07/2014 và đã được thừa nhận thông qua
Từ các khái niệm trên, có thể rút ra kết luận về khái niệm CTXH như sau: CTXH
là một khoa học, một hoạt động chuyên môn Đối tượng tác động của CTXH là cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội và những người có nhu cầu trợ giúp Hướng trọng tâm của CTXH là tác động tới con người như một tổng thể Vấn đề mà cá nhân gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can thiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ qun cá nhân, cũng có thể nảy sinh từ phía khách quan, đó là cộng đồng, môi trường xuanh quanh
2.1.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân:
Có nhiều khái niệm về Công tác xã hội cá nhân được sử dụng trên thế giới dựa
trên nghiên cứu kết hợp với kinh nghiệm thực tế của những người làm CTXH chuyên nghiệp
Bà Mary Richmond – nhà công tác xã hội tiên phong người Mỹ – cho rằng
“Công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật làm việc với từng cá nhân với các vấn đề khác nhau, thông qua việc nhân viên xã hội cùng hợp tác với thân chủ, giúp thân chủ thực hiện chức năng xã hội, cải thiện mối quan hệ giữa họ và môi trường xã hội trở nên tốt hơn.”
Theo cố Thạc sỹ Phát triển cộng đồng Nguyễn Thị Oanh “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp (của Công tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề
về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm Mục đích của Công tác xã hội cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình”
Hay theo Sách giáo khoa/ bách khoa (Encyclopedia) về công tác xã hội của
Philippines: “Công tác xã hội cá nhân là một hình thức cá biệt hóa việc giúp đỡ con
Trang 13người đối phó vói những vấn đề cá nhân thường liên quan đến sự sa sút hay gãy đổ trong việc thực hiện các chức năng xã hội một cách đầy đủ”
Những điểm chung của các định nghĩa về CTXH cá nhân bao gồm:
Nhấn mạnh đây là một trong những phương pháp làm việc của CTXH nhằm hỗ trợ cho từng cá nhân theo mối quan hệ một – một;
Nhấn mạnh đến chức năng xã hội của cá nhân, những tiềm năng vốn có
để cá nhân tự giải quyết vấn đề của mình;
Đề cập đến yếu tố môi trường xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề hiện tại của cá nhân đặc biệt là việc thực hành chức năng xã hội của cá nhân
Tóm lại, CTXH với cá nhân là phương pháp nhân viên CTXH sử dụng các kiến thức, kỹ năng được đào tạo vào quá trình hỗ trợ tâm lý, tình cảm và xã hội nhằm giúp
đỡ cá nhân đối tượng hiểu về vấn đề của mình, phát hiện và phát huy những tiềm năng, thế mạnh bản thân; kết nối các dịch vụ hỗ trợ để cá nhân có được năng lực và các nguồn lực tự giải quyết vấn đề Trong quá trình hỗ trợ cá nhân, nhân viên công tác
xã hội áp dụng nhiều hoạt động chuyên môn như tham vấn, quản lý ca/trường hợp, sử dụng các mô hình hỗ trợ như can thiệp khủng hoảng, trị liệu nhận thức, hành vi, v.v
để giúp đỡ đối tượng
2.1.3 Khái niệm trẻ em và trẻ em mồ côi:
Khái niệm trẻ em:
Khái niệm trẻ em theo Công ước Quốc tế : "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổi thành niên sớm hơn" (Điều 1) [13]
Khái niệm trẻ em ở một số quốc gia: Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau
về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào
sự phát triên về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trẻ hơn 18 tuổi như được xác định trong Công ước về quyền trẻ em Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
- Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành
- Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt pháp lý Khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam: Pháp luật Việt Nam chưa có các qui định thống nhất về khái niệm trẻ em trong từng ngành luật cụ thể
Theo Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [22]
Ngoài ra trong các văn bản qui phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm “người thành niên là người trên 18 tuổi”, “người chưa thành niên là người dưới
Trang 1418 tuổi” Vấn đề đặt ra là phân biệt giữa các khái niệm trên và khái niệm “trẻ em” Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi
Khái niệm trẻ em mồ côi:
Nghị định 07/2000/NĐ-CP về chính sách cứu trợ xã hội quy định như sau:
"Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích để nương tựa; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 88 của
Bộ Luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật"
2.1.4 Công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
CTXH cá nhân với TEMC là quá trình NVXH sử dụng phương pháp CTXH cá nhân tác động lên đối tượng là TEMC Thông qua tiến trình công tác xã hội cá nhân, nhân viên công tác xã hội sẽ giúp đỡ thân chủ biết đực điểm mạnh, điểm yếu của bản thân và tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu của thân chủ
Theo Adler: tự ti là có cảm tưởng mình thua kém, phản ứng bằng cách tìm một lối thoát, sống dễ chịu hơn Theo Adler , đây là căn nguyên chủ yếu của các chứng bệnh nhiễu tâm, chứ không phải tính dục như Freud khẳng định
Ngoài ra, theo Budisah Mukherjee: mặc cảm là một tình trạng tâm lý khi một người bắt đầu cảm thấy rằng anh ta hoặc cô ta là kém hơn so với những người khác Nói cách khác, họ tin rằng họ không có kỹ năng và giá trị như các đồng nghiệp khác Một số người có ý thức về nó trong khi những người khác thì không (Vũ Dũng, Từ điển tâm lý học, 1998-2000, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa)
Từ các khái niệm trên có thể khái quát rằng: mặc cảm tự ti là trạng thái cảm xúc cảm nghĩ mà ở đó con người cảm thấy mình kém hơn so với người khác, từ đó họ luôn
ý thức rằng mình kém cỏi và không có giá trị Họ luôn thu mình trong vỏ bọc bi quan
và bị những cảm xúc thua kém chi phối toàn bộ đời sống
Trang 15 Một số nguyên nhân gây ra mặc cảm ở trẻ em:
- Sự không tán thành từ cha mẹ
- Do cách nuôi dạy con
- Nhận xét tiêu cực liên tục từ cha mẹ với con
- Cảm giác thường xuyên bị so sánh với những đứa trẻ ưu tú khác
