Luận văn : Mô hình hóa các nhân tố tác động tới khoảng cách giữa thành thị và nông thôn VN trong thời kỳ hội nhập kinh tế
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG 3
1 Thành tựu trong phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới 3
1.1 Giai đoạn 1986-1990: Giai đoạn đầu đổi mới 3
1.2 Giai đoạn 1991-1996: Đổi mới đạt kết quả quan trọng 4
1.3 Giai đoạn từ 1996- 2000: Tiếp tục tăng cường đổi mới 7
1.4 Giai đoạn 2001-2005 8
1.5 Giai đoạn 2006-nay: 11
2 Bất bình đẳng của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới 13
2.1 Tổng quan về bất bình đẳng 13
2.2 Bất bình đẳng vùng 14
2.3 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế tới bất bình đẳng Việt Nam 16
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU BẤT BÌNH ĐẲNG 24
1 Các nghiên cứu về bất bình đẳng 24
2 Các nghiên cứu đánh giá tác động của hội nhập kinh tế 29
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH HÓA CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI BẤT BÌNH ĐẲNG GIỮA THÀNH THỊ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP: LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ 33
1 Mô hình hóa tác động của các nhân tố tới bất bình đẳng ở thành thị và nông thôn Việt Nam 33
1.1 Giới thiệu mô hình hồi quy phân vị 33
1.2 Xây dựng mô hình và các giả định ban đầu 34
1.2.1 Xây dựng mô hình 34
1.2.2 Các nhận định lý thuyết 36
1.3 Mô tả số liệu 37
2 Tổng quan khoảng cách chi tiêu thành thị nông thôn 45
Trang 23 Phân tích kết quả hồi quy 50
3.1 Hệ số hồi quy 51
3.2 Nội hàm của sự khác biệt thành thị và nông thôn 64
Chương 4: ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 67
1 Phương hướng nhằm làm giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn trong giai đoạn hiện nay 67
1.1 Nhóm chính sách liên quan đến đặc điểm hộ gia đình 67
1.2 Nhóm chính sách liên quan đến môi trường vĩ mô 69
2 Giải pháp thực hiện làm giảm bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn trong giai đoạn hiện nay 70
2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến đặc điểm hộ gia đình 70
2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến môi trường vĩ mô 72
2.2.1 Giải pháp thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn 72
2.2.2 Giải pháp thúc đẩy đô thị hóa hợp lý ở nông thôn 73
2.2.3 Giải pháp di dân 74
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 84
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Số liệu tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn từ sau đổi mới 3
Bảng 2: Tổng sản phẩm trong nước và tốc độ tăng trưởng theo giá so sánh của Việt Nam từ 1990 đến nay 12
Bảng 3: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị nông thôn và phân theo vùng (%) 16 Bảng 4: Tỷ lệ chi tiêu của các nhóm ngũ phân vị trong dân số(%) 19
Bảng 5: Bình quân phân vị của các biến – Thành thị và nông thôn 2006 40
Bảng 6: Bình quân phân vị của các biến – Thành thị và nông thôn 2008 41
Bảng 7: Chú thích các biến sử dụng trong mô hình 53
Bảng 8: Tên 8 vùng kinh tế Việt Nam 54
Bảng 9: Các đặc tính giữa 2 khu vực 62
Bảng 10 : Hệ số hồi quy phân vị năm 2006 63
Bảng 11: Hệ số hồi quy phân vị năm 2008 64
Bảng 12: Cơ cấu thu nhập Hộ gia đình 72
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: GDP thực tế và tốc độ tăng trưởng Việt Nam 13
Biểu đồ 2: Biểu đồ chi tiêu các nhóm dân cư năm 2004 19
Biểu đồ 3: Biểu đồ chi tiêu các nhóm dân cư năm 2006 20
Biểu đồ 4: Khoảng cách logRPCE các hộ thành thị và nông thôn 45
Biểu đồ 5: Phân bổ logRPCE theo các phân vị 46
Biểu đồ 6: Phần trăm chênh lệch logRPCE thành thị và nông thôn 47
Biểu đồ 7: Kernel density estimate – tính toán từ VLSS 2006, 2008 48
Biểu đồ 8: Chênh lệch phúc lợi hộ gia đình các dân tộc ở nông thôn 54
Biểu đồ 9: Lượng kiều hối VN 60
Biểu đồ 10: Phân tích năm 2006 76
Biểu đồ 11: Phân tích năm 2008 65
Trang 4
Việt Nam tiến hành đổi mới và mở cửa nền kinh tế bắt đầu năm 1986 và
đã đạt được những thành tựu lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo WorldBank đánh giá rất cao những nỗ lực của Việt Nam trong xóa đói giảm nghèo vàViệt Nam đang trở thành một trong những hình mẫu thành công cho các dự ánxóa đói giảm nghèo của thế giới Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đó nhưnhiều nhà nghiên cứu chỉ ra đã có dấu hiệu chênh lệch mức sống giữa các nhómdân cư Sự phân hóa giàu nghèo là vấn đề có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều tầnglớp dân cư trong xã hội đòi hỏi Chính phủ phải có các chính sách nhằm giảm bớt
sự bất bình đẳng đó
Trong bài nghiên cứu này chúng tôi đã mô hình hóa tác động của các nhân
tố tới bất bình đẳng thành thị nông thôn của Việt Nam trong thời kỳ hội nhậpkinh tế thế giới Chúng tôi kỳ vọng rằng có thể đánh giá mức độ tác động của cácyếu tố tới khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, từ đó gợi mở những chínhsách có thể áp dụng để thu hẹp khoảng cách đó
Bài viết của chúng tôi được chia thành 4 phần chính:
Chương 1: Việt Nam và vấn đề bất bình đẳng
Chương 2: Tổng quan các mô hình nghiên cứu về bất bình đẳng
Chương 3: Mô hình hóa các nhân tố tác động tới bất bình đẳng thành thị nông thôn tại Việt Nam: Lý thuyết và Kết quả
Trang 5Chương 4: Đề xuất chính sách nhằm giảm thiểu hiện tượng bất bình đẳng thành thị nông thôn tại Việt Nam
Chúng tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Phan Thị Nhiệm đã tận tìnhhướng dẫn nhóm thực hiện đề tài Cám ơn GS TS Nguyễn Khắc Minh, PGS TSNguyễn Thị Minh – Trưởng bộ môn Toán Kinh tế ĐH Kinh tế Quốc dân đã cónhững góp ý hoàn thiện bài làm của nhóm Do khả năng và thời gian có hạn nênbài viết chắc chắn sẽ còn nhiều khiếm khuyết, rất mong những đánh giá, góp ýcủa mọi độc giả Chi tiết xin liên hệ nhóm phân tích chính sách khoa Kế hoạchPhát triển – ĐH Kinh tế Quốc dân:
Email: pt.batbinhdangvn@gmail.com
Trang 6CHƯƠNG 1: VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG
1 Thành tựu trong phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn đổi mới
và hội nhập kinh tế thế giới
Kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp kém, sản xuất nông nghiệp làchủ yếu, lại trải qua thời gian dài chiến tranh vì vậy thời kỳ những năm 70,80 rấtkém phát triển với nền kinh tế vận hành theo cơ chế bao cấp Hậu quả là thiếuhụt những sản phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu người dân, tình trạng trì trệ diễn
ra, nguy cơ khủng hoảng kinh tế hiện hữu Nhận thức đuợc thực trạng đó, Đảng
ta khởi xướng quá trình Đổi mới tại đại hội VI năm 1986 Nền kinh tế đã cónhững chuyển biến tích cực, nguy cơ khủng hoảng bị đẩy lùi, lạm phát đượckiềm chế Từ đầu những năm 1990 tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam luôn duy trì ởmức cao (gần 8%/ năm) đứng thứ hai ở Châu Á, sau Trung Quốc
Bảng 1: Số liệu tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn từ sau đổi mới
Giai đoạn Tốc độ tăng trưởng /năm
1.1 Giai đoạn 1986-1990: Giai đoạn đầu đổi mới.
Đây là giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi mới mà bắt đầu là đổi mới cơ chếquản lý Trong thời gian này đã ban hành nhiều nghị quyết và quyết định củaĐảng và Chính phủ nhằm cải tiến quản lý kinh tế, chính sách tiền tệ, chính sáchnông nghiệp Những năm ngay tiếp sau đó Việt Nam đã liên tục thực hiện cácbiện pháp cải cách mạnh mẽ:
+ Phi tập thể hóa nông nghiệp, tự do hóa giá cả
+ Phát triển khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 7+ Mở cửa kinh tế, giảm thuế hải quan, bãi bỏ độc quyền ngoại thương củaNhà nước.
