1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung

74 511 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Người hướng dẫn Th.S. Phan Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quảng Nam
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 888,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Gần 70% dân số Việt Nam là dân số ở nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp của nước ta chủ yếu vẫn là sản xuất truyền thống, ít sử dụng máy móc và công nghệ mới Hiện nay nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng nông nghiệp vẫn là ngành quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như giải quyết phần lớn nguồn lao động ở nông thôn Do đó, đầu tư vào nông nghiệp và phát triển nông thôn là rất cần thiết Sự đầu tư này không chỉ tác động tới ngành nông nghiệp mà còn tác động tới tất cả các ngành trogn nền kinh tế Trong thời gian qua các nguồn vốn dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn đã mang lại những lợi ích to lớn trong đó phải kể đến nguồn vốn ODA Các chương trình, dự án ODA đẫ mang lại những lợi ích kinh tế xã hội cho nhiều vùng đặc biệt là vùng sâu, vung xa Tuy nhiên việc quản lý nguồn vốn ODA còn nhiều bất cập cần phải giải quyết

Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài “ Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung” Những nội dung cụ thể của đề tài được trình bày và phân tích qua hai phần sau:

Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về nguồn vốn ODA

Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào NN&PTNT các tỉnh Miền Trung

Chương 3: Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh Miền Trung

Em xin cảm ơn Th.S Phan Thu Hiền và Ban quản lý các dự án nông nghiệp đã tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài này Do còn nhiều hạn chế về thời

gian cũng như kiến thức nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô góp ý và bổ sung

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Hằng

Trang 2

Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về nguồn vốn ODA

1.1 Vài nét về nguồn vốn ODA

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại ODA:

1.1.1.1 Khái niệm ODA:

- Sự hình thành ODA trên thế giới:

Sau đại chiến thế giới lần thứ II, các nước công nghiệp phát triển đã thỏa thuận vì sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển Tháng 7 năm 1944, tại Bretton Woods bang Hampshire (Hoa Kỳ), Hội nghị tài chính tiền tệ đã ra quyết định thành lập tổ chức tài chính Quốc tế – Ngân hàng thế giới ( WB ) Mục tiêu của WB là thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng trưởng phúc lợi của các nước với tư cách là một tổ chức trung gian tài chính, một ngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay theo các điều kiện thương mại bằng cách phát hành trái phiếu để rồi cho vay tài trợ và đầu tư tại các nước Và thông qua kế hoạch Marshall thưc hiện viện trợ ồ ạt cho các nước Tây Âu với tên gọi là khoản “ hỗ trợ phát triển chính thức” nhằm phục hối nền kinh tế Châu

Âu sau chiến tranh thế giới thứ II

- Khái niệm ODA:

Hỗ trợ phát triển chính thức(ODA) là khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi cho các chính phủ, các tổ chức phi Chính Phủ (NGO), các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc (UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển nhằm hỗ trợ và thúc đẩy các quốc gia đó phát triển cả về kinh tế lẫn xã hội

Như vậy, cùng với tín dụng thương mại ngân hàng, tín dụng tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì ODA là một trong những dòng vốn chủ yếu chảy vào các nước đang và chậm phát triển.Các dòng vốn quốc tế này có những mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.Nếu một nước không nhận được mức ODA đủ nức cần thiết đế cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thì khó có cơ hội để thu hut vốn FDI cũng như vay vốn tín dụng khác để mở rộng kinh doanh.Nhưng ngược lại chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm ODA mà không tìm cách thu hút các nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì không có điều kiện tăng trưởng nhanh sản xuất và dịch vụ, sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ lại vốn ODA

Trang 3

1.1.1.2 Đặc điểm của ODA

Thứ nhất, vốn ODA mang tính ưu đãi

Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn (chỉ trả lại chưa trả nợ gốc).Đây cũng chính là một sự ưu đãi dành cho nước vay

Thông thường, ODA có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) Đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại “Thành tố hỗ trợ được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh mức lãi suất viện trợ với mức lãi suất thương mại Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tín dụng thương mại trong tập quán quốc tế

Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện đó là nó chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp Nước có bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỉ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi này sẽ giảm đi

- Mục tiêu sử dụng ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp ODA và bên nhận ODA

Thông thường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình và đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Do đó, nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng cảu các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại một phần tổng sản phẩm quốc dân trong những điều kiện nhất định Như vậy, nguồn gốc thực chất của ODA chính là một phần của GNP các nước giàu được chuyển sang các nước nghèo Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội nước cung cấp cũng như tiếp nhận ODA

Thứ hai, ODA mang tính chất ràng buộc

ODA có thể ràng buộc nước nhận viện trợ về địa điểm, cách thức chi tiêu Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ với nước nhận

Trang 4

Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng tính hai mặt của nó là tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ Vốn ODA luôn có tính ràng buộc về chính trị.

Các nước viện trợ sẽ không quên dành được lợi ích cho nước mình vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ Ví dụ: BỈ, Đức, Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua bằng hàng hóa và dịch vụ của nước mình Canada yêu cầu cao nhất tới 65% F Còn Thụy Sỹ yêu cầu 7.1%; Hà Lan 2.2%, hai nước này được coi là những nước có tỉ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa dịch vụ của nhà tài trợ thấp Đặc biệt New Zealand không đòi hỏi phải tiêu thị hàng hóa, dịch vụ của họ

Kể từ khi ra đời đến nay, viện trợ luôn luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song đó là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở những nước đang phát triển và tăng cường vị thế chính trị của các nước tài trợ

Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng để lại gánh nặng nợ

Khi mới bắt đầu tiếp nhận ODA, do tính chất ưu đãi của nguồn vốn ODA nên gánh nặng nợ nần thường chưa xuất hiện Một số nước do sử dụng ODA chưa có hiệu quả có thể chỉ tạo ra gánh nặng nhất thời, nhưng sau đó một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu để thu ngoại tệ Vì vậy, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp các loại nguồn vốn với nhau để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu

1.1.1.3 Phân loại ODA

Có các cách phân loại ODA sau đây:

* Theo tính chất tài trợ, ODA bao gồm:

- Viện trợ không hoàn lại: là các khoản cho không, nước nhận viện trợ không có nghĩa vụ hoàn trả lại

- Viện trợ có hoàn lại: các khoản vay ưu đãi

- Viện trợ hỗn hợp: gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín dụng (có thể tín dụng ưu đãi hoặc tín dụng thương mại)

* Theo mục đích sử dụng, ODA bao gồm:

- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và môi trường Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi

- Hỗ trợ kĩ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực,… loại viện trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại

Trang 5

* Theo điều kiện, ODA bao gồm:

- ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng nào

- ODA có ràng buộc nước nhận:

+ Bởi nguồn sử dụng: việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước sở hữu tài trợ hoặc kiểm soát

+ Bởi mục đích sử dụng: chỉ sử dụng ODA cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể

- ODA có thể ràng buộc một phần: một phần chịu ràng buộc, phần còn lại không chịu bất cứ sự ràng buộc nào

* Theo đối tượng sử dụng, ODA được chia thành:

- Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể, có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kĩ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay

ưu đãi

- Hỗ trợ phi dự án:

+ Hỗ trợ trả nợ: giúp thanh toán các khoản nợ quốc tế đến hạn

+ Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào?

+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ qua nhập khẩu

* Theo nhà cung cấp ODA được chia thành:

- ODA song phương: là ODA của một chính phủ tài trợ trực tiếp cho một chính phủ khác

- ODA đa phương: là ODA của nhiều chính phủ cùng đồng thời tài trợ, thường được thực hiện qua các tổ chức quốc tế

- ODA của tổ chức phi chính phủ (NGO)

1.1.2 Tình hình chung về ODA trên thế giới

Trên thế giới việc cung cấp ODA thực chất đã được tiến hành từ nhiều thập kỉ trước đây, bắt đầu bằng kế hoạch Marshall của Mỹ viện trợ cho các nước Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai Tiếp đó, tại hội nghị Colombo đã hình thành nên những ý tưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển

Trang 6

Một sự kiện quan trọng nữa là ngày 14/12/1960, tại Paris đã ký thỏa thuận thành lập tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) Theo đó, với 20 nước thành viên ban đầu, tổ chức này đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra những ủy ban chuyên môn, trong đó có Ủy Ban hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển kinh tế nâng cao hiệu quả đầu tư Và kể từ năm 1960 đến nay, ODA được coi là khoản tài trợ quốc tế ưu đãi cho các nước chậm và đang phát triển Các khoản ODA phần lớn được cung cấp bởi thành viên DAC, chiếm khoảng 95% tổng số ODA thế giới Ngoài ra các tổ chức phi chính phủ (NGO) cũng tham gia vào việc cung cấp ODA trên thế giới.