- Kết quả học tập kém so với những người khác trong một nhóm hoặc lớp học
- Tình trạng kinh tế gia đình khó khăn
- Gia đình
- Tôn giáo
- Giới tính
- Phân biệt chủng tộc
Dấu hiệu của một đứa trẻ tự ti:
- Thông thường, một đứa trẻ tự ti thường có những biểu hiện sau đây:
- Trẻ tránh ở cùng bạn bè
- Trẻ thích ở nhà hơn là ra ngoài và chơi
- Tránh đi ra ngoài giao lưu, cố gắng rút mình ra khỏi thế giới
- Từ chối nói chuyện hoặc gặp một ai đó
- Trẻ tránh tham gia các hoạt động như nhảy nhót hoặc khiêu vũ hoặc các hoạt động khác, nơi mà chúng phải thể hiện bản thân hoặc khả năng của bản thân
- Đứa trẻ luôn nói về xui xẻo hay là không may mắn, do đó đổ lỗi cho tất cả mọi thứ vào sự may mắn chứ không phải là chấp nhận thất bại của mình
2.1.6 Khái niệm hòa nhập
Ta có thể hiểu rằng, hòa nhập là sống gần gũi, chan hòa, không xa lánh mọi người, không gây mâu thuẫn, bất hòa với người khác, có ý thức tham gia các hoạt động chung của cộng đồng Sống hòa nhập sẽ có thêm niềm vui, sức mạnh vượt qua khó khăn Ngược lại không hòa nhập sẽ cảm thấy cô đơn, buồn tẻ cuộc sống kém ý nghĩa
Trang 162.2 Đặc điểm của trẻ em mồ côi:
Hoàn cảnh gia đình
Đa số trẻ em mồ côi là con các hộ nghèo; bị mất cả cha lẫn mẹ hoặc mất cha,
mẹ bỏ đi hoặc mất mẹ, bố bỏ đi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi; Hầu hết các trẻ em mồ côi có người thân như cô, dì, chú, bác, ông bà cũng là những hộ nghèo vì vậy các em sẽ gặp nhiều khó khăn về đời sống vật chất như thiếu thực phẩm, không có nước sạch để sử dụng, không đủ phương tiện sinh hoạt hàng ngày, không được hưởng điều kiện chăm sóc, vệ sinh… các em phải tham gia vào lao động để tự nuôi sống bản thân mình và các anh, chị em trong gia đình Chính các khó khăn này đã làm cho một số em không
có cơ hội được đi học,từ đó xuất hiện cảm giác thua thiệt, thái độ tiêu cực, tự ti, mặc cảm dẫn đến mất đi các động cơ kích thích học tập, rèn luyện và phấn đấu
Đặc điểm tâm lý
Đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu cụ thể nào nói rõ về tâm lý TEMC, tuy nhiên dựa trên tâm lý của trẻ em và những biểu hiện thực tế của TEMC đã phác họa một số nét tâm lý cơ bản của TEMC như sau:
- Cảm giác cô đơn trống trải, trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng mặc cảm với số phận Trẻ xa lo lắng, sợ hãi, xa lánh không muốn quan hệ với bạn bè Một số trẻ trở nên liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe Một số trẻ lại có khả năng tự lập từ rất sớm
- Tâm lý hoài nghi: các em hoài nghi với mọi người, hoài nghi cuộc sống, thù ghét
mà không có lý do với những trẻ ở bên ngoài trường học hơn nó về gia thế và có đầy đủ cha mẹ
- Tâm lý thù hằn: TEMC sẽ hằn thù sâu đậm đàn ông nếu bố là nguyên nhân gây ra cái chết của mẹ, thù hằn đàn bà nếu mẹ là nguyên nhân gây ra cái chết của bố Tuy nhiên, các em cũng biết chia sẻ, đồng cảm và giúp đỡ các bạn
Những khó khăn của trẻ em mồ côi
Điều kiện sinh hoạt:
Cơ sở vật chất luôn thiếu, không đáp ứng nhu cầu của các cháu Không có sân vui chơi cho trẻ, không có các phòng học, không có máy vi tính cho trẻ học
Điều kiện chăm sóc sức khoẻ:
Điều 14, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh,chữa bệnh Trẻ em mồ côi không tiếp cận được với các dịch vụ y tế chất lượng cao, các em chỉ được hưởng những dịch vụ do bảo hiểm y tế quy định
Điều kiện vui chơi giải trí:
Trang 17Vui chơi giải trí là một cách để TEMC hòa nhập với bạn bè, giúp trẻ giảm bớt những mất mát, thiệt thòi, tự ti mặc cảm về số phận của mình Tuy nhiên còn thiếu thốn về vạt chất nên trẻ không được tiếp cận với các trò chơi, giải trí hiện đại
Điều kiện học tập:
Giáo dục đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Giáo dục giúp cho trẻ có cơ hội để phát hiện và phát triển khả năng, trí tuệ Giáo dục định hướng giá trị cho trẻ, giúp trẻ tiếp nhận các tri thức khoa học, cũng như các chuẩn mực
xã hội Theo Luật phổ cập giáo dục Việt Nam quy định: Các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để đạt được trình độ tiểu học Tuy nhiên, do nguồn ngân sách hằng năm cho các em còn hạn chế nên chỉ đáp ứng sách giáo khoa, dụng cụ học tập còn các sách tham khảo, sách chuyên đề, sách điện tử các em ít được tiếp cận
Nhu cầu cơ bản của trẻ em mồ côi
Về tâm lý: Đối với TEMC tâm lý chung của chúng, đó là sự tổn thương về tinh thần và tình cảm.Việc mất cha hay mất mẹ hoặc bị cham, mẹ bỏ rơi đều gây cho trẻ những cảm giác giống nhau, đó là khả năng tin tưởng vào con người rất thấp, khả năng hoài nghi rất cao
Nhu cầu tình cảm rất quan trọng đối với TEMC Đây là một nhu cầu tự nhiên, là nguồn cổ vũ, động viên các em vượt qua mặc cảm về sự thiệt thòi, vượt qua những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, thiếu hụt của hoàn cảnh gia đình để vươn tới cuộc sống tốt đẹp, bản thân các em có nghị lực, có ước mơ và hoài bão để các em đứng vững bằng chính đôi chân, xây dựng một cuộc sống tốt đẹp bằng chính đôi bàn tay và khối óc của mình
Nhu cầu được tôn trọng
Được tôn trọng là một nhu cầu chính đáng của con người Việc con người mong muốn được tôn trọng cho thấy bản thân mỗi cá nhân đều có khát vọng trở thành người
có ích, trở thành người được thừa nhận trong một nhóm, một tập thể hay một cộng đồng nào đó Con người thường mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn
Trang 18trọng và kính nể, vượt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu về sự thể hiện của mỗi
cá nhân Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người luôn tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc, một nghĩa vụ nào đó và họ chỉ cảm thấy thỏa mãn khi công việc, nghĩa vụ đó được thực hiện một cách tốt đẹp và nhận được sự tôn trọng, sự đánh giá đúng mức của những người xung quanh
Đối với TEMC thì nhu cầu “được tôn trọng” phải được lưu tâm một cách đặc biệt
