1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền nam giai đoạn 1954 1975 sgk lớp 12 thpt cơ bản(1)

97 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn luyện kỹ năng diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam giai đoạn 1954 - 1975
Tác giả Nông Thị Cẩm Vân
Người hướng dẫn GV. Tạ Tương Chân
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NÔNG THỊ CẨM VÂN RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG DẠY HỌC CÁC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CHIẾN LƯỢC CỦA QUÂN DÂN MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



NÔNG THỊ CẨM VÂN

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG DẠY HỌC CÁC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CHIẾN LƯỢC CỦA QUÂN DÂN MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975, SGK

LỚP 12 - THPT (CƠ BẢN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: GV Tạ Tương Chân

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ 1

Mục lục 2

Những chữ viết tắt trong đề tài 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc RLKN diễn đạt trong DHLS ở trường phổ thông 11

1.1 Những căn cứ cử việc RLKNNVSP môn lịch sử 11

1.1.1 Mục tiêu đào tạo 11

1.1.2 Đặc trưng bộ môn lịch sử 12

1.1.3 Thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông 13

1.2 Tầm quan trọng của việc RLKN diễn đạt trong DHLS 15

1.2.1 Diễn đạt nói 15

1.2.2 Diễn đạt viết 16

1.3 Những yêu cầu khi RLKN diễn đạt trong DHLS 17

1.3.1 Diễn đạt nói 17

1.3.2 Diễn đạt viết 20

Chương 2 Các biện pháp RLKN diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 SGK lớp 12, THPT ( cơ bản) 27

2.1 Nội dung cần khai thác để RLKN diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 SGK lớp 12, THPT ( cơ bản) 27

2.2.Các biện pháp RLKN diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 33

2.2.1.Hướng dẫn HS nghiên cứu kiến thức mới 33

a Miêu tả 34

b Tường thuật 39

c Giải thích 44

d Phân tích 46

Trang 3

2.2.2 Hướng dẫn HS tiến hành các hoạt động ngoại khóa 57

2.3.Thực nghiệm sư phạm 71

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Hiện nay, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcđang là một tất yếu của sự phát triển Nó trở thành một làn sóngmạnh mẽ tác động đến tất cả các nước trên thế giới cũng như mọimặt của đời sống xã hội và nó đã trở thành một xu thế chung củathời đại

Để bắt kịp với xu thế đó, Đảng và nhà nước ta đã và đang chú

ý phát triển và củng cố mọi mặt của đời sống xã hội Trong đó GD

-ĐT được đặc biệt quan tâm

Thực tế cho thấy GD - ĐT là một vấn đề hết sức quan trọngtrong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triểncủa mỗi nước Ngay từ khi giành được chính quyền Hồ Chí Minh đã

chỉ rõ “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Cho nên, Đảng ta đã

xác định GD - ĐT là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt

Nam Đại hội lần thứ VIII (1996) của Đảng đã khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Luật giáo dục (2011) đã nêu: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc” Để đạt được mục tiêu đó thì việc giáo dục học sinh

thông qua các môn học ở trường phổ thông giữ một vị trí quan trọng Cùng với các môn học khác, bộ môn Lịch sử với tư cách là mộtmôn khoa học xã hội đã góp phần tích cực vào việc giáo dục thế hệtrẻ Ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học, cơbản, hiện đại, bộ môn lịch sử còn có tác động mạnh mẽ đến tưtưởng, tình cảm, nhân cách của học sinh Vì vậy, ngay từ thời cổ đại

người ta đã coi “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “ là bó đuốc soi

Trang 6

đường đến tương lai” Nhà văn dân chủ Nga thế kỉ XIX, G Tsec nư Spexki có viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học toán, tiếng Hi Lạp hoặc chữ Latinh, hóa học ; Có thể biết hàng nghìn môn học khác nhưng dù sao, đã là một con người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ là một con người không phát triển đầy

đủ trí tuệ”.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn còn tồn tại những quanniệm sai lệch về vị trí, vai trò của bộ môn Lịch sử Nhiều học sinh,thậm chí nhiều giáo viên cho rằng Lịch sử là môn học phụ, khôngcần tư duy sáng tạo mà chỉ cần học thuộc lòng một cách máy móc.Bên cạnh đó, một số giáo viên vẫn duy trì lối dạy học truyền thống

“Thầy đọc - trò chép” làm cho tính tích cực, chủ động học tập của

học sinh không được phát huy Đó cũng là nguyên nhân làm giảmchất lượng giáo dục bộ môn

Trước thực trạng đó, Đảng và nhà nước cũng đã có nhữngbiện pháp để khắc phục như đổi mới PPDH, đổi mới sách giáo khoa,

… Thực chất của việc đổi mới PPDH là chuyển từ mô hình dạy học

“Lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” nhằm phát huy tính tích cực học tập, khả năng sáng

tạo, tư duy độc lập của học sinh Tại Hội nghị lần thứ 2 BCHTW khoá

VII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên” [7, tr41]

Dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng vừa mang tínhchất khoa học, vừa mang tính chất nghệ thuật Trong quá trình lênlớp, việc sử dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là một thao tác sưphạm không thể thiếu của người giáo viên Bởi vì không có phương

Trang 7

pháp, phương tiện dạy học nào được sử dụng lại không kèm theo lờinói Diễn đạt nói rõ ràng, dễ hiểu không chỉ giúp học sinh có đượcbiểu tượng chân thực, sinh động nhất về quá khứ lịch sử giống như

nó đã tồn tại mà còn giúp học sinh biết suy nghĩ, tìm tòi, rút ra kếtluận, hình thành khái niệm nhằm tìm hiểu bản chất sự vật, quy luậtcủa quá trình phát triển lịch sử, gây cảm xúc mạnh mẽ cho các em.Bên cạnh đó, diễn đạt bằng ngôn ngữ viết cũng có ý nghĩa rất quantrọng Việc diễn đạt mạch lạc, rõ ràng, đúng ngữ pháp sẽ giúp họcsinh hiểu một cách khái quát, cụ thể, sâu sắc các sự kiện lịch sử Tuynhiên, thực tế học tập của sinh viên nói chung, sinh viên khoa Lịch

sử nói riêng ở một số trường Đại học Sư phạm chưa đáp ứng đượcyêu cầu về diễn đạt nói và viết như nói ngọng, nói lắp, nói ngắtquãng hoặc thêm những liên từ không cần thiết làm cho lời nói lủngcủng, không rõ ràng Trong khi viết, nhiều sinh viên còn phạm cáclỗi như viết sai ngữ pháp, chấm câu bừa bãi, diễn đạt câu văn lủngcủng, không rõ ý,…Tất cả những điều đó đều ảnh hưởng không tốtđến việc giáo dục học sinh

Xuất phát từ ý nghĩa và thực tiễn trên của việc diễn đạt (nói vàviết) trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, chúng tôi

chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam(1954 - 1975), SGK lớp 12, THPT,(cơ bản)” làm khóa luận tốt nghiệp.

Qua đề tài này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rènluyện kĩ năng diễn đạt trong dạy học lịch sử nhằm góp phần nângcao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Diễn đạt (nói và viết) có vai trò, ý nghĩa to lớn trong dạy họcnói chung, dạy học lịch sử nói riêng Trong quá trình giảng bài, giáoviên có kĩ năng diễn đạt tốt sẽ làm cho bài học trở nên sinh độnghơn, từ đó gây hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao

Trang 8

viết) được nhiều nhà khoa học, giáo dục trong và ngoài nước quantâm nghiên cứu.

2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:

- I.F Kharla môp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” đã đề cập đến ý nghĩa của việc trình bày

kiến thức bằng lời của giáo viên là nhằm tăng cường tính tích cực tưduy của học sinh Từ đó, tác giả đã đề xuất những biện pháp nhằmphát huy tính tích cực, tư duy của học sinh khi giáo viên trình bàybằng lời tài liệu mới như kể một câu chuyện, phân tích một vấn đề,giải thích một khái niệm,… Qua đó các em sẽ hiểu rõ hơn những kiến

thức được trình bày trong SGK Tác giả đã khẳng định “Việc GV có kĩ năng tìm được mối liên hệ giữa các vấn đề mà các nhà bác học đã nghiên cứu với điều mà các em đã học ở nhà trường thuộc một môn học nào đó cũng gây cho HS niềm hứng thú đặc biệt đối với việc học tập tài liệu mới” [ 14; tr.102].

2.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước:

- Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”, Nguyễn Thị Côi - Trịnh Tùng - Lại Đức Thụ - Trần Đức Minh Các

tác giả đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năngnghiệp vụ sư phạm nói chung, rèn luyện kĩ năng diễn đạt (nói và

viết) nói riêng và khẳng định “Để thể hiện đúng vai trò, ý nghĩa của diễn đạt nói và viết trong dạy học lịch sử cần thiết phải gia công, rèn luyện, khắc phục những khuyết tật thường gặp” [25 ; tr 22].

-Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 2 của Phan

Ngọc Liên (chủ biên) - Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi, đã đề cập

đến các cách trình bày tài liệu bằng lời và các tác giả cho rằng: “Rèn luyện các cách trình bày miệng là một yêu cầu cao đối với giáo viên

để truyền thụ kiến thức, hình thành tư tưởng đạo đức, kĩ năng tư duy

và thực hành cho học sinh” [32; tr 40].

Trang 9

- Tiến sĩ Trần Quốc Tuấn với bài viết “Rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 238, kì

2 (5/ 2010) đã đề cập tới thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng nghềnghiệp cho sinh viên sư phạm trong đó có kĩ năng diễn đạt nói vàviết Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cụ thể về việc rènluyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên các trường đại học và caođẳng sư phạm

Như vậy, việc rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm nói chung,rèn luyện kĩ năng diễn đạt nói riêng đã thu hút được sự quan tâmcủa nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Điều đó chứng tỏviệc rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm là điều rấtcần thiết Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu

nghiên cứu về vấn đề “Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam (giai đoạn

1954 - 1975), SGK lớp 12 - THPT (cơ bản)”.Cho nên chúng tôi tập

trung nghiên cứu vấn đề này Những công trình nghiên cứu của cácnhà khoa học trong và ngoài nước là nguồn tài liệu tham khảo quýbáu giúp chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc Rèn luyện kĩ năng diễnđạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dânmiền Nam (giai đoạn 1954 - 1975), SGK lớp 12 - THPT (cơ bản)

3.2 Phạm vi nghiên cứu.

Trong đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu việc Rèn luyện kĩnăng diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược củaquân dân miền Nam (giai đoạn 1954 - 1975), SGK lớp 12 - THPT (cơbản)

4 Nhiệm vụ của đề tài.

Trang 10

Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết những vấn đề cơ bảnsau:

- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năngdiễn đạt trong dạy học lịch sử

- Khai thác nội dung chương trình, SGK, đề xuất những biệnpháp Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân

sự chiến lược của quân dân miền Nam (giai đoạn 1954 - 1975), SGKlớp 12 - THPT (cơ bản)

5 Phương pháp nghiên cứu.

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận.