Tuy nhiên trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm này cơ chế cũ chưamất đi, cơ chế mới chưa hình thành nên Đổi mới chưa có hiệu quả đáng kể.Trung bình trong 5 năm, tổng sản phẩm trong nước tăng 3,9%/năm
Vào những năm cuối của thập kỷ 80, tình hình bắt đầu biến chuyển rõ rệt.Riêng lĩnh vực nông nghiệp có sự tiến bộ đột biến Năm 1988, Việt Nam đưa rachế độ khoán nông nghiệp, giao đất cho nông dân, lấy hộ nông dân làm đơn vịkinh tế Kết quả là nếu năm 1988 phải nhập 450 nghìn tấn lương thực thì năm
1989 xuất khẩu gạo đạt gần 1 triệu tấn và năm 1990 thành nước xuất khẩu gạođứng thứ 3 trên thế giới với 1,5 triệu tấn Một số ngành công nghiệp then chốtnhư điện, thép cán, xi măng, dầu thô đạt mức tăng trưởng khá
Giá trị xuất nhập khẩu bình quân tăng 28,0%/năm, tỷ lệ nhập siêu giảmnhanh Nếu trong các năm 19761980 tỷ lệ giữa xuất và nhập là 1/4 thì nhữngnăm 1986 1990 chỉ còn 1/1,8 Một thành công lớn là siêu lạm phát đã đượckiềm chế và đẩy lùi (năm 1986 lạm phát là 774,7 %, thì năm 1987 là 223,1 %,
1.2 Giai đoạn 1991-1996: Đổi mới đạt kết quả quan trọng.
Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1991 đã đưa ra chiếnlược "Ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000" đồng thời đề raphương hướng, nhiệm vụ cho kế hoạch 5 năm 1991-1995
- Thời kỳ 1991 – 1995 cải cách kinh tế được tiếp tục tiến hành
Trang 8- Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1/1991) tạo điều kiện chokinh tế tư nhân phát triển.
- Pháp Lệnh ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng đãtạo khuôn khổ pháp luật cho hệ thống ngân hàng thương mại ra đời
- Thâm hụt ngân hàng được giảm đáng kể và được bù đắp, hoàn toàn quacông trái, trái phiếu kho bạc và vay nước ngoài Việc tăng cung tiền và tín dụngđược xác định phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Luật Đất đai (7/1993) cho phép hộ gia đình và cá nhân được quyền sửdụng đất với 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê và thế chấp Khókhăn lớn lúc này là nền kinh tế vẫn bị bao vây, cấm vận trong bối cảnh các nướcĐông Ấu và các nước thuộc Liên Xô (cũ) rơi vào khủng hoảng trầm trọng Song,thời kỳ này Việt Nam cũng có những thuận lợi cơ bản: đường lối đổi mới bướcđầu phát huy tác dụng tích cực, các đơn vị kinh tế sau một thời kỳ khó khăn đãdần thích nghi với cơ chế quản ký mới Quá trình mở cửa hội nhập thu được kếtquả bước đầu: xuất khẩu dầu thô và gạo gia tăng, nguồn vốn ODA cho Việt Nambắt đầu thực hiện từ 1993 đến 1995 các nhà tài trợ đã cam kết giành cho ViệtNam số vốn là 6 tỷ USD cũng đến cuối 1995 vốn FDI được cấp phép đăng ký là16,5 tỷ USD Mộ số thành tựu kinh tế nổi bật trong giai đoạn này là:
Cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi căn bản:
Trong nền kinh tế xuất hiện nhiều thành phần: quốc doanh, tư bản nhànước, tư bản tư nhân, hợp tác xã, cá thể trong đó kinh tế ngoài quốc doanhchiếm 60% tổng sản phẩm trong nước
Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao:
Trong 5 năm 1991-1995 tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 8,2%.Năm 1996 tăng 9,5% Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực pháttriển liên tục và vững chắc mỗi năm tăng thêm 1 triệu tấn lương thực Sản xuấtcông nghiệp đã từng bước thích nghi với cơ chế quản lý mới, bình quân mỗi năm
Trang 9tăng 13,5%, là mức tăng cao nhất từ trước tới lúc đó Sản xuất trong nước đã cótích luỹ, đảm bảo trên 90 % quĩ tích luỹ và quĩ tiêu dùng hàng năm.
Từ 1991- 1995 có 1401 dự án FDI với 20,413 tỷ USD vốn đăng ký Đây làthời kỳ vốn FDI vào Việt Nam tăng cao nhất, khoảng 50%/năm Về xuất khẩu,trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu bình quân mỗi năm tăng 27%, gấp 3lần tốc độ tăng GDP
Đổi mới cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực côngnghiệp và dịch vu, giảm dần của khu vực nông, lâm ngư nghiệp Cơ cấu vùngkinh tế cũng bắt đầu thay đổi theo hướng hình thành các vùng trọng điểm, cáckhu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất và các vùng chuyên canh sản xuấtlương thực, thực phẩm, cây công nghiệp
Lạm phát tiếp tục bị kiềm chế và đẩy lùi:
Thời kỳ này nhờ sản xuất phát triển, lưu thông hàng hoá thông thoáng lại
có thêm kinh nghiêm chống lạm phát mấy năm trước nên giá cả ổn định dần Giáhàng hoá và dịch vụ năm 1991 tăng 67,5 %; năm 1993 chỉ tăng 5,2 %; năm 1996xuống 4,5%
Tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại:
Đến cuối năm 1996, Việt Nam có quan hệ kinh tế thương mại chính thứcvới trên 120 nước, kim ngạch ngoại thương gia tăng nhanh chóng, bình quân trên20%/năm Nhiều nước và tổ chức quốc tế đã dành cho Việt Nam viện trợ khônghoàn lại hoặc cho vay để đầu tư phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đã có nhữngchính sách, hoạt động kinh tế đối ngoại tích cực, chủ động hội nhập với kinh tếkhu vực và thế giới, đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ với cácnước, các tổ chức tài chính trên thế giới Trong đó có các mốc quan trọng đáng
Trang 10chú ý là: năm 1992, ký các hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với EU, năm
1994 Mỹ bình thường hóa quan hệ và xóa bỏ cấm vận với Việt Nam, năm 1995gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
1.3 Giai đoạn từ 1996- 2000: Tiếp tục tăng cường đổi mới.
Nghị quyết đại hội Đảng lần VIII (7/1996) về kế hoạch 5 năm 1996 –
2000 đã chỉ rõ cấn phải đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng
bộ, tập trung phát triển nông nghiệp và nông thôn, tạo thuận lợi cho các doanhnghiệp phát triển
Thời kỳ này Việt Nam đối đầu với nhiều khó khăn, thách thức : thiên tailiên tiếp, gây những thiệt hại nặng nề, những tác động bất lợi từ khủng hoảng tạichính tiền tệ khu vực, áp lực của việc thực hiện chương trình CFPT/AFTA Đểtiếp tục đổi mới, nhiều chính sách liên quan tới môi trường đầu tư được ban hànhnhư luật thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, luật doanh nghiệpmới
Do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực việc thu hút vốn đầu tưtrực tiếp của nước ngoài có xu hướng giảm sút, Việt Nam đã tìm cách phát huynội lực của cả nền kinh tế Từ giữa năm 1999 Chính phủ đã đề ra các giải phápđồng bộ về kích cầu thông qua đầu tư, đẩy mạnh huy động các nguồn vốn trongnước: bổ sung thêm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và tín dụng ưu đãi Pháthành công trái và trái phiếu công trình, chỉ đạo các ngân hàng cho vay trung vàdài hạn, kể cả cho vay ngoại tệ để nhập thiết bị
Cũng do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực và thiệt hại do thiêntai, bão lụt, tốc độ tăng trưởng kinh tế sau khi đạt 9.5% (năm 1995) đã bắt đầugiảm dần, đến năm 1999 chỉ đạt 4.8% là mức thấp nhất sau hơn 10 năm đổi mới.song nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam đã không để xảy ra nhữngbiến động lớn về môi trường vĩ mô và ổn định được đời sống nhân dân Nền kinh
Trang 11tế vẫn có những dấu hiệu đáng mừng như công tác thu hút và giải ngân vốn ODA
đã có tiến bộ dần qua các năm Từ năm 1993-1999 Việt Nam đã giải ngân được6,3 tỷ USD, chiếm hơn 40% so với nguồn ODA đã được cam kết Việt Nam cũng
đã dần nối lại quan hệ với cộng đồng thế giới (nối lại viện trợ quốc tế) và liên tục
ký kết nhiều hiệp định thương mại với nước ngoài góp phần đẩy nhanh quá trìnhtăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế được khởi động cùng chính sách đổi mới:
- Năm 1998 Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á TháiBình Dương (APEC), điều này đã tạo ra nhiều thuận lợi cho quan hệ thương mạicủa Việt Nam với các nước trong khu vực
- Năm 2001, Việt Nam ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ(United States Bilateral Trade Agreement – USBTA), Hiệp định này đã mở cửathị trường Mỹ cho hàng hóa Việt Nam (tuy nhiên, vẫn áp dụng hạn ngạch), hàngxuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ được áp dụng quy chế tối huệ quốc từnăm 2002 trong khuôn khổ áp dụng Hiệp định này, mức thuế quan trng bình ápdụng cho hàng xuất khẩu của Việt Nam đa giảm từ 40% xuống còn 3 – 4%, đổilại Việt Nam cũng cắt giảm thuế quan với hàng nhập khẩu từ Mỹ và đưa ra nhiềucam kết về mở cửa cho đầu tư từ Mỹ
1.4 Giai đoạn 2001-2005
Tháng 4 năm 2001, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thông qua Chiếnlược phát triển Kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Phương hướng, Nhiệm vụ kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 nhằm đẩy nhanh hơn nữa tốc
độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng phát triển xã hội của đất nước
Chỉ tiêu kế hoạch đặt ra là đưa GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995
Để được như vậy, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm2001-2005 phải đạt 7,5%, trong đó dự kiến nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,3%,công nghiệp và xây dựng tăng 10,8%, dịch vụ tăng 6,2% Về kinh tế đối ngoại,
Trang 12phấn đấu nâng tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%/năm Cơ cấu kinh tế trongGDP đến năm 2005 sẽ chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoávới mục tiêu tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp 20 - 21%, tỷ trọng công nghiệp vàxây dựng khoảng 38 - 39%, và tỷ trọng các ngành dịch vụ 41 - 42%.