vì trẻ thường lo sợ, tự ti trước thái độ kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh Trẻ luôn mong muốn được mọi người tôn trọng, không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không phán xét đến hoàn cảnh, xuất thân Nhu cầu được tôn trọng của các em là hết sức cần thiết và cũng là điều mà các nhà hoạt động trong lĩnh vực xã hội, bảo vệ trẻ
em cần đặc biệt lưu tâm nhằm giúp các em nhận ra giá trị của bản thân, phát hiện ra tiềm năng của mình, tự thấy mình là người có ích, từ đó có thái độ hợp tác nhằm giúp trẻ hòa nhập cộng đồng một cách hiệu quả nhất
Nhu cầu hoàn thiện, phát triển nhân cách
Từ khi sinh ra con người đã cố gắng hoàn thiện bản thân và đạt được những thành công, thành tựu, sự trưởng thành Cơ hội để một con người phát triển khả năng
và kỹ năng của bản thân có thể mang lại cho người đó ý nghĩa quan trọng về sự tự chủ, độc lập trong cuộc sống Sự cố gắng cải thiện bản thân mang lại cho chúng ta ý nghĩa
về mục đích của cuộc sống Những người không có những mục tiêu dài hạn và mong muốn hoàn thiện bản thân, cuộc sống của họ thường ít ý nghĩa và kém thỏa mãn
2.3 Công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
2.3.1 Tiến trình công tác xã hội cá nhân
Các bước trong tiến trình công tác xã hội cá nhân:
Bước 1: tiếp nhận TC và đánh giá vấn đề ban đầu:
Mục tiêu: tiếp nhận đối tượng hoặc tiếp nhận thông báo về đối tượng và thực hiện đánh giá sơ bộ về tình hình của đối tượng để cung cấp dịch vụ hỗ trợ kịp thời, đáp ứng nhu cầu trong trường hợp khẩn cấp Công việc cần thực hiện: tiếp nhận đối tượng, thông báo; thực hiện đánh giá sơ bộ tình hình của đối tượng; ghi chép thông tin và lưu
hồ sơ
Bước 2: thu thập thông tin
Sau khi thiết lập mối quan hệ tích cực với TC, NVCTXH tiếp tục thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến TC và môi trường xung quanh TC như:
- Tiểu sử về TC
- Điểm mạnh, điểm yếu của TC
- Mối quan hệ của TC với môi trường xung quanh
- Những vấn đề TC đang gặp phải hiện nay, nguyên nhân dẫn đến vấn đề đó và các biện pháp từng giải quyết vấn đề
Trang 19NVCTXH có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau xung quanh TC như từ: bản thân TC, gia đình, bạn bè, hàng xóm, giáo viên chủ nhiệm, nhân viên lưu trữ hồ sơ của TC,…
Mục đích của bước là NVXH thu thập thêm thông tin cần thiết để đánh giá toàn diện về tình hình của đối tượng
Bước 3: chẩn đoán
Trong bước này, NVXH cần:
Phân tích thông tin đã thu thập được
Khẳng định lại vấn đề của TC cần giải quyết
Nguyên nhân dẫn đến vấn đề
Vấn đề cần được giải quyết ở đâu
Bước 4: xây dựng kế hoạch hỗ trợ
Sau khi đã có đầy đủ thông tin về đối tượng, những vấn đề mà TC đang gặp phải
và những điểm mạnh điểm yếu của TC và gia đình, nhân viên công tác xã hội sẽ cùng ngồi lại với TC và gia đình TC để xây dựng kế hoạch hỗ trợ TC bằng cách xác định cụ thể những vấn đề sau:
- Liệt kê những việc cần làm
- Việc nào cần làm ngay, việc nào cần làm kế tiếp
- Cần có những nguồn lực nào để làm được việc này
- Cần bao nhiêu thời gian để làm xong việc này?
Bước 5: thực hiện kế hoạch hỗ trợ và giám sát thực hiện:
Căn cứ vào kế hoạch và hoạt động được lập ở bước 3 từ đó Nhân viên công tác
xã hội tiến hành tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ để có thể triển khai các hoạt động hỗ trợ
Trong quá trình hỗ trợ TC thực hiện kế hoạch, NVCTXH cần thực hiện những công việc sau:
- Giám sát tiến trình và nội dung
- Ghi chép lại quá trình thực hiện, đánh dấu những điều làm được, những điều chưa làm được, những đều tiến bộ, những điều cản trở tiến trình phát triển
- Hỗ trợ thân chủ trong việc theo đuổi kế hoạch
- Có kỹ năng nhận biết sự thay đổi
Trang 20- Lượng giá từng giai đoạn nhỏ và có sự điều chỉnh kịp thời
- Vai trò của NVXH: giảm dần
- Vai trò của thân chủ: tham gia nhiều hơn, chủ động hơn
- Phát triển một số kế hoạch tiếp theo (nếu cần thiết)
Thực tế có thể vận dụng bước 3, 4 đan xen và gắn kết lẫn nhau chứ không có ranh giới rõ rành Khi lập kế hoạch can thiệp nhân viên công tác phải chuẩn bị và tính toán đến công tác tổ chức Sang bước 4 là sự tham của các thành viên khác trong nhóm và vai trò thẩm định và bổ sung cho kế hoạch tổ chức thực hiện được thống nhất
và thông qua nhân vien công tác xã hội sẽ thực hiện nhiệm vụ triển khai
Bước 6: lượng giá và kết thúc
Sau khi có kế hoạch can thiệp đã được tổ chức triển khai, thì nhân viên CTXH phải có trách nhiệm và kế hoạch giám sát tiến tiến triển của các hoạt động và đánh giá kết thúc khi đối tượng đã có hòa nhập cộng đồng Nhân viên công tác xã hội cần lên
kế hoạch thăm viếng định kì để đánh giá tiến triển của đối tượng, sử dụng và hoàn thành đánh giá
2.3.2 Nguyên tắc
Nguyên tắc trong CTXHCN
Thứ nhất là nguyên tắc chấp nhận đối tượng bất kể đối tượng là ai, đến từ những
hoàn cảnh nào Việc chấp nhận đối tượng là việc chấp nhận những quan điểm, hành vi
và giá trị của đối tượng để đối tượng hiểu nhân viên CTXH hiểu và không phán xét đối tượng Việc này không đồng nhất với việc đồng tình với những quan điểm, hành vi
và giá trị sai lệch với xã hội
Thứ hai là nguyên tắc để đối tượng chủ độngtham gia giải quyết vấn đề Đây là
nguyên tắc đảm bảo đối tượng tham gia giải quyết vấn đề của họ từ giai đoạn đầu cho đến giai đoạn kết thúc Vì hơn ai hết đối tượng là người có vấn đề và hiểu về hoàn cảnh cũng như mong muốn của mình, nên vấn đề chỉ được giải quyết hiệu quả khi đối tượng là người tham gia
Thứ ba là nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng Nguyên tắc này
được hiểu là đối tượng chính là người quyết định giải quyết vấn đề của họ như thế nào Nhân viên công tác xã hội chỉ đóng vai trò là người xúc tác, cung cấp thông tin và giúp đối tượng tự đưa ra quyết định đúng đắn và phù hợp Tuy nhiên trong một số trường hợp khi quyết định của đối tượng có ảnh hưởng đến sự an nguy của họ, gia đình và những người xung quanh, nhân viên công tác xã hội cần can thiệp