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan, các tác phẩm của một sốnhà sử học Mác xit, các nhà tâm lí học, giáo dục học, các văn kiệnĐảng, các bài, sách, báo, tạp chí có liên quan đến việc rèn luyện kĩnăng diễn đạt trong dạy học lịch sử Đồng thời kết hợp phương pháplịch sử và phương pháp lô gic để nghiên cứu các tài liệu phục vụ cho

đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

- Đối với học sinh: Tiến hành điều tra tình hình học tập của họcsinh về môn lịch sử thông qua sổ điểm, kiểm tra miệng, kiểm tra 15phút hoặc kiểm tra trắc nghiệm, …

- Đối với giáo viên: Tìm hiểu tình hình giảng dạy môn lịch sử,quan niệm của giáo viên về việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt trongdạy học lịch sử qua trao đổi trực tiếp, hoặc dự giờ

5.3 Thực nghiệm sư phạm.

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng những biện pháp sưphạm mà đề tài đã nêu ra, từ đó rút ra những kết luận khoa học,khẳng định tính đúng đắn và khả thi của đề tài

6 Ý nghĩa của đề tài.

- Nghiên cứu đề tài này sẽ nâng cao trình độ lí luận dạy họcnói chung cũng như lí luận dạy học lịch sử nói riêng cho bản thân tácgiả đề tài

Trang 11

- Từ công tác thực nghiệm đem lại kết quả cao, chứng tỏnhững biện pháp được đưa ra trong đề tài có ý nghĩa thực tiễn Với ýnghĩa đó, đề tài đã góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học,nâng cao chất lượng học tập bộ môn, đồng thời phát huy tính tíchcực, chủ động của học sinh trong học tập.

- Trong một chừng mực nhất định, đề tài sẽ là nguồn tài liệutham khảo hữu ích cho các giáo viên ở trường THPT, cho các bạnsinh viên trong quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu bộ mônphương pháp dạy học lịch sử

7 Giả thuyết khoa học.

Nếu đề tài được thực hiện thành công sẽ góp phần vào việcnâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đáp ứng yêucầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn hiện nay

8 Bố cục của đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đềtài gồm có 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng

diễn đạt trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong

dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam(giai đoạn 1954 - 1975), SGK lớp 12 - THPT (cơ bản)

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Những căn cứ của việc RLKNNVSP môn lịch sử.

1.1.1 Mục tiêu đào tạo.

Mục tiêu của trường sư phạm là đào tạo ra một đội ngũ cácthầy, cô giáo có phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, có trình độchuyên môn, nghiệp vụ, …cho các trường phổ thông, đáp ứng yêucầu phát triển giáo dục trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Để đạt được mục tiêu đó thì bêncạnh việc cung cấp cho sinh viên những kiến thức chuyên ngành,những kiến thức cơ bản về triết học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, về tin học, ngoại ngữ, … trường sư phạm còn phải trang bị cho

họ những kiến thức cơ bản về KNNVSP Việc RLKNNVSP chính là đặctrưng của trường sư phạm để phân biệt với các trường khác

Các nhà giáo dục học đã khẳng định dạy, học là một quá trình,

trong đó “ Dưới vai trò chủ đạo ( tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, kiểm tra - đánh giá) của giáo viên; Học sinh tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm thực hiện

có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học, đạt mục đích dạy, học đề ra” [9;

tr 1] Như vậy, trong quá trình lên lớp, GV là người tổ chức, hướngdẫn, điều khiển để HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức Đểthực hiện được vai trò “ chủ đạo” của mình, người GV cần phải cóphương pháp và nghệ thuật sư phạm Ở học phần PPDH Lịch sử, sinhviên đã được trang bị những kiến thức lí luận về PPDH bộ môn vàcách vận dụng những lí luận ấy vào các bài Lịch sử cụ thể Việc

RLNVSP sẽ giúp họ có kĩ năng vận dụng để “ truyền đạt một cách có hiệu quả kiến thức lịch sử vào khối óc và trái tim HS”[ 23, tr 11].

Trên thực tế ta thấy, một bài giảng tốt không chỉ đòi hỏi phảisoạn giáo án tốt mà vấn đề ở chỗ chúng ta “ thể hiện” giáo án đó

Trang 13

như thế nào để thông qua đó HS có được một bức tranh toàn vẹn vềquá khứ lịch sử Muốn làm được điều đó, trước hết người GV phải có

kĩ năng diễn đạt tốt, trước hết là kĩ năng diễn đạt nói, bởi “ Lời nói của GV sẽ dẫn dắt HS “ trở về” với quá khứ lịch sử, tạo được biểu tượng rõ ràng, cụ thể về một nhân vật, một biến cố hiện tượng lịch sử,… giúp HS biết suy nghĩ, tìm tòi, rút ra kết luận, hình thành khái niệm, nhằm tìm hiểu bản chất sự vật, quy luật của quá trình phát triển lịch sử” [ 32; tr 39] Bên cạnh đó, việc sử dụng tốt các loại đồ

dùng trực quan, sử dụng tốt bảng đen,… cũng góp phần không nhỏđến sự thành công của bài giảng Do đó, sinh viên khoa lịch sử ở cáctrường sư phạm cần phải vừa được học sử vừa được rèn luyệnnghiệp vụ

1.1.2 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử.

Mục tiêu của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là “ Nhằm giúp HS có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc

và lịch sử thế giới; Góp phần hình thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [32, tr 67] Vì vậy, bộ môn lịch sử ở

trường phổ thông cần cung cấp cho HS qua từng cấp học một bứctranh sinh động về lịch sử loài người và lịch sử dân tộc từ thời cổ đạicho đến thời hiện đại Qua đó góp phần hình thành cho HS thế giớiquan khoa học, bồi dưỡng những tình cảm đạo đức tốt đẹp và pháttriển năng lực nhận thức, kĩ năng, kĩ xảo cho HS, giúp các em vậndụng vào việc học tập và trong cuộc sống góp phần thực hiện mục

tiêu chung mà luật giáo dục đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách,

Trang 14

phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [18; tr 8].

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, quá trình nhận thứccủa con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tưduy trừu tượng trở về thực tiễn Tuy nhiên, nhận thức lịch sử cónhững nét khác biệt Do đặc thù bộ môn nên việc nhận thức lịch sửkhông bắt đầu từ trực quan sinh động có nghĩa là trong học tập lịch

sử, HS không thể tri giác các sự kiện lịch sử đã xảy ra mà chỉ cóđược những hình ảnh của quá khứ thông qua các biểu tượng lịch sử.Như chúng ta đã biết, sự kiện lịch sử xảy ra trong quá khứ khôngbao giờ lặp lại nguyên xi và chúng ta cũng không thể tái tạo lạiđược Theo phương pháp luận sử học thì lịch sử đã xảy ra không bao

giờ lặp lại, nếu có lặp lại thì ở dạng khác, cao hơn, hợp quy luật ( sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại) và việc “diễn lại lịch sử” cũng được thực hiện trong một giới hạn nhất định “có sự diễn lại những tình hình cũ chỉ là ngoại lệ chứ không phải là cái thường lệ và chỗ nào có diễn lại thì cũng không bao giờ diễn lại trong đúng điều kiện như cũ”

[ 29; tr 154]

Như vậy, trong học tập lịch sử HS không thể trực tiếp quan sátcác sự kiện lịch sử đã xảy ra, kể cả những sự kiện đang xảy ra cũngkhông thể quan sát được toàn bộ Do đó, người giáo viên phải dạynhư thế nào để thông qua lời nói của mình cùng với các phương tiệndạy học, các thao tác sư phạm,… làm cho bức tranh quá khứ về xãhội loài người hiện lên trước mắt HS một cách đầy đủ, chân thực vàsinh động Từ đó giúp các em có cơ sở để hình thành khái niệm, nêuquy luật và rút bài học lịch sử Muốn giúp HS nhận thức sâu sắc lịch

sử, GV không thể không rèn luyện cách sử dụng ngôn ngữ diễn đạt,cách sử dụng các loại đồ dùng trực quan, cách trình bày bảng… Qua

đó ta thấy, việc nhận thức đúng đặc trưng hiện thực lịch sử và nắm

Trang 15

vững yêu cầu của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là cơ sở đểRLNVSP lịch sử.