Thực hiện đường lối chính sách đó, Việt Nam đã tập trung cải cách hànhchính và tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, mở rộng hợp tác quốc tế,tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, nhờ đó kinh tế ViệtNam tiếp tục duy trì được sức phát triển tương đối nhanh và ổn định
Kết quả đạt được là tốc độ tăng trưởng GDP vẫn duy trì được xu hướngtăng dần, mức tăng bình quân trong cả thời kỳ đạt 7,55/năm Công nghiệp làngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng giá trị cao nhất, đạt trên 10% mỗi năm Tốc
độ tăng của lĩnh vực dịch vụ đạt xấp xỉ tốc độ tăng GDP, trong khi giá trị sảnxuất nông nghiệp phục hồi trở lại với mức tăng trên 4% sau khi sụt giảm xuốngmức gần 3% năm 2001 (do biến động giá sản phẩm nông nghiệp trên thị trườngthế giới) Với mức tăng như vậy, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướngcông nghiệp hóa hiện đại hóa, năm 2002 tỷ trọng nông nghiệp còn khoảng23%GDP, công nghiệp đạt cao nhất 38,6% và dịch vụ 35,5%
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, kinh tế nhà nước tiếp tục đượcđổi mới, tuy còn chậm nhưng đã từng bước nâng cao hiệu quả trong hoạt độngsản xuất kinh doanh Các hình thức đổi mới doanh nghiệp nhà nước cũng đã đadạng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến trình này
Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quantrọng Quan hệ quốc tế được mở rộng, các cam kết quốc tế được triển khai thựchiện tốt, đồng thời ký kết nhiều hiệp định đa phương, song phương, tạo bướcphát triển mới về kinh tế đối ngoại Việt Nam đã ký kết và gia nhập khu vực mậudịch tự do AFTA của ASEAN vào năm 2003, điểu này đã mang lại nhiều thuận
Trang 13lợi cho hàng hóa của Việt Nam khi lưu thông trên thị trường các nước trong khuvực Cũng nhờ đó thị trường xuất khẩu đã được duy trì và mở rộng, tổng kimngạch xuất khẩu tăng 17,5%/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 chiếmtrên 60% GDP và đạt 390 USD/ người Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)liên tục tăng, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có chuyển biến tích cực qua từngnăm và bước đầu đã có dự án đầu tư ra nước ngoài Vay trả nợ nước ngoài đượcquản lý tốt Công tác chính trị đối ngoại được tăng cường, thực hiện tốt đường lốiđối ngoại đoạc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ với cácnước Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.
Bên cạnh đó những chú trọng của Chính phủ nhằm giải quyết các vấn đề
xã hội đã đem lại được những kết quả đáng mừng Công tác giải quyết việc làm,xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ củaLiên hợp quốc Từ năm 2000 đến năm 2005, tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động.Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn 5,3%; thời gian sử dụng laođộng ở nông thôn đạt 80% Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ30%năm 1992 xuống dưới 7% năm 2005 Theo chuẩn quốc tế (1USD/người/ngày) thì tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993xuống còn 28,9% năm 2002 Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quamtâm và có nhiều tiến bộ Chỉ số phát triển con người được nâng lên, từ mức dướitrung bình (0,498) năm 1990, tăng lên mức trên trung bình (0,688) năm 2002;năm 2005 Việt Nam xếp thứ 112 trên 177 nước được điều tra Mạng lưới y tếđược củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp, ứng dụng côngnghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh; tuổi thọ trungbình từ 68 tuổi năm 1999 nâng lên 71,3 tuổi vào năm 2005
1.5 Giai đoạn 2006-nay:
Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng là một nước nghèo, GDP bình quân đầungười chưa cao, vấn đề đặt ra là phải phát triển nhanh về kinh tế đi đôi với phát
Trang 14triển hài hoà các mặt của xã hội, đảm bảo cải thiện mọi mặt đời sống của ngườidân, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển lâu bền cho thế hệ mai sau, trên cơ
sở đó mục tiêu xoá đói giảm nghèo mới có thể tiếp tục thực hiện tốt Chính vìvậy, Việt Nam đã tập trung thực hiện một số giải pháp vĩ mô, giữ vững môitrường kinh tế- xã hội ổn định, mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo ra bước đột phá vềchuyển đổi cơ cấu kinh tế, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để phát triển nềnkinh tế cao và ổn định trong nhiều năm: năm 2006 GDP tăng 8.2%, năm 2007tăng 8.48%, năm 2008 tăng 6.23%
Chúng ta đã thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Xuấtkhẩu, nhập khẩu tăng trưởng cao và ổn định, nguồn vốn FDI đổ vào nước mộtcách tương đối vững chắc đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế rất mạnh mẽ Tỷ trọngcủa xuất khẩu trong GDP những năm gần đây đã đạt gần 50% trong khi tỷ trọngcủa khu vực FDI trong GDP cũng đạt tới gần 14% Đầu năm 2007, Việt Nam trởthành thành viên chính thức của WTO sau hơn 10 năm đàm phán và 20 năm kể
từ khi thực hiện chính sách đổi mới Là thành viêc của WTO, Việt Nam đượchưởng quy chế tối huệ quốc của tất cả các nước thành viên khác (được xóa bỏhạn ngạch đối với hàng xuất khẩu), đồng thời Việt Nam cũng phải áp dụng cácquy định của WTO Sự kiện gia nhập WTO là kết tinh của một quá trình bền bỉcải cách kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam, mở đầu cho một thời kỳ pháttriển mạnh mẽ thương mại quốc tế Quá trình mở cửa hội nhập đã cho thấy sảnphẩm của Việt Nam có thể cạnh tranh và tìm chỗ đứng ở nhiều thị trường quốc
tế Hàng hóa Việt Nam đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới, trong đó các thịtrường chủ yếu là Hoa Kỳ (18%), EU (17%) và ASEAN (16,8%) Kim ngạchnhập khẩu cũng đã tăng 38 lần, từ 2,1 tỷ USD năm 1986 lên trên 80 tỷ USD năm
2008, tăng trưởng với tốc độ bình quân 16,1%/năm Hàng hóa nhập khẩu chủ yếuphục vụ hoạt động sản xuất, bình quân chiếm gần 90% tổng kim ngạch nhậpkhẩu trong giai đoạn 1986-2008, trong đó nhập máy móc thiết bị chiếm gần 30%,nhập khẩu nguyên vật liệu chiếm gần 60% Hàng hóa được nhập khẩu từ khoảng
Trang 15trên 200 nước, nhưng chiếm thị phần lớn nhất vẫn là hàng có xuất xứ từASEAN5, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, EU.
Bảng 2: Tổng sản phẩm trong nước và tốc độ tăng trưởng theo giá
so sánh của Việt Nam từ 2000 đến nay
Năm GDP (tỷ đồng) Tôc độ tăng trưởng
Trang 162 Bất bình đẳng của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới
2.1 Tổng quan về bất bình đẳng
Các quốc gia đang phát triển thực hiện chuyển đổi nền kinh tế đều trải
qua các giai đoạn phát triển trong đó xuất hiện hiện tượng bất đồng đều giữa cácnhóm dân cư về đặc điểm cũng như cơ hội phát triển Đây là một hiện tượng xãhội phức tạp tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội vàđang có chiều hướng gia tăng có thể gây ra những bất ổn có thể dẫn đến nhữngxung đột xã hội Đặc biệt là tác động đói nghèo và bất bình đẳng giữa các vùng,giữa nông thôn và thành thị khác nhau đáng kể
2.1.1 Công bằng xã hội
Công bằng xã hội là một khái niệm có tính chất lịch sử, có nội dungkhác nhau trong những hoàn cảnh điều kiện khác nhau Có hai cách hiểu khácnhau về công bằng xã hội
Thứ nhất, khái niệm công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối vớinhững người có tính trạng kinh tế như nhau Theo quan điểm này, hai cá nhân cótình trạng kinh tế như nhau (được xét theo một tiêu thức nào đó như thu nhập,hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc…) thì chính sách của chính phủ khôngđược phân biệt đối xử
Thứ hai, khái niệm công bằng dọc là đối xử khác nhau với những người
có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắcphục những khác biệt sẵn có Theo cách hiểu này chính sách của chính phủ đượcphép đối xử có phân biệt với những người có tình trạng kinh tế khác nhau, vớiđiều kiện sau khi chịu tác động của chính sách thì những khác biệt đó phải đượcgiảm bớt
2.1.2 Bất bình đẳng
Trang 17Phúc lợi của một cá nhân/gia đình là nguồn lực kinh tế mà cá nhân/giađình đó nhận được, làm chủ và tiêu dùng Nguồn lực kinh tế đo lường là thunhập, tài sản những sản phẩm mà con người tiêu thụ Trong kinh tế học vi mô,phúc lợi kinh tế hay thỏa dụng (utility) của một cá nhân thường được xem làhàm đồng biến với tiêu thụ và thời gian nghỉ ngơi của cá nhân đó
Trong các nghiên cứu ứng dụng, vì sự giới hạn của dữ kiện, các nhàkinh tế phải dựa vào các thống kê có sẵn như thu nhập hay chi tiêu Mức độchênh lệch kinh tế tùy thuộc rất nhiều vào tiêu chuẩn dùng để xác định mức phúclợi kinh tế
Bất bình đẳng kinh tế có thể nhìn nhận như là sự khác biệt thu nhập/chitiêu thực tế giữa các nhóm dân cư Nếu sự sai lệch càng ít thì mức độ bất bìnhđẳng càng thấp và ngược lại
Trong bài chúng tôi chỉ chú trọng phân tích bất bình đẳng giữa các vùng
2.2 Bất bình đẳng vùng
Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên (hai vùng tập trungđông đồng bào dân tộc thiểu số), Bắc Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long gấp4.5 lần tỷ lệ nghèo chung của cả nước Bất bình đẳng giữa các vùng có thể được
