Luận văn : Quản lý giá của mặt hàng xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG 5
1 Các khái niệm 5
1.1 Giá sản phẩm 5
1.2 Hoạt động quản lý giá 6
2 Sự cần thiết phải quản lý giá: 7
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ GIÁ CỦA MẶT HÀNG XĂNG DẦU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 9
1 Tình hình biến động giá xăng dầu trên thế giới 9
1.1.Diễn biến giá xăng dầu và nguyên nhân: 9
1.2 Phản ứng của các nước đối với vấn đề tăng giá dầu thô: 13
2 Tình hình quản lý giá của mặt hàng xăng dầu trong điều kiện hội nhập 15
2.1 Cơ chế quản lý điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu qua các thời kỳ:
15 2.1.1 Giai đoạn trước năm 2000: 15
2.1.2 Từ năm 2000 đến nay: 17
2.1.3 Thực trạng và những tồn tại: 18
2.2 Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới và ở Việt Nam 19
2.2.1 Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới: 19
2.2.2 Tác động của tăng giá xăng dầu ở Việt Nam: 21
CHƯƠNG III : QUẢN LÝ KINH DOANH XĂNG DẦU VÀ GIẢI PHÁP 29
1 Tính cấp thiết của quản lý Nhà nước đối với mặt hàng xăng dầu 29
2 Các cơ chế quản lý xăng dầu trên thế giới 30
2.1 Cơ chế thả nổi giá xăng dầu: 30
2.2 Cơ chế quản lý của Nhà nước có phụ thu hoặc bù giá: 31
2.3 Cơ chế dự trữ dầu mỏ và các sản phẩm dầu: 34
2.4 Cơ chế quản lý hỗn hợp: 34
Trang 23 Giải pháp, định hướng về quản lý kinh doanh xăng dầu trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 34
3.1 Dự báo điều kiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới: 35
3.1.1 Dự báo xu hướng xăng dầu thế giới: 35
3.1.2 Dự báo nhu cầu xăng dầu trong nước trong 2008-2010: 35
3.1.3 Những khó khăn, thách thức và cơ hội: 35
3.2 Quan điểm quản lý điều hành thị trường xăng dầu trong nước: 36
3.3 Những giải pháp định hướng: 37
3.3.1 Cơ chế định giá và điều hành giá 37
3.3.2 Cơ chế điều hành giá thuế 39
3.3.3 Các giải pháp đồng bộ khác 39
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, xăng dầu là một hàng hóa của thị trường, hìnhthành và phát triển như thị trường các hàng hóa khác Các quan hệ cung -cầu và giá cả là yếu tố quyết định thị trường xăng dầu Là một trongnhững yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và là năng lượng để phục vụdân sinh, quốc phòng và an ninh, xăng dầu có một vai trò đặc biệt dođược coi là một loại năng lượng quan trọng chưa thể thay thế được Dotính chất đặc biệt của hàng hóa xăng dầu, các quốc gia đều có chínhsách, qui hoạch, chiến lược về sản xuất tiêu thụ và dự trữ xăng dầu nhằm
ổn định sản xuất và tiêu thụ, chống lại các cơn sốt xăng dầu của thế giới.Giá dầu tăng cao và diễn biến phức tạp của giá dầu trong những nămgần đây đã trở thành tâm điểm nghiên cứu và thảo luận chính sách trênphạm vi toàn cầu và của riêng rất nhiều quốc gia Đó là hai lý do chính
dẫn đến việc chọn lựa của em viết về đề tài “ Quản lý giá của mặt hàng
xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Có ba vấn đề thường được đặt ra, một là nguyên nhân của biến độnggiá dầu và dự báo giá dầu, cả trong so sánh với giá cả các nguyên nhiênliệu khác Hai là tác động của việc giá dầu tăng đối với nền kinh tế toàncầu, khu vực, từng quốc gia và riêng Việt Nam Ba là đối sách thích hợpcủa thế giới, khu vực, từng quốc gia trong đó có cả Việt Nam, nhất là việcquản lý thị trường xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Bài viết này của em đề cập đến các vấn đề trên và đồng thời sử dụngcác kiến thức đã được các thầy cô giảng viên trong khoa Quản trị kinhdoanh cũng như các thầy cô giảng viên khác của trường cung cấp, trau
Trang 4dồi trước đó cùng với sự hiểu biết ít ỏi của em về thị trường xăng dầutrong nước để có những nhìn nhận vừa mang tính khái quát hơn vừamang tính cụ thể hơn đến Việt Nam - một nước xuất khẩu dầu thô songlại lệ thuộc gần như hoàn toàn vào việc nhập khẩu các sản phẩm từ dầu.