Trong suốt giai đoạn 2000-2006, tổng nguồn vốn ODA của các nước DAC đạt bình quân gần 56 tỷ USD, thấp nhất năm 1997 (gần 47 tỷ USD) và đạt cao nhất vào năm 2008 (gần 68.5 tỷ USD).Tuy có một số biến động như vậy nhưng nhìn chung giá trị tuyệt đối ODA toàn cầu không thay đổi nhiều và không đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của các nước tiếp nhận

Trong thời gian 2006-2009, khối lượng viện trợ dành cho Châu Á chiếm trung bình khoảng 30% ODA toàn cầu Nhìn vào thực tế sử dụng cho thấy, ODA không phải luôn có hiệu quả đối với bất kì quốc gia nào, bất kỳ lĩnh vực nào Trong khi đó ODA mang lại gánh nặng nợ nần khó trả cho một số nước nhất là Châu Phi Một trong những nguyên nhân chủ yếu đó là do hệ thống quản lý ODA yếu kém và tính tự chủ thấp

* Những xu hướng mới của ODA trên thế giới trong thời đại ngày nay:

Trong thời đại ngày nay, ODA đang vạn động theo những sắc thái mới Đây cũng là một trong những nhân tố tác động tới việc thu hút dòng vốn ODA Bởi vậy nắm bắt được những xu thế này là điều rất cần thiết cho các nước nhận tài trợ

Thứ nhất là vấn đế môi trường đang là trọng tâm ưu tiên của nhiều nhà tài trợ.Ngày càng có sự nhất trí cao giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ về vấn đề bảo vệ môi trường Nhật Bản đã coi vấn đề bảo vệ môi trường là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong chính sách viện trợ của mình Căn cứ vào những diễn biến gần đây về vấn đề môi trường, Ngân hàng phát triển Châu Á đã điều chỉnh chính sách ưu tiên cho bảo vệ môi trường của mình, tập trung giải quyết những thách thức về môi trường trong thời đại ngày nay, cải thiện môi trường sống vì sự phát triển lâu bền

Thứ hai là vấn đề “phụ nữ trong phát triển” (Women in Development- WID) thường xuyên được đề cập tới trong chính sách ODA của nhiều nhà tài trợ

Trang 7

“ Phụ nữ trong phát triển” là một quan điểm đề cao vai trò của phụ nữ và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động phát triển Việc tạo ra các cơ hội cho phụ nữ phát triển nói chung và nâng cao thu nhập của họ nói riêng sẽ dẫn tới cải thiện mức sống, giảm tỉ lệ đói nghèo và duy trì tăng trưởng ổn định Ngay từ tháng 7/1985, ADB đã đưa ra vấn đề nâng cao vai trò người phụ nữ trong phát triển thành mục tiêu chiến lược trong hoạt động của mình Tư tưởng chủ đạo trong các dự án của ADB là

“ nâng cao vị trí của phụ nữ trong hoạt động kinh tế xã hội và đảm bảo sự phát triển của họ trong sự phát triển chung”

Thứ ba, mục tiêu và yêu cầu của nhà tài trợ ngày càng cụ thể, tuy nhiên ngày càng có sự nhất trí cao giữa nước tài trợ và nước nhận viện trợ về một số mục tiêu

Với mỗi khoản ODA cung cấp ODA cho các nước nghèo, các nhà tài trợ đều đưa ra những mục tiêu và yêu cầu ngày càng cụ thể hơn Với những mục tiêu và yêu cầu cụ thể này nó sẽ tạo ra sự ràng buộc càng chặt chẽ và nhà tài trợ của mình sẽ đạt được mục đích ở mức cao nhất Các mục tiêu đạt được sự nhất trí ngày càng cao giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ là:

- Tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế

- Xóa đói giảm nghèo

- Bảo vệ môi trường

- Hỗ trợ khai thác tiềm năng sẵn có và sử dụng chúng một cách có hiệu quả Thứ tư, nguồn vốn ODA tăng chậm

Các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB đang phải đương đầu với những khó khăn về nguồn vốn do phần góp vốn hạn hẹp của một số nước thành viên Tình trạng một số nước nghèo mắc nợ nhiều, khả năng hấp thụ ODA của nhiều nước tiếp nhận còn hạn chế, thiếu chủ động trong thu hút viện trợ… cũng là một trong những nguyên nhân làm nguội “nhiệt tình” của các nhà tài trợ Ngoài ra, trên thế giới đã xuát hiện những quan điểm mới tiến bộ hơn là quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả sử dụng vốn ODA chứ không phải quan tâm tới số lượng ODA được cung cấp Bởi vậy, thêm một lý do nữa để các nhà tài trợ trân trọng hơn trong việc mở “hầu bao” của mình Mặt khác, hiện nay ở nhiều nước người dân muốn Chính Phủ cắt giảm bớt viện trợ để tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội trong nước

Thứ năm, cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong việc thu hút vốn ODA đang tăng lên

Trang 8

ODA đang là đối tượng cạnh tranh gay gắt trong các ưu tiên phân phối ODA, nguyên nhân là do:

- Quốc tế đang đặt ra trách nhiệm giúp đỡ các nước đang phát triển giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu như sự thay đổi khí hậu, bảo vệ tầng Ozon, bảo vệ sinh thái, bảo vệ nguồn nước Vì vậy, các nước muốn nhận được viện trợ phải cạnh tranh để nhận được sự giúp đỡ này vì cung cấp ODA nhỏ hơn nhu cầu về vốn rất nhiều Hơn nữa, vốn ODA dành cho các vấn đề môi trường có một tỷ trọng lớn thường là viện trợ không hoàn lại nên các nước đều muốn nhận được sự ưu đãi này

- Gần đây trên thế giới xuất hiện một loạt những vấn đề mà việc giải quyết nó cần đến những khoản ODA khẩn cấp như: khắc phục hậu quả chiến tranh vùng vịnh, xung đột sắc tộc ở Châu Phi, khắc phục hậu quả của thiên tai…

1.1.3 Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển

Thứ nhất, ODA là một nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển

Một trong những trở ngại lớn nhất mà các nước nghèo gặp phải trong quá trình công nghiệp hóa là vốn đầu tư Trong điều kiện hiện nay, với những thành tựu mới của khoa học công nghệ, các nước không chỉ bằng khả năng tích lũy trong nước mà còn kết hợp với vận dụng khả năng của thời đại Bên cạnh nguồn vốn huy động trong nước, còn có thể huy động nguồn vốn nước ngoài Đối với các nước đang phát triển, khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA là nguồn tài chính quan trọng, nhiều nước đã tiếp thu một lượng vốn ODA khá lớn như một lượng bổ sung khá lớn cho phát triển

Thứ hai, ODA giúp cho các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực

Những lợi ích quan trọng mà nguồn vốn ODA mang lại cho nước nhận tài trợ là công nghệ, kĩ thuật hiện đại, kĩ thuật chuyên môn và trình độ quản lí tiên tiến Ngoài ra các nhà tài trợ còn ưu tiên cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởng rằng việc phát triển của một quốc gia có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực Đây chính là những lợi ích căn bản lâu dài đối với nước nhận tài trợ Nhật Bản được biết đến là nước đứng đầu thế giới về cung cấp ODA Hợp tác kĩ thuật của Nhật Bản là một ví dụ minh họa điển hình về vai trò của hỗ trợ phát triển chính thức

Trang 9

trong việc giúp các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại, công nghệ tiên tiến và phát triển nguồn nhân lực Hợp tác kĩ thuật được coi là một bộ phận quan trọng trong ODA của Nhật Bản và được Chính Phủ Nhật Bản đặc biệt coi trọng.

Thứ ba, ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Dân số tăng nhanh, sản xuất tăng chậm và cung cách quản lý kinh tế, tài chính kém hiệu quả, các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước Châu Phi đang vấp phải khó khăn về kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày càng tăng Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với WB, Quỹ tiền tệ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác để tiến hành điều chỉnh cơ cấu Chính sách này có xu hướng là chuyển chính sách kinh tế Nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển kinh tế khu vực tư nhân Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với các nước đang phát triển và Nhật Bản cũng chú trọng tới loại hình này

Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển

Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lời của vốn đầu tư tại nước đó

Việc đầu tư của Chính Phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựng mới các

cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trường đầu tư hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn, trong nhiều trường hợp các nước đang phát triển cần phải dựa vào nguồn vốn ODA để bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách nhà nước Như vậy, muốn thu hút được vốn đàu tư trực tiếp nước ngoài thì cần phải có một môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn

1.2 Sự cần thiết của ODA đối với phát triển Nông nghiệp nông thôn các tỉnh Miền Trung

1.2.1 Sự cần thiết phải đầu tư

Ở nhiều nước trong đó có Việt Nam, thực tế đã khẳng định rằng khi cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân, việc cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, tăng cường trao đổi mua bán, mang lại thêm nhiều cơ hội tạo thêm thu nhập phi nông nghiệp và giảm áp lực lên những vùng nhạy cảm và sinh thái Ngoài

Trang 10

ra, mối liên hệ giữa nghèo đói và cơ sờ hạ tầng nông thôn yếu kém cũng được minh chứng rõ ràng qua thực tế Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác có cùng tình trạng cơ sở hạ tầng nông thôn yếu kém, tỉ lệ nghèo rõ ràng cao hơn hẳn những nước có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh gồm mạng lưới đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hay trạm cấp nước sạch và các chợ… được xây dựng để thúc đẩy giao lưu buôn bán Sự đóng góp của cơ sở hạ tầng nông thôn trong xóa đói giảm nghèo đã được minh chứng qua những thành quả của dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn (RISP) do ADB tài trợ trong những năm 1998-2004 Các báo cáo đánh giá và kết thúc dự án cho thấy tỉ lệ nghèo trong vùng có tiểu dự án giảm đáng kể và một trong số những lợi ích khác đó chính là thu nhập hộ gia đình tăng bình quân trên 40%.