Thứ tư là nguyên tắc đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp Do mỗi đối
tượng (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) đều có những đặc điểm riêng biệt về bản thân, hoàn cảnh gia đình và môi trường sống, khi giúp đối tượng giải quyết vấn đề nhân viên công tác xã hội cần tôn trọng tính cá biệt của từng trường hợp mà đưa ra
Trang 21phương pháp tiếp cận và hỗ trợ giải quyết vấn đề hiệu quả Ngay cả khi cùng là một vấn đề, nhưng với mỗi đối tượng lại cần có cách thức can thiệp phù hợp
Thứ năm là nguyên tắc đảm bảo tính riêng tư, bí mậtcác thông tin liên quan đến
đối tượng Nhân viên công tác xã hội trong quá trình làm việc luôn tuân thủ quy định bảo mật thông tin riêng tư của đối tượng Nhân viên công tác xã hội cần thông báo và nhận được sự đồng ý của đối tượng trước khi chia sẻ thông tin của họ với những nhà chuyên môn khác
Thứ sáu là nguyên tắc tự ý thức về bản thâncủa nhân viên công tác xã hội
Nguyên tắc này thể hiện ở ý thức trách nhiệm đảm bảo chất lượng dịch vụ, không lạm dụng quyện lực, vị trí công tác để mưu lợi cá nhân Bên cạnh đó nhân viên công tác xã hội cần luôn cầu thị, học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Thứ bảy là nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp.Mối quan hệ giữa nhân
viên công tác xã hội với nhân viên công tác xã hội cũng như giữa nhân viên công tác
xã hội và đối tượng cần đảm bảo tính bình đẳng, tôn trọng, khách quan và nguyên tắc nghề nghiệp
2.3.3 Kỹ năng
Kỹ năng lắng nghe
Lắng nghe trong công tác xã hội là một quá trình lắng nghe tích cực, đòi hỏi người cán bộ xã hội phải biết quan sát hành vi của đối tượng một cách tinh tế, phải tập trung chú ý cao độ và phải tôn trọng, chấp nhận đối tượng và vấn đề của họ, đổng thời giúp họ nhận biết là đang được quan tâm và chia sẻ.Kỹ năng lắng nghe thể hiện ở khả năng tập trung cao độ tới điều đối tượng trình bày và thể hiện qua hành vi, cử chỉ Nghe không chỉ bằng tai, mà còn bằng mát và cả bằng tâm của người nhân viên xã hội
bộ xã hội những manh mối quan trọng về nội dung chuyển tải của đối tượng
Để kỹ năng quan sát được thực hiện tốt thì người cán bộ xã hội phải có khả nãng nhận thức tinh tế về các vấn đề của đối tượng, phải biết cách quan sát từ tổng thể về hành vi, diện mạo bên ngoài của đối tượng, đến những đặc điểm tâm lý, đặc biệt là những sắc thái tình cảm xảy ra giữa đối tượng với người khác và với chính cán bộ xã hội
Trang 22Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức, hiểu biết về quá trình giao tiếp, các yếu tố tham gia và ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp cũng như
sử dụng có hiệu quả các phương tiện giao tiếp, phối hợp hài hoà toàn bộ hành vi, ứng
xử, cử chỉ để giúp chủ thể đạt được mục đích nhất định của hoạt động giao tiếp đó Một người cán bộ xã hội chuyên nghiệp thì phải có kỹ năng giao tiếp tốt thể hiện qua việc nhận thức được vấn đề mình đang giao tiếp; giao tiếp được thực hiện trên cơ
sở kế hoạch đó định trước; giao tiếp luôn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định và có định hướng cho mỗi cuộc giao tiếp Để thực hiện được kỹ năng này thì cán bộ phải xã hội phải có khả năng thiết lập các mối quan hệ, biết cách lắng nghe tích cực, biết phản hồi cảm xúc và nội dung của đối tượng giao tiếp và biết cách thu thập và xử lý thông tin qua việc đặt câu hỏi
Kỹ năng tham vấn
Tham vấn là quá trình cán bộ xã hội sử dụng những kiến thức, kỹ năng chuyên môn để giúp đối tượng giải quyết hoặc tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề, tăng cường chức năng xã hội của họ
Mục tiêu của kỹ năng này là giúp đối tượng hiểu được cảm xúc, suy nghĩ của chính họ, hoàn cảnh vấn đề, khám phá và sử dụng những tiềm năng nguồn lực vào giải quyết vấn đề, giúp đối tượng nâng cao khả năng đối phó với vấn đề trong cuộc sống
Để thực hiện được kỹ năng này thì người cán bộ xã hội phải biết phối hợp và sử dụng nhuẫn nhuyễn các kỹ năng cụ thể như lắng nghe, đặt câu hỏi, thấu hiểu và phản hồi (cảm xúc và nội dung)
Kỹ năng ghi chép
Khi thực hiện kỹ năng ghi chép, một điều quan trọng là cần phải ghi lại tất cả những gì xảy ra trong tiến trình đó - một nhiệm vụ bắt buộc mà cán bộ xã hội phải lưu tâm Cán bộ xã hội chuyên nghiệp giúp đối tượng giải quyết được vấn đề khó khăn của
họ trong đó có phần là nhờ những ghi chép lại tất cả những gì xảy ra trong quá trình trợ giúp đối tượng
Mục đích của việc ghi chép là giúp cán bộ xã hội làm cơ sở đánh giá kết quả của
sự tương tác giữa cán bộ xã hội và đối tượng, sự thay đổi và tiến bộ hoặc không) của đối tượng trong quá trình giúp đỡ; giúp cán bộ xã hội nhận thức được trình độ, kỹ năng trong công việc chuyên môn của họ; làm cơ sở cho các cơ quan xã hội ra các quyết định về các dịch vụ có liên quan Vì vậy, để thực hiện kỹ năng này thì cán bộ xã hội phải có trình độ chuyên môn cao; phải có kiến thức, hiểu biết về cá nhân và phải
có kỹ nãng giao tiếp tốt
Các kỹ năng nghề nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ xã hội không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho nhau Người cán bộ xã
Trang 23hội phải biết kết hợp các kỹ năng một cách nhuần nhuyễn để đạt hiệu quả công việc cao nhất
2.3.4 Chức năng
Chức năng phòng ngừa: Với quan điểm tiếp cận phòng hơn chữa, chức năng đầu
tiên của CTXH là phòng ngừa, ngăn chặn cá nhân, gia đình và cộng đồng rơi vào tình huống khó khăn chứ không phải để đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp
đỡ Chức năng phòng ngừa của CTXH thể thiện qua các hoạt động giáo dục, phổ biến tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về luật pháp, chính sách xã hội và những vấn đề xã hội Đơn cử như hoạt động giáo dục cộng đồng
về kiến thức Luật phòng, chống bạo lực gia đình hay tuyên truyền phòng chống tệ nạn