đo bằng tốc độ tăng chi tiêu giữa các vùng Nếu vùng Đông Nam Bộ và vùngđồng bằng sông Hồng (hai vùng kinh tế trọng điểm) tăng chi tiêu dùng ở mức133% và 111% trong giai đoạn 1993 – 2004 thì tốc độ này ở vùng Tây Bắc, đồngbằng sông Cửu Long và Nam Trung Bộ thấp hơn nhiều, chỉ là 52%, 63% và67%
Tỷ lệ tăng chi tiêu dùng ở thành thị so với nông thôn tăng từ 1.91 năm
1993 lên 2.24 năm 2004 Không chỉ có thế tỷ lệ hộ nghèo giữa nông thôn vàthành thị của mỗi vùng luôn có sự khác biệt đáng kể Người dân trong khu vực
đô thị được hưởng lợi nhiều nhất từ công tác xóa đói giảm nghèo Trong khi tại
Trang 18các khu vực nông thôn, dân nghèo vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn (đặc biệt tại các khuvực sinh sống của các dân tộc thiểu số)
Bảng 3: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị nông thôn và phân theo vùng (%)
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
(Nguồn: Niên giám thống kê 2008)
World Bank đã có nghiên cứu chuyên đề về bất bình đẳng và khẳng định
ở Việt Nam đang có khoảng cách giữa khu vực thành thị - nông thôn và bất bìnhđẳng ngay trong nội bộ các khu vực Khoảng cách thu nhập - chi tiêu giữa khuvực nông thôn và thành thị có sự gia tăng lớn trong giai đoạn 1993-2006 Tuy
tỉ lệ nghèo đói ở cả hai khu vực nông thôn và đô thị đều giảm dần trong nhữngnăm gần đây, nhưng ở nông thôn không giảm nhanh bằng đô thị Điều này đãlàm cho sự chênh lệch về tỉ lệ nghèo giữa nông thôn và đô thị ngày càng doãng
ra từ 2,65 lần (1993) lên 4,95 lần (1998), 5,4 lần (2002) và lên đến 6,94 lần(2004) Điều đó cũng có nghĩa rằng sự bất bình đẳng về tỉ lệ nghèo giữa nôngthôn và đô thị ngày càng lớn theo thời gian (1993 - 2004) Tức là nông thôn ngàycàng nghèo đi “tương đối” nhiều hơn so với đô thị Tỷ lệ bất bình đẳng (theo tínhtoán với hệ số Gini) tương đối thấp ở các vùng phần lớn dân số sống ở nôngthôn Những huyện có tỉ lệ bất bình đẳng cao là những vùng có cả dân số nông
Trang 19thôn và thành thị, với mức độ đô thị hoá từ 20– 80% Các kết quả này khẳng địnhquan điểm chung là các huyện thành thị có tỉ lệ bất bình đẳng cao hơn các huyệnnông thôn Ở khu vực đô thị lớn lại có tỉ lệ bất bình đẳng cao, vì ở các vùng nàythường có các hộ giàu nhất cả nước và cả những hộ mới nhập cư thu nhập của họkhông cao hơn thu nhập của hộ nông thôn
Trong giai đoạn 1993 – 1998, gia tăng bất bình đẳng nói chung chủ yếu
là sự gia tăng bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn, mặc dù tầm quan trọng của
nó trong bất bình đẳng chung hiện nay có xu hướng ngày càng giảm dần Phântích hệ số bất bình đẳng Theil cho thấy nếu trong giai đoạn 1993 – 1998 gia tăngbất bình đẳng ở Việt Nam là do gia tăng bất bình đẳng giữa các vùng thành thị vànông thôn và chỉ có 4% còn giai đoạn 1998 – 2004 bất bình đẳng thành thị nôngthôn chiếm 39% toàn bộ bất bình đẳng
2.3 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế tới bất bình đẳng Việt Nam
Sau 12 năm nỗ lực liên tục, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viêncủa Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1 năm 2007 Trong 12 nămqua, Việt Nam đã có nhiều bước tiến lớn trong việc thực hiện cải cách và tự dohóa nền kinh tế Quá trình mở cửa, hội nhập đã cho thấy sản phẩm Việt Nam cóthể cạnh tranh và tìm được chỗ đứng ở nhiều thị trường trên thế giới Kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam đã tăng gần 40 lần sau 20 năm, từ 789 triệu USD lên32,4 tỷ USD, bình quân tăng trưởng 21,2%/năm Giá trị xuất khẩu chiếm trongGDP đạt mức 68,2% năm 2007 và 71,3% năm 2008 Nếu như năm 1986, ViệtNam chưa có mặt hàng xuất khẩu nào có kim ngạch vượt quá 200 triệu USD thìđến năm 2008, đã có rất nhiều mặt hàng có kim ngạch vượt 1 tỷ USD như là dầuthô, điện tử và linh kiện điện tử, hàng may mặc, giày dép, thủy sản, gạo và sảnphẩm gỗ, chiếm hơn 2/3 tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam Với những thànhquả kinh tế đáng khích lệ này đã tạo điều kiện cho Việt Nam thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế tạo điều kiện cho việc xóa đói giảm nghèo
Trang 20Quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, như một bộphận hữu cơ của công cuộc đổi mới, kết hợp và hỗ trợ quá trình giải phóng lựclượng sản xuất trong nước, đã đem lại những thành quả to lớn về kinh tế, xã hộitrong hai thập kỷ vừa qua Hội nhập kinh tế đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởngnhanh, đồng thời đã và đang tác động trực tiếp và gián tiếp, tích cực và tiêu cực,phức hợp và đa diện về mặt xã hội Tác động xã hội của quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế có thể được phản ánh gián tiếp thông qua tác động của quá trình nàyđến tăng trưởng kinh tế, từ đó thúc đẩy sự phát triển con người, làm gia tăng mứcsống, giảm nghèo, phân tầng xã hội, hay góp phần làm biến đổi cơ cấu kinh tế.Qua đó làm biến đổi cơ cấu xã hội, tác động tới quản lý kinh tế và xã hội, đến sựthay đổi thể chế và công nghệ và làm biến đổi con người, các nhóm xã hội về tưduy, hành vi…hay tác động trực tiếp tới quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các
tổ chức kinh tế và xã hội, đến bất bình đẳng xã hội, cũng như tới xóa đói giảmnghèo
Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy sự gia tăng mức sống nhưng cũng làm gia tăng sự phân tầng xã hội.
Phân tầng xã hội phản ánh cấu trúc xã hội có bất bình đẳng giữa cácnhóm người trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Đối với một xãhội có nền kinh tế chuyển đổi và đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng như nước ta, với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao,liên tục trong thời gian dài, thì nhiều khả năng phân tầng xã hội ngày càng giatăng Đây trở thành vấn đề xã hội mang tính cấp thiết được quan tâm đặc biệttrong giai đoạn hiện nay
Phân tầng xã hội trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày cànggia tăng, dù rằng xã hội Việt Nam đang phát triển tương đối công bằng so với cácnước khác cùng trình độ phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế đã chia sẻ lợi íchcho đông đảo các tầng lớp xã hội, cho đa số người dân ở mọi vùng đất nước,
Trang 21trong đó có cả người nghèo, các nhóm xã hội yếu thế Nhưng vẫn còn sự khácbiệt, sự không công bằng và những nhóm hưởng lợi ít hơn, thậm chí bị rủi ro,mất mát Hệ số Gini tăng trong giai đoạn 1993 – 2002 (tăng từ 0,34 vào năm
1993 tới 0,37 năm 2002), hệ số này hầu như không thay đổi trong giai đoạn 2002– 2004 và giảm nhẹ trong giai đoạn 2004 – 2006 (hệ số Gini giảm từ 0,37 vàonăm 2004 xuống 0,36 vào năm 2006)
Tuy nhiên bất bình đẳng tương đối đang tăng, nếu so sánh khoảng cáchchi tiêu dùng giữa nhóm 20% giàu nhất với 20% nghèo nhất Năm 1993, chi tiêudùng của hộ gia đình giàu nhất gấp 5 lần so với các hộ nghèo nhất thì năm 2004khoảng cách này tăng lên thành 6 lần Tỷ lệ của nhóm giàu nhất trong tổng chitiêu dùng xã hội tăng từ 41.8% năm 1993 tăng lên 43.3% năm 2006 trong khi đó
tỷ lệ này của nhóm nghèo nhất lại giảm tương ứng từ 8.4% xuống còn 7.2% cùngthời kỳ (Viện Khoa học xã hội Việt Nam)
Trang 22Bảng 4: Tỷ lệ chi tiêu của các nhóm ngũ phân vị trong dân số(%)
(Nguồn: Báo cáo phát triển Việt Nam 2006)
Biểu đồ 2: Biểu đồ chi tiêu các nhóm dân cư năm 2004
chi tiêu các nhóm dân cư năm 2004
Nghèo nhất Gần nghèo nhất Trung bình Gần giàu nhất Giàu nhất
Biểu đồ 3: Biểu đồ chi tiêu các nhóm dân cư năm 2006
Trang 23Chi tiêu các nhóm dân cư năm 2006
Nghèo nhất Gần nghèo nhất Trung bình Gần giàu nhất Giàu nhất
Đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng bất bình đẳng
Sự mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là nhân tố quan trọng thu hút nguồnvốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam Trong những năm vừa qua, nguồnvốn này không ngừng gia tăng và trở thành một bộ phận quan trọng trong tăngtrưởng kinh tế Điều đó cũng thể hiện vai trò của FDI đối với việc hình thành thunhập của người dân Việt Nam Tuy nhiên vốn FDI tập trung không đồng đềucũng có thể là nguyên nhân gây ra sự chênh lệch thu nhập của các hộ gia đình
Vốn FDI tập trung vào các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với 57.2%vốn đăng ký và 49.6% vốn thực hiện cả nước Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắcchiếm khoảng 26% tổng vốn FDI đăng ký và 28.7% vốn thực hiện FDI tronggiai đoạn đổi mới và hội nhập vừa qua đã được tập trung vào lĩnh vực côngnghiệp và xây dựng (62.4% vốn đăng ký) mà phần lớn ở các thành thị Trong giaiđoạn 2000-2005, việc làm mới được tạo ra bởi các doanh nghiệp FDI tăng trungbình 24,4%/năm, bỏ xa khu vực doanh nghiệp nhà nước và tư nhân (lần lượt là3,3% và 2,3%) Kết quả là tỷ trọng việc làm được tạo ra bởi các doanh nghiệpFDI đã tăng từ 0,6% năm 2000 lên 1,6% năm 2005 ở Việt Nam Tuy con số nàycòn rất khiêm tốn nhưng với đà tăng trưởng nhanh như vậy, đặc biệt là sau khi
Trang 24Việt Nam gia nhập WTO, triển vọng việc làm được tạo ra bởi thành phần kinh tếnày khá sáng sủa.