Kết quả khảo sát hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn ở các tỉnh Miền Trung khẳng định rằng:

- Đầu tư thêm cho cơ sở hạ tầng nông thôn là một yêu cầu bắt buộc

- Nhiều cơ sở hạ tầng hiện nay cần được cải tạo nâng cấp

- Ở các tỉnh Miền Trung, tỉ lệ đường giao thông cấp huyện đã được trải nhựa hoặc thảm bê tông là tương đối thấp và hươn 1/3 dân số nông thôn chưa có nước sạch để sử dụng

Khi các cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện thì nó sẽ mang lại những lợi ích tổng thể cho dân cư đó là:

- Tăng khả năng đưa hàng hóa ra chợ và mở rộng sản xuất nông nghiệp

- Tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và các công trình công ích như trạm y tế và trường học

- Tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kế và các nguồn thu nhập

- Tăng cường sự tham gia của người nghèo vào các hoạt động kinh tế, giảm tỉ lệ nhiễm bệnh do sử dụng nguồn nước không an toàn và một số bệnh tật khác

- Thúc đẩy giao lưu buôn bán và trao đổi thông tin

- Góp phần trong công tác xóa đói giảm nghèo

Qua đó ta thấy rằng, xây dựng và tái thiết cơ sở hạ tầng nông thôn là một điều hết sức cần thiết Nhưng để có thể thực hiện được nhiệm vụ này quả là rất khó khăn và cần thềm sự giúp đỡ của các nguồn lực bên ngoài cụ thế ở đây là nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA)

Trang 11

Bảng 1: Tóm tắt hiện trạng cơ sở hạ tầng nông thôn ở các tỉnh Miền Trung năm 2009

Quảng Trị

TT

Huế

Quảng nam

Quảng Ngãi

Kon tum

Bình Định

Phú

Yên

Ninh Thuận

Trang 12

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ cho giai đoạn 2006-2010 đặt ra ba kết quả cho mục tiêu năm năm đó là:

• Tăng trưởng- thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đưa đất nước ra khỏi tình trạng chậm phát triển một cách nhanh chóng nhưng bền vững ( đạt mức thu nhập bình quân theo đầu người một năm từ 950 USD đến 1000 USD vào năm 2010 )

• Phát triển xã hội – cải thiện đáng kể cuộc sống tinh thần , văn hóa và vật chất của con người

• Quản lý nhà nước tốt- tạo nền móng cơ sở hạ tầng và thể chế nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Chính Phủ tự do hóa thị trường, phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy khoa học và công nghệ, nâng cao hiệu quả đầu vào, cải thiện chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực, tích cực đảy mạnh quá trình hội nhập kinh tế nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và đầu tư nước ngoài Để đạt và duy trì được tỷ lệ tăng trưởng GDP ở mức cao (7.5%/năm), Việt Nam cần phát triển cơ sở

hạ tầng và duy trì ở mức đầu tư thấp nhất là 35% GDP

Đầu những năm 1980, Việt Nam là một nước nông nghiệp (80% dân số sống ở nông thôn) và đói nghèo là tình trạng phổ biến của miền nông thôn (khi đó được đánh giá ở mức 66.4%) Vào những năm 2008, mức đói nghèo ở nông thôn giảm xuống còn 26.4%, trong khi đó dân số nông thôn vẫn chiếm 70% cả nước Một trong những nguyên nhân của những thuận lợi lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo là tốc độ tăng trưởng mạnh của ngành nông nghiệp, ngành cung cấp các hoạt động kinh tế cho 90% số hộ nông thôn, mà một phần là do phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn Nhưng những thành quả của quá trình xóa đói giảm nghèo không đồng bộ trên cả nước với mức đói nghèo 41% ở miền Bắc Trung Bộ và 33% ở vùng Tây nguyên trung bộ Vì vậy, mối liên hệ giữa phát triển cơ sở hạ tầng và vấn đề nghèo đói lại được thiết lập tốt

2.2 Tình trạng nghèo đói ở Miền Trung

Ở Việt Nam, tình trạng nghèo đói ở nông thôn phụ thuộc vào khu vực địa lý và nhóm dân tộc Vùng Phía Bắc có tỉ lệ nghèo cao nhất cả nước (51.9%), kế đến là vùng duyên hải Miền Trung (36.5%) nhưng đây lại là khu vực có số người nghèo cao nhất cả nước Thanh hóa và Nghệ An được xem là hai tỉnh có số người nghèo đông

Trang 13

nhất cả nước Sự tập trung đông người nghèo ở khu vực địa lí này cũng phản ánh sự chênh lệch giàu nghèo giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số của đất nước; khu vực nào có tỉ lệ nghèo cao thường là nơi có đông người dân tộc thiểu số và chỉ tính riêng dân tộc ít người tỉ lệ nghèo lên tới 69.3%.

Nghèo đói ở Việt Nam là hiện tượng phổ biến ở nông thôn, tập trung chủ yếu ở vùng xa xôi hẻo lánh thuộc Miền Bắc và Miền Trung và phần lớn rơi vào dân tộc thiểu số Dân số ở khu vực Miền Trung vào khoảng 23 triệu người Đây là một trong những khu vực nghèo nhất của Việt Nam- có khoảng hơn 37% dân số sống dưới mức nghèo đói Những nguyên nhân cơ bản của đói nghèo bao gồm cả nguyên nhân về địa lý cũng như nguyên nhân lịch sử Ở khu vực duyên hải phía Bắc Miền trung, nhân tố

cơ bản gây ra nghèo đó là quá ít đất- mặc dù diện tích đất mỗi hộ sở hữu để trồng cây hàng năm ở khu vực này gần bằng với các vùng khác ở Việt Nam, nhưng diện tích trồng cây lâu năm nhỏ hơn nhiều so với các vùng miền khác (trung bình khoảng 0.03

ha so vói 0.3 ha đất lâm nghiệp Trong tất cả các miền duyên hải Miền Trung là vùng có diện tích đất cho mỗi hộ gia đình là nhỏ nhất, chỉ sau Đồng Bằng Sông Hồng trên cả nước, trong khi diện tích đất lâm nghiệp trên từng hộ gia đình đã giảm một cách đáng kể đặc biệt đối với nhũng người dân nghèo nhất Hơn nữa, nhiều gia đình chỉ ở trên ngưỡng nghèo đói đôi chút dễ bị tổn thương hơn cả, nhất là đối với những hộ có rât ít đất sản xuất và sống ở những nơi thường xuyên gánh chịu thiên tai Đây là tình trạng mà những gia đình sống ở vùng duyên hải của cả nước, đất đai kém màu mỡ, chỉ được sở hữu những mảnh đất nhỏ lại hay bị lũ lụt và nước biển xâm thực trong mùa mưa bão hàng năm phải gánh chịu Điều kiện kinh tế xã hội của Miền Trung chịu tác động bởi hai nhân tố lịch sử Nhân tố thứ nhất là sự tàn phá đối với môi trường tự nhiên trong suốt thời kì chiến tranh, thuộc nửa sau thế kỉ 20 và nhân tố thứ hai là nguồn đầu tư để phát triển kinh tế xã hội cho khu vực Miền Trung trong những năm qua còn hạn chế do Việt Nam ưu tiên đầu tư phát triển hai khu vực đông dân nhất và dễ mang lại thuận lợi hơn- là khu vực đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long Vì vậy, miền Trung còn gặp rất nhiếu khó khăn trong việc phát triển cơ sở hạ tầng để góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội Và đây chính là tình hình chung của vùng duyên hải Bắc Trung Bộ và của vùng duyên hải Nam trung bộ Vì vậy, mọi nỗ lực cần thiết để phục vụ xóa đói giảm nghèo cần đặt trọng tâm vào các khu vực này và những khó khăn đặc thù họ đang gặp phải

Trang 14

Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào phát triển nông thôn tại

các tỉnh Miền Trung

2.1 Tổng quan ODA vào Việt Nam

2.1.1 Tinh hình thu hút và giải ngân ODA tại Việt Nam

Trước năm 1991, nguồn viện trợ cung cấp cho Việt Nam chủ yếu là từ Liên

Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa này sụp

đổ, nguồn viện trợ cho Việt Nam bị cắt giảm nhiều và gần như không còn Cũng trong thời gian này, do sự cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam nên có rất ít nước dành hỗ trợ cho Việt Nam Tuy nhiên sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam vào tháng 11 năm 1993 thì một hội nghị tư vấn các nhà tài trợ được tổ chức đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc thu hút nguồn vốn ODA, Việc thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam sẽ được xem xét cụ thể qua phân tích dưới đây

• Thứ nhất, số vốn ODA cam kết cho Việt Nam trong thời gian qua tương đối lớn và tăng qua các năm

Sau khi nối lại mối quan hệ cộng đồng với các nhà tài trợ quốc tế ( vào tháng

11 năm 1993) Việt Nam đã liên tục nhận được những cam kết tài trợ của các nhà tài trợ Hiện nay có đến 51 nhà tài trợ ODA cho Việt Nam trong đó có 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực ưu tiên phát triển của Việt Nam Tuy nhiên, mỗi nhà tài trợ đều có những hiến chương và chính sách ODA riêng, quy trình và thủ tục cũng có những điểm khác biệt, song các nhà tài trợ đếu căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó trong 10 năm 2001-2010, kế hoạch 5 năm 2001- 2005, các quy hoạch và kế hoạch phát triển của nghành và địa phương, các chương trình quốc gia, đặc biệt chú trọng đến chiến lược xóa đói giảm nghèo… để từ đó đưa ra quyết định tài trợ