1.1.3 Thực tiễn dạy, học lịch sử ở trường phổ thông.

Trong nhà trường phổ thông, lịch sử là một môn khoa học xã hội

có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ Bên cạnh việc cung cấp cho

HS những vốn hiểu biết phổ thông, cơ bản, vững chắc về sự phát

triển của lịch sử xã hội loài người và dân tộc, bộ môn lịch sử còn “… Góp phần hình thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [1; tr 3] Do vậy, việc dạy và học lịch sử là rất cần

thiết, bởi lịch sử không chỉ giúp con người hiểu biết về quá khứ màcòn giúp họ nắm bắt được các quy luật phát triển của xã hội và dự

đoán tương lai Các nhà sử học cổ đại Hi Lạp đã khẳng định “ Lịch sử

là cô giáo của cuộc sống”, “ Lịch sử là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”

Tuy nhiên, trong thực tế dạy, học lịch sử ở trường phổ thônghiện nay vẫn còn tồn tại một số quan niệm sai lầm về vị trí, vai tròcủa môn lịch sử Nhiều HS, thậm chí nhiều giáo viên vẫn xem nhẹ

môn lịch sử, coi nó là “môn phụ”, không cần tư duy sáng tạo mà chỉ

cần học thuộc lòng các sự kiện Đây là một nhận thức sai lầm, làmcho vai trò, ý nghĩa của môn lịch sử bị hạ thấp Do quan niệm như

vậy mà nhiều giáo viên vẫn duy trì lối dạy học truyền thống “Thầy đọc - trò chép” làm cho tính tích cực học tập của HS không được

phát huy Bên cạnh đó, một số người còn quan niệm chỉ cần biết sử

là có thể dạy sử Điều đó có nghĩa là người giáo viên chỉ cần cónhiều kiến thức về lịch sử chứ không cần phải đào tạo, rèn luyện vềmặt nghiệp vụ sư phạm Chính vì vậy, ta thường thấy ở trường phổthông nhiều giáo viên vẫn chưa thuần thục về kĩ năng sư phạm nên

họ thường gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ có hình ảnh

Trang 16

phù hợp để bài giảng hấp dẫn, dễ hiểu Nhiều giáo viên, nhất lànhững giáo viên trẻ mới ra trường còn mắc nhiều thiếu sót trongdiễn đạt như nói ngọng, nói lắp, nhát gừng,…đặc biệt họ vẫn chưa có

kĩ năng trình bày bảng đen nên HS khó theo dõi và ghi chép Chính

vì vậy, HS không có hứng thú học lịch sử dẫn đến hiệu quả bài họckhông cao

Thực trạng trên chính là một trong những nguyên nhân làmgiảm chất lượng giáo dục bộ môn Chính vì vậy mà trong nhiều nămqua, điểm thi của môn lịch sử vào các trường Đại học, Cao đẳng luôn

ở mức độ thấp Báo điện tử Việt Nam viết: Kì thi vào Đại học và Caođẳng năm 2005 có 58,5% bài thi môn lịch sử đạt dưới điểm 1 Sangnăm 2006 điểm trung bình các bài thi môn lịch sử là 1,96 thấp nhấttrong các môn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2007 có500/15000 bài đạt điểm 0 ; Năm 2010 trong 1700 bài thi đạt điểm 0thì môn lịch sử chiếm 335 bài

Đứng trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã và đangthực hiện đổi mới, cải cách giáo dục trên cả ba phương diện: SGK,nội dung, phương pháp Trong đó, thực chất của việc đổi mới PPDH

là chuyển từ mô hình DH “lấy GV làm trung tâm” sang mô hình DH “ lấy HS làm trung tâm” nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS.

Điều đó có nghĩa là trong dạy, học HS trở thành chủ thể của quátrình nhận thức còn GV chỉ đóng vai trò là người chỉ đạo, hướng dẫn,

tổ chức cho quá trình nhận thức của HS đi đúng hướng.Theo đó,

người GV phải làm cho “dạy sử cũng như dạy bất cứ môn học nào đòi hỏi người GV phải khêu gợi trí thông minh chứ không phải là bắt buộc cái trí nhớ làm việc một cách máy móc, bắt nó ghi chép rồi tả lại…”[31; tr 159] Đồng thời phải khắc phục tình trạng “Thầy đọc - trò chép”, khắc phục lối “truyền thụ một chiều” trong DH lịch sử, bởi

“Lịch sử đâu có phải là một chuỗi sự kiện để người viết sử ghi lại,rồi

Trang 17

người giảng sử đọc lại và người học sử lại học thuộc lòng” [ 31; tr.

158]

Như đã nói ở trên, trong thực tế DH ở trường phổ thông hiện nayvẫn có một số GV chưa thuần thục về kĩ năng sư phạm Tuy nhiên,bên cạnh đó vẫn có một số GV có trình độ tay nghề và chuyên mônnghiệp vụ cao Điều này là do khi còn ngồi trên ghế nhà trường sưphạm, họ đã tích cực rèn luyện các kĩ năng NVSP bên cạnh việc nắmvững những kiến thức chuyên ngành Vì vậy, việc RLKNNV sư phạmcho sinh viên là rất cần thiết và có tác dụng thiết thực đối với hiệuquả dạy học

Tóm lại, thực trạng dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã chỉ ranhững tồn tại và hạn chế cần phải giải quyết Để góp phần nâng caochất lượng giáo dục, chúng ta phải từng bước khắc phục những hạnchế đó.Với tư cách là những thầy cô giáo tương lai, sinh viên sưphạm nói chung, sinh viên khoa lịch sử nói riêng phải không ngừng

cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ

để góp phần vào việc đào tạo những con người mới phát triển toàndiện phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2 Tầm quan trọng của việc RLKN diễn đạt trong DH lịch sử.

Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng GV thường

sử dụng hai loại hình ngôn ngữ : ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Sửdụng tốt hai loại hình ngôn ngữ trên có ý nghĩa to lớn trong việc giáodưỡng, giáo dục và phát triển HS Để thể hiện đúng ý nghĩa đó,trong quá trình dạy học GV ở các trường phổ thông nhất là GV lịch

sử phải diễn đạt làm sao để HS có được những biểu tượng chân thực

về sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử và hiểu sâu sắc bản chất củavấn đề Muốn vậy, GV lịch sử phải thường xuyên rèn luyện các kĩnăng diễn đạt của mình Do đó, việc RLKN diễn đạt trong DHLS cótầm quan trọng to lớn

Trang 18

1.2.1 Diễn đạt nói.

Trong DH nói chung, DHLS nói riêng, lời nói luôn giữ vai trò chủ

đạo, bởi “không có phương pháp dạy học nào, phương tiện dạy học nào được sử dụng lại không kèm theo lời nói” [ 23 ; tr 21] Lời nói

không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức mà còn là phương tiện đểtruyền thụ và tiếp thu kiến thức của GV và HS Trong DHLS, lời nóigiữ vai trò quan trọng trong việc thông tin, tái hiện các sự kiện cụthể, trong việc nhận thức bản chất sự kiện, trong rèn luyện kĩ năng

trình bày, đồng thời phát triển tư duy chính xác ở HS “khi phát triển ngôn ngữ rõ ràng, khúc triết, chính xác, GV đồng thời cũng phát triển tư duy chính xác ở HS Trong quá trình bồi dưỡng tư duy thì ngôn ngữ cũng phát triển và nhờ đó mà những ý nghĩ rõ ràng của HS cũng được thể hiện trong những hình thức ngôn ngữ khúc triết” [35;

tr 25]

Với ngôn ngữ trong sáng, gợi cảm, giàu hình ảnh, lời nói của GV

sẽ dẫn dắt HS “trở về” với quá khứ của lịch sử, tạo được biểu tượng

rõ ràng, cụ thể về một nhân vật, một biến cố, hiện tượng, nhân vậtlịch sử,… Từ đó giúp các em biết suy nghĩ, tìm tòi rút ra kết luận,hình thành khái niệm lịch sử

Lời nói có ý nghĩa giáo dục rất lớn, tác động đến tình cảm, hìnhthành tư tưởng cho HS Nó khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù, tinhthần lao động sáng tạo,… ở HS Vì vậy, trong DHLS lời nói bao giờcũng thể hiện tư cách đạo đức, tư tưởng của GV GV không thể nhiệttình ca ngợi những tấm gương đã hi sinh anh dũng trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc nếu họ không rung cảm trước nhữnghành động ấy ; GV cũng không thể giáo dục lòng căm thù giai cấpthống trị, quân xâm lược nếu họ không thực sự căm thù chúng Lờinói nhiệt tâm, chân thành của GV sẽ làm tăng thêm tác dụng giáo

dục, làm cho thái độ “ yêu”, “ ghét” của các em được bộc lộ rõ ràng.

Trang 19

Ngược lại, lời nói lạnh nhạt, hờ hững sẽ làm giảm nhẹ hoặc gây phảntác dụng giáo dục.

Bên cạnh đó, việc sử dụng tốt lời nói còn góp phần quan trọngvào việc giải quyết các nhiệm vụ của DHLS ở trường phổ thông theomục tiêu, nội dung từng lớp, từng cấp học

Với ý nghĩa đó, người GV ở các trường phổ thông nói chung, GVlịch sử nói riêng phải luôn rèn luyện các kĩ năng trình bày tài liệubằng lời nói để góp phần vào việc truyền thụ kiến thức, hình thành

tư tưởng đạo đức, kĩ năng tư duy và thực hành cho HS

1.2.2 Diễn đạt viết.

Dạy học là một hoạt động tổng hợp, kết hợp nhiều kĩ năngnghiệp vụ sư phạm Trong quá trình lên lớp, bên cạnh việc sử dụng

kĩ năng diễn đạt nói, GV còn sử dụng cả kĩ năng diễn đạt viết trong

đó chủ yếu là viết bảng “Việc kết hợp chặt chẽ giữa lời giảng và ghi bảng, sử dụng bảng hợp lí là một thao tác của GV có ý nghĩa thiết thực đối với hiệu quả bài học Nó không chỉ giúp HS theo dõi bài, nắm nội dung bài một cách có hệ thống, mà còn tiết kiệm được thời gian của tiết học” [ 23; tr 38] Như vậy, bảng đen là nơi để GV thể

hiện những kiến thức của bài học, do đó trình bày bảng một cáchkhoa học sẽ giúp HS dễ theo dõi bài giảng, dễ ghi chép, nhớ nhanh

và nhớ lâu các sự kiện lịch sử Ngoài chức năng là phương tiện đểtrình bày kiến thức, bảng còn là phương tiện để trình bày các loại đồdùng trực quan Trong quá trình giảng bài, GV có thể vẽ nhanh một

số loại đồ dùng trực quan lên bảng ( niên biểu, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị,

… ) Những đồ dùng trực quan này giúp HS nắm được một cách tổnghợp, khái quát nội dung bài học, củng cố kiến thức , đồng thời làmtăng thêm sự sinh động, hấp dẫn của nội dung bài giảng, tạo cho HShứng thú học tập lịch sử

Bên cạnh đó, nội dung kiến thức và những hình ảnh trực quanđược GV trình bày trên bảng còn có tác dụng phát triển ở HS óc

Trang 20

quan sát, tổng hợp nhanh, tái hiện vững chắc kiến thức cũ, từ đó ghinhớ và hiểu sâu sắc các sự kiện, đồng thời rèn luyện cho các em kĩnăng viết về một nội dung lịch sử Ngoài kĩ năng viết bảng, GV cònphải rèn các kĩ năng viết các loại bài miêu tả, tường thuật, phân tích,giải thích, kể chuyện,… Việc rèn luyện tốt kĩ năng viết các loại bàitrên giúp sẽ giúp GV xây dựng được những bài viết hay, từ đó màviệc trình bày miệng các loại bài đó đạt hiệu quả cao, thu hút sự chú

ý của HS, góp phần nâng cao hiệu quả bài học

Từ những ý nghĩa đó ta thấy việc rèn luyện các kĩ năng xây dựngcác bài miêu tả, tường thuật, phân tích, giải thích kể chuyện ; các kĩnăng viết, vẽ trên bảng đối với GV lịch sử là rất cần thiết Nó khôngchỉ có tác dụng nâng cao tay nghề của bản thân mà còn có ý nghĩaquan trọng đối với hiệu quả từng bài học lịch sử ở trường phổ thông,

từ đó góp phần nâng cao vị trí của bộ môn lịch sử trong nhà trườngphổ thông

1.3 Những yêu cầu khi RLKN diễn đạt trong DH lịch sử.

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc sử dụng các kĩ năng diễnđạt trong DH lịch sử, người GV lịch sử phải thường xuyên rèn luyệncác kĩ năng diễn đạt của bản thân Để việc rèn luyện đem lại kết quảcao nhất, người GV lịch sử phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bảncủa diễn đạt nói và viết Cụ thể như sau:

1.3.1 Diễn đạt nói.

Khi RLKN diễn đạt nói, GV phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất: Khắc phục những khuyết tật thường gặp trong phát

âm.