Trong ngắn hạn làn sóng FDI vào Việt Nam có thể làm tăng sự bất bìnhđẳng về thu nhập không chỉ ở khu vực thành thị, mà cả giữa khu vực thành thị vànông thôn Mức lương cao hơn ở khu vực thành thị sẽ kích thích làn sóng nhập
cư từ nông thôn, trong khi thu nhập của lao động ở nông thôn không được cảithiện Điều này làm khoảng cách giữa vùng kinh tế trọng điểm với các vùngkhác, giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm lao động, giữa các ngành nghề
và các khu vực kinh tế bị giãn ra tương đối
Hội nhập kinh tế thế giới tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết tạo ra những thử thách đối với mọi mặt nền kinh tế Đáng ngại nhất là đối
với khu vực nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng Việt Nam đã và đang
bị thử thách bởi Hiệp định thương mãi Mỹ Việt (US-VN Bilateral TraceAgreement), gọi tắt là BTA và khu vực thương mại tự do Đông Nam Á (ASEANFree Trade Area) gọi tắt là AFTA Nhưng ảnh hưởng của WTO sẽ mạnh mẽ hơnnhiều vì hai lý do chính: luật lệ của WTO đòi hỏi nhiều hơn AFTA và BTA, và
áp dụng chung cho tất cả các nước hội viên buôn bán với Việt Nam; những nướchội viên đã gia nhập WTO có quyền áp đặt những điều kiện khắt khe hơn đối vớinhững quốc gia đang thương lượng xin vào Ví dụ Trung Quốc mới vào WTO,
đã gây một vài khó khăn cho Việt Nam Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ rất cóthể phải chấm dứt mọi hình thức trợ cấp nông dân, trong khi đó, những nước Tâyphương, đặc biệt là Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu và Nhật Bản, là những nước hộiviên ngay từ khi WTO thành lập vào năm 1995 vẫn có quyền chi tiêu khoảng 300
tỉ đô la để tài trợ nông dân của họ hàng năm Khu vực nông thôn của Việt Nam
sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất vì kỹ thuật nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn thô sơ,năng suất tương đối thấp, giá sản suất lại cao Thí dụ giá bắp và đậu nành nội địalần lượt vào khoảng trên 140 USD /tấn và 350 USD /tấn, so với giá trên thịtrường quốc tế vào khoảng 80 USD/tấn và 180 USD /tấn vào năm 2001
Trang 25Ngoài ra, hạ tầng cơ sở ở nông thôn Việt Nam vẫn còn lạc hậu, mặc dù đãđạt được nhiều tiến bộ trong vài năm qua Đường xá và hải cảng thiếu phát triểnlàm gia tăng thời gia và chi phí chuyên chở Trong tình trạng như vậy, khu vựcnông thôn và nông nghiệp của Việt Nam sẽ bị đe dọa bởi ảnh hưởng tiêu cực củalàn sóng toàn cầu hóa, đặc biệt đối với những nông phẩm sản xuất với số lượnglớn như bắp, đậu nành, đường và bông gòn Toàn cầu hóa có khuynh hướng biếnđổi một nền nông nghiệp tự túc, đa canh và ở mức độ gia đình của một nướcchậm tiến như Việt Nam thành một nền nông nghiệp doanh thương, hướng vềxuất cảng và đơn canh Như vậy, toàn cầu hóa trong trường hợp này đe dọa anninh thực phẩm quốc gia.
Những cuộc cải tổ và phát triển kinh tế, nhất là những dự án đầu tư ngoạiquốc vào công nghệ, thường tập trung tại các khu vực thành thị, do đó nông dânkhông được hưởng sự phát triển kinh tế đồng đều Lợi tức không tăng bằng khuvực thành thị Khác biệt giàu nghèo càng ngày càng lớn Kết quả của cuộc điềunghiên của tổng cục thống kê Việt Nam vào năm 2002 cho thấy lợi tức của nhómngười thuộc 10% giàu nhất gấp 12.5 lợi tức của nhóm người thuộc 10% nghèonhất ở Việt Nam Điều này gây ra một ảnh hưởng của việc gia nhập WTO đó là
sẽ làm tăng thêm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn một cách đáng kể Lý
do là phần lớn đầu tư mới của nước ngoài sẽ đổ vào vùng thành thị, đặc biệt làkhu vực mới được mở cửa như ngành du lịch bao gồm bảo hiểm, ngân hàng, bán
lẻ và bán sỉ, xuất nhập cảng, phân phối, chuyên chở, giải trí, pháp lý, xây cất, địa
ốc, viễn thông, … Trong khi đo mức tiêu thụ của nhóm người giàu sẽ làm giatăng giá cả Lợi tức của nông dân tăng ít hơn lợi tức ở thành thị và chậm hơn tốc
độ tăng của giá cả vì vậy mức sống của nông dân sẽ giảm Đó là trường hợp đãxảy ra tại Trung Quốc và rất có thể xảy ra tại Việt Nam như nhiều nhà phân tích
đã phán đoán
Như vậy chúng ta việc hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới có thể đãlàm gay gắt hơn bất bình đẳng của Việt Nam trong những năm vừa qua Khi tốc
Trang 26độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tất yếu sẽ làm thay đổi nhiều mặt về xã hội, trong
đó có thể làm gia tăng bất bình đẳng xã hội bởi vì chênh lệch trong đầu tư FDIgiữa các vùng, bởi cơ hội việc làm và thu nhập là khác nhau giữa nhiều nhóm xãhội, vốn vật chất, vốn tài nguyên, vốn tài chính, vốn con người giữa các nhómnày Các nhóm nông dân thiếu đất hay bị mất đất canh tác, bị tổn thương bởithiên tai, dịch bệnh hay ủi ro cá nhân, đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng sâu,vùng xa, người di cư tự do vào các đô thị, người nghèo và cận nghèo là cácnhóm dễ rơi xuống đáy của các thang bậc xã hội và lâm vào cảnh bần cùng hơn
Trang 27CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
BẤT BÌNH ĐẲNG
1 Các công trình nghiên cứu về bất bình đẳng
Việt Nam tiến hành đổi mới năm 1986 và đã đạt được những thành tựu lớntrong công cuộc xóa đói giảm nghèo Trong giai đoạn 1986-2008 thu nhập bìnhquân đầu người tăng 3 lần (tốc độ tăng trưởng trên 7%/năm) đã nâng cao mứcsống người dân, tỷ lệ nghèo đã giảm liên tục qua các năm World Bank đánh giárất cao những nỗ lực của Việt Nam trong xóa đói giảm nghèo và Việt Nam đangtrở thành một trong những hình mẫu thành công cho các dự án xóa đói giảmnghèo của World Bank
Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia, cùng với những thành tựuphát triển của Việt Nam còn ẩn chứa những dấu hiệu gia tăng khoảng cách giàunghèo Cách nhìn từ trước đến nay vẫn cho rằng thực trạng phân phối thunhập/chi tiêu trong xã hội Việt Nam vẫn được duy trì ở mức độ tương đối côngbằng Tức là, tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam là chấp nhận được và chưađáng lo ngại Một số cách tiếp cận khác theo góc độ bất bình đẳng về cơ hội cho
ta thấy rằng bất bình đẳng ở Việt Nam chắc chắn ở mức vừa phải (dựa trên phântích các hệ số đói nghèo, bất bình đẳng GINI…), mà là thuộc loại cao hơn trong
sự so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới Hơn nữa, sự bất bìnhđẳng cơ hội về thu nhập và chi tiêu này ở Việt Nam có dấu hiệu gia tăng trongnhững năm gần đây
1.1 Nghiên cứu về bất bình đẳng thành thị nông thôn
Trong một nghiên cứu Haughton (2001) tính toán được rằng bất bình đẳngcủa Việt Nam gia tăng (thu nhập bình quân đầu người) giai đoạn 1993-1998 chủyếu là do khoảng cách thành thị-nông thôn hơn nhiều so với khoảng cách ở trongnội bộ mỗi khu vực Theo đó hệ số Gini của RPCE hộ nông thôn giảm từ 0.278
Trang 28còn 0.275, của các hộ giàu tăng đôi chút từ 0.340 tới 0.348 Trong khi đó hệ sốGini toàn bộ dân số tăng từ 0.330 tới 0.354 Chi tiêu bình quân đầu người hộ giađình nông thôn tăng 30% giai đoạn 1993-1998, còn các hộ thành thị tăng tới60% Kết quả cũng tương tự như khi phân tích thu nhập (thay biến chi tiêu bằngthu nhập) của các hộ gia đình
Trước đây đã có nhiều nghiên cứu về bất bình đẳng trong nền kinh tếchuyển đổi từ kế hoạch sang thị trường có định hướng Tuy nhiên cũng khá ítnhững nghiên cứu về bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn ở Việt Nam.Theo thông tin chúng tôi được biết, chỉ có 2 bài viết của Nguyen (2006) vàLe(2010) được công bố chính thức về nghiên cứu về bất bình đẳng thành thịnông thôn ở Việt Nam
Nghiên cứu về Việt Nam của Binh T Nguyen, James W Albrecht (2006)