Ngoài ra, có hơn 600 tổ chức phi chính phủ hiện đang hoạt động ở hầu hết các địa phương trên cả nước và trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả viện trợ nhân đạo lẫn viện trợ phát triển với trị giá khoảng 100 triệu USD/năm

Theo số liệu thống kê, từ năm 1993 đến 2008, số vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam là 33263.8 triệu USD, trong đó số vốn đã giải ngân là 15857 triệu USD

Trang 15

Bảng 2: ODA cam kết và giải ngân chung giai đoạn 1993-2009

Cam kết (triệu USD)

Tốc độ tăng liên hoàn của ODA cam kết (%)

ODA Giải ngân (Triệu USD)

Tốc độ tăng lien hoàn của ODA giải ngân (%)

Nguồn : Bộ kế hoạch đầu tư

Qua số bảng số liệu trên ta thấy rằng vốn ODA tăng qua các năm nhưng không đều, trung bình mỗi năm lượng vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam vào khoảng 2.4 tỷ USD, đây là mức cam kết khá cao so với các nước đang phát triển khác Trong 2 năm đầu khi mới nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế , lượng ODA cam kết mới chỉ đạt 1860.8 triệu USD (năm 1993) và 2839 triệu USD Riêng giai đoạn 1997-2000 lượng vốn ODA có sự sụt giảm nhẹ, điều này là do cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 Tới giai đoạn 2001-2005 thì lượn vốn ODA tăng và tăng khá đều tổng vốn ODA trong giai đoạn này là 14.9 tỷ USD Trong 7 tháng đầu năm 2006 tổng vốn đầu tư thông qua các hiệp định kí kết với các nhà tài trợ đạt tổng giá trị 1.599 tỷ USD, trong đó vốn vay đạt 1.466 tỷ USD và vốn viện trợ khoảng 0.133 tỷ USD Tới giai đoạn 2006-2009 thì mức ODA tăng lên hàng năm trugn bình mỗi năm tăng lên khoảng 1.3 lần so với năm trước

Số vốn ODA cam kết cho Việt Nam đạt được kết quả như trên là do Việt Nam

đã tạo dựng được sự tin tưởng của các nhà tài trợ thông qua sự phát triển kinh tế xã

Trang 16

hội Điều đó được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua so với các nước trong khu vực là tương đối cao và tốc độ tăng trưởng này được giữ ổn định trong thời gian dài Đặc biệt Việt Nam có tình hình chính trị- xã hội

ổn định, đó là một yếu tố quan trọng giúp cho các hoạt động hỗ trợ của các nhà tài trợ được thuận lợi Bên cạch đó, sự thành công của các chương trình xóa đói giảm nghèo

đã giúp Việt Nam tạo được niềm tin rất lớn với cộng đồng tài trợ quốc tế và tiếp tục dành được sự quan tâm của các nhà tài trợ trong việc thực hiện tốt mục tiêu phát triển thiên niên kỉ mà liên hợp quốc đề ra

• Thứ hai, trong những năm qua cùng với sự gia tăng của mức ODA cam kết

và mức giải ngân cũng tăng

Biểu đồ 1: Mức ODA giải ngân giai đoạn 1993 - 2009

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư

Ta thấy rằng mức giải ngân cũng tăng dần qua các năm Trung bình đạt 1.2 tỷ USD/năm Giai đoạn từ 1993-2000, mức giải ngân tăng liên tục, năm 2000 đạt 1650 triệu USD Năm 2001, 2002, 20003 mức giải ngân có giảm so với năm 2000 nhưng vẫn cao hơn giai đoạn 1993-1999; đó là do một số dự án đang đi vào giai đoạn cuối nên tốc độ giải ngân nhanh hơn Tuy nhiên mức độ giải ngân chỉ bằng 91% kế hoạch

đề ra năm 2002, 85% kế hoạch năm 2002, 95% kế hoạch năm 2003 Từ 2004 đến năm 2009 tỷ trọng vốn ODA giải ngân tăng dần theo các năm tăng mạnh nhất là vào năm 2009 khoảng 2745 triệu USD

Trang 17

Thực tế cho thấy rằng ODA tăng qua các năm nhưng rất thấp so với mức cam kết khoảng cách giữa hai mức này cho thấy năng lực xây dựng và quản lí chương trình dự án còn nhiều bất cập Trong giai đoạn 1993-1999 là giai đoạn của thời kì đổi mới, do hạn chế về khả năng xây dựng và quản lý các chương trình, dự án mà mức giải ngân ODA còn thấp, trung bình đạt 33% Trong thời gian gần đây, mức giải ngân

dã cao hơn, trung bình đạt 68% Nguyên nhân của tình trạng này là do:

- Đặc điểm của việc sử dụng nguồn vốn ODA : ODA là nguồn vốn đầu tư phát triển, tức là cần có thời gian cần thiết từ khi cam kết cho đến khi xây dựng, phê duyệt thực hiện dự án Khi dự án được thực hiện mới có thể xem xét việc chi tiêu trên thực tế và tiến hành giải ngân

- Các mô hình cung cấp ODA, các quy trình thủ tục ODA của các nhà tài trợ không giống nhau Vì vậy, Chính phủ cũng như các nhà tài trợ cần có thời gian để hài hòa các quy trình thủ tục, yêu cầu của cả hai phía

- Quản lý nguồn vốn ODA ngay từ khi tiếp nhận đến khi thực hiện còn nhiều bất cập không chỉ những ở địa phương mà ngay từ trung ương Tình trạng tham nhũng nguồn vốn này còn xảy ra ở nhiều nơi một phần do không chấp hành các văn bản pháp lí về nguồn vốn ODA một phần do những suy nghĩ cho rằng đây là nguồn vốn của Nhà Nước

2 Thực trạng sử dụng ODA tại Việt Nam

2.1 Tổng quan ODA vào Việt Nam

2.1.1 Cơ cấu sử dụng ODA theo nghành, lĩnh vực tại Việt Nam

Trong giai đoạn 2006-2010, nguồn vốn ODA đã bổ sung khoảng 11% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 17% tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước Phân theo nghành theo lĩnh vực nguồn vốn ODA được sư dụng tập trung vào khôi phục và phát triển cơ sở hạ tầng xã hội

Trang 18

Bảng 3: Cơ cấu ODA theo ngành, lĩnh vực năm 2008

Ngành, lĩnh vực Tổng số Vay Viện trợ Tỷ lệ (%)

1 Nông nghiệp và phát triển

nông thôn kết hợp xóa đói,

giảm nghèo

598.30 535.49 62.81 13.81

2 Năng lượng và công nghiệp 486.30 486.30 11.22

3 Giao thông vận tải bưu chính

viễn thông, cấp, thoát nước và

phát triển đô thị, trong đó:

- Giao thông vận tải, bưu chính

54.45

50.7

0.233.52

4 Y tế, giáo dục đào tạo, môi

trường, khoa học kĩ thuật,

ngành khác:

- Y tế

- Giáo dục đào tạo

- Môi trường, khoa học kĩ thuật

- Các ngành khác

889.05

192.9855.75308.46332.07

706.19

132.0050.00297.55226.64

182.86

60.985.7510.91105.43

20.52

4.451.297.127.66

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Theo tổng hợp mới đây, trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự

án ODA đã kí kết trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng giá trị khoảng 5.5 tỷ USD, trong

đó có khoảng 26% vốn không hoàn lại Nguồn vốn này được sử dụng cho phát triển nông nghiệp là 39%, phát triển lâm nghiệp là 33%, xây dựng thủy lợi là 18%, phát triển nông nghiệp tổng hợp là 10% Trong đó có các dự án quy mô lớn như dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc, sự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, dự án phát triển sinh kế Miền Trung, chương trình cấp nước nông thôn và nhiều dự án phát triển nông thôn tổng hợp xóa đói giảm nghèo khác đã góp phần hỗ trợ phất triển nông nghiệp và cải thiện một bước quan trọng đời sống người dân vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong lĩnh vực y tế, giáo dục

Trang 19

Về cơ sở hạ tầng xã hội, ODA ưu tiên sử dụng hỗ trợ phát triển giáo dục, y tế,

xã hội với tổng số vốn là 1171 triệu USD Trong lĩnh vực giáo dục, nguồn vốn ODA

đã được sử dụng để tăng cường cơ sở vật chất, kĩ thuật công tác dạy và học tất cả các cấp học ( dự án giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục đại học, dạy nghề ) đào tạo giáo viên, đào tạo sau đại học…Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, 62% trong tổng vốn ODA dành cho Y tế Nguồn vốn ODA được sử dụng để tăng cường cơ sở vật chất, kĩ thuật cho công tác khám chữa bệnh, xây dựng cơ sở sản xuất thuốc kháng sinh, trung tâm truyền má quốc gia, tăng cường công tác dân số và sức khỏe sinh sản…đào tạo cán bộ y tế; hỗ trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực cán bộ quản lý

Bên cạnh đó, ODA đã góp phần đáng kể trong việc tiếp nhận khoa học công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến và tăng cường nguồn lực con người và phát triển thể chế Thông qua các dự án ODA cá công nghệ mới, kĩ năng và kinh nghiệm quản lý đã được chuyển giao