xã hội v.v Thông qua các hoạt động giáo dục như vậy, CTXH đã giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội có thể xảy ra với cá nhân, gia đình và cộng đồng Bên cạnh đó chức năng phòng ngừa còn thể hiện thông qua các hoạt động xây dựng văn bản, chính sách
xã hội góp phần cải thiện và nâng cao đời sống, ngăn chặn gia tăng đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn
Chức năng can thiệp: Chức năng can thiệp (còn được gọi là chức năng chữa trị
hay trị liệu) nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề khó khăn
họ đang phải đối mặt Với từng vấn đề và với mỗi đối tượng khác nhau, nhân viên công tác xã hội sẽ có phương pháp can thiệp hỗ trợ riêng biệt Ví dụ với những đối tượng có khó khăn về tâm lý, nhân viên công tác xã hội sẽ cung cấp dịch vụ tham vấn
để đối tượng vượt qua khó khăn về tâm lý Với những vấn đề cần phức tạp, cần nhiều nguồn lực, nhân viên công tác xã hội cần tìm kiếm, điều phối và kết nối các dịch vụ, nguồn lực đến với đối tượng Quy trình can thiệp của nhân viên công tác xã hội thường bắt đầu từ việc tiếp cận, đánh giá nhu cầu, xác định vấn đề, khai thác tiềm năng của đối tượng cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, hỗ trợ đối tượng thực hiện kế hoạch và cuối cùng là đánh giá và kết thúc quá trình giúp đỡ Phương pháp chủ đạo của CTXH là giúp cho đối tượng được tăng năng lực và tự giải quyết vấn đề của họ
Chức năng phục hồi: Chức năng phục hồi của CTXH thể hiện ở việc giúp cá
nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục lại chức năng tâm lý, xã hội đã bị suy giảm lấy lại trạng thái cân bằng trong cuộc sống Thông qua các hoạt động phục hồi, nhân viên công tác xã hội giúp cho đối tượng trở lại cuộc sống bình thường, hoà nhập cộng đồng
Ví dụ như giúp người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng hay giúp trẻ lang thang trở về đoàn tụ với gia đình; giúp người nghiện, người hành nghề mại dâm trở lại cuộc sống bình thường, tái hoà nhập cộng đồng v.v
Chức năng phát triển: CTXH thực hiện chức năng phát triển thông qua các hoạt
động xây dựng luật pháp, các chính sách, chương trình dịch vụ giúp cá nhân, gia đình
Trang 24và cộng đồng phát triển khả năng của mình đóng góp cho sự phát triển của xã hội Chức năng phát triển còn giúp đối tượng tăng năng lực và tăng khả năng ứng phó với các tình huống và có nguy cơ cao dẫn đến những vấn đề khó khăn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng Ví dụ như xây dựng các luật cho các đối tượng yếu thế hay giải quyết các vấn đề xã hội, các chương trình quốc gia về giảm nghèo, chăm sóc bảo vệ trẻ em, các dịch vụ trực tiếp cung cấp kiến thức giúp phát triển cá nhân như kỹ năng sống, kỹ năng làm cha, mẹ, v.v
2.3.5 Nhiệm vụ của nhân viên xã hội
Các nhiệm vụ cơ bản của nhân viên công tác xã hội:
- Nâng cao năng lực, thúc đẩy khả năng tự giải quyết vấn đề của cá nhân, gia đình, cộng đồng
- Kết nối thân chủ với hệ thống nguồn lực, dịch vụ và những cơ hội trong xã hội
- Thúc đẩy sự hoạt động có hiệu quả và tính nhân văn của các hệ thống cung cấp nguồn lực xã hội và dịch vụ xã hội
- Phát triển và cải thiện chính sách xã hội
2.3.6 Vai trò của NVCTXH
Nhân viên CTXH có một số vai trò sau đây:
- Vai trò là người vận động nguồn lực trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng ) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề
- Vai trò là người kết nối - khai thác, giới thiệu thân chủ tiếp cận tới các dịch
vụ, chính sách nguồn tài nguyên đang sẵn có trong cộng đồng
- Vai trò là người biện hộ/vận động chính sách giúp bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách mà họ là đối tượng được hưởng
- Vai trò là người giáo dục cung cấp kiến thức kỹ năng nâng cao năng lực cho
cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để
họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích
và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết
- Vai trò là người tham vấn giúp cho những đối tượng có khó khăn về tâm lý, tình cảm và xã hội vượt qua được sự căng thẳng, khủng hoảng duy trì hành vi tích cực đảm bảo chất lượng cuộc sống
- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp đối tượng như trực tiếp cung cấp dịch vụ chăm sóc đối tượng yếu thế
- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ
sở nhu cầu của cộng đồng đã cộng đồng được xác định, nhân viên công tác
Trang 25xã hội giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
- Vai trò người tạo sự thay đổi về đời sống cũng như tư duy của người yếu thế
và người dân trong cộng đồng nghèo vươn lên làm chủ cuộc sống
- Vai trò là người nhà đào tạo, nghiên cứu và quản lý hành chính giúp đào tạo thế hệ nhân viên CTXH, đưa ra những nghiên cứu lý luận và xây dựng mô hình giúp đỡ đối tượng và quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình
và cộng đồng
2.4 Hệ thống lý thuyết áp dụng với thân chủ
2.4.1 Thuyết hệ thống sinh thái:
Lý thuyết về hệ thống sinh thái được phát triển vào đầu thập kỷ 1970, nhưng sau
đó đã được Meyer (1983) tiếp tục xây dựng và mở rộng ra để đáp ứng nhu cầu giảng dạy của Mỹ và đã bao gồm những vấn đề liên quan đến cộng đồng, nhóm và gia đình vào nội dung của lý thuyết này Ngoài ra, việc giảng dạy hiện nay của lý thuyết này ở Việt Nam và ở nhiều nước khác còn bao gồm nhiều yếu tố đa dạng hơn như sự công bằng xã hội và quyền con người chứ không còn đơn thuần chỉ tập trung vào những nội dung công việc như trước đây
Sơ đồ hệ thống sinh thái giúp NVXH được vị trí của thân chủ trong một hệ thống
xã hội với những quan hệ tương tác với các hệ thống khác như: hệ thống gia đình; hệ thống bà con/ họ hàng; hệ thống bạn bè; hệ thống nhà trường; hệ thống cộng đồng và các hệ thống dịch vụ cũng như chính sách khác
Thông qua sơ đồ hệ thống sinh thái, NVXH có thể thấy được cuộc sống và những vấn đề của thân chủ trong xã hội đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của các mối quan hệ xung quanh họ Do vậy, trong quá trình hỗ trợ thân chủ, công việc đầu tiên là NVXH phải xác định được các hệ thống nào quanh hệ thống thân chủ có những ảnh hưởng quan trọng đến việc phát sinh các vấn đề hoặc việc giải quyết các vấn đề của khách hàng để có thể có những biện pháp tiếp cận và can thiệp hợp lý