Em xin chân thành cảm ơn những chỉ bảo, giúp đỡ của cô giáo Ngôthị Việt Nga để em có thể hoàn thành bài viết này
Trang 5CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG
1 Các khái niệm
1.1 Giá sản phẩm
Tất cả các tổ chức thương mại và nhiều tổ chức phi thương mại đềuđứng trước nhiệm vụ xác định giá cả cho sản phẩm và hàng hóa củamình Vậy giá cả được xác định như thế nào? Theo thông lệ từ ngày xưathì người mua và người bán xác định giá trong quá trình thương lượngvới nhau Người bán thường chào giá cao hơn giá mà họ hy vọng đượctrả, còn người mua thì trả giá thấp hơn giá họ đã tính sẽ chấp nhận Saukhi mặc cả, cuối cùng họ đi tới thống nhất một cái giá mà cả hai bên đềuchấp nhận được
Giá cả là yếu tố cơ bản quyết định việc lựa chọn của người mua Điềunày cho đến nay vẫn đúng ở những nước nghèo đối với những nhóm dân
cư không có tài sản khi đi mua sắm hàng tiêu dùng Nhưng trong nhữngthập kỷ gần đây, việc lựa chọn của người mua bắt đầu chịu ảnh hưởngnhiều hơn của những yếu tố không phải là giá
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm:
- Sự tồn tại: do sự cạnh tranh khốc liệt giữa các đối thủ cạnh trongngành và ngoài ngành nên việc định giá có thể là giá thấp nhất để
có thể tồn tại trong thị trường đó
- Tối đa hóa lợi nhuận: có một số doanh nghiệp, tổ chức xác địnhgiá nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp mình
- Dẫn đầu về thị phần: là xác định giá nhằm chiếm về cho doanhnghiệp mình thị trường rộng lớn nhất có thể
- Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm:
Trang 6Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc định giá
- Thị trường và nhu cầu: tỉ lệ cung cầu thị trường
- Cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh có hay không, mạnh hay yếu…
- Các yếu tố khác: Tình hình kinh tế như lạm phát, tăng trưởng, suythoái, lãi xuất…
1.2 Hoạt động quản lý giá
Hoạt động quản lý giá là hoạt động quản lý để nhằm ngăn chặn cácbiến động của giá cả và các tác động liên quan đến sự biến động giá cảcủa mặt hàng đó
Hay xét về một khía cạnh thì là độc quyền tuyệt đối, thị trường chỉ cómột người bán Đó có thể là một tổ chức Nhà nước, một tổ chức độcquyền tư nhân có điều tiết hoặc tổ chức độc quyền tư nhân không có sựđiều tiết Trong từng trường hợp sự hình thành giá cả diễn ra khác nhau
Tổ chức độc quyền Nhà nước có thể sử dụng chính sách giá cả để đạtđược những mục tiêu khác nhau
Nhà nước có thể định giá thấp hơn giá thành nếu hàng hóa có ý nghĩaquan trọng đối với người mua không đủ khả năng mua nó với giá đầy đủ.Giá cả có thể được xác định với ý đồ bù đắp chi phí hay có được thunhập khác, cũng có thể giá cả được xác định rất cao để giảm tối đa mức
Trang 7tiêu dùng Trong trường hợp tổ chức độc quyền có điều tiết Nhà nướccho phép công ty xây dựng định giá đảm bảo “mức lợi nhuận côngbằng”, để doanh nghiệp có khả năng duy trì sản xuất và trong trường hợpcần thiết thì mở rộng sản xuất.
Ngược lại, trường hợp tổ chức độc quyền không điều tiết doanhnghiệp tự ý xác định giá miễn là giữ được thị trường Tuy nhiên do một
số nguyên nhân không phải bao giờ doanh nghiệp cũng định giá tối đatrong chừng mực có thể được Vì họ sợ sẽ bị áp dụng sự điều tiết củaNhà nước và không muốn thu hút đối thủ cạnh tranh, muốn xâm nhậpnhanh hơn vào toàn bộ chiều sâu của thị trường nhờ giá cả không cao.Như vậy có thể là những vấn đề chính sách giá cả thay đổi tùy theokiểu thị trường Trừ trường hợp ngoại lệ là các thị trường cạnh tranhhoàn hảo (nhiều người mua và nhiều người bán), các doanh nghiệp đềuphải có phương pháp xác định giá ban đầu cho hàng hóa của mình
2 Sự cần thiết phải quản lý giá:
Trong một số mặt hàng và một số lĩnh vực mang tính chất quan trọng,
có ảnh hưởng sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến các yếu tố kinh tế khác nhưmặt hàng xăng dầu, điện hay lĩnh vực Ngân hàng,… cần thiết phải có sựquản lý của Nhà nước
Vì những tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kinh tế và các cân đối vĩ
mô, tới nguồn thu ngân sách, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp kinh doanh, tới tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, các vấn đềliên quan tới ngành công nghiệp có mặt hàng cần phải quản lý ví dụ nhưmặt hàng xăng dầu thì liên quan tới ngành công nghiệp khai thác, chế
Trang 8biến hay nghiên cứu sản phẩm có thể thay thế xăng dầu vì đây là nguồntài nguyên có hạn.