Trong cơ sở hạ tầng, ngành Giao thông vận tải- Bưu chính viễn thông được ưu tiên cao nhất với tổng số vốn ODA 2753 triệu USD, trong đó chủ yếu là vốn vay ưu đãi, vốn ODA không hoàn lại chỉ chiếm khoảng gần 5% Nhờ nguồn vốn ODA, mà nhiều công trình giao thông đã được cải tạo và xây dựng mới góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, như hệ thống đường bộ 1A, đườn xuyên Á, cảng nước sâu Cái Lân Trong lĩnh vực bưu chính viễn thông nguồn vốn ODA tập trung vào các dự án tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật như dự án cung cấp cáp quang ven biển, dự án đưa điện thoại tới các nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Trong khi đó lĩnh vực cấp thoát nước và phát triển đô thị số vốn ODA là 1048 triệu USD, được sử dụng để xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt, thoát nước và xử

kí rác thải ở hầu hết các thành phố lớn và ở nhiều thị xã, góp phần cải thiện môi trường hiện đang là nhu cầu cấp bách hiện nay

Trong lĩnh vực năng lượng và công nghiệp là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA lớn với các dự án đã ký trong thời gian qua đã đạt trên 7.6 tỷ USD nhằm cải tọa nâng cấp , phát triển mới nhiều nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất lớn, cải tạo và phát triển mạng truyền tải và phân phối điện quốc gia đáp ứng nhu cầu điện gia tăng hàng năm cho cả sản xuất và đời sỗng ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp và khu vực nông thôn trên cả nước Đây là một nguồn vốn lớn và có

ý nghĩa trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cồn hạn hẹp, khu vực

tư nhân trong và ngoài nước trong giai đoạn phát triển ban đầu còn chưa mặn mà với

Trang 20

đầu tư phát triển nguồn và lưới điện vì yêu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vôn chậm.

Biểu đồ 3: cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực thời kì 1993-2008

Nông nghiệp

và nông thôn két hợp xóa đói giảm nghèo Năng lượng và công nghiệp

Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông

Cấp, thoát nước và phát triển đô thị

Y tế, giáo dục đào tạo

Môi trường, khoa học kĩ thuật

2.1.2 Cơ cấu sử dụng ODA theo vùng của Việt Nam

Phân theo nhóm vùng, ODA tập trung chủ yếu vào Bắc Trung Bộ, duyên hải

Mền Trung vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung (chiếm tỉ trọng 31.22% tổng vốn ODA); tiếp theo là vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (chiếm 30.86% tổng vốn ODA) Trong khi đó vùng đồng bằng Sông Cửu Long vốn ODA chiếm 7.45%, ODA cho Tây Nguyên chiếm 3.7% tổng vốn ODA

Trang 21

Bảng 4: Cơ cấu vốn ODA kí kết theo vùng do địa phương trực tiếp thụ hưởng

Đồng Bằng sông Hồng và vùng

kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Bắc Trung Bộ, duyên hải Miền

Trung và vùng kinh tế trọng điểm

Miền Trung

Đông Nam Bộ và vùng kinh tế

trọng điểm phía Nam

Nguồn: Phòng kế toán BQL dự án

Vùng trung du miền núi Bắc Bộ đứng thứ ba về số vốn kí kết chiếm tỉ lệ 8.07%, nguồn vốn này tập trung thực hiện các chương trình dự án trong các lĩnh vực như phát triển lâm nghiệp bền vững; hay tiếp cận các dịch vụ cơ sở hạ tầng bao gồm điện, thủy lợi , nước sạch và giao thông nông thôn; phát triển dân tộc thiểu số; xây dựng các trường dân tộc nội trú và tăng cường trang thiết bị cho bệnh viện tuyến tỉnh

và hình thành các trung tâm y tế; phát triển cơ sở hạ tầng; tăng cường năng lực quản

lý hành chính các cấp

Vùng Bắc trung bộ và duyên hải Miền Trung: là vùng mà các tỉnh đều giáp biển, điều kiện tự nhiên khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn, là nơi thường xuyên bị thiên tai tàn phá Số vốn ODA dành cho vùng này là tương đối lớn đạt 3278.19 triệu USD, chiếm 12.82% ODA tập trung thực hiện các chương trình dự

án trong các lĩnh vực như quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên rừng; các hệ thống thủy lợi; giảm thiểu thảm họa thiên tai, giao thông nông thôn; hỗ trợ ngư dân ven biển và đồng bào thiểu số; phát triển cơ sở hạ tầng để thúc đẩy thương mại với các vùng khác trong nước và quốc tế; phát triển hệ thống y tế; tăng cường năng lực quản lý hành chính các cấp

Trang 22

Vùng kinh tế Sông Hồng và khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc đứng thứ tư

về vốn ODA kí kết với 13.69% vì đây là vùng kinh tế phát triển, mức sống tương đối cao và tỷ lệ hộ nghèo thấp Nguồn vốn này tập trung để hỗ trợ trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đa dạng hóa thu nhập cho các hộ nông dân; tăng cường thiết bị cho hệ thống bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố phòng chống ô nhiễm môi trường

Vùng Tây nguyên: đây là vùng có mật độ dân cư thưa thớt, điều kiện kinh tế

tự nhiên còn nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, tuy nhiên vốn ODA dành cho vùng này chỉ có 1132.39 triệu USD, chiếm 4.43% ODA chủ yếu tập trung cho lĩnh vực trồng rừng và bảo vệ vườn quốc gia; xây dựng các công trinh thủy lợi; phòng chống thiên tai; dịch bệnh; nâng cấp các quốc lộ nối các tỉnh duyên hải Miền Trung; cải thiện khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng nông thôn

Vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: đứng thứ hai về ODA với 3395.6 triệu USD, chiếm 15.62% Nguồn vốn ODA cho vùng này lớn là do các dự án chủ yếu thực hiện trong các lĩnh vực như hỗ trợ về khoa học công nghệ để phát triển nông nghiệp và đặc biệt là xây dựng hệ thống giao thông bao gồm các đường vành đai quanh thành phố Hồ Chí Minh, hiện đại hóa hệ thống đường sắt và đường thủy, xây dựng cảng hàng không quốc tế mới và hệ thống giao thông công cộng ở Thành Phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó ODA còn ưu tiên cho hoàn thiện và xây dựng hệ thống cấp thoát nước nhằm cải thiện môi trường đô thị; tăng cường trang thiết bị y tế cho các bệnh viện tỉnh

Vùng đồng bằng sông Cửu Long: ODA sử dụng trong lĩnh vực như quản lí bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên; các hệ thống thủy lợi; giao thông nông thôn; phát triển giao thông đường thủy, đầu tư vào phát triển nông thôn tổng hợp; cải thiện các dịch vụ y tế, giáo dục, tăng cường năng lực quản lí hành chính các cấp

Qua đó ta có thể tổng hợp rằng gía trị ODA bình quân đầu người của các vùng như sau: vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đạt 33.98 USD/ người, vùng đồng bằng Sông Hồng đạt 18.42 USD/người, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Miền Trung đạt 52.46 USD /người, vùng Tây Nguyên là 21.86 USD/người, vùng Đông Nam Bộ là 25.4 USD/ người và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là 11.29 USD/người

Trang 23

2.1.3 Cơ cấu sử dụng ODA theo nhà tài trợ

Hiện nay ở Việt Nam có 51 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam Trong đó Nhật Bản

là đối tác lớn nhất, riêng vốn ODA của Nhật Bản chiếm tới 42.31% tổng ODA của Việt Nam, tiếp đến là ngân hàng thế giới (WB) với 26.61% và ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) với 14.49% Xét theo nhà tài trợ song phương thì đứng đầu là Nhật Bản đứng đầu với 77.18%, tiếp theo là Pháp (6.17%), Đức (3.6%) Xét theo tài trợ đa phương thì WB và ADB là hai đối tác lớn nhất

Bảng 5: 10 nhà tài trợ chính của Việt Nam năm 1993 - 2008

Đơn vị: Triệu USD, %

Nhà tài trợ Tổng giá trị ODA (triệu USD) Tỷ trọng (%)

Nguồn: Tổng cục thống kê

Nhật Bản là đối tác lớn nhất của Việt Nam, trong đó ngân hàng quốc tế Nhật Bản (JBIC) chiếm 36% tổng dự án, tương đương 83% tổng vốn giải ngân ( 10455.66 triệu USD) Trong số các dự án của Nhật Bản 47% là dành cho phát triển cơ sở hạ tầng với 6688.11 triệu USD, tương đương 78.96 tổng ODA của Nhật Bản cho Việt Nam

WB là nhà tài trợ lớn thứ hai với 7026.39 triệu USD với các dự án sử dụng vốn ODA tập trung chủ yếu cho hỗ trợ chính sách (chiếm 58% tổng số vón giải ngân

và 60% tổng vốn vay) Tiếp theo là phát triển cơ sở hạ tầng chiếm 30% tổng vốn giải ngân và 24% tổng vốn vay

ADB là nhà tài trợ lớn thứ ba, chiếm 14.49% tổng vốn ODA Các dự án của ADB tập trung nhiều nhất vào đầu tư cơ sở hạ tầng 3593.49 triệu USD chiếm 44% tổng vốn giải ngân và 22% tổng số dự án; tiếp theo là phát triển 23ang thôn chiếm

Trang 24

26% tổng vốn giải ngân, 20% tổng dự án; thứ ba là hỗ trợ chính sách chiếm 24% tổng vốn giải ngân

Bảng 6: Tình hình giải ngân ODA của nhóm sáu ngân hàng phát triển

giai đoạn (1998-2009)