Lý thuyết hệ thống và sinh thái giúp cho nhân viên công tác xã hội phân tích được thấu đáo sự tương tác giữa các hệ thống xã hội hoặc bên trong các hệ thống này
và có thể hình dung ra được những tương tác này sẽ ảnh hưởng đến hành vi của thân chủ như thế nào
2.4.2 Thuyết nhu cầu của Maslow
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu
Trang 26nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao:
Tháp nhu cầu của Maslow
- Nhu cầu về thể chất, sinh lý: nhu cầu về đồ ăn, nước uống, không khí, nhu cầu
về tình dục…Nhu cầu này được xem là nhu cầu cơ bản nhất trong 5 nhóm nhu cầu theo sự phân định của A.Maslow
- Nhu cầu an toàn: Con người cần có một môi trường sống an toàn, sức khỏe để
bảo đảm sự tồn tại của họ Họ cần có nhà ở để tránh mưa, tránh nắng Họ cần được khám chữa bệnh, được chăm sóc sức khỏe Họ cần được sống trong môi trường được đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ không bị đe dọa Họ cần
có môi trường sinh hoạt, vận động để không gây thương tích…
- Nhu cầu tình cảm xã hội: A.Maslow coi đó là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội
của con người, sự mong muốn được quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội (gia đình, người thân, bạn bè…) Sức mạnh của họ sẽ được nhân lên, sự tự tin cũng được tăng cường khi họ là thành viên của các nhóm bởi điều đó khẳng định vai trò, vị trí của họ trong xã hội.Sự đơn độc, không gia đình, không có nhóm xã hội nào để cá nhân thuộc về đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tâm lý và quan hệ xã hội của cá nhân
Trang 27- Nhu cầu được tôn trọng: Con người luôn cần được đối xử bình đẳng, được lắng
nghe và không bị coi thường Dù đó là ai, trẻ em hay người lớn, người lành lặn hay người bị khuyết tật, người giàu hay người nghèo tất cả họ đều có nhu cầu được coi trọng, được ghi nhận về sự hiện diện cũng như chính kiến của cá nhân Con người có trở nên tự tin hay không, thể hiện được sức mạnh của mình hay không đó là một phần do họ được đối xử bình đẳng hay không khi còn nhỏ
- Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển: Đó là nhu cầu được đến trường, được
nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển toàn diện Nhu cầu này được A.Maslow cho là nhu cầu quan trọng, song chúng được xếp ở bậc thang cuối cùng bởi nó chỉ được đề cập tới khi những nhu cầu cơ bản ở các bậc thang nền tảng đã được đáp ứng
Vận dụng thuyết “nhu cầu” trong tham vấn
- Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp nhà tham vấn xác định được những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của thân chủ, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của thân chủ chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng
- Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, nhà tham vấn đã hiểu được con người có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,…
- Nhà tham vấn sử dụng thuyết nhu cầu để hiểu và giúp đỡ thân chủ thỏa mãn các nhu cầu của họ ở các cấp bậc khác nhau Điều này có nghĩa là nhà tham vấn làm việc với thân chủ để giúp họ xác định các hành động có thể thực hiện được để thay đổi tình huống và tập trung vào các vấn đề tình cảm có thể đang cản trở thân chủ trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ
- Trong một số trường hợp, thân chủ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, việc kết nối họ với các nguồn lực là hoàn toàn hợp lý nhưng đây là công việc của nghề công tác xã hội Còn nhà tham vấn tăng cường năng lực cho thân chủ bằng cách lắng nghe thân chủ, chú ý đến các nhu cầu tinh thần của thân chủ
và giúp thân chủ hiểu được các tiềm năng của mình, sử dụng các tiềm năng đó
để vượt lên nấc thang nhu cầu cao hơn
2.4.3 Lý thuyết gắn bó Bowlby
John Bowlby (1907-1990) là một nhà phân tâm học người Anh, ông nổi tiếng với nghiên cứu về tập tính học và đưa ra thuyết gắn bó giữa trẻ nhỏ và người chăm sóc hay còn gọi là thuyết về mối quan hệ mẹ-con sớm Những quan sát của ông về gắn bó mẹ con ở những con linh trưởng và quan sát về những đứa trẻ bị tách khỏi mẹ trong một
Trang 28thời gian dài đưa ông đến với kết luận rằng sự gắn bó xã hội quyết định đối với sự phát triển bình thường của trẻ.[5,tr.126]
Thuyết gắn bó được phát triển năm 1940 đến năm 1970 ở Anh để giải thích mối quan hệ giữa trẻ em và người chăm sóc trẻ Lý thuyết này cho rằng, trẻ sẽ bị tổn thương về mặt tinh thần nếu trẻ không hình thành được những quan hệ gắn bó trong môi trường gia đình hoặc những mối quan hệ gắn bó bị phá hủy Bowlby cho rằng các mối quan hệ gắn bó không cố định và có thể thay đổi Bowlby đưa ra 4 kiểu gắn bó:
- Quan hệ gắn bó an toàn
- Quan hệ gắn bó không an toàn và lẫn lộn
- Quan hệ gắn bókhông an toàn và lảng tránh
- Quan hệ gắn bó không an toàn và mất phương hướng
Điều quan trọng là những dạng quan hệ này miêu tả bản chất quan hệ gắn bó của trẻ với cha mẹ ( đặc biệt là với những người mẹ) vì vậy cần nhận thức được những dạng hành vì cư xử nào của cha mẹ tạo nên dạng gắn bó này của trẻ.[14,tr.122]
Vì trẻ em mồ côi, thiếu thốn tình cảm của cha mẹ hoặc người thân Phải chịu thiệt thòi có cha mất từ khi còn nhỏ, mẹ lại đi làm xa Qua quá trình tiếp xúc với TC,
em nhận thấy ở TC luôn mong muốn được sự yêu thương chăm sóc từ cha mẹ nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản nhất TC thể hiện rõ kiểu gắn bó mà Bowlby đưa ra Vì cậy việc sử dụng thuyết gắn bó mẹ con sẽ giúp NVCTXH lý giải được các vấn đề tâm
lý bất ổn mà TC có thể gặp phải trong quá trình nghiên cứu
2.4.4 Lý thuyết phân tâm Freud