Khi có sự quản lý đúng đắn từ Nhà nước, chúng ta có thể dự báođược xu hướng biến động của thị trường giá cả cùng các tác nhân gây ra
và đưa ra các giải pháp xử lý nhanh nhất, mang lại hiệu quả nhất cho sựthay đổi này Và tất nhiên kèm theo đó là quản lý được những tác động
cả tiêu cực lẫn tích cực đến nền kinh tế thế giới nói chung và của ViệtNam nói riêng
Ngoài việc có thể bảo vệ nền kinh tế quốc dân, sự quản lý của Nhànước trong một số mặt hàng, lĩnh vực quan trọng cũng chính là sự bảo vệquyền lợi của người tiêu dùng, xét về góc độ vĩ mô, còn hơn cả sự thiệtthòi mà độc quyền hay quản lý của Nhà nước mang lại
Trang 9CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ GIÁ CỦA MẶT HÀNG XĂNG DẦU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1 Tình hình biến động giá xăng dầu trên thế giới
1.1.Diễn biến giá xăng dầu và nguyên nhân:
Nhìn lại thị trường dầu mỏ trong 4 thập niên qua, chúng ta dễ dàngnhận thấy giá dầu có những diễn biến phức tạp Trong suốt 10 năm từ
1960 đến 1970, giá dầu thô trên thị trường thế giới được duy trì ở mứcthấp, không thay đổi với giá 1,8 USD/ thùng Khi cuộc khủng hoảng dầu
mỏ lần thứ nhất xảy ra vào đầu thập niên 70, giá dầu mỏ đã tăng từ 3,2USD/thùng lên 11,56 USD/thùng tăng 3,61 lần Tháng 2 năm 1982, khicuộc xung đột giữa Iran và Irac xảy ra, Iran đột ngột ngừng xuất khẩu 2triệu thùng dầu mỗi ngày gây ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ 2 đẩygiá dầu tăng lên 34 -35 USD/thùng, có thời điểm lên tới 40USD/thùng.Ngày 17/1/1991, chiến tranh vùng vịnh xảy ra, Irac tấn công Côoetgiá dầu thô tăn đột biến lên đến 38-40 USD/thùng trong 2 ngày 17 và18/1/1991, sau đó giảm nhanh xuống 16-18USD/thùng do tổ chức cácnước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) quyết định nhanh chóng tăng sản lượcdầu thô thêm 1 triệu thùng 1 ngày, đưa tổng sản lượng khai thác của tất
cả các thành viên của tổ chức này lên đến 23,66 triệu thùng mỗi ngày,đồng thời cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) quyết định bán ra thị trường2,5 triệu thùng dầu thô/ngày Đến cuối của thập niên 90 của thế kỷ trước,giá dầu thô hạ xuống còn 13-14 USD/thùng do cung dầu thô vượt 1,3triệu thùng/ngày so với nhu cầu
Trang 10Bước sang những năm đầu của thế kỷ 21, giá dầu thô tăng mạnh docung - cầu vận động theo chiều hướng ngược lại so với thời gian trước.Theo số liệu thống kê về giá dầu của tờ Platt’s tại thị trường Singapo (thịtrường giao dịch mua bán chủ yếu của các doanh nghiệp nhập khẩu xăngdầu Việt Nam), nếu lấy mức giá bình quân 5 năm thời kỳ 2000-2004,năm 2005, năm 2006 so với mức giá bình quân của các thời kỳ trước đó,mức tăng của giá dầu thế giới trong vòng hơn 10 năm qua được thể hiện
BQ (1995 - 1999)
BQ (2000- 2004)
BQ năm 2005
BQ 4 tháng năm 2006
BQ (2000- 2004)/
BQ (1995-
1999 )
%
BQ 2005/
bq (2000- 2004)
%
BQ 4 tháng 2006/ bq 2005
Trang 112003, sau một thời gian dài giá dầu bình ổn mức hơn 20 USD/thùng.Tính trung bình giá dầu danh nghĩa trong năm 2005 cao hơn gấp đôi sovới năm 2004 và gần gấp 3 so với năm 2002 Giá dầu thực cũng cao hơn