Đơn vị: Triệu USD

giải ngân

Nguồn: Phòng kế toán BQL dự án

Các số liệu về tình hình giải ngân của nhóm sáu ngân hàng phát triển trong 11 năm qua cho thấy năm 1998 mức giải ngân đạt được là lớn nhất Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nhóm sáu ngân hàng phát triển cung cấp khoảng 80% vốn ODA cho Việt Nam với nhiều chương trình, dự án quy mô lớn giúp Việt Nam phát triển cơ sở

hạ tầng kinh tế và xã hội

2.2 Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh Miền Trung

2.2.1 Thu hút ODA cho nông nghiệp nông thôn các tỉnh Miền trung

Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam là nơi 72.6% dân số Việt Nam sinh sống, đóng góp khoảng 20.7% GDP, thu hút hơn 60% lao động và mang lại nguồn thu chính cho cuộc sống của gia đình họ Trong 15 năm qua, nông nghiệp đã có những bước phát triển khá toàn diện với mức tăng trưởng trung bình 4-4.5%/năm Trong đó ODA đóng vai trò rất quan trọng cho sự tăng trưởng của ngành Nông nghiệp

Trang 25

Về quy mô, trong những năm qua, Nông nghiệp là một trong những ngành được quan tâm lớn với nguồn tài trợ ODA luôn trong khoảng trên dưới 350 triệu USD/năm (năm 2005- 353 triệu USD, 2006- 387 triệu USD và năm 2007- 376 triệu USD) và được duy trì đều đặn sự cân đối giữa các lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, thủy lợi cũng như phát triển nông thôn tổng hợp Trong số đó, tỷ trọng vốn không hoàn lại trong tổng vốn ODA huy động tương đối cao Riêng giai đoạn 2003-2007 ngành nông nghiệp đã thu hút được 187 dự án với 1282.4 triệu USD, trong đó có 458.6 triệu USD không hoàn lại và 823.8 triệu USD vốn vay ưu đãi.

Theo số liệu thống kê, tỷ trọng trong ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn trung bình 5.9% chi ngân sách và chỉ đáp ứng được 50-60% nhu cầu đầu tư của ngành Nông nghiệp còn lại do nguồn vốn đàu tư nước ngoài và các nguồn khác, trong đó, riêng ODA mỗi năm trung bình khoảng 4500-6000 tỷ đồng Tỉ trọng ODA đang càng ngày càng tăng trong những năm gần đây do xu hướng giảm đầu tư cho phát triển nông nghiệp và nông thôn từ ngân sách nhà nước Chính vì vậy nguồn vốn ODA luôn chiếm vai trò quan trọng đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nói chung và các tỉnh Miền Trung nói riêng

Các tỉnh Miền Trung, đây là một vùng đất dài và hẹp, ở phía tây đa phần là đồi núi, còn phía đông là dải đất hẹp bằng phẳng ven biển Đất đai ở vùng này nói chung không màu mỡ lắm, ở một số tỉnh vùng đồi núi có nguy cơ xói lở nghiêm trọng và thường xuyên bị thiên tai tàn phá Khu vực này hiện nay đang được cả Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ dành ưu tiên phát triển cao, do có tỉ lệ nghèo phổ biến cao và đầu tư nhà nước lẫn đầu tư tư nhân còn tương đối thấp Do đó, cần phải có sự quan tâm hỗ trợ của cả nguồn lực trong nước và ngoài nước Và khu vực được lựa chọn để triển khai dự án là Miền Trung Việt Nam, bao gồm mười ba tỉnh tính từ Thanh Hóa ở phí Bắc cho tới Bình Thuận ở phía Nam, nhưng không có Đà Nẵng và Khánh Hòa mà có them tỉnh Kon Tum Dự án Phát triển nông thôn tổng hợp các tỉnh Miền Trung sẽ tài trợ vốn cho một số tiểu dự án với mục tiêu cải tạo và nâng cấp các

cơ sở hạ tầng ưu tiên ở vùng nông thôn ven biển, chẳng hạn như đường nông thôn cấp huyện hoặc tuyến đường liên xã,công trình thủy lợi, cấp nước vệ sinh môi trường, chợ và các công trình đặc thù vùng ven biển Tổng vốn dự kiến của dự án sẽ

Trang 26

Stt Tỉnh

Số huyện nông thôn

Số huyện ven biển

Dân số nông thôn (người)

Khoản cố định phân bố cho từng tỉnh

Khoản

bổ sung các tỉnh

Khoản còn lại phân bố cho dân số nông thôn

Nguồn : BQL dự án nông nghiệp

Mười ba tỉnh tham gia dự án có tổng 139 huyện nông thôn trong đó có 49

huyện được coi là huyện ven biển Dân số nông thôn ở các tỉnh giao động từ 247000

người ở Kon Tum tới 3.3 triệu người ở Thanh Hóa Với sự khác biệt như vậy, cần

phải phân bổ vốn sao cho công bằng mà vẫn duy trì ở mức đầu tư tối thiểu để đạt cơ

cấu quản lí của Ban quản lý dự án tỉnh

Tuy nhiên, trong thời gian qua nguồn vốn ODA dành cho nông nghiệp và phát

triển nông thôn lại thấp hơn các ngành khác trong cả nước

Bảng 6: ODA cam kết chung theo lĩnh vực giai đoạn 1993 - 2009

Đơn vị: Triệu USD, %

Ngành, lĩnh vực ODA cam kết 1993-2005 ODA cam kết 2006-2009

Tổng (triệu USD)

Tỷ trọng (%) Tổng (triệu

USD)

Tỷ trọng (%)

Trang 27

triển nông thôn kết

hợp xóa đói giảm

nghèo

2 Năng lượng công

3 Giao thông vận tải,

bưu chính viễn thông,

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trong giai đoạn 1993-2005, ta thấy số vốn ODA dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn là 2575 triệu USD, chỉ lớn hơn số vốn dành cho năng lượng và công nghiệp nhưng không đáng kể Trong khi đó số vốn dành cho ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cấp, thoát nước và phát triển đô thị lớn nhất, chiếm 33.9 % ODA của cả nước

Xét riêng giai đoạn 2006-2009, nguồn vốn ODA dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm tỷ trọng thấp hơn giai đoạn 1993-2008, chiếm 13.34% trong tổng nguồn vốn ODA Tuy nhiên theo xu hướng chung của cả giai đoạn 1993-2009, số vốn dành cho năng lượng và công nghiệp cao hơn so với vốn dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo là 1064.31 triệu USD Trong khi đó, số vốn ODA dành cho lĩnh vực giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước và phát triển đô thị vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất, chiếm 41.76%

Trong thời gian qua, nguồn vốn ODA dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn được duy trì dều đặn hàng năm, cân đối giữa các lĩnh vực Trong đó, tổng

số vốn ODA cam kết, vốn vay thường chiếm tỉ trọng lớn hơn so với phần vốn không hoàn lại Quy mô nguồn vốn ODA qua các năm không đều, trong giai đoạn 1993-2009, năm 2004 là năm thu hút vốn ODA lớn nhất 405 triệu USD, tiếp theo là năm 2005 với số vốn 350 triệu USD

Bảng 7: Tình hình cam kết ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn

giai đoạn 1993-2009

Trang 28

Đơn vị: triệu USD

Năm ODA không hoàn lại ODA vay Tổng ODA

Nguồn: ISG- Vụ hợp tác quốc tế- Bộ NN và PTNT

* Đối với nguồn vốn ODA vay:

Số vốn vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ODA cam kết dành cho nông nghiệp 67.5% Nguồn vốn vay trong giai đoạn 1993-2005 qua các năm không đều, năm

2002, 2003 số vốn chỉ cao hơn năm 1996, 1997, 2000 nhưng lại thấp hơn giai đoạn đầu thu hút ODA 1993-1995 Năm 2004 số vốn vay lớn nhất 324.5 triệu USD, năm

1996 là thấp nhất 16.8 triệu USD và năm 2000 cũng chỉ có 22.5 triệu USD Tuy nhiên số vốn ODA các năm đều lớn hơn rất nhiều số vốn cam kết hàng năm, có khi gấp 3 lần ( năm 1995, 2001), 4 lần(năm 2004) Nguồn vốn này chủ yếu dành cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng nông thôn với những dự án giao thông nông thôn (xây dựng cầu, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới đường tuyến huyện xã), các dự án trong lĩnh vực thủy lợi và các dự án trong lĩnh vực năng lượng điện

* Đối với nguồn vốn ODA không hoàn lại

Số vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng ODA cam kết 34.3%, thậm chí năm 1994 không có vốn hoàn lại dành cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Số vốn ODA không hoàn lại qua các năm không đều, thời gian đầu 1993-1996 số vốn ODA không hoàn lại tăng, năm 1996 số vốn không hoàn lại còn lớn hơn số vốn vay, nhưng sau đó giảm xuống và đến năm 2000 đạt số vốn lớn nhất 180 triệu USD (gấp 8 lần vốn vay) Giai đoạn 2001-2009, số vốn hoàn lại tuy

Trang 29

giảm so với năm 2000 nhưng đã ở mức tương đối cao với hai giai đoạn trước, năm

2005 số vốn không hoàn lại tiếp tục ở mức cao 120.2 triệu USD Nguồn vốn ODA không hoàn lại chủ yếu dành cho lĩnh vực y tế giáo dục với các dự án chăm sóc sức khỏe cộng đồng, sức khỏe cho bà mẹ trẻ em, các dự án giáo dục dành cho học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng có đông dân tộc thiểu số và giáo dục hướng nghiệp

Xét tình hình thu hút ODA theo các tiêu thức khác nhau:

2.2.2.Thu hút ODA cho Nông nghiệp và phát triển nông thôn theo lĩnh vực

Phần lớn ODA trong nông nghiệp và phát triển nông thôn là đầu tư vào cơ sở

hạ tầng nông thôn, tiếp theo đó là nông lâm ngư nghiệp, y tế, giáo dục chủ yếu là viện trợ không hoàn lại Trong khi đó, số ODA đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn chủ yếu là vay với lãi suất ưu đãi Nguyên nhân chủ yếu là vì cơ sở hạ tầng nông thôn là khu vực không mang lại lợi nhuận mà chủ yếu mang tính xã hội nên không thu hút được nhiều nguồn vốn khác trừ ngân sách nhà nước Các dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn chủ yếu nhàm mục đích phát triển, tạo điều kiện về giao thông vùng sâu cho các tỉnh miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số…

Trang 30

Bảng 8: ODA cam kết cho NN&PTNT theo lĩnh vực giai đoạn 2006 - 2010

Đơn vị: Triệu USD, %

(triệu USD)

Tỷ trọng ODA cam kết (%)

Nguồn: Tổng cục thống kê

Cơ sở hạ tầng nông thôn

Cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm: mạng lưới điện, năng lượng nông thôn, giao thông nông thôn, chợ nông thôn và hệ thống cung cấp nước sạch… lĩnh vực này

đã thu hút được 65 dự án (kể từ năm 1993) đến nay, trong đó có 46 dự án vốn vay và

19 dự án viện trợ và cũng là lĩnh vực có số vốn ODA lớn nhất với 1360.2 triệu USD chiếm 41.01% tổng số vốn ODA vào nông nghiệp và nông thôn

Trong đó, viện trợ cho phát tiển giao thông nông thôn chiếm tỉ trọng lớn nhất 27%, các dự án giao thông này đã được cải tạo và nâng cấp 2013 km đường cấp tỉnh, khoảng 8000km đường cấp xã, góp phần bê tông hóa các đường trong thôn xóm cũng như các đường tới vung sâu vùng xa

Trang 31

Bảng 9: Phân bổ quỹ vốn vay cho các tiểu dự án ở các tỉnh Miền Trung giai

đoạn 1995 - 2009

Đơn vị: USD

Số huyện nông thôn

Số huyện ven biển

Dân số nông thôn (người)

Khoản

cố định phân bổ cho từng tỉnh

Khoản

bổ sung cho các tỉnh

Khoản còn lại phân bố cho dân số nông thôn

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Lĩnh vực năng lượng điện cũng thu hút được lượng vốn cam kết khá lớn 100.3 triệu USD, chiếm khoảng 7% trong vốn cam kết cho cơ sở hạ tầng nông thôn Các nhà tài trợ điển hình trong lĩnh vực điện năng là WB, ADB< AFD, Hà Lan, Thủy Điển… Mục tiêu của các dự án năng lượng điện là đưa điện về vùng nông thôn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số để phục vụ sản xuất và sinh hoạt cuả người dân

Một số dự án cơ sở hạ tầng nông thôn tiêu biểu như: Dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn do ADB tài trợ với tổng vốn 105 triệu USD, chương trình phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế do Finida tài trợ với tổng số vốn 4.197 triệu USD, dụ án tăng cường năng lực xóa đói giảm nghèo tỉnh Quảng Bình do UNDP tài trợ với tổng

số vốn 1.868 triệu USD…

Tiêu biểu, ta xét về dự án phát triển tổng hợp nông thôn Miền Trung: tổng nguồn vốn dự kiến của dự án là 169.7 triệu USD, trong đó có 164.3 triệu USD chi phí

Trang 32

cơ bản, 1 triệu USD dự phòng phí và 4.4 triệu USD phí ngân hàng trong thời gian thực hiện Khoảng 160 triệu USD (97% chi phí cơ bản) dành để thi công cơ sở hạ tầng nông thôn và ven biển, 0.3 triệu USD tuef khaonr vay cho xây dựng năng lực và 4.5 triệu USD cgo quản lí dự án (3% chi phí cơ bản ) Trong đó chi phí ngoại tệ dựu kiến chiếm 10% (16.7 triệu USD), còn chi phí trong nước tương đương 147.7 triệu USD Các khoản thuế và lệ phí Chính phủ dự kiến khoảng 12.5 triệu USD.

Dự án sẽ vay của ADB 85 triệu USD (50%), vay của AFD 40 triệu EURO, cùng với khoản viện trợ khoogn hoàn lại trị giá 1 triệu EURO của AFD và vốn đối ừng từ chính phủ và người hưởng lợi tương đương 33.9 triệu USD (20%)

Bảng 10: Kế hoạch phân bổ vốn giai đoạn 2005 – 2009

Đơn vị: Triệu USD

D

Viện trợ không hoàn lại

Người hưởng lợi

Ngân sách tỉnh

Ngân sách TW

Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Khi các cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện thì sẽ mang lại lợi ích tổng thể cho người hưởng lợi Sau khi đánh giá lại đã khẳng định tính hiệu quả về kinh tế, với

hệ số nội hoàn dao động từ 12-20%, cao hơn so với chi phí vốn cơ hội Ngoài ra, có những lợi ích không thể định lượng được như: tạo điều kiện cho người dân đễ dàng tiếp cận với hệ thống y tế và giáo dục, tăng đáng kể cơ hội tìm việc làm Các công trình đầu tư đã giúp những người hưởng lợi trực tiếp cải thiện sinh kế nhờ tăng thu nhập nông nghiệp do tăng sản lượng (ước tính khoảng 10%), giảm chi phí vận hành phương tiện đi lại – ước tính khoảng 30-50% tùy loại phương tiện Các tuyến đường giao thông nông thôn được nâng cấp hỗ trợ mục tiêu xóa đói giảm nghèo bằng cách

dễ dàng cho người nghèo đi tìm kiếm các nguồn thu nhập khác, khuyến khích các hoạt động kinh tế trong vùng và tạo ra nhiều việc làm.Cũng theo kết quả đánh giá, những lợi ích này to lớn và bền vững, nếu công tác vận hành và bảo dưỡng được chú trọng hơn thì có nhiều khả năng nó sẽ san sẻ một cách bình đẳng giữa những người nghèo Hơn nữa, lợi ích từ việc san lấp khoảng trống hiện nay trong cơ sở hạ tầng

Trang 33

nông thôn sẽ có tác dụng khuyến khích cộng đồng đầu tư các công trình quy mô nhỏ một cách đáng kể.

Nông lâm ngư nghiệp

Lĩnh vực tiếp nhận vốn ODA lớn thứ hai là nông lâm ngư nghiệp 310.038 triệu USD chiếm 20.3% tổng số vốn ODA vào nông nghiệp và phát triển nông thôn Lĩnh vực này thu hút tới 135 dự án, trong đó có 55 dự án viện trợ vói số vốn 108.5 triệu USD và 17 vốn vay 201.538 triệu USD Như vậy, số dự án có vốn viện trợ tuy nhiều nhưng tổng giá trị lại nhỏ hơn so với vốn vay, tức là quy mô các dự án nhỏ, các

dự án này tập trung vào việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người nghèo, phát triển chăn nuôi, đầu tư giống mới, đào tạo cán bộ nông nghiệp…

Về quy mô trong những năm qua, nông nghiệp là một trong những ngành được quan tâm lớn với nguồn tài trợ ODA luôn trong khoảng trên dưới 350 triệu USD/năm và luôn được duy trì cân đối giữa các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn tổng hợp Trong đó tỷ số vốn ODA không hoàn lại khá cao, riêng giai đoạn 2003-2007 ngành nông nghiệp đã thu hút được 187 dự án với 1282,4 triệu USD, trong đó có 458.6 triệu USD không hoàn lại và 823.8 triệu USD vón ưu đãi Lĩnh vực này đã thu hút được nhiều nhà tài trợ trong đó phải kể đến năm nhà tài trợ lớn như WB, ADB, Pháp, Đan Mạch, BỈ, EU vói các dự án như Chương trình phát triển ngành nông nghiệp được thực hiện từ năm 2004 đến năm 2010, kết thúc tại 40 tỉnh thành trên cả nước; Dự án phát triển che và cây ăn quả thực hiện từ năm 2001 đên năm 2007 tại 13 tỉnh trong đó có các tỉnh Miền Trung như: Thanh hóa, Bình Định…

Trong lĩnh vực lâm nghiệp đã thu hút được khoảng 30 dự án với cam kết 0.116 triệu USD dưới dạng viện trợ và 2 dự án vốn vay với 0.054 triệu USD Đến năm 2005 có 20 dự án mới, dự kiến hoàn thành vào năm 2010 với số vốn cam kết 583.92 triệu USD, trong đó có một số dự án như: trồng rừng phòng hộ đầu nguồn vfa phát triển nông thôn- 150 triệu USD, lâm nghiệp cộng đồng đầu nguồn Sông đà-

20 triệu USD

Lĩnh vực thủy sản thu hút được 20 dự án vói số vốn cam kết 72.9 triệu USD

và 8 dự án vốn vay với cam kết 165.3 triệu Đối với lĩnh vực thủy sản thì ADB và Đan Mạch là 2 tổ chức tài trợ hàng đầu