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như đặc trưng của từng vùng,thành phần dân tộc, ngôn ngữ của từng địa phương, hoặc có thể dothói quen của bản thân mà nhiều GV đã mắc phải những khuyết tậttrong phát âm như nói ngọng, nói lắp, nói nhanh, nói ngắt quãng,…

Trang 21

Do vậy, trong quá trình RLKN diễn đạt nói GV phải từng bước khắcphục những khuyết tật trên.

- Nói ngọng: Đây là một dạng khuyết tật phổ biến, thường gặp ở

học sinh, sinh viên ở các trường phổ thông và đại học, thậm chí

thường gặp ở một số GV Có nhiều dạng nói ngọng: Nói ngọng giữa “ t” và “ tr” ( nói “con trâu” thành “con tâu” ; Ngọng giữa “ n” và “l” Đây là dạng nói ngọng thường gặp nhất ( “nổi dậy” nói thành “lổi dậy” ; “nô lệ” nói thành “nô nệ” ; …) Vì vậy, để diễn đạt nói tốt,

trong DH nói chung, DH lịch sử nói riêng cần phải khắc phục tật nóingọng Nếu không khắc phục GV sẽ phát âm sai các thuật ngữ, kháiniệm lịch sử Điều đó sẽ dẫn tới việc HS hiểu sai lệch về kiến thức,

đồng thời gây cười cho các em thậm chí một số em còn “ nhại” lại lời

nói của GV gây mất trật tự, giờ học kém hiệu quả

- Nói lắp: cũng là một dạng khuyết tật thường gặp Cũng như nói ngọng, nói lắp cũng có nhiều dạng: Lắp lại một vài từ nào đó ( VD: chiến, chiến tranh đặc biệt…) hoặc lắp lại một vài câu nào đó ( VD:

có nghĩa là, có nghĩa là…) Diễn đạt như vậy sẽ làm mất thời gian và

gây cho HS cảm giác khó chịu, nhàm chán Do vậy, trong RLKN diễnđạt nói GV cần phải khắc phục khuyết tật nêu trên

- Phát âm không chuẩn các âm gió, âm r, s,… : GV cần tránh dạng phát âm “r” thành “d”, “s” thành “x”, “tr” thành “ch”,… hoặc đọc quá nặng “ r”, “s”,… Bởi vì, nếu phát âm không đúng có thể sẽ

làm cho HS hiểu sai kiến thức

- Sử dụng quá nhiều thổ ngữ, nói nhanh, nói ngắt quãng thêm các liên từ không cần thiết

Mỗi vùng, mỗi địa phương đều sử dụng một loại ngôn ngữ đặctrưng Tuy nhiên, khi giảng bài GV nên sử dụng những từ phổ thông,được sử dụng rộng rãi, không lạ tai đối với HS và hạn chế sử dụng thổngữ, phương ngôn địa phương, vì sử dụng thổ ngữ, phương ngônthường làm cho HS khó hiểu, gây cười, bài giảng không hấp dẫn Bên

Trang 22

cạnh đó, khi giảng bài, GV không nên nói nhanh vì nói nhanh HS sẽkhông theo dõi và ghi chép kịp nội dung bài học Khi đó, các em sẽquay sang hỏi lại nhau gây ồn ào, mất trật tự Ngược lại, GV cũngkhông nên nói nhát gừng, nói ngắt quãng khi giảng bài, vì nói nhưvậy sẽ làm cho bài giảng rời rạc HS khó theo dõi và tiếp thu kiếnthức, hơn nữa còn làm mất nhiều thời gian trong khi thời lượng củamột tiết học có hạn.

GV cũng không nên thêm các liên từ không cần thiết như “rằng”,

“thì”, “mà”,… Làm như vậy lời giảng của thầy sẽ trở nên dài dòng,

thiếu mạch lạc, giờ học trở nên nặng nề, ảnh hưởng đến việc giáodục HS

Thứ hai: Diễn đạt lưu loát, ngôn ngữ trong sáng.

Sau khi khắc phục được những khuyết tật thường gặp trong khidiễn đạt nói, GV cần rèn luyện cách diễn đạt lưu loát và cách sửdụng ngôn ngữ giàu hình ảnh Bởi vì lời giảng lưu loát, mạch lạc, dễhiểu sẽ giúp HS nắm vững nội dung bài học Muốn diễn đạt đượcmạch lạc, rõ ràng, GV nên sử dụng ngôn ngữ phổ thông , phù hợpvới trình độ HS , không nên sử dụng những từ ngữ khó hiểu có tínhhàn lâm, bác học Khi đưa ra những từ ngữ, khái niệm, thuật ngữ khóhiểu thì GV phải giải thích cho HS hiểu Khi gải thích, GV không nêntrình bày dài dòng vì như vậy sẽ làm cho HS khó nắm bắt và tiếp thuđược nội dung chính Ngược lại, GV cũng không nên giải thích quángắn gọn, vì điều đó sẽ làm cho HS khó hiểu

Để trình bày tài liệu một cách ngắn gọn nhưng chặt chẽ, dễhiểu, tiết kiệm được thời gian, GV không nên bắt đầu bằng những lời

lẽ lan man, dài dòng mà phải bám sát vào yêu cầu của bài giảng,khắc sâu vào trí nhớ của các em những nội dung kiến thức cần thiết.Bên cạnh việc diễn đạt lưu loát, mạch lạc, rõ ràng, GV phải biết sử

dụng ngôn ngữ trong sáng, sinh động, giàu hình ảnh, bởi “với ngôn ngữ trong sáng, gợi cảm, giàu hình ảnh, lời nói của GV sẽ dẫn dắt HS

Trang 23

“trở về” với quá khứ của lịch sử, tạo được biểu tượng rõ ràng cụ thể

về một nhân vật, một biến cố, hiện tượng lịch sử… giúp HS biết suy nghĩ, tìm tòi, rút ra kết luận, hình thành khái niệm, nhằm tìm hiểu bản chất sự vật, quy luật của quá trình phát triển lịch sử” [ 34; tr.

39] Ngôn ngữ giàu hình ảnh của GV không chỉ làm cho HS dễ hiểu,

dễ tiếp thu bài học mà còn tác động đến tình cảm HS, tạo cho HS sựxúc động, hấp dẫn và lôi kéo các em chú ý vào bài giảng

GV có thể tạo ra ngôn ngữ sinh động, giàu hình ảnh bằng các từgợi tả, cụ thể, chân thực thông qua miêu tả, tường thuật sự kiện,hiện tượng, nhân vật lịch sử Bên cạnh đó GV cần tránh sử dụng

những từ theo sở thích của mình như “tuyệt”, “tốt”, “ổn”, “cừ khôi”

và tránh dùng các thán từ không cần thiết “ờ, ờ! ” vì điều đó sẽ làm

cho câu văn trở nên rườm rà, không sáng sủa, gây khó khăn cho HStrong việc tri giác lời giảng

Thứ ba : Âm lượng.

Khi giảng bài GV cần chú ý điều chỉnh âm lượng lời nói của mìnhcho phù hợp Nếu nói to quá sẽ gây cho HS ức chế, khó chịu Nếu nóinhỏ quá thì HS ở cuối lớp không nghe rõ, các em sẽ mất trật tự gâyảnh hưởng không tốt đến chất lượng bài giảng của GV Vì vậy, GVphải điều chỉnh giọng nói của mình cần và đủ để tất cả HS ngheđược, từ đó sẽ thu hút các em chú ý vào bài giảng

Thứ tư : Ngữ điệu

Ngữ điệu có tác dụng rất lớn đối với chất lượng lời giảng Trongkhi giảng bài , GV sử dụng lời nói đều đều sẽ làm cho bài học trởnên nhạt nhẽo, khô khan, nhàm chán, không thu hút HS chú ý nghegiảng Do đó, trong mỗi bài học lịch sử lời nói của người GV phải thểhiện được tình cảm của mình thông qua ngữ điệu diễn đạt thích hợpvới từng nội dung ( khi giải thích ngữ điệu của người thầy phải khácvới miêu tả, tường thuật,…)

Trang 24

Nhịp độ nói của GV cũng có ý nghĩa quan trọng trong khi giảngbài Khi trình bày các nội dung khó của bài hoặc khi trình bày mộtkết luận, định nghĩa, nguyên lí,… GV cần nói với nhịp độ chậm ;Đồng thời GV cần xác định những nội dung kiến thức quan trọng cần

nhấn mạnh để “ lên giọng”, “ xuống giọng” cho phù hợp.

1.3.2 Diễn đạt viết.

Xuất phát từ đặc thù bộ môn, trong học tập lịch sử, HS khôngthể trực tiếp quan sát các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong quákhứ mà chỉ hiểu được những sự kiện, hiện tượng ấy thông qua cácbiểu tượng lịch sử Có nhiều con đường, biện pháp để tạo biểu tượnglịch sử trong đó các phương pháp trình bày miệng ( miêu tả, tườngthuật, phân tích, giải thích, kể chuyện,… ) có vai trò quan trọngtrong việc dựng lại bức tranh quá khứ giống như nó đã tồn tại Đểviệc trình bày miệng đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phảithường xuyên rèn luyện các kĩ năng diễn đạt của bản thân, đặc biệt

là kĩ năng xây dựng các loại bài tường thuật, miêu tả, phân tích, giảithích, kể chuyện,… Khi xây dựng các loại bài trên , GV phải đảm bảocác nguyên tắc, yêu cầu của từng loại bài

a Tường thuật.

Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng nhằm táihiện ở HS những biến cố lịch sử quan trọng với đầy đủ tính cụ thể vàgợi cảm của nó Tuy nhiên, trong thực tế DHLS hiện nay vẫn cònnhiều GV chưa phân biệt được sự khác nhau giữa tường thuật vàthông báo

Thông báo không đi sâu chi tiết để miêu tả sự kiện như miêu tả,không trình bày chi tiết quá trình diễn biến của sự kiện như tườngthuật, cũng không đi sâu phân tích, lí giải sự kiện như phân tích vàgiải thích mà chỉ giới hạn trong việc nêu lên một cách chính xác sựkiện, số liệu, niên đại, tên đất, tên người, … cần thiết cho việc ghinhớ bài học Do đó, thông báo không tạo cho HS hình ảnh chính xác,

Trang 25

cụ thể về quá khứ, không hấp dẫn HS, không gây hứng thú học tậpcho HS.

Tường thuật là trình bày về một sự kiện, hiện tượng, biến cố haymột quá trình lịch sử ; Những hoạt động của quần chúng nhân dânhay một nhân vật lịch sử Một bài tường thuật bao giờ cũng có chủ

đề, có tình tiết nhất định, vì vậy mà nó kích thích trí tưởng tượng táitạo của HS về những hình ảnh của quá khứ Bài tường thuật đượcxây dựng chủ yếu trên cơ sở các sự kiện chính xác, cơ bản trong SGKnhưng mang kịch tính Nó bao gồm các phần: Mở đầu ; Tình tiết pháttriển ; Tình tiết phát triển đến đỉnh cao ; Sự căng thẳng trong kếtcấu ; Tình tiết giảm đi, kết thúc

Trong DHLS tường thuật thường được sử dụng trong các trườnghợp sau:

Thứ nhất: Khi trình bày một biến cố quan trọng, một sự kiện điển

hình tạo nên dấu ấn sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tìnhcảm của HS Ví dụ: Tường thuật trận đánh Đông Khê trong chiếndịch Biên giới 1950 ; Tường thuật chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 ;Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 ; …

Thứ hai: Khi cần tạo biểu tượng chính xác cho HS về các sự kiện

tiêu biểu, điển hình ở một thời kì lịch sử nào đó Ví dụ: Để giúp HShiểu được quá trình quân dân miền Nam từng bước đánh bại cácchiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ , GV cần tạo biểu tượng lịch sử

rõ rệt, chính xác về các sự kiện tiêu biểu, điển hình trong những giai

đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc như : Phong trào “Đồng Khởi”

( 1959 - 1960), Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968,Cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Cuộc Tổng tiến công và nổidậy Xuân 1975

Thứ ba: Khi cần rút ra những kết luận khái quát về một sự kiện

lịch sử trên cơ sở nắm vững biểu tượng của nó Trên cơ sở những sựkiện phức tạp, GV dẫn dắt HS đến những kết luận, khái quát quan

Trang 26

trọng Ví dụ: Trên cơ sở tường thuật cuộc đấu tranh của công nhân,nông dân trong phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh ( 1930 - 1931), GVhướng dẫn HS rút ra những kết luận, khái quát về sự lãnh đạo củaĐảng, về liên minh công - nông, về vai trò của quần chúng nhândân,… Như vậy, trong trường hợp này tường thuật không chỉ dừng lại

ở việc tái hiện lịch sử quá khứ, tạo biểu tượng lịch sử mà còn là mộtbiện pháp để giải thích bản chất những sự kiện lịch sử phức tạp, trên

cơ sở đó hướng dẫn HS rút ra những kết luận, khái quát

Trong DHLS, một bài tường thuật hay sẽ giúp HS có được biểutượng lịch sử rõ ràng, chính xác, từ đó hiểu sâu sắc quá khứ lịch sử,tạo hứng thú học tập cho các em Vì vậy, khi xây dựng một bàitường thuật, GV phải có sự chuẩn bị công phu, kĩ càng Khi viết bàitường thuật, GV cần tuân theo các bước sau:

- Xác định nội dung để xây dựng bài tường thuật

- Xây dựng bài tường thuật: GV có thể trích đoạn tường thuậttrong tài liệu có liên quan đến chủ đề tường thuật hoặc tự xây dựngbài tường thuật trên cơ sở kiến thức trong SGK

b Miêu tả.

Miêu tả là trình bày những nét đặc trưng của những sự vật, sựkiện lịch sử để nêu lên những nét đặc trưng, bản chất chủ yếu, cấutạo bên trong cũng như hình dáng bên ngoài của chúng

Khác với tường thuật, miêu tả không có chủ đề mà chỉ có đốitượng cần trình bày Ví dụ: miêu tả về Kim tự tháp, miêu tả chùa MộtCột, miêu tả Trống đồng Đông Sơn,…

Miêu tả được chia làm hai loại: miêu tả tỉ mỉ toàn bộ và miêu

tả khái quát có phân tích

- Miêu tả tỉ mỉ toàn bộ: Nhằm phác họa bức tranh trọn vẹn về

đối tượng được miêu tả Khi xây dựng loại bài miêu tả này, GV cầnlựa chọn những nét tiêu biểu, bản chất nhất của đối tượng miêu tả

Trang 27

đủ để dựng lại bức tranh quá khứ một cách khá đầy đủ, đúng đắn,khách quan.

Loại bài miêu tả này thường được sử dụng trong trường hợpmiêu tả về một công trình kiến trúc, một loại vũ khí, một loại công

cụ lao động,… Ví dụ: miêu tả về Kim tự tháp, miêu tả chiếc máy kéosợi Gienni của người thợ dệt Giêm-Ha-Grivơ, miêu tả chiếc máychém của Ngô Đình Diệm,…

- Miêu tả khái quát có phân tích: không nhằm khôi phục lại

toàn bộ bức tranh quá khứ mà chỉ tập trung vào việc miêu tả mộtđặc điểm chủ yếu của sự kiện, qua đó đi sâu vào phân tích cơ cấubên trong của sự vật

Miêu tả khái quát có phân tích được sử dụng trong các trườnghợp: miêu tả về một vị trí chiến lược, căn cứ của một cuộc khángchiến hay một cuộc khởi nghĩa, một bức tranh, ảnh lịch sử,… Ví dụ:Miêu tả căn cứ phòng thủ Ba Đình, miêu tả tập đoàn cứ điểm ĐiệnBiên Phủ, miêu tả ba phòng tuyến chiến lược của Mĩ - Ngụy ở QuảngTrị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,…

Điều quan trọng trong khi xây dựng bài miêu tả là phải đảmbảo tính chính xác và hấp dẫn của nó Khi xây dựng một bài miêu tả

GV cần lưu ý:

+ Xác định nội dung kiến thức cần miêu tả ( chọn đối tượng

để miêu tả)

+ Xây dựng bài miêu tả: Tùy thuộc vào đối tượng miêu tả mà

GV lựa chọn cách miêu tả cho phù hợp ( miêu tả tỉ mỉ toàn bộ haymiêu tả khái quát có phân tích)

c Giải thích.

Giải thích là làm cho rõ những mối liên hệ bên trong, tính quyluật, ý nghĩa, bản chất của các sự kiện, hiện tượng, thuật ngữ, kháiniệm lịch sử

Trang 28

Bản chất của giải thích là lí giải để hiểu rõ bản chất của sựkiện, hiện tượng, thuật ngữ, khái niệm lịch sử Nếu như miêu tả chủ

yếu trả lời cho câu hỏi “sự kiện đó tồn tại như thế nào?”, tường thuật trả lời cho câu hỏi “sự kiện diễn ra như thế nào?” thì giải thích trả lời cho câu hỏi “vì sao sự kiện tồn tại như vậy?, vì sao nó lại diễn ra như vậy?” Nếu miêu tả và tường thuật chủ yếu phản ánh những biểu

hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng thì giải thích lại đi sâu làm rõbản chất của sự kiện, hiện tượng, mối liên hệ bên trong giữa chúng.Chính vì vậy mà chất liệu ngôn ngữ của giải thích chủ yếu khôngphải là sắc màu, là dáng hình, là nhạc tính mà là chiều sâu của tưduy, là phương pháp tư duy, trí tuệ, là những lí lẽ chặt chẽ, rõ ràng,khúc chiết

Nói như vậy không có nghĩa giải thích hoàn toàn chỉ là ngôn từkhô khan, cứng nhắc mà khi giải thích GV cần triệt để dùng nhữnghình tượng, phải so sánh, đối chiếu để phân tích sự vật Trong họctập lịch sử, cách giải thích phù hợp với trình độ, năng lực của HS vàyêu cầu học tập của bộ môn sẽ góp phần vào việc phát triển tư duyHS

Giải thích thường được sử dụng trong các trường hợp sau:

- Thứ nhất: Dùng khi cần làm rõ nghĩa của một sự kiện quan

trọng: Khi trình bày một sự kiện quan trọng, GV cung cấp cho HSnhững kiến thức cần thiết rồi dừng lại phân tích để làm rõ nghĩa của

sự kiện ấy Ví dụ: Phân tích ý nghĩa của phong trào “Đồng Khởi” ( 1959 - 1960) từ đó đi đến kết luận phong trào “Đồng Khởi” đánh

dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển từthế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công

- Thứ hai: Khi cần rút ra những đặc điểm có tính đặc trưng,

điển hình của sự vật hiện tượng cách giải thích này thường được sửdụng cuối một bài, một chương để rút ra những đặc điểm quan trọngnhất mà HS cần ghi nhớ Ví dụ: Sau khi học xong bài cách mạng tư

Trang 29

sản Pháp cuối thế kỉ XVIII, GV rút ra kết luận cách mạng tư sản Pháp

là cuộc đại cách mạng

- Thứ ba: Khi cần làm rõ các khái niệm, thuật ngữ khó hiểu đối với HS Ví dụ: Khái niệm phong trào “Đồng Khởi” ( 1959 - 1960),

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968,…

Khi giải thích, GV cần chú ý đến việc phát huy tính tích cực của

HS Trước khi tiến hành giải thích GV có thể đặt câu hỏi để thu hút

sự chú ý của HS, kích thích tư duy của các em, lôi cuốn các em vàobài giảng Như vậy, tính vấn đề của câu hỏi có vai trò quan trọng vàảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc giải thích những vấn đềlịch sử

Cách xây dựng một bài giải thích:

+ Xác định nội dung kiến thức cần giải thích ( những kháiniệm, thuật ngữ, cụm từ, đơn vị kiến thức khó hiểu,… )

+ Xây dựng câu hỏi nhằm kích thích tư duy HS

+ Tiến hành giải thích những đơn vị kiến thức đã xác định

d Phân tích.