so với các năm 1974 và 1985, và xấp xỉ so với mức của năm 1980, nămđỉnh điểm của khủng hoảng giá dầu Theo nhiều đánh giá, giá dầu còntiếp tục có những biến động đáng kể và đứng ở mức cao do tác động củacác nhân tố ở cả phía cung và cầu
Cung dầu mỏ năm 2005 sụt giảm do tác động của cơn bão Katrina vàRita.Theo UNESCAP (2005), công suất khai thác dầu tới hạn lại thấp,làm giảm khả năng phản ứng của tổng cung dầu mỏ khi giá dầu và cầudầu mỏ tăng mạnh Trên thực tế, lượng dầu mỏ cung ứng ra thị trường đãtăng đáng kể vào năm 2004, nhưng chững lại vào năm 2005 Cung dầu
mỏ cũng thiếu ổn định do bất ổn chính trị ở các nước xuất khẩu dầu.Trong khi đó nhu cầu dầu mỏ liên tục tăng do kinh tế thế giới tiếp tục đàtăng trưởng và có lẽ có nhiều ảnh hưởng đến giá dầu hơn (so với cung)trong thời gian vừa qua Tổng nhu cầu dầu mỏ trong năm 2004 đã tăngđến 3,2% so với năm 2003
Trong 3 quí đầu của năm 2005, nhu cầu dầu mỏ có tăng chậm lạinhưng cũng ở mức 1,5% so với cùng kỳ năm 2004 Mỹ và các nước khácthuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đóng góp chủ yếuvào cầu dầu mỏ Những năm gần đây, Trung Quốc và Ấn Độ đang nổilên là những nguồn tiêu thụ dầu rất lớn Một nhân tố khác là số lượnghành khách vận tải theo đường hàng không ăng đột biến, mặc dù giá vétăng, cũng làm tăng nhu cầu dầu Hơn nữa, để đảm bảo an ninh nănglượng, nhiều nước tiêu thụ dầu mỏ lớn (như Trung Quốc) đã lập kế
Trang 12hoạch xây dựng kho dự trữ dầu Cầu dầu mỏ được dự báo sẽ tiếp tụctăng, lên 86 triệu thùng/ ngày vào năm 2006 (UNESCAP 2005).
Tính đến ngày 21/4/2006, giá dầu thô tại thị trường Mỹ ở mức 75,17USD/thùng, tăng 6,1% so với mức giá đỉnh điểm của năm 2005, tăngkhoảng 7 lần so với giá tại thời điểm thấp nhất (năm 1998)
Giá dầu mỏ tăng mạnh trong những năm qua là do nguyên nhân cơbản sau:
Thứ nhất, nhu cầu chung thế giới tăng nhanh, vượt khả năng cung
ứng của một số quốc gia có nến kinh tế phát triển như Mỹ, EU, TrungQuốc, Ấn Độ
Thứ hai, nguồn cung ứng không ổn định do những bất ổn chính trị ở
các nước xuất khẩu dầu mỏ như: Negienia, Nauy, Iran, Irac, Venezuena,Ecuado Sự kiện công ty khai thác kinh doanh dầu mỏ Yukos ở Nga, cơnbão Katrina, Rita…làm ngưng trệ các dàn khoan và các nhà máy lọc dầu
ở khu vực vịnh Mehico
Thứ ba, khả năng lọc dầu thấp do thiếu các nhà máy lọc dầu và do
công nghệ lọc dầu lạc hậu
Thứ tư, vai trò điều tiết giá dầu của OPEC đang ngày càng bị hạn chế
bởi sự lũng đoạn và thao túng của một số nước lớn vẫn nuôi ý đồ khốngchế nguồn cung, đầu cơ để trục lợi
1.2 Phản ứng của các nước đối với vấn đề tăng giá dầu thô:
Trang 13Như một nguyên tắc chung, chính phủ nên đảm bảo rằng những phầnthu từ khai thác dầu thô là nguồn tài nguyên chung ít nhất giữ được giátrị như khi nó nằm trong lòng đất Điều này đòi hỏi các khoản thu từ dầuthô nên được đầu tư theo hướng đảm bảo lợi xuất tối thiểu nhất định với
sự cân nhắc thích đáng về khả năng hấp thu của quốc gia nếu đầu tưtrong nước Do đó tăng giá dầu hiện tại tương đối với giá kỳ vọng trongtương lai dẫn tới việc khai thác nhanh hơn và có sự cân nhắc về tính hiệuquả Tất nhiên, trên thực tế, tốc độ khai thác còn tùy thuộc vào nhữnghiệp định toàn cầu và những hiệp định khu vực khác nhau cũng như nănglực sản xuất
Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, phản ứng của các nước nhập khẩu dầu trướcviệc tăng giá dầu thô sẽ tùy thuộc vào việc giá tăng là tạm thời hay lâudài Nếu giá tăng tạm thời, phản hồi chính sách ít gây ảnh hưởng độtngột nên được áp dụng để giá trên thị trường biến động nhẹ Tuy nhiên,nếu giá biến động lâu dài, phản hồi chính sách nên cho phép sự chuyểntải hoàn toàn (của sự tăng giá dần) nhằm đưa tín hiệu sớm để thị trườngtrong nước điều chỉnh theo sự thay đổi về giá tương đối giữa dầu và cácsản phẩm phi dầu
Hai phản hồi chính sách khác cũng cần được áp dụng Đầu tiên, chínhphủ nên cố gắng giảm chi phí điều chỉnh băng cách trợn giá cho cácnhóm đối tượng mục tiêu dễ bị tổn thương thay vì cho tất cả các đốitượng Thứ hai, để giảm thiểu việc những thay đổi tương đối về giá biếnchuyển thành vòng xoáy chi phí đẩy, các chính sách kinh tế vĩ mô cầnphải được thắt chặt
Trang 14Nếu chính phủ cho phép sự tăng giá dầu chuyển tải hoàn toàn đối vớinền kinh tế, thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại sẽ tăng lên Tuy nhiên,nếu chính phủ gánh chịu chi phí (tức là không có chuyển tải) thì nguồntài trợ các chi phí sẽ quyết định bản chất của sự tác động nên nền kinh tế.Chẳng hạn, nếu nguồn tài trợ được thu từ việc tăng thuế thì tác độngròng đối với cán cân vãng lai có thể sẽ tương tự (tùy vào những giả thiết
về độ co giãn) với hiệu ứng tái phân phối những thu nhập bất lợi và sựtác động méo mó lên nền kinh tế Nếu chính phủ tài trợ cho chi phí bằngnguồn vay nợ nước ngoài, không chỉ chi phí cho trả nợ sẽ tăng thêm màcòn tăng cả chi phí cho sự trì hoãn điều chỉnh cần thiết đối với nền kinh
tế Không có nguồn tài trợ nào đã nêu là bền vững
Đối với các nước nhập khẩu dầu, phản ứng chính sách có thể tùythuộc vào việc tăng giá tạm thời hay lâu dài Nếu là tạm thời, nên tiếtkiệm phần thu nhập tăng thêm do giá dầu tăng trừ phi có dấu hiệu rõ rệtrằng việc chi phần thu nhập đó có thể tạo ra lợi suất cao hoặc là có nhucầu cần chi tiêu gấp, nếu không chính phủ sẽ phải vay nợ Nếu giá dầutăng lâu dài, chính phủ nên xem xét làm thế nào điều chỉnh lại cơ cấudanh mục đầu tư, có nghĩa là nếu dành một phần thu từ dầu để tiết kiệm
về tài chính, chính phủ có thể cân nhắc để đa dạng hóa các nguồn đầu tưtài chính Nếu chính phủ quyết định chi gần hết phần thu từ dầu thô thìphải chuẩn bị tinh thần là sẽ có sự thay đổi về cơ cấu trong nên kinh tế
do sự lên giá thật của đồng nội tệ
Trên thực tế, trước đây các nước xuất khẩu dầu đã thích nghi khánhanh với những khoản tiết kiệm có thêm nhờ giá dầu tăng cao Cán cânvãng lai tính theo phần trăm GDP của các nước này đã được điều chỉnh
Trang 15ngược về trước thời kỳ khi dầu tăng giá với mức nhanh hơn việc điềuchỉnh giá dầu Trong chừng mực mà những đợt tăng giá dầu hiện tại vẫntiếp diễn mà không biết chắc là khi nào sẽ ngừng thì thặng dư cán cânvãng lai của các nước sản xuất dầu vẫn tiếp tục tăng.