Y tế nông thôn

Trang 34

Đứng thứ ba là lĩnh vực y tế có khoảng 105 dự án với tổng số vốn khoảng 0.9

tỷ USD chiếm 58% trong tổng vốn ODA Năm 2002, có 57 dự án (dự án kết thúc vào năm 2010) được kí kết với tổng giá trị 569.97 triệu USD, trong đó có một số

dự án như: phòng chống sốt rét, tiêm chủng mở rộng- 50 triệu USD, xây dựn trung tâm y tế vùng… Các nhà tài trợ trong lĩnh vực này chủ yếu là chú ý tới vấn đề sức khỏe cộng đồng, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, cũng như vấn đề tiêm chủng và phòng dịch bệnh

Bảng 11: Một số dự án ODA cho y tế nông thôn giai đoạn 2005 -2010

-Nguồn: báo cáo hỗ trợ phát triển nông thôn Việt Nam- UNDP

• Giáo dục nông thôn

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, ODA hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách giáo dục ở tát cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng dạy nghề) Vấn đề cần quan tâm của giáo dục nông thôn Việt Nam là phải đảm bảo đủ trường lớp cho học sinh, xóa bỏ những lớp học tạm, tuyên truyền để học sinh đến trường và tiếp tục học lên cao hơn đặc biệt cới học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Mặt khác, dân số ở vùng nông thôn lớn nhưng chủ yếu là lao động phổ thông không có bằng cấp, lao động được đào tạo

là rất ít Chính vì vậy, chú trọng giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa to lớn, nó sẽ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp và giúp tạo nguồn lao động có tay nghề cao Nguồn vốn ODA dành cho giáo dục chủ yếu là viện trợ, vốn vay chiếm tỉ lệ nhỏ Trong đó giáo dục hướng nghiệp chiếm tỷ trọng vốn nhiều nhất là 24.039 nghìn USD với 14 dự án viện trợ, trong đó viện trợ không hoàn lại của Đức có giá trị lớn 10.648 nghìn USD nhằm

Trang 35

hỗ trợ cho việc tái kiến thiết hệ thống giáo dục hướng nghiệp và kĩ thuật, Giáo dục tiểu học cũng thu hut được 13 dự án với tổng số vốn viện trợ 104.109 nghìn USD, 1

dự án vốn vay 70 triệu USD

Bảng 12: ODA cho giáo dục nông thôn giai đoạn 2006 - 2010

số dự án tài chính nông thôn do hiệp hội phát triển Quốc tế (thuộc WB) tài trợ đã cung cấp các khoản vay có giá trị trung bình từ 10-20 triệu đồng vơi lãi suất 1-1.01%/tháng và vay có thời hạn 15-20 tháng Các dự án này đã giúp thu nhập của các hộ gia đình tăng, tỷ lệ hộ khá tăng từ 38.96% lê 61.09%; làm giảm thời gian nhàn rỗi, 88.25% người lao động có 7-12 tháng có đủ việc làm so với 76.05% trước khi chưa

có dự án

Bảng 13: Một số dự án ODA cho tín dụng nông thôn

Nguồn: Triệu USD

Trang 36

Tên dự án Thời gian Nhà tài trợ Số vốn

(triệu USD)

Hỗ trợ chiến lược tăng trưởng và xóa

đói giảm nghèo của Việt Nam trong

Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo 4 2009 – 2010 ADB 1.74

Nguồn: BQL dự án nông nghiệp

• Đa ngành

Lĩnh vực đa ngành cũng thu hút được lượng vốn ODA tương đối cao 183.63 triệu USD với 112 dự án Ngân sách trung bình của các dự án là 1.6396 triệu USD, nhỏ hơn so với ngân sách trung bình của các ngành khác

Bảng 14: Những dự án ODA lớn nhất cho lĩnh vực đa ngành

nông thôn miền núi Việt

Nam- Thủy Điển

1993-20011996-1999

18.350.372

VayVT

Phát triển cho các dân

tộc thiểu số tỉnh Hà

Giang

IFADUNDPSIDA

1999-2004

12.5232.330.789

VayVTVTChương trình xoa đói

giảm nghèo ở Hà Tĩnh

DFIDQuỹ cứu trợ trẻ em

1996-19991997-2002

9.7650.409

VTVT

Đa dạng hóa thu nhập

nông thôn tỉnh Tuyên

Trang 37

Trị giai đoạn 3

Nguồn: Báo cáo Hỗ trợ phát triển nông thôn Việt Nam- UNDP

2.2.3 Thu hút cho nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh Miền Trung theo các nhà tài trợ

Hiện nay có khoảng 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương hoạt động tài trợ vốn ODA cho hầu hết các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam Các nhà tài trợ đa phương thường cung cấp một số vốn lớn với mục tiêu hỗ trợ Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong nỗ lực nâng cao mức sống và cải thiện cuộc sống cho mọi người dân Trong đó, WB và ADB là hai tổ chức đa phương có số vốn ODA cam kết chung lớn nhất cho Việt Nam (WB 6012.5 triệu USD, ADB 4325.7 triệu USD) Phần lớn ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn được cung cấp bởi các tổ chức đa phương ADB và WB là hai nhà tài trợ đa phương lớn nhất trong lĩnh vực phát triển nông thôn Tính đến năm 2004, WB đã cam kết dành cho Việt Nam 4.5 tỷ USD vốn vay ưu đãi, chiếm hơn 15% tổng lượng ODA mà cộng đồng quốc tế cam kết tài trợ

co Việt Nam giai đoạn 1993-2008 để thục hiện chương trình, dự án phát triển, nghiên cứu tư vấn về chính sách và hỗ trợ kĩ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam Trong khi đó, ADB đã cam kết dành cho Việt Nam 2.4 tỷ USD vốn vay ưu đãi và khoảng 100 triệu USD viện trợ không hoàn lại, chiếm hơn 8% tổng lượng ODA mà cộng đồng tài trợ quốc tế cam kết dành cho Việt Nam giai đoạn này

Bảng 14: ODA cam kết cho NN&PTNT theo 5 nhà tài trợ lớn

giai đoạn 1993-2008

ODA cam kết cho

NN&PTNT

ODA cam kết chung 6012.5 4325.7 19780 602.16 1003

Tỷ trọng ODA cam kết 74.84 55.48 48.53 75.4 14.96

Ngày đăng: 17/12/2012, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Tình hình vận động và sử dụng ODA thời kỳ 2001- 2006 và những bài học rút ra, http://thanh tra.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình vận động và sử dụng ODA thời kỳ 2001- 2006 và những bài học "rút ra
8. Website Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam: http://www.mpi.gov.vn 9. Website Bộ Xây dựng Việt Nam : http://www.moc.gov.vn 10. Website Tổng cục thống kê Việt Nam http://www.gso.gov.vn Link
1. Giáo trình Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ - TS. Nguyễn Hồng Minh Khác
2.Lập và phân tích dự án đầu tư - TS. Nguyễn Hồng Minh Khác
3. Giáo trình Lập dự án đầu tư - PGS. TS. Nguyễn Bạch Nguyệt 4. Tuyên bố chung Paris về hiệu quả viện trợ, 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: ODA cam kết và giải ngân chung giai đoạn 1993-2009 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 2 ODA cam kết và giải ngân chung giai đoạn 1993-2009 (Trang 15)
Bảng 3: Cơ cấu ODA theo ngành, lĩnh vực năm 2008 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 3 Cơ cấu ODA theo ngành, lĩnh vực năm 2008 (Trang 18)
Bảng 4: Cơ cấu vốn ODA kí kết theo vùng do địa phương trực tiếp thụ hưởng  thời kỳ 2001-2009 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 4 Cơ cấu vốn ODA kí kết theo vùng do địa phương trực tiếp thụ hưởng thời kỳ 2001-2009 (Trang 21)
Bảng 5: 10 nhà tài trợ chính của Việt Nam năm 1993 - 2008 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 5 10 nhà tài trợ chính của Việt Nam năm 1993 - 2008 (Trang 23)
Bảng 6: Tình hình giải ngân ODA của nhóm sáu ngân hàng phát triển  giai đoạn (1998-2009) - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 6 Tình hình giải ngân ODA của nhóm sáu ngân hàng phát triển giai đoạn (1998-2009) (Trang 24)
Bảng 7: Tình hình cam kết ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn  giai đoạn 1993-2009 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 7 Tình hình cam kết ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 1993-2009 (Trang 27)
Bảng 8: ODA cam kết cho NN&amp;PTNT theo lĩnh vực giai đoạn 2006 - 2010 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 8 ODA cam kết cho NN&amp;PTNT theo lĩnh vực giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 30)
Bảng 10: Kế hoạch phân bổ vốn giai đoạn 2005 – 2009 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 10 Kế hoạch phân bổ vốn giai đoạn 2005 – 2009 (Trang 32)
Bảng 11: Một số dự án ODA cho y tế nông thôn giai đoạn 2005 -2010 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 11 Một số dự án ODA cho y tế nông thôn giai đoạn 2005 -2010 (Trang 34)
Bảng 14: ODA cam kết cho NN&amp;PTNT theo 5 nhà tài trợ lớn giai đoạn 1993-2008 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 14 ODA cam kết cho NN&amp;PTNT theo 5 nhà tài trợ lớn giai đoạn 1993-2008 (Trang 37)
Bảng 16: Một số dự án ODA cho lĩnh vực cấp nước và cơ sở hạ tầng nông thôn - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 16 Một số dự án ODA cho lĩnh vực cấp nước và cơ sở hạ tầng nông thôn (Trang 40)
Bảng 20: Cơ cấu ODA chung theo lĩnh vực thời kì 2010-2015 - Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung
Bảng 20 Cơ cấu ODA chung theo lĩnh vực thời kì 2010-2015 (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w