Phân tích là chia tách vấn đề thành những bộ phận nhỏ hơn,sau đó lần lượt xem xét từng bộ phận nhằm vạch rõ nội dung và bảnchất của vấn đề

Phân tích được sử dụng trong tất cả các môn học ở trường phổthông Trong DHLS, phân tích được sử dụng để làm rõ những tácđộng của hoàn cảnh lịch sử đến sự ra đời của sự kiện ; tác động củacác sự kiện đó đối với những giai đoạn lịch sử sau này Qua đó giúp

HS hiểu sâu sắc sự kiện Ví dụ: Phân tích hoàn cảnh lịch sử trongnhững năm 1954 - 1960 nhằm giúp HS hiểu rõ nguyên nhân dẫn

đến bùng nổ phong trào “Đồng Khởi”.

Khi xây dựng một bài phân tích, GV cần tuân thủ các bước sau: + Xác định vấn đề cần phân tích

+ Chia vấn đề thành những bộ phận nhỏ hơn

Trang 30

+ Làm rõ từng bộ phận của vấn đề ( GV lấy dẫn chứng lần lượtlàm rõ từng bộ phận).

e Kể chuyện.

Kể chuyện là kể lại một sự kiện, hiện tượng, một nhân vật,… dựa vào tàiliệu chính xác theo một trình tự lô gic: Giới thiệu vấn đề; Tình huống đặt ra; Diễn biến

sự kiện; Sự phát trển của tình tiết đến cao độ; Câu chuyện kết thúc

Kể chuyện có tác dụng giáo dục rất lớn đối với HS, nó tác động đến tư tưởng,tình cảm của các em làm cho thái độ yêu - ghét của các em được bộc lộ rõ ràng Trong DHLS, kể chuyện thường được tiến hành ở giờ học ngoại khóa Do thờigian của tiết học nội khóa chỉ có 45 phút, nên khi tiến hành kể chuyện GV chỉ nên tómtắt, điểm qua một vài nét chính của câu chuyện Ví dụ: Khi kể chuyện về một nhân vậtlịch sử trong bài nội khóa, GV chỉ cần điểm qua một vài nét về ngày, tháng, nămsinh ; Quê quán ; Những đóng góp của họ đối với từng giai đoạn cụ thể của lịch sửdân tộc

Khi xây dựng một câu chuyện, GV phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Lựa chọn chủ đề ( sự kiện, nhân vật lịch sử) kể chuyện

+ Xây dựng câu chuyện theo bố cục:

 Giới thiệu vấn đề

 Tình huống đặt ra

 Diễn biến sự kiện

 Sự phát trển của tình tiết đến cao độ

 Câu chuyện kết thúc

GV cần lưu ý, câu chuyện kể phải liên quan đến nội dung kiến thức đang học ; Câuvăn rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu Có như vậy mới lôi cuốn sự chú ý của HS vào câuchuyện

Bên cạnh việc rèn kĩ năng viết các loại bài miêu tả, tường thuật, phân tích, giảithích, kể chuyện,… GV còn phải rèn cả kĩ năng viết bảng, vì bảng là một trongnhững công cụ thể hiện ý đồ sư phạm của GV trong giờ học, GV phảithể hiện trên đó cả những kiến thức cơ bản của bài học và những nộidung cần minh họa để làm sảng tỏ vấn đề nhằm giúp HS dễ dàngnhận thức được quá khứ lịch sử, dễ theo dõi bài giảng, tạo cho các

Trang 31

em hứng thú học tập lịch sử, đồng thời rèn luyện cho các em khảnăng quan sát, đánh giá các sự kiện lịch sử Từ những ý nghĩa đó,khi sử dụng bảng đen trong giờ lên lớp GV cần tuân thủ những yêucầu nhất định.

Do thời lượng của một tiết học không nhiều nên trong quá trìnhlên lớp GV phải phân phối thời gian một cách hợp lí cho từng côngviệc để có thể chuyển tải được những nội dung cơ bản của bài cho

HS Ngoài việc sử dụng lời giảng và các phương tiện trực quan, GVcòn phải triệt để sử dụng bảng đen và phấn viết để có thể trình bàyđược những nội dung cơ bản của bài học một cách hiệu quả nhất Dovậy, GV cần phải rèn luyện các kĩ năng cơ bản như: Viết nhanh ; Viết,

vẽ, trình bày đẹp, cẩn thận ; Kết hợp giữa giảng và ghi bảng ; …

Trang 32

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP RLKN DIỄN ĐẠT TRONG DẠY HỌC

CÁC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CHIẾN LƯỢC CỦA QUÂN DÂN MIỀN NAM

GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 2.1 Nội dung cần khai thác để RLKN diễn đạt trong DH các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam giai đoạn 1954 - 1975.

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là lịch sử của cuộc kháng chiến chống

Mĩ cứu nước Trong giai đoạn này, quân dân miền Nam đã tiến hành các hoạt độngquân sự, từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ và tay sai, tiêubiểu là các hoạt động quân sự mang tính chiến lược ( mang tính chất ác liệt và diễn ra

trong một khoảng thời gian ngắn): Phong trào “Đồng Khởi” ( 1959 - 1960), Cuộc

tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Cuộc tiến công chiến lược năm 1972,Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Sẵn có âm mưu thôn tính miền Nam Việt Nam để xây dựng căn cứ quân sự, làmbàn đạp tấn công miền Bắc và các nước xã hội chủ nghĩa, biến miền Nam Việt Namthành thuộc địa kiểu mới của mình, cho nên ngay sau khi Hiệp Định Giơnevơ về ĐôngDương được kí kết, Mĩ có âm mưu sử dụng chính quyền tay sai để đàn áp cách mạng

miền Nam, đề ra chiến lược “chiến tranh đơn phương” nhằm chống phá cách mạng

miền Nam Để thực hiện được âm mưu đó, Mĩ đã hất cẳng Pháp, dựng lên chínhquyền tay sai Ngô Đình Diệm vô cùng tàn ác Sau khi lên nắm chính quyền, Diệm đãthực hiện hàng loạt chính sách phản động về kinh tế, chính trị, quân sự,… nhằm phá

hoại Hiệp định Giơnevơ như tổ chức trò hề “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại, đưa

Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống ; Tổ chức bầu Quốc hội riêng rẽ và ban hành

Hiến pháp riêng ; Thực hiện chiến dịch : “tố cộng”, “diệt cộng” nhằm tiêu diệt tận

gốc chủ nghĩa cộng sản

Trước tình hình đó, Hội nghị Bộ chính trị đã họp ( 9/ 1954) và ra nghị quyết nêurõ: cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam phải chuyển từ hình thức đấu tranh vũ trangsang hình thức đấu tranh chính trị Nhiệm vụ trước mắt của nhân dân miền Nam là đấutranh thực hiện đình chiến, củng cố hòa bình, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiệndân sinh, bảo vệ những thành quả đã giành được trong cuộc kháng chiến chống Pháp

Trang 33

Thực hiện nghị quyết của Bộ chính trị, quần chúng đã tổ chức nhiều cuộcmíttinh, biểu tình, đưa yêu sách đòi chính quyền thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định

Giơnevơ, chống trò hề “trưng cầu dân ý”, “bầu cử Quốc hội” của Ngô Đình Diệm, chống chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” Tiêu biểu là “Phong trào hòa bình” của trí

thức và các tầng lớp nhân dân ở Sài Gòn - Chợ Lớn ( 8/ 1954)

Phong trào đấu tranh chính trị nhanh chóng lan rộng và thu hút đông đảo mọi

tầng lớp nhân dân tham gia đã góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh đơn phương” của Mĩ - Ngụy.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân, Mĩ

- Diệm đã tăng cường khủng bố Tháng 5/ 1957, Diệm ban hành đạo luật đặt cộng sản

ra ngoài vòng pháp luật Tháng 5/ 1959, chúng ban hành luật phát xít 10/59, lê máychém khắp miền Nam Việt Nam công khai chém giết đồng bào ta Miền Nam ViệtNam đã trở thành địa ngục trần gian mà ở nơi đó quyền sống, quyền tự do và mưu cầuhạnh phúc của con người bị chà đạp một cách trắng trợn

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành TW Đảng khóa II đã họp(13/ 1/1959) và đã quyết định để cho nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng

để giành chính quyền Hội nghị nhấn mạnh: ngoài con đường bạo lực cách mạng nhândân Việt Nam không có con đường nào khác, phương hướng cơ bản của cách mạngmiền Nam là giành chính quyền về tay nhân dân bằng con đường chính trị là chủ yếu,kết hợp với đấu tranh vũ trang đánh đổ ách thống trị của Mĩ - Diệm

Nghị quyết 15 của TW Đảng đã làm bùng lên ngọn lửa Đồng Khởi ở nhiều nơi.Phong trào nổi dậy từ chỗ lẻ tẻ ở từng địa phương như cuộc nổi dậy ở VĩnhThạnh( Bình Định), Bắc Ái ( Ninh Thuận), Trà Bồng ( Quảng Ngãi) đã lan rộng ra

khắp miền Nam tạo thành cao trào Đồng Khởi, tiêu biểu là cuộc “Đồng Khởi” ở Bến

Tre ( 17/ 1/ 1960) Từ Bến Tre, làn sóng Đồng Khởi đã nhanh chóng lan rộng các tỉnhNam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ

Thắng lợi của Phong trào “Đồng Khởi” đã làm cho hệ thống kìm kẹp của Mĩ

-Diệm ở thôn xã bị tan vỡ từng mảng, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng nốiliền giữa các huyện, tỉnh tạo thành một thế liên hoàn

Phong trào “Đồng Khởi” đã giáng một đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới

Trang 34

toàn chiến lược “chiến tranh đơn phương” của Mĩ, buộc chúng phải bị động chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ; Đồng thời phong trào “Đồng Khởi” đã đánh

dấu bước ngoặt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữgìn lực lượng sang thế tiến công Từ trong khí thế đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóngmiền Nam Việt Nam được thành lập ( 20/ 12/ 1960) chủ trương đoàn kết toàn dân đấutranh chống đế quốc Mĩ và tay sai, thành lập chính quyền cách mạng dưới hình thức

Ủy ban nhân dân tự quản

Sau khi chiến lược “chiến tranh đơn phương” của Aixenhao bị phá sản, ngày 20/ 1/ 1961, Kennơđi lên nhận chức Tổng thống Mĩ đã đề ra chiến lược “Phản ứng linh hoạt” với ba loại hình chiến tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh tổng lực Kennơđi đã chọn miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm “chiến tranh đặc biệt” “Chiến tranh đặc biệt” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân

mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai ; Dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn Mĩ,dựa vào vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm chống lại các

lực lượng cách mạng và nhân dân ta Âm mưu cơ bản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là “dùng người Việt đánh người Việt” Để thực hiện được âm mưu đó Mĩ

đã tiến hành nhiều biện pháp: Tăng cường viện trợ cho Diệm, dồn dân lập “Ấp chiến lược”, sử dụng các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” Trong đó “Ấp chiến lược” được coi là “quốc sách”, là “xương sống” của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.

Dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

do Đảng lãnh đạo quân dân miền Nam đẩy mạnh chống Mĩ và chính quyền tay sai kếthợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nổi dậy tiến công địch trên cả 3 vùngchiến lược ( rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị) và 3 mũi ( chính trị, quân sự,binh vận)

Kết quả là đến cuối năm 1964, đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ đã bị phá sản về căn bản Để cứu vãn tình thế, Mĩ đã ồ ạt đưa

quân viễn chinh cùng vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam đẩy mạnh chiến

tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở

rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc

Trang 35

“Chiến tranh cục bộ” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ,

được tiến hành bằng lực lượng quân Mĩ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn Để

thực hiện chiến lược quân sự trên, Mĩ đã mở hàng loạt các cuộc hành quân “tìm diệt”

và “bình định” vào “vùng đất thánh việt cộng” và sau đó mở liên tiếp hai cuộc phản

công chiến lược mùa khô vào Đông - Xuân 1965 - 1966 và 1966 - 1967

Với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mĩ xâm lược, quân dân miền Nam đãchiến đấu anh dũng và giành được nhiều thắng lợi, mở đầu là thắng lợi ở Núi Thành(Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi) Chiến thắng Vạn Tường (18/ 8/ 1965)chứng tỏ quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh thắng đế quốc Mĩ về

quân sự trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” Nó mở đầu cho cao trào “tìm Mĩ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt” trên toàn miền Nam Tiếp đó, quân dân miền Nam đã đập tan

hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966) và mùa khô ( 1966 - 1967) của

đế quốc Mĩ Bên cạnh đó, trong hầu hết các thành thị miền Nam phong trào đấu tranhchính trị đòi lật đổ chính phủ Thiệu - Kì, đòi quân Mĩ rút về nước, đòi các quyền tự dodân chủ , cải thiện dân sinh,… diễn ra sôi nổi

Những thắng lợi về quân sự và chính trị đã làm cho tương quan lực lượng thayđổi theo hướng có lợi cho ta, vùng giải phóng của ta ngày càng được mở rộng, uy tíncủa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao trêntrường quốc tế, ngược lại Mĩ và tay sai ngày càng bị cô lập

Căn cứ vào kết quả đó, đồng thời lợi dụng mâu thuẫn ở Mĩ trong năm bầu cửTổng thống (1968) ta đã chủ động mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân MậuThân 1968 trên toàn miền Nam Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy bắt đầu trong đêm 30rạng ngày 31/ 1/ 1968 Trải qua ba đợt chiến đấu ta đã giành được một số kết quả nhấtđịnh, mặc dù có nhiều tổn thất và hạn chế nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có ýnghĩa to lớn: Làm lung lay ý chí xâm lược của quân viễn chinh Mĩ, buộc chúng phải

chuyển từ chiến lược “tìm diệt và bình định” sang “quét và giữ”, làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ và tay sai, đồng thời mở ra bước

ngoặt của của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, chuyển cách mạng miền Nam từthế tiến công sang tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam

Sau đòn bất ngờ Tết Mậu Thân, phong trào phản chiến của nhân dân Mĩ phát

Trang 36

chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam trong vòng 6 tháng Tuy nhiên, sau khi

trúng cử Tổng thống, Níchxơn đã cho ra đời “học thuyết Níchxơn” với chiến lược quân sự tương ứng “ngăn đe thực tế” mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, ở Việt Nam là “Việt Nam hóa chiến tranh”, ở Lào là “Lào hóa chiến tranh”, ở Campuchia là “Khơme hóa chiến tranh” và ở Đông Dương là “Đông Dương hóa chiến tranh”.

Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn

là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa, lực, không quân, hậu cần của Mĩ, đặt dưới sự chỉ

huy của hệ thống cố vấn Mĩ Thực chất của “Việt Nam hóa chiến tranh” là sự tiếp tục thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”.

Để thực hiện chiến lược này, Nichxơn chủ trương thực hiện ba loại hình chiến

tranh: “chiến tranh giành dân”, “chiến tranh hủy diệt”, “chiến tranh bóp nghẹt” Bên cạnh đó chính sách “bình định” được nâng lên thành “quốc sách”.

Tuy nhiên, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mĩ được thực hiện trong thế thất bại, bế tắc nên chứa đầy mâu thuẫn:

+ Vì thất bại và suy yếu mà Mĩ phải bị động xuống thang chiến tranh, nhưnglại muốn xuống thang trên thế mạnh

+ Phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mĩ nhưng lại muốn cho quân độiSài Gòn mạnh lên, có thể thay thế được quân Mĩ trong cuộc chiến tranh này, nhưngquân đội Sài Gòn đã không làm được điều này

+ Quân Mĩ rút càng sớm càng tốt để bớt thương vong, giảm chi phí, nhưng vìquân đội Sài Gòn quá yếu nên Mĩ buộc phải kéo dài chiến tranh, vì vậy thương vongcàng lớn, khó khăn chồng chất

+ Không rút quân Mĩ thì mâu thuẫn trong nội bộ những người cầm quyền vàgiữa nhân dân với những người cầm quyền Mĩ ngày càng trầm trọng Nhưng nếu rútquân Mĩ thì quân đội Sài Gòn có nguy cơ bị sụp đổ

+ Khi chiến lược tiến công và phản công “tìm diệt và bình định” không giúp

Mĩ thực hiện được mục đích xâm chiếm đất, giành dân, chúng đã chuyển sang chiến

lược phòng ngự “quét và giữ” nhưng chiến lược này cũng không giúp chúng thực

hiện được mục đích đó

Trang 37

Song lúc này, địch vẫn còn những mặt mạnh về quân số, hỏa lực, khả năng cơ

động, địa bàn chiếm giữ nên trong những năm đầu của “Việt Nam hóa chiến tranh”

( 1969 - 1970), Mĩ đã gây cho ta không ít những khó khăn Với quyết tâm đánh thắnggiặc Mĩ, chúng ta đã nhanh chóng khắc phục những khó khăn và thiếu sót, phối hợp

với quân dân Lào và Campuchia từng bước đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ, giành được những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng như: Quân đội Việt

Nam có sự phối hợp của quân dân Campuchia đã đập tan cuộc hành quân xâm lượcCampuchia của 10 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn ; Phối hợp với quân dân Lào đập

tan cuộc hành quân mang tên “Lam Sơn - 719” Bên cạnh đó, phong trào của học sinh, sinh viên và phong trào của quần chúng nổi dậy chống “bình định” phá “Ấp chiến lược” của địch phát triển mạnh mẽ

Những thắng lợi về quân sự và chính trị nêu trên, đặc biệt là thắng lợi ở Đường

9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia nửa đầu năm 1971 đã làm phá sản bước đầu

quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mĩ, mở ra khả năng làm phá sản hoàn toàn các chiến lược chiến tranh đó.

Sau những thắng lợi đó, so sánh lực lượng ở Đông Dương thay đổi không có lợi cho

Mĩ - Ngụy Trong bối cảnh đó, ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công chiến lượcXuân - Hè năm 1972 trên chiến trường miền Nam

Ngày 30/ 3/ 1972, quân ta đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tiếncông chủ yếu rồi phát triển rộng khắp chiến trường miền Nam Đến cuối tháng 6/

1972, quân ta đã chọc thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất của địch là Quảng Trị, TâyNguyên, Đông Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 vạn quân Sài Gòn, giảiphóng những vùng đất đai rộng lớn và đông dân Cuộc tiến công chiến lược năm 1972

đã mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giáng đòn mạnh vào

quân Ngụy( công cụ chủ yếu) và “quốc sách bình định” (xương sống) của chiến lược

“Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh

trở lại xâm lược và quay trở lại bàn đàm phán Pari bàn về việc chấm dứt chiến tranhxâm lược ở Việt Nam

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari được kí kết đã tạo ra bước ngoặt cho cuộckháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta Với Hiệp định Pari, quân Mĩ vàquân đồng minh của Mĩ phải rút hết về nước làm cho chính quyền Sài Gòn mất đi chỗ

Trang 38

Tuy nhiên, sau Hiệp định Pari được kí kết Mĩ tiếp tục thực hiện “học thuyết Níchxơn”, theo đuổi chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Chúng đã để lại ở miền

Nam Việt Nam khoảng 20000 cố vấn quân sự đội lốt dân sự, lập ra Bộ chỉ huy tráhình, tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho Ngụy quyền Được cố vấn Mĩ chỉ huy vànhận viện trợ của Mĩ, chính quyền Sài Gòn ngang nhiên phá hoại Hiệp định Pari,

chúng huy động gần như toàn bộ lực lượng tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, liên tiếp mở các cuộc hành quân “bình định - lấn chiếm” vùng giải phóng của ta.