2 Tình hình quản lý giá của mặt hàng xăng dầu trong điều kiện hội nhập
2.1 Cơ chế quản lý điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu qua các thời kỳ:
Nhất quán với các nguyên tắc trên, thị trường xăng dầu trong nướcđược Nhà nước kiểm soát chặt chẽ Tuy nhiên, tùy theo điều kiện củamỗi thời kỳ, cơ chế quản lý của Nhà nước được điều chỉnh cho phù hợpvới tình hình cụ thể
2.1.1 Giai đoạn trước năm 2000:
- Cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cơ chế quản lý đối vớimặt hàng xăng dầu cũng từng bước chuyển đổi từ cơ chế phân phối theochỉ tiêu định mức sang cơ chế tự bảo đảm kinh doanh, được chiết khấubán hàng theo tỷ lệ phần trăm xác định trên doanh thu
- Từ năm 1993, Nhà nước áp dụng cơ chế “ giá trần” (giá bán lẻ),doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tự quyết định giá nhập khẩu vàhưởng lãi gộp Tùy theo những biến động của thị trường dầu thế giới,Nhà nước điều chỉnh giá trần, hoặc điều chỉnh tăng – giảm thuế nhậpkhẩu, hoặc bù lỗ cho doanh nghiệp kinh doang xăng dầu để thực hiệnmục tiêu điều tiết lợi ích giữa Nhà nước – người tiêu dùng doanh nghiệptheo phương thức sau:
Trang 16+ Ban vật giá chính phủ (nay là cục quản lý giá của cục bộ tài chính)chủ trì cùng các bộ ngành có liên quan, xác định mặt bằng giá tối đa trên
cơ sở tương quan với giá các vật tư, nguyên liệu khác trên thị trường,đảm bảo giá xăng dầu không tác động đột biến đến sản xuất và đượcngười tiêu dùng chấp nhận
+ Tùy theo biến động, giá nhập khẩu xăng dầu, bộ tài chính cân đốiđiều chỉnh tăng – giảm thuế nhập khẩu trên cơ sở định mức chi phí lưuthông bình quân của ngành và xăng dầu và giá trần đã được xác định.+ Để dự phòng nguồn bù lỗ (không ảnh hưởng đến cân đối ngânsách), năm 1993 Nhà nước quyết định hình thành quỹ bình ổn giá thôngqua cơ chế phụ thu và thực hiện cơ chế thu lệ phí giao thông qua giáxăng dầu nay là phí xăng dầu
Xét chung trong giai đoạn này, với cơ chế quản lý và điều hành củaNhà nước, được thực hiện trong điều kiện tương đối thuận lợi (giá xăngdầu thế giới ở vào giai đoạn giảm xuống thấp nhất sau chiến tranh vùngvịnh lần thứ nhất), nên các mục tiêu quản lý của Nhà nước đều thực hiệnđược Cụ thể là:
+ Cân đối cung cầu được bảo đảm, thị trường ổn định, sản xuất vàngười tiêu dùng được bảo hộ
+ Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu bù đắp đủ chi phí và cólợi nhuận hợp lý Nhà nước không phải bù lỗ và thu ngân sách với mứctương đối cao (khoảng 3500 – 5500 tỷ đồng/năm đối với tổng công tyxăng dầu Việt nam)
Trang 17Tuy nhiên, cơ chế quản lý điều hành trong giai đoạn này cũng tiềm
ẩn những bất cập mà hậu quả là những khó khăn trong giai đoạn giá thịtrường có biến động mạnh và ở mức cao
2.1.2 Từ năm 2000 đến nay:
- Về cơ bản, nội dung và phương thức quản lý điều hành hoạt độngkinh doanh xăng dầu không có sự thay đổi Đến năm 2003, trước diễnbiến của thị trường xăng dầu thế giới, thị trường xăng dầu trong nước códấu hiệu bất ổn, Nhà nước phải bù lỗ với mức tương đối lớn và ngàycàng tăng Nhà nước đã có sự thay đổi nhất định trong cơ chế quản lý
- Tư tưởng chủ đạo và nội dung của cơ chế quản lý theo các quyếtđịnh trên được xem như một sự điều chỉnh cần thiết và tích cực tronggiai đoạn vừa qua Cụ thể là:
+ Với cơ chế “ giá định hướng” (được xây dựng trên cơ sở giá nhậpkhẩu dự báo cho một thời kỳ nhất định) và doanh nghiệp kinh doanhxăng dầu được điều chỉnh giá bán trong phạm vi 10% đối với xăng và5% đối với dầu nhằm tạo ra mặt bằng giá “ tiếp cận” với giá thế giới,giảm dần sự bảo hộ của Nhà nước đối với người tiêu dùng Doanhnghiệp kinh doanh xăng dầu đủ bù đắp chi phí và có lãi hợp lý
+ Trong điều kiện thị trường xăng dầu thế giới có nhiều biến động bấtlợi cả về giá và nguồn, song các doanh nghiệp vẫn bảo đảm ổn địnhđược thị trường do được Nhà nước bảo đảm bằng cơ chế cấp bù
+ Hệ thống phân phối xăng dầu được phát triển nhanh, mạnh và từngbước được xác lập tương đối ổn định và có sự chuyển biến cả về nộidung và phương thức kinh doanh Người tiêu dùng và xã hội bắt đầu cónhững nhận thức mới trước sự điều chỉnh giá của chính phủ
Trang 182.1.3 Thực trạng và những tồn tại:
Bên cạnh những kết quả tích cực của cơ chế quản lý Nhà nước tronggiai đoạn vừa qua trong điều hành thực tiễn và trước những biến độngcủa thị trường trong và ngoài nước, cơ chế hiện hành còn chứa đựngnhững bất cập cần được xem xét và giải quyết bằng các phương pháp vĩ
mô trong giai đoạn tới, trong đó có thể xét đến:
Thứ nhất, với chính sách bảo hộ được duy trì quá dài, giá thườngđược giữ ổn định trong một chu kỳ dài hoặc chỉ điều chỉnh theo mộtchiều thông qua việc điều chỉnh thuế hoặc bù giá đã khiến người tiêudùng có tâm lý trông chờ, ỷ lại và thường có phản ứng khi Nhà nướcđiều chỉnh giá tăng Điều quan trọng hơn, một khi giá xăng dầu được bảo
hộ sẽ tạo giá thành có tính cạnh tranh ảo, lợi nhuận ảo, khiến các nhà sảnxuất ít quan tâm đến giải pháp tiết giảm chi phí hoặc cải tiến quản lý,công nghệ để nâng sức cạnh tranh của sản phẩm Nếu tình hình này tiếptục được duy trì là cản trở lớn trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.Thứ hai, Nhà nước phải dành khoản ngân sách đáng kể để bù lỗ, bùgiá trong khi điều kiện ngân sách còn khó khăn Trong trường hợpnhững biến động giá xăng dầu nhập khẩu không tiên liệu được, kế hoạchcân đối ngân sách thường bị phá vỡ Đây là một sự bất hợp lý, trong khiViệt Nam cần tập trung mọi nguồn tài lực cho phát triển cơ sở hạ tầngcủa nền kinh tế
Thứ ba, cơ chế bảo hộ giá, không tính đến mặt bằng giá của cácnước trong khu vực làm gia tăng “ thẩm lậu” qua biên giới và các hành
vi gian lận thương mại khác Nhà nước khó có thể kiểm soát và kiềm chếbằng các biện pháp hành chính Tương tự, cũng khó có thể thực hiệnđược chủ trương tiết kiệm nhiên liệu
Trang 19Thư tư, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu theo cơ chế bù lỗ sẽmất đi tính chủ động trong kinh doanh, tạo ra tâm lý ỷ lại, tiêu giảmđộng lực phát triển do không có khả năng tích tụ tái đầu tư và đầu tưphát triển, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật.
Thứ năm, trong thực tế điều hành, dù có nỗ lực lớn, cũng khó có thểđiều hành giá trần và thuế kịp thời trước sự biến động nhanh chóng,thường xuyên của thị trường xăng dầu thế giới Nói cách khác, tính khảthi của cơ chế có những hạn chế nhất định Bên cạnh đó, phương pháp,tiêu chí cấp bù lỗ cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu cũng khó cóthể đạt được các chuẩn mực, chưa kể đến chi phí cho công việc này (từphía cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp)
Cuối cùng, cơ chế quản lý hiện hành đối với xăng dầu sẽ không phùhợp với các nguyên tắc và yêu cầu khi Nhà nước thực hiện các cam kếthội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới và ở Việt Nam 2.2.1 Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới:
a Tác động tiêu cực
- Có tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế và các cân đối vĩ môcủa nhiều nước;
- Làm nguồn thu ngân sách giảm;
- Ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinhdoanh xăng dầu;
b Tác động tích cực
Trang 20- Việc tiêu dùng xăng dầu sẽ trở nên hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn;
- Thúc đẩy ngành công nghiệp khai thác, lọc hóa dầu phát triển nhằmbình quân hóa tỷ suất lợi nhuận các ngành sản xuất trong xã hội;
- Thúc đẩy công tác nghiên cứu, tìm kiếm sản phẩm thay thế xăng dầu;Điều đáng lý giải là việc giá dầu tăng mạnh trong hai năm lại đây đãkhông gây ra tình trạng suy thoái nền kinh tế thế giới như trong nhữngnăm 1970 và đầu 1980 Thực tế cho thấy ảnh hưởng vượt trội của cácdầu mỏ lên giá dầu trong thời gian gần đây có tác động tiêu cực ở mức
độ thấp hơn và ngắn hơn so với trường hợp có sự sụt giảm cung dầu mỏ(UNESCAP 2005) Trong khi đó, tỷ trọng của dầu trong sản xuất và tiêudùng, đặc biệt là ở các nước phát triển, dã giảm tương đối Hơn nữa, cácnước tiêu thụ dầu lớn như Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tập trungđầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng
Mặc dù vậy, giá dầu tăng cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhấtđịnh tới sự ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và việc giảm nghèo ở cácnước trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương Tốc độ tăng trưởng kinh
tế năm 2005 của nhiều nước có lẽ cao hơn nếu giá dầu không ở mức quácao Theo đánh giá của UNESCAP (2005), nếu giá dầu ổn định ở mứccao hơn hiện tại 10 USD\thùng, tăng trưởng kinh tế của nhiều nước, đặcbiệt là Philippin, Thái Lan và Singapo sẽ chậm lại đáng kể Đồng thời,lạm phát ở các nước đều tăng Tăng trưởng kinh tế chậm cộng với giáhàng hóa dịch vụ thiết yếu tăng có tác động tiêu cực đến những ngườinghèo Thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nhiều nước như Việt Nam,Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng đáng kể các ngành kinh tế sử dụng nhiềulao động như nông nghiệp xây dựng, đánh bắt thủy hải sản, v.v cũng
Trang 21khó phát triển nhanh như trước, và đời sống của người dân đặc biệt làcủa người nghèo trở lên khó khăn hơn.
2.2.2 Tác động của tăng giá xăng dầu ở Việt Nam:
Việt Nam tuy là một nước khai thác dầu với sản lượng khoảng 18-19triệu tấn/năm để xuất khẩu nhưng lại phải nhập khẩu 100% lượng xăngdầu thành phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước vì thế giá xăngdầu phụ thuộc vào thị trường thế giới Tuy nhiên, giá bán xăng dầu ởtrong nước lại chưa được áp dụng cơ chế giá thị trường
Bảng 2: Sơ đồ quản lý hoạt động xăng dầu ở Việt Nam
Các loại thuế
Nhu cầu xăng trong nước của Việt Nam ngày càng tăng cùng với quátrình phát triển kinh tế Trong giai đoạn 2000-2004, nhu cầu xăng trongnước tăng bình quân khoảng 5,8%/năm, từ gần 8,2 triệu tấn năm 2000lên hơn 10,2 triệu tấn năm 2004 Trong khi đó, năng lực chế biến các sản
B
ù l ỗ
Trang 22phẩm xăng dầu của Việt Nam lại gần như bằng không Mỗi năm lượngxăng dầu sản xuất trong nước chỉ ở khoảng 200.000-300.000 tấn, xấp xỉ2% tổng nhu cầu trong nước Do đó, nhu cầu xăng dầu trong nước chủyếu được đáp ứng bằng nguồn nhập khẩu.
Từ đầu năm 2004 đến nay giá xăng dầu trên thị trường thế giới tăngcao gây áp lực lớn đối với kinh doanh xăng dầu và đối với thu chi củanền kinh tế nên Nhà nước phải điều chỉnh giá bán xăng dầu nhiều lần vàthực hiện phương châm chia sẻ khó khăn giữa Nhà nước, doanh nghiệp
và người tiêu dùng Nhà nước giảm thuế nhập khẩu xăng dầu xuống 0%
và thực hiện bù lỗ đối với kinh doanh dầu để bao cấp qua giá dầu chonền kinh tế
Năm 2004 thực hiện 3 lần điều chỉnh giá; cụ thể: tháng 2 khi giáxăng dầu thế giới tăng 16-24% thì Nhà nước chỉ điều chỉnh tăng 5,6-9%(tùy loại); tháng7 khi giá xăng dầu thế giới tăng từ 11-55% so với giábình quân năm 2003 thì Nhà nước chỉ điều chỉnh giá các loại dầu tăng 4-5% xăng tăng 17% đồng thời thực hiện cơ chế giá đảm bảo kinh doanhđối với xăng, Nhà nước không bù lỗ từ 01/7/2004; tháng 11 tiếp tục điềuchỉnh tăng giá xăng lên khoảng 7%
Năm 2005, nước ta đã 4 lần điều chỉnh giá (trong đó có 3 lần điềuchỉnh tăng giá xăng dầu và một lần điều chỉnh giảm giá xăng); cụ thể:đầu tháng 3, giá xăng dầu thế giới tăng mạnh, cao hơn mức bình quânnăm 2004 từ 20-40%, do đó ngày 29/3/2005, tiếp tục thực hiện cơ chếgiá bảo đảm kinh doanh, không bù lỗ đối với xăng nên Nhà nước đã tănggiá xăng lên 6,6%, các loại dầu 2-12% và thực hiện bù lỗ cho các loạidầu Ngày 03/7 tăng giá xăng khoảng 10%, diezel 18%, dầu hỏa 32%,