… chỉ ra rằng đang có sự gia tăng về khoảng cách chi tiêu giữa hộ nông thôn vàthành thị giai đoạn 1993-1998 Tác giả xem xét các nhóm dân cư theo phân vị ởhai khu vực và chỉ ra rằng khoảng cách chi tiêu khác nhau ở các phân vị trong đónhóm người giàu ở thành thị có mức chênh lệch lớn nhất so với nhóm giàu ởnông thôn Nguyen sử dụng phương pháp hồi quy điểm phân vị (Quantileregression decomposition ) để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới khoảng cáchchi tiêu giữa các hộ gia đình thành thị và nông thôn Qua đó tác giả chỉ ra cácnhân tố tác động lớn tới khoảng cách Đó là yếu tố giáo dục, dân tộc và quá trình
di dân là những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới khoảng cách này
Gần đây Le (2010) có nghiên cứu tương tự về bất bình đẳng nông thôn thành thị ở Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy điểm phân vị khôngđiều kiện (unconditional quantile regresstion) của Firpo (2009) Le đã phân tíchkhoảng cách bất bình đẳng nông thôn - thành thị qua các năm và đánh giá cácnhân tố ảnh hưởng tới khoảng cách đó Phương pháp này có ưu điểm là có thể ápdụng trực tiếp phân tích Oaxaca- Blind vào kết quả ước lượng để đánh giá tác
Trang 29-động các yếu tố tới khoảng cách giữa các khu vực mà phương pháp truyền thốngkhông thực hiện được
Những kết quả thu được khá đáng kể và đặt nền móng cho những so sánhtrong các nghiên cứu sau này Cũng như trong phân tích của Nguyen (2006), Lechỉ ra rằng tuy 2 thập kỷ mức sống bình quân của người dân đã được nâng cao,bất bình đẳng tuy đã giảm nhưng còn ở mức cao Giai đoạn 1993-1998 khoảngcách thành thị nông thôn gia tăng, cao nhất vào năm 2002 sau đó giảm nhẹ năm
2004, giảm nhanh hơn năm 2006 Kết quả này khác biệt so với nghiên cứuYaang (1999) và Lin (2008) chỉ ra rằng bất bình đẳng thành thị nông thôn củaTrung Quốc vẫn gia tăng từ sau cải cách 1978
Le đã chỉ ra rằng một trong những đóng góp là quá trình di cư Những cảicách trong hệ thống pháp luật (2001 và 2006) đã gỡ bỏ những rào cản của việc didân từ nông thôn đến thành thị; từ khu vực kém phát triển đến khu vực có điềukiện hơn, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp…Hiện nay những người di dân
từ nông thôn có thể được hưởng lợi ích từ giáo dục, y tế, dịch vụ…của thành thị.Điều đó tạo điều kiện cho người dân nghèo ở nông thôn có thể kiếm được thunhập lớn hơn ở thành thị Mặt khác làm giảm bất bình đẳng quốc gia và thúc đẩytăng trưởng thông qua việc gia tăng thu nhập của người di dân Tuy nhiên, nócũng tạo ra những áp lực cho khu vực thành thị về nhà ở, dịch vụ xã hội, môitrường…
Giáo dục cũng là nhân tố quan trọng quyết định mức độ bất bình đẳnggiữa hai khu vực Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyen (2006) chorằng giáo dục là nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào khoảng cách nông thôn -thành thị Điều này khá hợp lý khi hai khu vực có năng lực giáo dục khác nhauthì khả năng tạo thu nhập khác nhau, những người dân thành thị có mức độ giáodục cao hơn vì vậy họ có điều kiện tạo thu nhập lớn hơn Ngoài ra ngay cả khi hộdân của 2 khu vực có cùng mức độ giáo dục thì khả năng nhận được các khoản
Trang 30thu nhập khác nhau Điều này có thể giải thích bằng cơ hội phát triển ở khu vựcthành thị, các hộ dân có nhiều điều kiện thuận lợi để biến những năng lực củamình thành thu nhập hơn và thành thị là nơi tập trung những điều kiện cho sựphát triển Theo đó các chính sách đầu tư phát triển lĩnh vực giáo dục đào tạo dân
cư nông thôn có vai trò quan trọng trong việc giảm bất bình đẳng
Từ các kết luận trên tác giả đã đề xuất một số chính sách cho Chính phủ:
Đầu tư nhiều hơn nữa cho việc tạo lập cơ hội nghề nghiệp cho mọi thành phần trong xã hội đặc biệt là khu vực nông thôn.
Chính phủ thực hiện các biện pháp xóa đói giảm nghèo bao gồm cả giáo dục và cơ hội việc làm ở các vùng khó khăn Kêu gọi các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp cá nhân trong và ngoài nước tham gia công tác này.
Thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, phấn đấu giảm tỷ lệ sinh đến mức hợp lý đảm bảo nhu cầu lao động, nguồn chất xám cho tương lai.
Chính phủ thực hiện các hoạt động nhằm tăng cường hoạt động cho thị trường lao động và thị trường nhân tố ở khu vực nông thôn Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, hướng tới một thị trường nông thôn có mối liên kết chặt chẽ giữa các ngành nghề, bộ phận trong nền kinh tế.
Quan tâm chặt chẽ tới các vấn đề dân tộc thiểu số, thực hiện các giải pháp giúp đỡ, tạo điều kiện cho người dân tộc có cơ hội vươn lên làm giàu, tránh những cú sốc bất lợi trong nền kinh tế thị trường
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về Việt Nam chúng tôi xem xétnhững bài viết về Trung Quốc, bởi lẽ hai quốc gia có những đặc điểm tương tựtrong quá trình phát triển kinh tế Trong phân tích số liệu của 3 năm (1988, 1995,2002) Zhaopeng Qu và Zhong Zhao bằng phương pháp tương tự đưa ra kết quả
là có sự gia tăng khoảng cách thành thị và nông thôn Trung Quốc qua các năm
Trang 31Trái ngược với những kết quả của Việt Nam, ở nhóm dân cư thu nhập cao hơnthì khoảng cách giữa thành thị và nông thôn này giảm dần Điều đó cho thấy chitiêu các hộ giàu ở nông thôn (ở Trung Quốc) đã tăng lên đáng kể và ngay trongnội bộ khu vực nông thôn cũng có khoảng cách khá lớn Bên cạnh đó hộ nghèo ởnông thôn ngày càng trở nên nghèo hơn tương đối so với hộ khá giả Điều nàyphù hợp với thực tế với nền kinh tế phát triển theo chiều rộng của Trung Quốctrong những năm vừa qua Khu vực nông thôn tuy đã được quan tâm nhưng tăngtrưởng thấp hơn nhiều so với khu vực thành thị Qua 3 năm quan sát, khoảngcách giữa nông thôn - thành thị tăng lên đáng kể (đặc biệt là từ năm 1988-1995)
ở các mức phân vị Với những chính sách phát triển nông thôn mới khu vực nôngthôn Trung Quốc đã có những kết quả đáng ghi nhận, khoảng cách nông thôn -thành thị đã tăng chậm hơn So sánh các nghiên cứu chúng tôi thấy được sự khácnhau giữa Trung Quốc và Việt Nam về bất bình đẳng Qua đó có những đánh giásâu sắc hơn về tình hình thực tế của Việt Nam
1.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong các phân tích trên tác giả đều sử dụng biến số chi tiêu để thể hiệnphúc lợi của các hộ gia đình Đây là cách tiếp cận được coi là phản ánh chính xáchơn khoảng cách giữa các hộ Do trong những điều kiện ngắn hạn, thu nhậpthường diễn biến phức tạp do nhiều yếu tố khác nhau có thể làm thu nhập thayđổi bất thường Hệ thống thông tin thiếu đồng bộ cũng là một nguyên nhân dẫntới những số liệu về thu nhập của các hộ gia đình không phản ánh chính xác phúclợi của họ Dựa trên số liệu VLSS của Việt Nam với những thông tin hữu ích của
hộ gia đình: tuổi tác, học vấn, giới tính, dân tộc…đảng phái, khu vực kinh tế, chitiêu…được tổng hợp từ tổng cục Thống kê Việt Nam với hỗ trợ kỹ thuật từWorld Bank Đây là những nguồn tin chính thống và có giá trị được sử dụng phổbiến trong các phân tích về đói nghèo
Trang 32Tác giả sử dụng có sử dụng các biến đặc trưng bởi các yếu tố của hộ giađình giải thích sự hình thành sự khác biệt trong chi tiêu của các hộ nông thôn vàthành thị Nguyen (2006) chia thành: đặc tính hộ gia đình như kích thước hộ,kinh nghiệm của chủ hộ, số năm đi học vợ/chồng chủ hô,…và các biến giả thểhiện khu vực của hộ: nông thôn, thành thị; bắc – nam, ngành kinh tế hoạt động:Công nghiệp – Nông nghiệp - Dịch vụ, dân tộc, đảng phái,…Các biến đều có ýnghĩa thống kê thể hiện mức độ ảnh hưởng các biến giải thích Ngoài ra nghiêncứu của Le cũng đã phân tách các vùng địa lý trong bất bình đẳng Theo phântích chỉ số Theil về bất bình đẳng, sự khác biệt Bắc-Nam chỉ đóng góp khiêm tốnvào toàn thể bất bình đẳng qua các năm giai đoạn 1993-2006 trong khi xétkhoảng cách giữa 7 vùng thì đóng góp tới 13-18% So với mô hình của Nguyenchỉ có 1 biến giả thể hiện Bắc hoặc Nam thì Le đã đưa ra 6 biến giả đặc trưngcho 7 vùng kinh tế Điều này có thể dẫn tới kết quả hồi quy chuẩn xác hơn.