Sigmund Freud (1856-1939) sinh ngày 6/5/1856 tại Freibrg thuộc Đức, nay là Pribor thuộc Cộng Hòa Séc Năm 1885 Freud qua Paris, tại đây ông được làm việc với Charcot (nhà thần kinh học nổi tiếng), Freud đã tích cực sử dụng phương pháp thôi miên nhưng sau đó ông đưa ra một kĩ thuật trị liệu mới: liên tưởng tự do Thời này Freud cùng với Breuer xuất bản cuốn “nghiên cứu về Hysteri” đây được coi là khởi đầu chính thức của Phân tâm học Freud mô tả thuyết của ông như “ một loại hình học năng lượng thần kinh”
Cấu trúc nhân cách theo quan niệm của Freud , ông cho rằng có 3 thành phần để tạo nên nhân cách: cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi.[15,tr.102]
Cái ấy (Id): theo Freud cái ấy là “ phần tối tăm, không đạy tới được của nhân cách một mớ hỗn độn, một cái vại lớn sôi sùng sục những kích động” Cái ấy đòi hỏi được thỏa mãn theo nguyên tắc khoái cảm Cái ấy được gọi là “ đưa con hư của nhân cách” Xung năng sinh học và tâm lý bên trọng tạo thành cái ấy, nó chưa đựng và dự trữ toàn bộ năng lượng tâm thức nó cung cấp cho cái tooi và cái siêu tôi Nó không biết gì đến thế giới bên ngoài.[15,tr.103]
Trang 29Cái tôi(Ego): xung năng cả cái ấy và thực tại khách quan tạo thành cái tôi (đúng với vai trò trung gian) giúp con người tồn tại thoải mái( bản thân cái tôi không quan tâm đến những giá trị đạo đức hoặc những quy tắc ứng xử xã hội) nó tích lũy những quy tắc xã hội và những giá trị nhân văn được cá nhân bộc lộ Hoạt động của cái tôi bao gồm những hoạt động tâm trí như: tri giác, tư duy logic, giải quyết vấn đề và trí nhớ Cái tôi phục vụ cho cái ấy, làm trung gian giữa cái ấy và thế giưới bên ngoài Như vật cái tôi cùng lúc phải bảo vệ sự tồn tại của nó đối với thế giới nội tâm có những đòi hỏi quá mức Những đe dọa và hiềm họa của cái ấy và môi trường xung quanhg gây lo sợ Cái tôi giải quyế một cách thực tế bằng cách bận dụng những khả năng có thể , tuy nhiên khi quá lo sợ cái tôi xuất hiện cơ chế phòng vệ Cơ chế phòng
vệ này kiểm soát và làm giảm sự lo sợ bằng cách làm méo mó thực tại theo một cách nèo đó Các cơ chết chỉ cho phép thỏa mãn phần nào các xung năng khi cơ thể ở trong trạng thái căng thẳng Theo Freud những cơ chế phòng vệ thay đổi về số lượng từ thời gian này qua thời gian khác, có 11 cơ chế phòng vệ chính thường gặp: dồn nén( phủ định hoặc quên đi mói nguy hiểm), hình thành phản ứng ( hành động ngược lại với điều cảm thấy) phóng chiếu(gắn những xung lực không thể chấp nhận được của mình cho người khác), thoái lùi( quay trở về với một hình thái hành vi trước đó), cố định(giậm chân tại chỗ), huyễn tưởng, đồng nhất hóa, tacsc biệt, hợp lý hóa, tổ chức phản ứng, thăng hoa,[11,tr103-105]
Cái siêu tôi( Supeer ego): gồm 2 phần ý thức và cái tôi lý tưởng Nhìn chung ý thức là tiêu cực và cái tôi lý tưởng là tích cực Cái siêu tôi đối lập với cái tôi Nó khen thưởng, trừng phạt, yêu cầu Nó hủy bỏ cả nguyên tắc khái cảm lẫn nguyên tắc thực tế Như vật, cái siêu tôi không phải là thực tại mà là lý tưởng, mục tiêu của nó là sự hoàn thiện.[15,tr.107]
Freud cho rằng, sự tác động qua lại giữ 3 thành phần của nhân cách đươc xem là
có ý nghĩa to loén quyết địn ứng xử của con người Ngoài ra bên cạnh những nhu cầu
cơ bản dinh tồn của con người như ăn, uongs, ở thì con người còn có 2 nhu cầu cơ bản nữa là sự tức giận hay nu cầu sinh lý Ông tập trung và nghiên cứu tâm lý tính dục và cho rằng: động lực tình dục là sơ cấp-bản năng Động lực sinh lý này có từ khi sinh ra, phát triển qua các giai động và được điều khiển bởi năng lượng Libido [15,tr.107] TEMC thường thiếu thốn về mặt tình cảm Người mẹ chịu trách nhiệm chăm sóc thường chịu gánh nặng cồn việc lớn, đôi khi sẽ có những xao nhãng Khiến Bản thân
TC lại cho rằng đó chỉ là công việc họ phải làm, không phải xuất phát từ tình yêu thương, điều nay càng làm tăng cảm giác hụt hẫng, nó trở thành phản xạ có điều kiện đẩy vào vô thức, tạo nên các cơ chế phòng vệ giúp TC đối phó với các vấn đề hiện thực Tuy nhiên cơ chế phòng vệ này gioongs như một tấm áo giáp, khiến TC gặp khó khăn trong việc thể hiện bản thân và mở lòng với mọi ngườ để có được sự đồng cảm
Trang 30Khi đến trường, dù còn nhỏ tuổi nhưng lại dễ dàng nhận ra sự khác biệt của bản thân đối với các bạn cùng lớp, điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi em lớn lên Nhận thấy
sự thiệt thòi bản thân em sẽ thấy tự ti Chính vì vậy việc vận dụng thuyết phân tâm sẽ giúp NVCTXH lý giải được phần nào những hành động củaTC, xác định được tổn thương và biện pháp can thiệp xoa dịu tổn thương cần thiết
2.4.5 Thuyết nhận thức – hành vi
Khái niệm về nhận thức: Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Khái niệm về hành vi: hành vi là xử sự của con nguời trong 1 hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định
Bản chất của Thuyết nhận thức - hành vi:
Sơ lược về Thuyết hành vi: S -> R -> B (S là tác nhân kích thích, R là phản ứng,
B là hành vi) Thuyết cho rằng con người có phản ứng do có sự thay đổi của môi trường để thích nghi Như vậy, khi có 1 S sẽ xuất hiện nhiều R của con người, nhưng dần dần sẽ có 1 R có xu hướng lặp đi lặp lại do chúng ta được học hay được củng cố khi kết quả của phản ứng đó mang lại điều gì chúng ta mong đợi Như vậy theo thuyết này thì hành vi con người là do chúng ta tự học mà có và môi trường là yếu tố quyết định hành vi (Do trời mưa, do tắc đường nên nghỉ học…) Các mô hình trị liệu hành
vi vì thế mà nhiều khi được sử dụng một cách sai lầm như phương pháp thưởng phạt Phương pháp này gây cho đối tượng cảm giác bị áp đặt
Thuyết nhận thức-hành vi:
- Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc
là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội
- Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp
Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi
Trang 31- Ví dụ: tâm lý của học viên khi có thông báo thanh tra xuống kiểm tra, người thì