Đứng trước âm mưu và hành động mới của Mĩ - Ngụy, tháng 7/ 1973, Hội nghị lầnthứ 21 của Ban chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam đã họp và thông qua bản

nghị quyết “Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới” Nghị quyết Hội nghị chỉ

rõ con đường cách mạng của miền Nam là con đường cách mạng bạo lực

Thực hiện Nghị quyết của TW Đảng, Quân giải phóng liên tiếp mở các cuộctiến công, phản công cục bộ nhằm giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, góp phầnlàm thay đổi hẳn cục diện chiến trường miền Nam có lợi cho ta Tiêu biểu là thắng lợicủa chiến dịch Đường số 14 - Phước Long Chiến dịch Phước Long thắng lợi( 6/1/1975) chính là thời cơ để ta tiến lên thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậygiải phóng hoàn toàn miền Nam.Từ thực tế trên, Bộ chính trị TW Đảng đã đề ra kếhoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976 Thực hiện chủtrương, kế hoạch giải phóng miền Nam, từ ngày 4/3/1975, ta tiến hành cuộc Tổng tiếncông và nổi dậy trên toàn miền Nam thông qua ba chiến dịch lớn:

+ Chiến dịch Tây Nguyên ( từ ngày 4/ 3 đến ngày 24/ 3)

+ Chiến dịch Huế - Đà Nẵng ( từ ngày 21/ 3 đến ngày 29/ 3)

+ Chiến dịch Hồ Chí Minh ( từ ngày 26/ 4 đến ngày 30/ 4)

Chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứunước của nhân dân miền Nam

2.2 Các biện pháp RLKN diễn đạt trong dạy học các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam giai đoạn 1954 - 1975.

2.2.1 Hướng dẫn học sinh nghiên cứu kiến thức mới.

Nghiên cứu kiến thức mới là hoạt động chủ yếu trong quá trình dạy học lịch sử

ở trường phổ thông, nó chiếm phần lớn thời gian của một tiết học Đó là những kiến

Trang 39

thức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc mà HS cần nắm vững trong một tiếthọc, nó được xây dựng trên cơ sở hoạt động của GV với HS, giữa HS với nhau vàhoạt động độc lập của HS Nghiên cứu kiến thức mới là một khâu quan trọng trongquá trình lên lớp của người GV Khi nghiên cứu kiến thức mới, GV tổ chức hướngdẫn HS nghiên cứu những đơn vị kiến thức ở trong SGK và tài liệu tham khảo, đồngthời GV cần vận dụng một cách đa dạng các phương pháp dạy học: nêu vấn đề, vấnđáp, phương pháp dạy học nhóm - tổ, phương pháp trình bày miệng,… kích thích HStìm tòi, phát hiện, ghi nhớ sự kiện lịch sử, từ đó biết đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch

sử và rút ra kết luận cần thiết Trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng, các phươngpháp trình bày miệng như giải thích, phân tích, tường thuật, miêu tả, kể chuyện,… giữvai trò to lớn trong việc phát huy tính tích cực độc lập của HS khi nghiên cứu kiếnthức mới Giải thích sẽ làm cho HS hiểu rõ hơn những khái niệm, thuật ngữ khó hiểu;Phân tích sẽ giúp HS hiểu sâu sắc sự kiện; Miêu tả sẽ giúp HS tạo được biểu tượnglịch sử rõ ràng, từ đó hình thành khái niệm và hiểu sâu sắc sự kiện;… Trên cơ sở đó,

HS tích cực, chủ động, tự giác lĩnh hội tri thức mới, hiểu được nội dung của bài học.Khi dạy về các hoạt động quân sự chiến lược của quân dân miền Nam giai đoạn 1954

- 1975, GV hướng dẫn HS nghiên cứu kiến thức mới thông qua các phương pháp trìnhbày miệng như sau:

a Miêu tả:

Miêu tả là công việc rất quan trọng trong một giờ giảng, miêu tả nhằm giúp

HS hình dung được những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, conngười, điều kiện tự nhiên,… làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt HS TrongDHLS miêu tả nhằm giúp HS có được những hình ảnh rõ ràng để tạo biểu tượng lịch

sử, tạo cơ sở cho việc nêu lên bản chất của sự kiện lịch sử.Tuy nhiên, trong một bàihọc lịch sử không phải đơn vị kiến thức nào cũng cần sử dụng đến miêu tả, do đó GVcần lựa chọn những sự kiện lịch sử tiêu biểu, có hình ảnh mà khi miêu tả những sựkiện lịch sử này HS có được những biểu tượng lịch sử rõ ràng nhất góp phần vào việchình thành khái niệm và rút bài học lịch sử Trong miêu tả, HS không chỉ cần tri giácnội dung mà còn phải hiểu chức năng từng phần riêng rẽ của đối tượng miêu tả, mốiquan hệ giữa các đối tượng ấy, từ đó đánh giá được đối tượng miêu tả Vì vậy, khimiêu tả GV phải sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với lời nói rõ ràng, mạch lạc,

Trang 40

đồng thời thể hiện thái độ, tình cảm của mình đối với sự vật miêu tả Khi miêu tảnhững sự vật phức tạp, ngữ điệu của GV thường chậm hơn lúc tường thuật Khi kếtluận, GV nên nói chậm, nhấn mạnh, hơi xuống giọng những từ cuối để khắc sâu vàotrí nhớ HS.

- Khi dạy về phần nguyên nhân dẫn đến phong trào “Đồng Khởi” (1959 - 1960),

GV cho HS quan sát “bức ảnh máy chém” (phụ lục 2) và miêu tả tỉ mỉ toàn bộ:

“Máy chém là một dụng cụ mà chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã sử dụng

để hành hình những người cộng sản, những người dân miền Nam Việt Nam vô tội trong năm 1959 Chiếc máy chém gồm một bệ với hai thanh cứng dựng song song, giữa hai thanh cứng là một tấm hình vuông ở giữa là một lỗ hình tròn, tấm hình vuông này có thể tách ra theo chiều ngang Ngoài ra còn có một lưỡi dao sắc có thể nâng lên

hạ xuống Khi hành hình, người ta sẽ tách tấm hình vuông nằm giữa hai thanh cứng,

để người bị hành hình nằm trên bệ và để đầu họ vào cái lỗ hình tròn khoét giữa tấm hình vuông sao cho chiếc lỗ hình tròn vừa với cổ của người bị hành hình Tiếp đó lưỡi dao sắc hạ xuống và đầu của người bị hành hình lìa khỏi cổ”.

Qua bài miêu tả trên, HS sẽ hình dung được cấu tạo của chiếc máy chém cũngnhư cách mà người ta hành hình bằng máy chém Từ đó các em thấy được sự tàn bạocủa chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và hiểu được đây chính là nguyên nhân làmcho mâu thuẫn giữa nhân dân ta với chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ngày càng

gay gắt dẫn đến sự bùng nổ của phong trào “Đồng Khởi”.

- Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 do ta chủ động

mở sau khi nhận định: Sau thắng lợi ở Vạn Tường và hai mùa khô (1965 - 1966) và(1966 - 1967), so sánh lực lượng trên chiến trường đã thay đổi có lợi cho ta, mặt khácnăm 1968 là năm Mĩ tiến hành bầu cử Tổng thống nhưng trong nước lại đang có mâuthuẫn nội bộ

Sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu chủ trương, mục tiêu và diễn biến của cuộc

Tổng tiến công đợt 1, GV cho HS quan sát bức ảnh “phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mĩ” và bức ảnh “Tướng Ngụy Nguyễn Ngọc Loan bắn cộng sản trên đường phố” (phụ lục 2) và miêu tả Ở đây, GV sử dụng loại miêu tả khái quát có phân

tích

Ngày đăng: 22/02/2023, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD và ĐT (2008), Chương trình giáo dục phổ thông - môn lịch sử, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông - môn lịch sử
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2008), Lịch sử 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
3. Bộ Quốc phòng - viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1996), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975, tập II, chuyển chiến lược, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 329] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975, tập II, chuyển chiến lược
Tác giả: Bộ Quốc phòng, viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
4. Bộ Quốc phòng - viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2011), Lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954 - 1975, Tập V - Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954 - 1975, Tập V - Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968
Tác giả: Bộ Quốc phòng, viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2011
5. Cao Văn Lượng ( chủ biên) ( 2002), Lịch sử Việt Nam 1965 -1975, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam 1965 -1975
Tác giả: Cao Văn Lượng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
6. Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, (2007), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
7. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần 2 Ban chấp hành TW khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần 2 Ban chấp hành TW khóa VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
9. Đề cương bài giảng Giáo dục học - phần II, (2008), Nxb ĐHSP - ĐH Thái nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Giáo dục học - phần II
Nhà XB: Nxb ĐHSP - ĐH Thái nguyên
Năm: 2008
10. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
11. Hồ Khang, ( 2008), Tết Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Nxb chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tết Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Tác giả: Hồ Khang
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc Gia
Năm: 2008
12. Hồ Chí Minh: Toàn tập - Tập 9, (1989), Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập - Tập 9
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1989
13. Hội Giáo dục lịch sử, ĐHQG Hà Nội - Trường ĐHSP (1996), Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy “học sinh là trung tâm”, NXb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy “học sinh là trung tâm”
Tác giả: Hội Giáo dục lịch sử, ĐHQG Hà Nội - Trường ĐHSP
Nhà XB: NXb Đại học Sư phạm
Năm: 1996
14. I.F. Kharla môp (1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?, ( Bản dịch của Đỗ Thị Trang - Nguyễn Ngọc Quang), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F. Kharla môp
Nhà XB: Nxb Giáo dục, Hà Nội
Năm: 1978
15. I.F. Kharla môp (1979), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế
Tác giả: I.F. Kharla môp
Năm: 1979
16. Kiều Thế Hưng , ( 1999), Hệ thống thao tác trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thao tác trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học
Tác giả: Kiều Thế Hưng
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
17.Lê Mậu Hãn (chủ biên) - Trần Bá Đệ - Nguyễn Văn Thư (2009), Đại cương Lịch sử Việt nam, Tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt nam, Tập 3
Tác giả: Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
18.Luật Giáo dục (2005), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2005
19. Một số văn kiện của Đảng về chống Mĩ cứu nước, Tập 1 ( 1954 - 1965), Nxb Sự thật, H - 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng về chống Mĩ cứu nước, Tập 1 ( 1954 - 1965)
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1985
20. Nhiều tác giả,( 2010), Bến Tre Đồng Khởi và đội quân Tóc dài, Nxb Phụ Nữ, 2010; tr. 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến Tre Đồng Khởi và đội quân Tóc dài
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Phụ Nữ
Năm: 2010
21. Nguyễn Huy Thục, (2005), Cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 và sự cáo chung của chế độ Sài Gòn, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 và sự cáo chung của chế độ Sài Gòn
Tác giả: Nguyễn Huy Thục
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w