Le (2010) bằng các phương pháp toán học chia ảnh hưởng của các đặctính hộ gia đình tới bất bình đẳng thành hai bộ phận, một là khác biệt về đặc tính
- nghĩa là giữa hai khu vực có những đặc điểm hộ gia đình khác thì thu nhậpkhác nhau, hai là khác biệt thu nhập từ những đặc tính giống nhau – hộ gia đìnhkhu vực thành thị có thu nhập từ yếu tố lớn hơn so với hộ nông thôn cùng có đặctính Kết quả cho thấy năm 1993 đóng góp sự khác biệt về năng lực giữa các hộgia đình của 2 khu vực cao hơn, điều này có sự khác biệt trong năm 1998 khi sựkhác biệt thu nhập từ những năng lực đóng góp lớn hơn vào khoảng cách thànhthị - nông thôn Trong đó cả hai năm đều có đóng góp của sự khác biệt trong thunhập từ năng lực các hộ và bộ phận này gia tăng qua hai năm Điều đó cho thấynhững kết quả trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước không phân bố đềucho các khu vực Các hộ gia đình ở thành thị có nhiều điều kiện thuận lợi hơntrong các hoạt động và thu được những kết quả ngày càng lớn hơn
2 Các nghiên cứu đánh giá tác động của hội nhập kinh tế
Trang 33Trên thế giới có rất nhiều những nghiên cứu định tính và định lượng về tác độngcủa hội nhập tới nền kinh tế các quốc gia Lý thuyết kinh tế chuẩn về thương mạiquốc tế cung cấp một mô hình đánh giá sự thay đổi về phân phối thu nhập dophát triển thương mại Trong khuôn khổ đơn giản nhất (mô hình của Heckscher-Ohlin), các yếu tố sản xuất càng dồi dào thì nhu cầu đối với chúng càng tăng vàthu nhập tương đối mà chúng mang lại cũng tăng lên (định lý Stolper-Samuelson) cùng với sự gia tăng trao đổi Đối với một nước đang phát triển cólực lượng lao động phổ thông dồi dào (nhưng ít lao động có tay nghề), thì sẽnhận thấy đồng thời hai hiện tượng: giảm bất bình đẳng và giảm đói nghèo (mức
độ bất bình đẳng trong nội nhóm giữa các gia đình của người lao động có taynghề và các gia đình của người lao động phổ thông thay đổi không đáng kể)
Những mô phỏng về tác động của việc tự do hóa thương mại đối với vấn
đề phân phối thu nhập thực hiện dựa trên các mô hình cân bằng tổng thể EGCmang lại những kết quả tương đối trái ngược nhau Theo Mabugu và Chitiga(2007), đối với trường hợp của Nam Phi, tự do hóa thương mại có tác động tiêucực đối với người nghèo về ngắn hạn, nhưng lại có tác động tích cực về dài hạn.Nghiên cứu của Annabi (2005) cũng có kết luận tương tự đối với trường hợp củaXênêgan Các tác giả Bannister và Thugge (2001) có dẫn chứng các công trìnhnghiên cứu (Nam Phi, Inđônêxia) đánh giá rằng tự do hóa thương mại có tácđộng tiêu cực đối với nhóm các hộ gia đình nghèo nhất Trong một phân tích nềnkinh tế Trung Quốc, Shang-Jin Wei đã minh chứng tác động của hội nhập kinh tếtới bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn Tác giả chỉ ra mối liên hệ ngượcgiữa bất bình đẳng thành thị nông thôn và độ mở của nền kinh tế: thành phố cómức tăng lớn hơn trong tỷ số thương mại/GDP thì có mức giảm nhanh hơn bấtbình đẳng thành thị nông thôn
Robilliard và Robinson (2005) mô phỏng tác động của các kịch bản tự dohóa thương mại khác nhau dựa trên mô hình mô phỏng vi mô và đều cho kết quả
là giảm nghèo đói nhưng không có thay đổi về mức độ bất bình đẳng về thu
Trang 34nhập Quan sát tình hình của các nước đang phát triển cho thấy, mặc dù có mởcửa kinh tế, nhưng mức độ bất bình đẳng (đặc biệt là tiền lương) có xu hướngtăng lên (Ngân hàng thế giới, 2000; Goldberg và Pavcnik, 2007), đặc biệt làtrường hợp của các nước Mỹ Latinh, Trung Quốc và Việt Nam; và tác động của
tự do hóa thương mại đối với nghèo đói có vẻ như không đáng kể (Wade, 2004).Những nhận xét này mâu thuẫn với các nội dung của lý thuyết kinh tế chuẩn vàvới các kết quả nghiên cứu sử dụng mô hình cân bằng tổng thể EGC (cũngthường dựa trên lý thuyết này)
Có một số công trình nghiên cứu áp dụng mô hình EGC vào nền kinh tếViệt Nam Đó là công trình nghiên cứu của nhóm DIAL-CIEM và MIRAGE-CEPII cùng hoàn thành vào năm 2008 Mô hình MIRAGE-CEPII kết luận việcgia nhập WTO chỉ có tác động rất nhỏ tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam nhữngnăm qua Một nguyên nhân là do hạn chế của mô hình, nguyên nhân khác lànghiên cứu đánh giá tác động của việc ký các thoả thuận đa phương chỉ liên quanđến việc gia nhập WTO mà không xem xét chính sách bãi bỏ hàng rào thuế quantheo các thoả thuận song phương (ví dụ như gia nhập ASEAN, ký Hiệp địnhThương mại với Mỹ) có hiệu lực tại Việt Nam từ nhiều năm nay theo như chínhsách đổi mới Thế nhưng tác động của những thoả thuận này thể hiện trong trung
và dài hạn, tức ít nhất trong 5 năm tới, tác động của các thoả thuận song phương
và các thoả thuận đa phương ký khi gia nhập WTO sẽ đan xen vào nhau vàkhông phân biệt được
Mô hình thứ hai đánh giá tác động của hội nhập của Việt Nam được CIEM
đề xuất đó là DIAL-CIEM, trong mô hình này ngoài nội dung mà mô hìnhMIRAGE-CEPII thực hiện, tác động của việc gia nhập WTO đối với việc các hộgia đình Việt Nam theo thu nhập, theo giới, địa điểm cư trú ở đô thị hay nôngthôn, trình độ kỹ năng, vùng Kết quả thu được phù hợp với những nghiên cứuđịnh tính trước đây, ngành dệt may được hưởng nhiều thuận lợi nhờ chính sách
mở cửa Việc bãi bỏ hạn ngạch ngành dệt may có tác động rất lớn tới các ngành
Trang 35khác Một kết quả khác là tình trạng nghèo khổ giảm đáng kể Điều này được thểhiện ở hầu hết trong tất cả các kịch bản nghiên cứu và nhìn chung tác độngkhông nhiều đến tình trạng bất bình đẳng mặc dù tỷ lệ nghèo đói giảm với mức
độ khác nhau tuỳ theo khu vực hay theo vùng
Mô hình này cũng có những hạn chế như mọi mô hình cân bằng chungkhác: mô hình ít cung cấp thông tin về độ nhạy cảm của của nền kinh tế trướcnhững biện pháp của các chính sách kinh tế thông dụng Ngoài ra, cũng giốngnhư mô hình MIRAGE-CEPII, mô hình này ít hoặc không xem xét đến tác độngcủa tất cả những hiệp định song phương ký trước khi gia nhập WTO, điều này cónguy cơ là không đánh giá đầy đủ các tác động
Bên cạnh những công trình sử dụng mô hình EGC còn có những côngtrình sử dụng mô hình khác như Kym Anderson, Jikun Huang và ElenaIanchovichina đã sử dụng mô hình GTAP để nghiên cứu về bất bình đẳng giữakhu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp khi Trung Quốc gia nhập WTO Kếtquả của nghiên cứu này chỉ ra rằng việc cắt giảm hàng rào thuế quan (và phi thuếquan) đối với hàng hóa nhập khẩu cũng như giảm bảo hộ đối với hàng hóa xuấtkhẩu đã dẫn đến sự chuyển dịch của lao động không lành nghề khu vực nôngnghiệp sang khu vực phi nông nghiệp và gia tăng bất bình đẳng giữa 2 khu vựcnày
Tóm lại, có thể kết luận rằng việc gia nhập WTO nói riêng và hội nhậpkinh tế nói chung có thể dẫn đến những tác động trái chiều nhau đối với thu nhậpcủa các hộ gia đình tùy vào ngành nghề, yếu tố địa lý Qua đó có thể là nhân tốtác động tới sự chênh lệch giữa các nhóm dân cư trong đó có bất bình đẳng thànhthị nông thôn ở Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH HÓA CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI BẤT BÌNH ĐẲNG GIỮA THÀNH THỊ VÀ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP: LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ
1 Mô hình hóa tác động của các nhân tố tới bất bình đẳng ở thành thị
và nông thôn Việt Nam
1.1 Giới thiệu mô hình hồi quy phân vị
Hồi quy phân vị được Koenker và Bassett giới thiệu nhằm bổ sung chophân tích hồi quy tuyến tính Chủ yếu là mở rộng phân vị thông thường từ môhình định vị sang mô hình tuyến tính tổng quát hơn, trong đó hồi quy phân vị cóđiều kiện có dạng tuyến tính Nội dung phương pháp bình phương nhỏ nhất(OLS) là xác định giá trị trung bình có điều kiện của biến ngẫu nhiên Y, đã biếttrước các biến giải thích Xi, đạt giá trị kỳ vọng E[Y| Xi] Hồi quy phân vị vượt rangoài phạm vi này và cho phép ta tự đặt vấn đề như vậy ở bất kỳ phân vị nào củahàm phân bố có điều kiện
Trong phân tích hồi quy các nhà nghiên cứu quan tâm tới việc phân tích sự
thay đổi của một biến phụ thuộc (y i ), biết trước thông tin về các biến độc lập (x i)của nó Phương pháp bình phương tối thiểu (OLS) là phương pháp chuẩn để cụthể hoá mô hình hồi quy tuyến tính và ước lượng các thông số chưa biết của nóbằng cách cực tiểu hoá tổng sai số bình phương Điều này dẫn đến việc lấy xấp
xỉ hàm trung bình của phân bố có điều kiện của biến phụ thuộc Phương phápbình phương tối thiểu đạt được đặc trưng BLUE Đó là tốt nhất, tuyến tính và cácước lượng là ước lượng không chệch nếu 4 giả thiết sau đây thỏa mãn:
1 Các biến độc lập x i không phải là các biến ngẫu nhiên
2 Kỳ vọng toán của thành phần sai số (i) bằng 0, tức là E[i] = 0
Trang 373 Có tính thuần nhất - phương sai của thành phần sai số cố định, tức là
var( i) = 2
4 Không có tự tương quan, tức là cov( i, j ) = 0, (i ≠ j)
Tuy nhiên, thường một hoặc hai giả thiết trên bị xâm phạm, dẫn đến kếtquả là phương pháp bình phương tối thiểu không còn là tốt nhất, tuyến tính và cóước lượng không chệch nữa
Hồi quy phân vị có thể giải quyết các vấn đề vốn là nhược điểm khi ápdụng OLS trên thực tế:
(i) Khắc phục khuyết tật phương sai sai số thay đổi trong các mô hình khi
áp dụng OLS
(ii) Thông qua việc coi giá trị trung bình là độ đo về vị trí, thông tin vềđuôi của phân bố bị mất đi
(iii) OLS rất nhạy cảm với các giá trị ngoại lai và không theo chuỗi xu thế
có thể làm sai lệch kết quả đáng kể Bằng hồi quy phân vị nếu số liệu phân tán,ước lượng hồi quy trung vị có thể hiệu quả hơn ước lượng hồi quy trung bình
Trong báo cáo này chúng tôi nghiên cứu về khoảng cách chi tiêu thực tế làtương đương với bất bình đẳng thành thị - nông thôn ở Việt Nam trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế Tập chung chủ yếu đến sự khác biệt trong phân phốiphúc lợi, được tính bằng tiêu dùng thực tế bình quân đầu người trong hộ gia đình(RPCE) giữa hai khu vực thành thị và nông thôn Chúng tôi sử dụng kỹ thuậtphân tích vi phân hồi quy phân vị để giải thích sự khác biệt trong phân phối của
hộ gia đình điển hình giữa hai khu vực Sử dụng số liệu của VLSS (VietnamLiving Standards Surveys) để tiến hành phân tích cho năm 2006 và 2008
1.1 Xây dựng mô hình
Trang 38Chúng tôi sử dụng dữ liệu mức sống tiêu chuẩn ở Việt Nam (VLSS) từnăm 2006 – 2008 để nghiên cứu bất bình đẳng giữa thành thị - nông thôn ở ViệtNam Đơn vị đo lường chính là tiêu dùng thực tế đầu người của hộ gia đình(RPCE) Chúng tôi lựa chọn biến phụ thuộc là logarit cơ số tự nhiên của Chi tiêuthực tế bình quân hộ gia đình (log e RPCE) ký hiệu là logRPCE Áp dụng
phương pháp phân tích hồi quy phân vị để đánh giá sự khác biệt của log RPCEgiữa thành thị và nông thôn Việt Nam trong những năm hội nhập Chúng tôi đưa
ra giả định chi tiêu của hộ gia đình tỷ lệ thuận với thu nhập của họ Khi thu nhập
hộ gia đình tăng lên đồng nghĩa với việc chi tiêu bình quân của họ cũng tăng lêntương ứng
Trong phần này chúng tôi sẽ miêu tả các biến sử dụng trong mô hình vàmối quan hệ giữa chúng khác nhau như thế nào ở khu vực nông thôn và thànhthị Chúng tôi ước lượng mô hình sau với bộ số liệu thành thị và nông thôn riêngbiệt để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng mức chi tiêu các hộ gia đình ở từng khuvực Những kết quả này là cơ sở để đánh giá mức chênh lệch ảnh hưởng của cácnhân tố trên giữa thành thị và nông thôn:
Qθ [ logRPCE/ X] = β0 + Xi /U (1)
Trong mô hình (1) này :
Qθ [ logRPCE/ X] là logRPCE ở phân vị thứ θ trong điều kiện X Phân vị
là một giá trị tương ứng với một tỷ lệ cụ thể của một mẫu được sắp xếp của mộttổng thể Ví dụ, một phân vị rất hay được sử dụng là giá trị trung vị, bằng tỷ lệ0,5 của số liệu được sắp xếp Nó tương ứng với phân vị có xác suất xảy ra bằng0,5 Phân vị 0,5 này đánh dấu ranh giới của hai phần bằng nhau của hai tập hợpcon liên tục của tổng thể Chúng tôi sử dụng các phân vị 5, 25, 50 , 75 và 95trong phân tích hồi quy để có được sự so sánh chính xác khoảng cách chênh lệch5% phân vị giữa thành thị và nông thôn Việt Nam
Trang 39Ui là biến giả thành thị và nông thôn với U=1 là hộ ở thành thị, U=0 nếu
1.2 Các nhận định lý thuyết
Chúng tôi đề xuất những giả định ban đầu cho các biến giải thích saunhằm mô tả các nhân tố tác động tới bất bình đẳng thành thị nông thôn tạiViệt Nam:
Biến giáo dục (edu): Đây là một biến quan trọng để xác định tiêu dùng hộ
gia đình Nếu những yếu tố khác là giống nhau thì hộ gia đình nào có trình độ vàđược đào tạo cao hơn sẽ có mức thu nhập cũng như chi tiêu cao hơn so với hộ giađình khác Chúng tôi cho rằng với mức độ giáo dục có ảnh hưởng khác nhau đốivới từng nhóm dân cư Theo như nhiều phân tích đánh giá, nhóm người giàu sẽđược lợi nhiều hơn nếu gia tăng được mức độ giáo dục của mình
Dân tộc (ethn): Xét đến khu vực nông thôn, chúng tôi cho rằng chi tiêu
của hộ gia đình dân tộc thiểu số sẽ thấp hơn so với chi tiêu của những hộ gia đìnhdân tộc kinh Tuy nhiên, đối với thành thị, vấn đề dân tộc dường như không ảnhhưởng lắm tới chi tiêu của các hộ gia đình
Cơ cấu hộ gia đình: bao gồm những biến về giới tính, tình trạng hôn
nhân, tỷ lệ người đi làm/ ko đi làm Đây là những biến thuộc về đặc điểm hộ giađình vì vậy có ảnh hưởng tới chi tiêu của hộ gia đình đó
Ngành nghề: Mỗi ngành nghề có thể tạo ra thu nhập khác nhau vì vậy
quyết định tiêu dùng của hộ gia đình Chúng tôi cho rằng những hộ gia đình ở
Trang 40thành thị thường tham gia vào ngành phi nông nghiệp và thu nhập của họ cũngcao hơn so với những hộ gia đình làm nông nghiệp khác ở nông thôn
Khu vực : Chúng tôi nghiên cứu trên 8 vùng miền của cả nước để thấy sự
chênh lệch về mức sống ở các vùng miền khác nhau của cả khu vực nông thôn vàthành thị
FDI/GDP: Là biến đầu tư nước ngoài, gia tăng đầu tư nước ngoài sẽ làm
gia tăng thu nhập cho người dân cũng như gia tăng tiêu dùng Chúng tôi cho rằngFDI/GDP phản ánh cơ cấu đầu tư nước ngoài ở vùng đó
Độ mở nền kinh tế
Những nghiên cứu trước chỉ ra rằng độ mở trong thương mại góp phầnlàm suy giảm bất bình đẳng thành thị và nông thôn Toàn cầu hóa làm giảm bấtbình đẳng thu nhập Độ mở của nền kinh tế có mối quan hệ với bất bình đẳng,với khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
EXP(k,t) là kim ngạch xuất khẩu của thành phố k ở năm t