lo lắng không biết mình có bị phát hiện đi học hộ, người thì trách móc trước sự khắt khe của thanh tra, người thì nghĩ mình may mắn khi không nghỉ quá buổi học, người thì thấy đúng và ủng hộ => xuất phát từ nhận thức về tác nhân kích thích thanh tra
- Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm
Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy méo mó) Con người nhận thức lầm
và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do
đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại.(ví
dụ, đứa trẻ suy nghĩ và chắc mẩm rằng mẹ mình không yêu thương mình bằng em mình, từ đó đứa trẻ xa lánh mẹ và tỏ thái độ khó chịu với mẹ, không gần gũi…)
Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức
Như vậy những hành vi của trẻ mồ côi không chỉ đơn thuần do hoàn cảnh mà phần lớn bị chi phối bởi ý thức, tình cảm của các em trước các tình huống mà các em trải nghiệm, từ đó tạo nên những ứng xử thường xuyên trước mỗi sự việc tương tự Mặc cảm tự ti không phải tự nhiên mà có, trẻ em vốn rất đơn giản, dù có tổn thương sau mất mát của gia đình chúng vẫn có thể vui vẻ trở lại nếu thật sự được yêu thương
2.5 Mô hình CTXH vận dụng với thân chủ
2.5.1 Mô hình thực hành dựa trên lý thuyết sức mạnh của thân chủ (gia đình
thân chủ)
- NVCTXH tin rằng dẫu gia đình có vấn đề thì họ vẫn có những điểm mạnh NVCTXH cần giúp họ khám phá và giải quyết vấn đề dựa trên điểm mạnh Ví
dụ các thành viên đều tìm đến NVCTXH => muốn gia đình tốt hơn
- Gia đình có khả năng thay đổi và phát triển, NVCTXH giúp họ khám phá ra khả năng và tận dụng nó
- Gia đình đã trải qua những khó khăn và khủng hoảng NVCTXH cần chỉ ra họ
đã có khả năng vượt qua khó khăn và phục hồi
- Khả năng chịu đựng của gia đình
Trang 32- NVCTXH làm việc có hiệu quả hơn khi với tư cách là một đối tác của gia đình cùng làm với họ
2.5.2 Mô hình đánh giá sức mạnh của thân chủ áp dụng trong thực hành CTXH
cá nhân với người có công với cách mạng
Khi chúng ta tiến hành làm việc và can thiệp để giúp thân chủ giải quyết được vấn đề họ đang gặp phải, chúng ta có thể khái quát những nhân tố tác động đến thân chủ theo các trục sau:
Sức mạnh Các nhân tố môi trường Các nhân tố của thân chủ
và xã hội
¼: 2 Sức mạnh tâm lý:
và xã hội
¼: 4 Cản trở về vật chất
Trở ngại tâm lý Bảng: Phương pháp đánh giá sức mạnh của thân chủ (1/4:2)
a) Nhận thức:
Thân chủ nhìn thế giới xung quanh như hầu hết những người khác nhìn trong bối cảnh văn hóa của chính thân chủ
Có được sự hiểu biết đúng sai về góc độ văn hóa và đạo đức của họ
Hiểu được những hành vi của họ ảnh hưởng đến người khác như thế nào
và ngược lại
Có những cách suy nghĩ khác nhau về các sự việc hay không
Cân nhắc và xem xét những cách giải quyết vấn đề
Trang 33b) Cảm xúc:
Nếu được khuyến khích có thể tác động tới những cảm giác hay không?
Biểu lộ tình yêu và mối quan hệ thân mật với người khác
Bộc lộ mức độ kiểm soát bản thân
Sẵn sàng giúp đỡ, chia sẽ vấn đề của người khác
Sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm hoặc vai trò của họ trpng các vấn đề
Muốn cải thiện vấn đề hiện tại và tương lai
Không muốn phụ thuộc vào người khác
kiếm được sự cải thiện bản thân thông qua kiến thức, giáo dục và các kỹ năng
d) Mối quan hệ:
Có nhiều bạn
Tìm kiếm được sự hiểu biết từ bạn bè, gia đình, người khác
Hy sinh vì bạn bè, gia đình, người khác
Thực hiện vai trò xã hội thích hợp
Vui vẻ và thân thiện
Trung thực
Hợp tác và linh hoạt trong mối quan hệ gia đình và bạn bè
Tin tưởng vào bản thân trong quan hệ với người khác
Trang 342.6 Hệ thống chính sách, pháp luật liên quan
Nghị quyết 222/2015/NQ-HĐND tỉnh Quảng Ninh ngày 12/12/2015 về chính sách hỗ trợ một số đối tượng trẻ em chưa được hưởng chính sách hiện hành của nhà nước
Điều 1 Quy định chính sách hỗ trợ một số đối tượng trẻ em chưa thuộc diện hưởng chính sách hiện hành của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2016 -
2020, cụ thể như sau:
1 Phạm vi thực hiện:
Đối tượng trong độ tuổi trẻ em theo quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, có hộ khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, chưa thuộc diện được hưởng chính sách hiện hành của Nhà nước
2 Nguyên tắc hỗ trợ:
Trường hợp Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ có cùng nội dung quy định tại Nghị quyết này thì đối tượng chỉ được hưởng hỗ trợ theo mức hỗ trợ cao nhất
3 Đối tượng được hưởng
3.1 Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
a) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS
b) Trẻ em sinh ra từ bà mẹ bị nhiễm HIV/AIDS
3.2 Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, không có nguồn nuôi dưỡng (người còn lại: Đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng; bị mất tích từ 24 tháng trở lên nhưng chưa có quyết định công nhận mất tích của Tòa án, có xác nhận của Hội đồng xét duyệt bảo trợ xã hội cấp xã và thẩm định của Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội nơi trẻ thường trú; thuộc hộ nghèo; thuộc hộ cận nghèo)
3.3 Trẻ em thuộc hộ nghèo; trẻ em thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định của nhà nước; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em có hộ khẩu thường trú tại các
xã, phường thuộc vùng khó khăn theo Quyết định số 1049/QĐ-TTg ngày 26/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ; trẻ em là con của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 , Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13
3.4 Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ; trẻ em thuộc gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo theo quy định của Nhà nước; trẻ em thuộc gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, rủi ro đột xuất (các đối tượng này có xác nhận của Hội đồng xét duyệt bảo trợ xã hội cấp xã và thẩm định của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội nơi trẻ thường trú)
3.5 Trẻ em thuộc hộ cận nghèo; trẻ em tự kỷ đang theo học tại các cơ sở giáo dục có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền