MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ, CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN RIÊNG 8 1 1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối vớ[.]
Trang 1Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ,
1.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng 81.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng theo quy
định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 15
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA
VỤ CỦA VỢ, CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN RIÊNG TẠI
2.1 Thực tiễn áp dụng quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ,
chồng đối với tài sản riêng tại thành phố Hòa Bình 362.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sựHN&GĐ : Hôn nhân và gia đìnhTAND : Tòa án nhân dân
Trang 3Số hiệu
bảng
2.1 Số lượng vụ án về HN&GĐ có tranh chấp về tài sản được
thụ lý và giải quyết tại TAND thành phố Hòa Bình giai
đoạn 2015-2019
37
2.2 Số lượng các vụ tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa
vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng tại TAND thành
phố Hòa Bình giai đoạn 2015-2019
38
2.3 Số lượng các loại tài sản được công chứng thỏa thuận
tài sản riêng tại các văn phòng công chứng trên địa bàn
thành phố Hòa Bình giai đoạn 2015-2019
48
Trang 4Số hiệu
biểu đồ
2.1 Số lượng vụ án về HN&GĐ có tranh chấp về tài sản được
thụ lý và giải quyết tại TAND thành phố Hòa Bình giai
đoạn 2015-2019
38
2.2 Tỷ lệ các vụ tranh chấp chấp liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng tại TAND
thành phố Hòa Bình giai đoạn 2015-2019
39
2.3 Số lượng các loại tài sản được công chứng thỏa thuận
tài sản riêng tại các văn phòng công chứng trên địa bàn
thành phố Hòa Bình giai đoạn 2015-2019
48
2.4 Tỷ lệ các loại tài sản được công chứng thỏa thuận tài sản
riêng tại các văn phòng công chứng trên địa bàn thành
phố Hòa Bình giai đoạn 2015-2019
48
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 30 năm của công cuộc đổi mới, đất nước ta đang ngàycàng phát triển, có những bước đi vững chắc trên con đường hướng tới nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đã từng bước gặt đượcnhững thành tựu nhất định Căn cứ theo số liệu mà Tổng cục Thống kê ViệtNam công bố trong buổi họp báo công bố về tình hình kinh tế - xã hội năm
2019 cho thấy kinh tế Việt Nam năm 2019 đã đạt được những con số hết sức
ấn tượng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt kết quả ấn tượng, với tốc độtăng 7,02%, vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6-6,8% Tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao kéo theo xã hội ngày càng phát triển, điều kiện sống củanhân dân cũng được nâng cao Dưới sự phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế, các giao dịch, quan hệ dân sự cũng diễn ra nhiều hơn trong đó một phầnkhông nhỏ là những giao dịch, quan hệ liên quan đến tài sản
Gia đình là những nguyên tử hình thành nên xã hội, nhìn vào đời sốngcủa gia đình có thể đánh giá được phần nào sự phát triển của một đất nước.Trong xã hội hiện nay, việc vợ, chồng tham gia vào các quan hệ, giao dịchdân sự là điều tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển của đất nước Xuấtphát từ nhu cầu thực tế, lần đầu tiên Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ)năm 1986 ghi nhận và điều chỉnh quyền có tài sản riêng của vợ, chồng LuậtHN&GĐ năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã tạo ra những hành langpháp lý để vợ, chồng có quyền tự do, tự định đoạt tài sản tham gia vào cácquan hệ pháp luật Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đem lại thì nhữngtranh chấp về tài sản của vợ, chồng ngày càng diễn ra nhiều cùng với mức độphức tạp tăng lên, thực tế cho thấy phần lớn các tranh chấp của vợ chồng đềuliên quan đến tài sản và tranh chấp về nuôi con
Việc nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận và nội dung đối vớiquyền và nghĩa vụ đối với tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật HN&GĐ
Trang 6năm 2014 là một vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay nhằm làm rõ hơn, chỉ ranhững thuận lợi và khó khăn trong thực tiễn gặp phải, không ngừng tiếp tụchoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản Do
đó, tác giả đã lựa chọn đề tài "Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài
sản riêng và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hòa Bình" làm đề tài cho luận
văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý ở nước ta, từ trước đến nay, ngoài những vănbản hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ, đã có những bài viết, công trìnhnghiên cứu, đề xuất kiến nghị một số nội dung liên quan đến chế độ tài sảncủa vợ, chồng Trước tiên là những giáo trình giảng dạy pháp luật như giáotrình luật dân sự Việt Nam, giáo trình luật HN&GĐ Việt Nam, các văn bảndưới luật hướng dẫn… đã đề cập đến chế độ tài sản vợ chồng một cách cơbản, đầy đủ và khái quát nhất
Về luận văn, luận án
Nguyễn Thị Quyền đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ luật học
năm 2017 tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài: "Áp dụng pháp luật
trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng" Luận văn đã trình bày những
vấn đề lý luận và căn cứ pháp luật để xác định chế độ tài sản riêng của vợchồng tại Việt Nam Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc xác địnhtài sản riêng của vợ, chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014; từ đó đề xuất giảipháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vềvấn đề này
Luận văn thạc sĩ "Chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014" của tác giả Đào Ánh Tuyết tại Trường Đại học
Luật Hà Nội, năm 2016 Luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận về chếđịnh tài sản riêng của vợ, chồng, nghiên cứu quy định của Luật HN&GĐ năm
2014 về chế định tài sản riêng của vợ, chồng và thực tiễn thi hành và đưa ra
Trang 7một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật
về vấn đề này
Luận văn "Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng
theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" của tác giả Nông Thị Thoa năm
2017 tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên cứu những vấn đề lý luận vềnghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng, phân tích các quyđịnh pháp luật Việt Nam hiện hành; thực tiễn giải quyết tranh chấp và đề xuấtmột số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng vềtài sản của vợ chồng
Cụ thể hơn, việc nghiên cứu chuyên sâu về chế độ tài sản của vợ chồngcủa một số tác giả đã xuất bản thành sách điển hình như: Sách của tác giả Nguyễn
Văn Cừ về "Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam" Nhà xuất bản Tư pháp, 2008; Bài viết của tác giả Bùi Minh Hồng
về "Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng trong pháp luật Cộng hòa
Pháp và pháp luật Việt Nam", đăng trên Tạp chí Luật học, số 11 năm 2009.
Ngoài ra còn một số luận văn của một số tác giả khác như:
- Phan Văn Khanh với luận văn "Xác định tài sản chung, tài sản riêng
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân", năm 2017
- Trần Thị Thùy Linh với luận văn "Xác định tài sản chung, riêng,
quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi cơ quan thi hành án dân
sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án", năm 2018
Về các bài viết trên tạp chí chuyên ngành
Tác giả Ngô Thị Hường với bài viết: "Đăng ký quyền sở hữu tài sản và
việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng", Tạp chí Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, số 10/2008
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn có bài viết "Xác định quyền sử dụng đất là
tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng - đôi điều trăn trở từ một vụ án",
trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 1/2010
Trang 8Tác giả Nguyễn Hải An có bài viết: "Tài sản chung hay riêng", trên Tạp
chí Tòa án nhân dân (TAND), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), số 15/2011
Tác giả Nguyễn Thị Lan có bài viết: "Một số vấn đề về nguyên tắc xác
định tài sản chung, tài sản riêng và trách nhiệm về tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh", trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ
Tư pháp, Số chuyên đề pháp luật về doanh nghiệp, 2012
Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ được những vấn đề lý luận
và thực tiễn về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và tài sản riêng của vợ,chồng nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề tài sản riêng của vợ,chồng cần được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và ở những địa bànkhác nhau
Hiện đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình,tỉnh Hòa Bình, tôi có thêm những góc nhìn về việc thực hiện các quan hệ tàisản của vợ chồng trên địa bàn công tác Do đó, vấn đề quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với tài sản riêng và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hòa Bình
là một đề tài hoàn toàn mới và có những nội dung khác với các công trìnhnghiên cứu đã công bố
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu khái niệm, đặc điểmcủa quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng, những quy định cụthể của pháp luật hiện hành điều chỉnh chế độ tài sản riêng của vợ, chồng.Nhận thức và phân tích rõ nội dung, ý nghĩa của những quy định đó thông quaviệc tìm hiểu thực tiễn xét xử của TAND và việc xác lập sở hữu tài sản của
vợ, chồng tại các tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan chứng thực Từ đó,thấy được những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đưa
ra phương án, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền
và nghĩa vụ đối với tài sản riêng của vợ, chồng, góp một phần vào hoàn thiện
Trang 9xây dựng hành lang pháp lý để gia đình, xã hội, đất nước phát triển ổn định vàbền vững.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa
vụ đối với tài sản riêng của vợ, chồng
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tàisản riêng đối với vợ, chồng thông qua hoạt động thụ lý xét xử của Tòa án giảiquyết tranh chấp liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ đối với tài sảnriêng của vợ, chồng; Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật pháp luật về chế độtài sản riêng của vợ, chồng tại Phòng công chứng thông qua các hoạt độngcông chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản riêng của
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả sẽ phân tích, đánh giánhững vấn đề mang tính lý luận, những quy định của pháp luật và thực tiễnviệc vận dụng những quy định của pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụđối với tài sản riêng của vợ, chồng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi những quy định của phápluật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản riêng của vợ, chồng theo
Trang 10quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 và thực tiễn việc áp dụngnhững quy định của pháp luật đối với tài sản riêng của vợ, chồng.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng rất nhiều các phương phápnghiên cứu khác nhau Trong đó, phương pháp duy vật biện chứng và phươngpháp duy vật lịch sử giúp tác giả đánh giá được sự phù hợp của các quy địnhpháp luật đối với xã hội, tìm hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa chúng.Các quy định của pháp luật là tấm gương phản chiếu xã hội và xã hội là cơ sởthực tiễn của pháp luật
Luận văn cũng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và phát triển giađình, xã hội và đất nước
Cùng với đó, luận văn còn sử dụng phương thức thu thập tài liệu,phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, đánhgiá, tổng hợp và cùng với một số phương pháp khác Nhưng trong đó, phươngpháp chính được sử dụng là tổng hợp và phân tích, cụ thể là tổng hợp các vănbản quy phạm pháp luật, những thông tin thu nạp trong quá trình nghiên cứu
đề tài Sau đó, tiến hành phân tích và đưa ra đánh giá từng vấn đề, từ đó rút rakết luận chung về vấn đề đã nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đề tài nghiên cứu có những đóng góp quan trọng sau:
Những đóng góp về mặt lí luận của đề tài:
Đề tài đã góp phần làm rõ khái niệm về tài sản riêng của vợ chồng,quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng Từ việc nghiên cứu
và làm rõ quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối vớitài sản riêng, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo thiết thực và bổ ích chocác bạn sinh viên, học viên, các bạn nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạoluật không chỉ trong lĩnh vực HN&GĐ mà còn hướng tới trở thành một tài
Trang 11liệu thiết thực và toàn diện cho các nhà nghiên cứu, các nhà lập pháp,… vềvấn đề này.
Những đóng góp thực tiễn của đề tài:
- Đây là một công trình nghiên cứu có hệ thống, kết quả nghiên cứu sẽ
là nguồn tham khảo cho các hoạt động xây dựng chính sách pháp luật vềquyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng nói riêng và chế độ tàisản của vợ, chồng nói chung
- Luận văn đã tìm hiểu được thực tiễn việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng tại thành phố Hòa Bình từ đó có những
cơ sở để đánh giá được những kết quả đạt được cũng như những bất cập, hạnchế trong quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối vớitài sản riêng trên thực tế
- Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy địnhcủa pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng, tạo ra
sự thống nhất và hiệu quả trong việc áp dụng quy định này, phù hợp với yêucầu của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm có 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành
về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Chương 2 Thực tiễn áp dụng quy định về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng
đối với tài sản riêng tại thành phố Hòa Bình và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CỦA VỢ, CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN RIÊNG
1.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
1.1.1 Quyền có tài sản riêng của vợ, chồng
Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền sở hữu tài sản của mọi cá nhân,
và công nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng: "Mọi người có quyền sở
hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác"1 Mặt khác Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 cũng có quy định cụ thể
về quyền sở hữu tại Điều 158 theo đó cá nhân có quyền sở hữu trong đó baogồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Ví dụ nhưcác khoản thu nhập hợp pháp, của cải để dành, những tài sản do mình tạo ra
hay được thừa kế, tặng cho,
Trong quan hệ vợ chồng, xuất phát từ quy định của Hiến pháp vàBLDS 2015, Luật HN&GĐ cũng đã ghi nhận về chế độ tài sản của vợ chồng,trong đó có quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sảnriêng Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 43 Luật HN&GĐ
2014: "Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết
hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng
và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng" Từ quy định của luật ta thấy rằng, tài sản riêng có thể hình thành ở hai
1 Khoản 1 Điều 32 Hiến pháp 2013
Trang 13thời điểm, đó là có trước thời kì hôn nhân và có trong thời kì hôn nhân, đượcnhận diện thông qua việc xác lập, có giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng.
Như đã nói ở phần mở đầu thì tài sản là cơ sở kinh tế đảm bảo nhucầu của các thành viên của gia đình, có ảnh hưởng đến sự ổn định và pháttriển của mỗi gia đình Kể từ khi xác lập quan hệ hôn nhân bên cạnh quan hệnhân thân, vợ và chồng còn có những quan hệ về tài sản Các quan hệ về sởhữu tài sản của vợ chồng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của chế độ tài sản của
vợ chồng Pháp luật quy định có hai loại chế độ tài sản vợ chồng là chế độ tàisản vợ chồng theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định Vợ chồng cóquyền thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản áp dụng để phù hợp với điều kiệncủa bản thân và gia đình
Tài sản vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng của LuậtHN&GĐ Quan hệ hôn nhân của vợ chồng kéo theo sự phức tạp trong việcxác định khối tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng của vợ,chồng cũng như các lợi ích, quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khốitài sản đó Bởi tài sản của vợ và chồng khi đó có được từ rất nhiều nguồnkhác nhau: Tài sản vợ, chồng tạo lập trước thời kỳ hôn nhân, khối tài sảnđược vợ chồng tạo lập trong thời kì hôn nhân, khối tài sản được tặng, cho,thừa kế, và cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ những tài sản này Khi kết hôn vàxác lập quan hệ vợ chồng, kể từ thời điểm đó, pháp luật ghi nhận chế định về
"Tài sản chung của vợ chồng" được hình thành trên căn cứ hôn nhân Tuy
nhiên, trong thời kỳ hôn nhân sẽ vẫn tồn tại chế định về "Tài sản riêng của
vợ, chồng" nhằm phân định rõ ràng quyền lợi riêng của mỗi bên vợ, chồng.
Việc pháp luật ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồngxuất phát từ những lý do như sau:
Luật HN&GĐ ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng là việchiện thực hóa quy định của Hiến pháp về quyền sở hữu tài sản của cá nhân,đồng thời, cụ thể hóa những quy định về quyền sở hữu trong BLDS Quy định
Trang 14này được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, phong tụctập quán của Việt Nam qua các thời kỳ, từ đó, Nhà nước tạo điều kiện pháp lýcho một bên vợ, chồng có thể xác lập và thực hiện đầy đủ các quyền năngchiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản của mình Quy định này còn giúpNhà nước quản lý tốt hơn những quan hệ xã hội phát sinh từ khối tài sản riêngcủa vợ, chồng, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể trong xã hội Nếutrước khi kết hôn mà mỗi bên vợ, chồng đã tạo lập được một khối tài sản lớn
do công sức lao động có được trước khi kết hôn thì sau khi kết hôn đươngnhiên trở thành đồng sở hữu và có đầy đủ các quyền năng pháp lý như: chiếmhữu, sử dụng, định đoạt tài sản thì sẽ là một mâu thuẫn lớn đối với nguyên tắccủa BLDS về xác lập quyền sở hữu tài sản
Việc xác định tài sản trước khi cưới là tài sản chung dẫn đến khuynhhướng xấu trong hôn nhân Không ít trường hợp kết hôn vì tiền tài, tìm ngườigiàu có để kết hôn chứ không phải xuất phát từ tình yêu chân chính, do đó tácđộng xấu đến mục đích HN&GĐ tốt đẹp
Quy định về tài sản riêng của vợ, chồng tạo ra tính độc lập tương đốicho một bên vợ, chồng trong việc sử dụng, quản lý tài sản riêng Ở đây, vớimột hành lang pháp lý vững chắc, vợ chồng có thể chủ động tham gia vào cácquan hệ xã hội, tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại một cách chủđộng khi Nhà nước ta đã tạo ra một môi trường thuận lợi để các cá nhân, tổchức phát huy hết khả năng làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội Tuynhiên, việc vợ, chồng tham gia vào các quan hệ xã hội đó cũng đồng thời làmphát sinh nhiều vấn đề đòi hỏi cần được giải quyết, đặc biệt là xác địnhquyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong khối tài sản tham gia giao dịch Để đảmbảo lợi ích của bản thân, bên thứ ba khi thiết lập giao dịch đối với tài sản vợchồng thường quan tâm đến tài sản đó là tài sản chung hay tài sản riêng, phạm
vi quyền của chủ thể tham gia giao dịch đối với khối tài sản đó như thế nào,
để xác định được mức độ đảm bảo thực hiện giao dịch Vì vậy, những quyđịnh về xác định tài sản riêng của vợ, chồng, quyền và nghĩa vụ đối với tài
Trang 15sản riêng tạo sự minh bạch, thống nhất, là tiền đề tạo ra môi trường pháp lýthuận lợi, ổn định cho các quan hệ kinh tế - xã hội.
Việc quy định quyền có tài sản riêng còn là cơ sở để giải quyết cáctranh chấp liên quan đến tài sản vợ chồng Trên thực tế, khi vợ chồng chungsống hạnh phúc, hòa thuận thì vấn đề tài sản riêng ít khi đặt ra Tuy nhiên, khixảy ra tranh chấp thì quy định này trở lên rất cần thiết bởi nó góp phần bảo vệquyền lợi của bên vợ, chồng có tài sản và bên thứ ba ngay tình khi tham giaquan hệ đó
Ngoài ra, pháp luật còn hạn chế quyền của một bên vợ, chồng đối với tàisản riêng trong một số trường hợp cụ thể còn ràng buộc trách nhiệm của họvới gia đình, một mặt nâng cao ý thức xây dựng gia đình, một mặt tạo điều kiệncần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của tất cả các thành viên trong gia đình
Trong lĩnh vực HN&GĐ, Luật HN&GĐ điều chỉnh các quan hệ vềnhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thànhviên khác trong gia đình Việc thực hiện và áp dụng chế định tài sản của vợchồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thângiữa vợ chồng và giữa các thành viên của gia đình với nhau
1.1.2 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Theo khoa học pháp lý thì khái niệm quyền được định nghĩa: "là để chỉ
những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế" Đặc trưng của quyền đó là phải có sự ghi
nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của phápluật, có sự thừa nhận của xã hội, gắn liền với chủ thể là cá nhân, tổ chức,được thể hiện cụ thể trong đời sống, trong một cộng đồng nhất định
Nghĩa vụ là một khái niệm đã được định nghĩa tại Điều 274 BLDS
2015 Theo đó: "Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (gọi
Trang 16chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi chung là bên có quyền)".
Trong gia đình, quan hệ vợ chồng là quan hệ nền tảng ảnh hưởng đếnmọi mối quan hệ khác trong gia đình Quan hệ vợ chồng được xây dựng từ haiyếu tố tình cảm và vật chất Nếu như tình cảm là điều kiện cần cho một cuộchôn nhân có thể bắt đầu thì vật chất là điều kiện đủ để cuộc hôn nhân có thểduy trì và tồn tại Vật chất ở đây chính là tài sản của vợ và chồng, có thể là tàisản chung hoặc tài sản riêng để bảo đảm cuộc sống của gia đình Yếu tố vậtchất này đã được pháp luật quy định và điều chỉnh Quyền và nghĩa vụ của vợchồng đối với tài sản sẽ là cơ sở kinh tế vững chắc để gia đình thực hiện tốtcác quyền đối với các thành viên với nhau và đảm bảo thực hiện tốt các chứcnăng xã hội Thông qua các quy định của pháp luật, mỗi thành viên trong giađình sẽ xác định được quyền và nghĩa cụ của mình từ đó có cách ứng xử chophù hợp, đảm bảo lợi ích chung của gia đình và bản thân2
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm: "Quyền và nghĩa
vụ đối với tài sản riêng của vợ, chồng là những quyền và nghĩa vụ mà vợ, chồng được pháp luật cho phép thực hiện hoặc phải thực hiện bằng hành vi của mình trong thời kỳ hôn nhân liên quan đến những lợi ích về tài sản nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển của gia đình trong đời sống xã hội cũng như đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng đối với tài sản riêng của vợ, chồng, quyền lợi ích về tài sản của người khác có giao dịch với vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân" 3
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
2 nam-2014.htm.
https://text.123doc.org/document/4821799-che-dinh-tai-san-rieng-cua-vochong-theo-luat-hon-nhan-va-gia-dinh-3 https://text.123doc.org/document/ nhan.htm.
Trang 172598070-quyen-va-nghia-vu-ve-tai-sancua-vo-chong-trong-thoi-ky-hon-Pháp luật hiện hành ghi nhận và bảo hộ quyền có tài sản riêng của vợchồng cũng như việc xác định các nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sảnriêng thực sự cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả trong lý luận cũngnhư thực tiễn.
Luật HN&GĐ điều chỉnh các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợchồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình.Việc thực hiện và áp dụng chế định tài sản của vợ chồng góp phần củng cố,bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng và giữacác thành viên của gia đình với nhau Chế định tài sản của vợ chồng nóichung và chế định quyền và nghĩa cụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng nóiriêng góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh
tế, thương mại
Thứ nhất, việc quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng nhằm xác định rõ quyền năng pháp lý của vợ, chồng đối với tài sản riêng của họ
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có thể tự mình hoặc nhân danhngười ký kết rất nhiều hợp đồng, tham gia vào rất nhiều giao dịch Chế độ tàisản của vợ chồng giúp cho các giao dịch đó được đảm bảo thực hiện, vấn đềquyền và nghĩa vụ của các bên giam gia giao dịch liên quan đến tài sản vợchồng được bảo vệ Quy định của pháp luật về chế định tài sản của vợ chồngđược xây dựng dựa trên sự phát triển kinh tế - xã hội vì vậy, nó thể hiện tínhgiai cấp, thể hiện bản chất của chế độ chính trị - xã hội cụ thể Thông qua đó,
ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội
và ý chí của nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó Trong nhữngnăm qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tạo ra một môi trường hết sứcthuận lợi để các cá nhân có thể phát huy hết khả năng làm giàu cho chính
Trang 18mình, cho gia đình và cho xã hội4 Khi vợ, chồng tham gia vào các giao dịchdân sự, kinh tế cũng đồng thời làm phát sinh nhiều vấn đề đòi hỏi pháp luậtgiải quyết đặc biệt là về chủ thể tham gia giao dịch, quyền cũng như nghĩa vụtài sản của vợ, chồng trong các giao dịch đó.
Thứ hai, việc quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng nhằm xác định rõ trách nhiệm của vợ, chồng về những nghĩa vụ phát sinh liên quan đến tài sản riêng của họ
Xác định cụ thể tài sản riêng của một bên vợ, chồng cũng như việcquy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng làcăn cứ quan trọng để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản của vợchồng Pháp luật chính là căn cứ để Tòa án xác định tài sản chung, tài sảnriêng của vợ chồng và xác định trách nhiệm của mỗi bên trong việc quản lý,
sử dụng, định đoạt tài sản riêng đó Việc quy định về quyền và nghĩa vụ của
vợ, chồng đối với tài sản riêng không chỉ để bảo vệ quyền lợi của bên vợ,chồng có tài sản mà qua đó còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa người thứ ba ngay tình, của cộng đồng và của xã hội
Thứ ba, việc quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích của cá nhân vợ, chồng và lợi ích chung của gia đình, trong đó đề cao lợi ích chung: có quyền tự mình thực hiện giao dịch về tài sản riêng phục vụ cho nhu cầu riêng nhưng phải có trách nhiệm đối với nhu cầu thiết yếu của gia đình 5
Việc pháp luật hạn chế quyền của một bên vợ, chồng đối với tài sảnriêng của mình trong một số trường hợp thể hiện mong muốn của Nhà nướctrong việc tạo điều kiện cho họ thể hiện trách nhiệm với gia đình thông quaviệc đưa tài sản vào sử dụng chung, nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc, xã
4 https://text.123doc.org/document/ 4831805-xac-dinh-tai-san-rieng-cua-vochong.htm.
5 Trần Thị Hoàng Thái (2018), Giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 19hội ấm no, phát triển Theo tác giả, đây là một quy định cần thiết để bảo vệ tốtnhất quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, tránh những mâuthuẫn xảy ra làm tổn thương đến tình cảm và sự đoàn kết trong gia đình6.
1.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng trong trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Theo quy định của Luật HN&GĐ 2014, chế định tài sản của vợ chồngbao gồm chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định Do
đó: "Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc
chế độ tài sản theo thỏa thuận" Việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ
chồng dựa trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toànđộc lập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật Chế độ tài sản của vợchồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựachọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tàisản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu
Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: "Trong trường hợp hai bên
kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn" Theo đó, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của
vợ chồng thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền lợi cũng như trách nhiệm của
vợ, chồng về vấn đề tài sản, cho nên thỏa thuận này phải được vợ, chồng lậpthành văn bản có công chứng hoặc chứng thực7 Hình thức văn bản có côngchứng hoặc chứng thực với chữ ký của hai bên có thể được gọi theo nhiều
6 Trần Thị Hoàng Thái (2018), Giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
7 Nguyễn Thị Quyền (2017), Áp dụng pháp luật trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trang 20cách khác nhau như hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hoặc thỏa thuận tài sảncủa vợ chồng.
Điểm b khoản 1 Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ quy địnhnguyên tắc chung trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối vớitài sản Vợ và chồng có quyền tự do thỏa thuận với nhau về việc quản lý, sửdụng, định đoạt tài sản chung, riêng cũng như quyền và nghĩa vụ của họ khitham gia các giao dịch sử dụng khối tài sản đó
Nội dung của văn bản thỏa thuận được quy định tại Điều 48 LuậtHN&GĐ năm 2014 gồm:
"a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng
và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế
độ tài sản; d) Nội dung khác có liên quan".
Nhằm cụ thể hóa quy định này, khoản 1 Điều 15 Nghị định số126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một sốđiều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:
"1 Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:
a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
Trang 21c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng".
Trong trường hợp thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phátsinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõràng thì áp dụng quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định8 Cácquy định này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ, chồng
đã lựa chọn là chế độ tài sản theo thỏa thuận hay chế độ tài sản theo luật định.Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa ántuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 Luật HN&GĐ năm
20149 Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn
đề chưa được vợ, chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụngquy định tại các điều 29, 30, 31, 32 của Luật HN&GĐ 2014 và quy địnhtương ứng của chế độ tài sản theo luật định Theo đó, các quy định về chế độtài sản theo luật định được quy định từ Điều 29 đến Điều 32 của LuậtHN&GĐ năm 2014, cụ thể như sau:
- Vợ và chồng bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc tạolập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Điều này sẽ không phân biệtgiữa lao động có thu nhập và lao động không có thu nhập, đều có nghĩa vụđảm bảo điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng không được xâm phạm đến và lợiích của vợ, chồng, gia đình và người khác, nếu không sẽ phải bồi thường
- Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đảm ứngnhu cầu thiết yếu của gia đình bằng tài sản chung của vợ, chồng Trongtrường hợp vợ, chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để
8 Đào Thị Tuyết (2016), Chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
9 Đào Thị Tuyết (2016), Chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 22đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng gópbằng tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.
- Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà lànơi ở duy nhất của vợ, chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng Trongtrường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu cóquyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưngphải đảm bảo chỗ ở cho vợ, chồng
- Đối với các giao dịch với người thứ ba ngay tình, người đứng tên tàikhoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán thì sẽ được coi là người có quyềnxác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp BLDS
có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.10 Những quy định về nộidung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng tương đối chặt chẽnhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan, ổn định trật tự về quan
hệ tài sản của vợ, chồng trong xã hội, giúp tránh được những khó khăn có thểxảy ra trong quá trình soạn thảo nội dung thỏa thuận hay áp dụng
Tuy vợ chồng có quyền tự do thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ về tàisản nhưng cũng có những điều kiện nhất định mà vợ chồng phải tuân theo Đó
là thỏa thuận phải bảo đảm không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp củangười thứ ba 11 Để bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba, Nghị định126/2014/NĐ-CP quy định người có quyền và lợi ích liên quan có quyền yêucầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của LuậtHN&GĐ nếu thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trái với quy định tại cácĐiều 29, 30, 31 và 32 của Luật HN&GĐ Bên cạnh đó, trường hợp chế độ tàisản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giaodịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin
10 Nguyễn Thị Kim Dung (2014), Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
11 Lê Thị Hòa (2016), Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
Trang 23liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi làngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của BLDS.
1.2.2 Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng trong trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
1.2.2.1 Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Điều 44 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về chiếm hữu, sử dụng,định đoạt tài sản riêng như sau:
"1 Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
3 Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
4 Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ".
Từ quy định này, chúng ta có thể thấy vợ, chồng có các quyền đối vớitài sản riêng như sau:
- Quyền chiếm hữu tài sản riêng
Chiếm dữ là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếphoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản [5] Luật HN&GĐ 2014quy định về quyền chiếm hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng nghĩa lànghĩa là người vợ hoặc người chồng được thực hiện mọi thành vi theo ý chícủa mình để nắm giữ, chi phối tài sản riêng của mình Tuy nhiên, hành vi nàykhông được trái với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Mặc
dù pháp luật cho phép một bên vợ chồng có toàn quyền quản lý tài sản riêng
Trang 24của họ nhưng trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng không thể tự mìnhhay không thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng thì bên còn lại
có quyền quản lý tài sản đó Việc ủy quyền này chỉ cho phép thực hiện việcchiếm hữu tài sản nêu trong ủy quyền theo cách thức, phạm vi, giới hạn dongười ủy quyền quyết định12 Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tựmình quản lý tài sản riêng, người còn lại có quyền quản lý tài sản đó màkhông bị giới hạn về cách thức, thời hạn hay phạm vi Điểm giống nhau trongtrường hợp này là người được ủy quyền và người còn lại đều không thể trởthành chủ sở hữu đối với tải sản được ủy quyền hoặc được chiếm hữu
- Quyền sử dụng tài sản riêng
Theo Điều 189 BLDS năm 2015, quyền sử dụng là quyền khai tháccông dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản
Luật HN&GĐ năm 2014 thừa nhận quyền sử dụng của vợ, chồng đốivới tài sản riêng của họ Người vợ hoặc người chồng có quyền sử dụng tài sảncủa mình để đáp ứng các nhu cầu cá nhân hoặc thỏa thuận cùng sử dụng tàisản riêng của mỗi bên nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình Nhưng tất
cả những hành vi sử dụng đó không được trái với quy định của pháp luật,không được gây thiệt hại tới lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặcgây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Pháp luật hiện nayquy định trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng không đủ để đảm bảođời sống của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng vì lợiích chung của gia đình Đây cũng là điều phù hợp với truyền thống vun vén tàisản để phục vụ những lợi ích cần thiết cho gia đình của Việt Nam Những tàisản đã chi dùng cho gia đình thì người có tài sản không được quyền đòi lại13
- Định đoạt tài sản riêng
12 Nông Thị Thoa (2017), Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
13 Đào Thị Tuyết (2016), Chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 25Về nguyên tắc, vợ, chồng có quyền tự mình định đoạt tài sản riêng màkhông phụ thuộc vào ý chí của người còn lại Điều này đồng nghĩa với việctrong mọi trường hợp, một bên vợ, chồng đều có quyền bán, trao đổi, tặng,cho, thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu,……hoặc thực hiện bất cứ hình thức nàonhằm định đoạt tài sản miễn là không trái với quy định của pháp luật Tuynhiên, khi chung sống với nhau, vợ chồng có quyền thỏa thuận về việc sửdụng tài sản riêng của mỗi bên để khai thác tốt nhất giá trị sử dụng của tàisản.
- Quyết định nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung
Pháp luật cho phép một bên vợ, chồng có quyền quyết định việc nhậphay không nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung Đây thực chất làquyền định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung của vợ, chồng Nhưngquyết định nhập hay không nhập sẽ quyết định việc tài sản đó có còn là tài sảnriêng nữa không? và phải thực hiện theo trình tự, thủ tục theo quy định củapháp luật Ví dụ như nếu vợ, chồng muốn sáp nhập nhà ở, quyền sử dụng đấthay nhưng tài sản có giá trị lớn thuộc sở hữu của một bên vào tài sản chungcủa vợ chồng thì phải lập thành văn bản có đầy đủ chữ ký của hai bên vàchứng thực theo quy định Nếu việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung đểtrốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thì việc nhập tài sản đó vào khối tài sảnchung là vô hiệu14
Ngoài ra, việc nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sảnchung sẽ tạo ra tác động lớn đối với việc sử dụng tài sản của vợ, chồng hoặccủa cả gia đình Trong những trường hợp mà yêu cầu thực tế bắt buộc họ phảiquyết định nhập tài sản và tài sản người đó sẽ nhập có giá trị lớn, có thể thayđổi tình trạng của gia đình đối với yêu cầu thực tế nêu trên, quyết định nhậptài sản riêng của người đó là hợp lý và không cần phải bàn cãi thêm Nhưng
14 Nông Thị Thoa (2017), Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 26đối với trường hợp yêu cầu về tài sản đối với tài sản chung của vợ chồng làquá lớn, mà nếu không có tài sản riêng của vợ hoặc của chồng thì sẽ khôngthể giải quyết được mà người đó lại quyết định không nhập tài sản riêng vàotài sản chung thì quyết định này vẫn hợp pháp, nhưng không hợp lý Do vậy,việc nhập tài sản riêng của cá nhân người vợ hoặc người chồng vào tài sảnchung của vợ chồng cần có sự thỏa thuận và quyết định chắc chắn, lập thànhvăn bản có đầy đủ chữ ký, dấu vân tay hoặc bất kỳ hình thức nào khác xácnhận sự đồng ý của cả hai vợ chồng và phải có chứng thực của văn phòngcông chứng nhằm tránh những rắc rối có thể phát sinh.
1.2.2.2 Nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Pháp luật bên cạnh việc ghi nhận quyền thì cũng ghi nhận nghĩa vụcủa vợ, chồng đối với tài sản riêng của họ
- Mỗi bên vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng mình.
Mỗi người đều phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác vàquan hệ vợ chồng cùng không làm thay đổi quy tắc này Vợ, chồng phải tôntrọng tài sản riêng của nhau, không được ép buộc đối phương phải nhập tàisản riêng vào tài sản chung hay cản trở họ thực hiện các quyền năng chiếmhữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản riêng, trừ các trường hợp hạn chế khác
do pháp luật quy định Ngoài ra, bên vợ, chồng không chủ sở hữu sẽ khôngđược tự ý định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng mình khi chưa được đồng ý
- Mỗi bên vợ, chồng có nghĩa vụ dùng tài sản riêng để đảm bảo nhu cầu đời sống chung của gia đình
Thông thường, khi vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc thìkhông có sự phân biệt trong việc sử dụng tài sản riêng của vợ, chồng Tài sảnchung hay tài sản riêng đều được vợ chồng sử dụng để đảm bảo nhu cầu đờisống chung của gia đình Tuy nhiên, khi quan hệ vợ chồng xảy ra vấn đề, mặc
dù không muốn sử dụng tài sản riêng nhưng xuất phát từ việc đảm bảo cuộc
Trang 27sống chung của gia đình, quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng cóthể bị hạn chế.
Trường hợp hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theoquy định tại khoản 4 Điều 44 Luật HN&GĐ năm 2014 Tức là vợ, chồng cótài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất củagia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ Nhưvậy, theo quy định tại điều này thì quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
đã bị hạn chế15 Tài sản riêng của vợ chồng đã được đưa vào sử dụng chung
mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thìviệc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự đồng ý, thỏa thuận của vợchồng16 Quy định này dựa trên truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam,luôn có sự yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên tronggia đình
Mặc dù theo quy định của pháp luật HN&GĐ, vợ, chồng có quyền cótài sản riêng, nhưng trong thực tế cuộc sống chung của vợ chồng thườngkhông phân biệt tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng Tài sản riêngcủa vợ và chồng nếu đã được đưa sử dụng mà hoa lợi, lợi tức thu được từ tàisản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng
đó phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng nhằm đảm bảo ổn định cuộc sốngchung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng, nghĩa vụ nuôidưỡng, giáo dục con cái Như vậy cũng là đảm bảo lợi ích chung của toàn xãhội, vì gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Sự tồn tạibền vững của gia đình là cơ sở cho sự ổn định và phát triển của toàn xã hội
Trường hợp hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo
quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2014: "Trong trường hợp vợ
15 Trần Thị Thùy Linh (2018), Xác định tài sản chung, riêng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi
cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
16 Trần Thị Hoàng Thái (2016), Giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
Trang 28chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên".
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định trong trường hợp cuộc sống chungcủa gia đình gặp nhiều khó khăn vợ chồng không có tài sản chung hoặc tàisản chung của vợ, chồng không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
mà người vợ, chồng có tài sản riêng thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp phầntài sản riêng theo khả năng kinh tế của mình để bảo đảm cuộc sống chung củagia đình17 Nghĩa vụ này của vợ, chồng xuất phát từ việc bảo đảm lợi íchchung của gia đình
Căn cứ quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì "Nhu
cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiểu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình" Xuất phát từ tỉnh cộng đồng của quan
hệ hôn nhân và lợi ích chung của gia đình chúng ta có thể thấy vợ chồng trênnguyên tắc có quyền và nghĩa trong việc đóng góp tài sản để thanh toán cácchi phí phục vụ cho nhu cầu cuộc sống chung của gia đình Tuy nhiên, Luật
HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể " vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài
sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên".
- Vợ chồng cùng tham gia xác lập, thực hiện giao dịch
Căn cứ xác định trách nhiệm tài sản của vợ chồng trong giao dịch do
vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập là dựa vào sự thể hiện ý chí của vợ chồng,hay nói cách khác sự thể hiện đồng thuận ý chí của hai vợ chồng trong việcxác lập giao dịch là cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ chung về tài sản của vợchồng Sự thể hiện ý chí của vợ chồng thường được thể hiện dưới hai hìnhthức: cả hai vợ chồng cùng tham gia xác lập, thực hiện giao dịch hoặc một
17 Đào Thị Tuyết (2016), Chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 29bên vợ, chồng tham gia xác lập, thực hiện giao dịch với tư cách là người đạidiện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của bên chồng hoặc vợ.Trong cả hai trường hợp này, vợ chồng được xác định là một bên chủ thểtrong quan hệ nghĩa vụ (người có nghĩa vụ) phải đáp ứng yêu cầu của người
có quyền
Giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập làm phát sinh nghĩa vụchung về tài sản của vợ chồng có thể là giao dịch liên quan đến tài sản chungcủa vợ chồng hoặc tài sản riêng của mỗi bên Luật không quy định mục đíchxác lập giao dịch nên có thể hiểu giao dịch đó là vì lợi ích chung của gia đìnhhoặc lợi ích riêng của một bên mà không nhất thiết phải vì lợi ích của giađình
Trong trường hợp này, sự tham gia của cả hai vợ chồng thể hiện giữa
vợ chồng đã có sự thỏa thuận với nhau về việc cả hai đồng ý cùng tham giaxác lập, thực hiện giao dịch và cùng gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từgiao dịch đó Việc cả hai vợ chồng cùng được xác định là bên chủ thể cónghĩa vụ chính là cơ sở để chủ thế quyền có quyền yêu cầu hai vợ chồng phảithực hiện nghĩa vụ tài sản, và khối tài sản chung của vợ chồng sẽ được sửdụng để thanh toán nghĩa vụ đối với người có quyền18
Nghĩa vụ tài sản phát sinh trong giao dịch do vợ chồng cùng thỏathuận xác lập có thể là nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trảtiền hoặc giấy tờ có giá theo nội dung các bên đã thỏa thuận hoặc theo quyđịnh của pháp luật
- Vợ hoặc chồng tham gia các giao dịch với tư cách là người đại diện của nhau.
Khi vợ, chồng đại diện cho nhau thực hiện các giao dịch thì Luật
HN&GD năm 2014 quy định về tính chịu trách nhiệm như sau: "Vợ chồng
18 Nông Thị Thoa (2017), Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 30chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện phù hợp với quy định về đại diện được quy định tại Điều 24, 25, 26 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014".
Khi phát sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng thì vợ chồng sẽ cùngnhau gánh chịu nghĩa vụ bằng tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Chủ thể
có quyền có quyền yêu cầu vợ chồng hoặc yêu cầu vợ hoặc yêu cầu chồngthực hiện toàn bộ nghĩa vụ Nếu tài sản chung của vợ chồng không đủ thựchiện nghĩa vụ thì vợ, chồng phải có trách nhiệm dùng tài sản riêng của mìnhthực hiện cho đủ Trong trường hợp vợ, chồng ủy quyền cho nhau thực hiệngiao dịch thì sẽ phụ thuộc vào phạm vi ủy quyền Nếu nằm trong phạm vi ủyquyền thì bên đã dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ không được đòi lạitài sản đó Nhưng nếu không có sự ủy quyền mà một bên vợ hoặc chồng lạithực hiện những giao dịch bắt buộc phải có sự đồng ý của vợ chồng hoặc mộtbên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch vượt quá phạm vi ủy quyền mà phátsinh hậu quả thì phải gánh chịu những hậu quả đó theo quy định của pháp luật
dân sự: "Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm
vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện".
Trong trường hợp đặc biệt, nhằm đảm bảo quyền lợi của người thứ bangay tình thì trách nhiệm liên đới của vợ chồng cũng được đặt ra đối với giaodịch do một bên vợ chồng tự mình thực hiện liên quan đến tài sản do một bên
vợ hoặc chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sửdụng tài sản phù hợp với quy định của BLDS Vậy khi phát sinh trách nhiệmliên đới mà tài sản chung của vợ chồng không đủ để thực hiện nghĩa vụ màmột bên phải dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ thi bên kia phải có
Trang 31nghĩa vụ hoàn lại phần tài sản của mình phải gánh chịu, trừ trường hợp vợchồng có thỏa thuận khác.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm
Trường hợp này được xác định là bồi thường thiệt hại do nhiều ngườicùng gây ra BLDS năm 2015 quy định: Trường hợp nhiều người cùng gâythiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác địnhtương ứng với mức độ lỗi của mỗi người Nếu không xác định được mức độlỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau Tuy nhiên trongtrường hợp vợ chồng cùng gây thiệt hại thì xác định trách nhiệm liên đới đặcbiệt hơn vì ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luậtdân sự thì vợ, chồng còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật HN&GD.Trách nhiệm tài sản trong trường hợp này là trách nhiệm chung của vợ chồng,bởi cả hai vợ chồng đều được xác định là chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ, tức
là vợ chồng phải bồi thường bằng tài sản chung hợp nhất Vợ chồng phải bồithường một khoản tiền hoặc tài sản để bù đắp thiệt hại đã gây ra Nếu tài sảnchung của vợ chồng không đủ để bồi thường thì vợ chồng có trách nhiệm bồithường bằng tài sản riêng, nghĩa là vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đớibằng tài sản riêng của mình theo kỷ phần đã được xác định để thực hiện nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại đối với người bị thiệt hại
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được xác định là nghĩa vụ chung về tàisản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng cùng gây thiệt hại Do vậy,trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kếthôn, không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng, khi họ cùng gây thiệt hại,giữa họ không tồn tại quan hệ hôn nhân nên không thể coi đó là nghĩa vụchung về tài sản của vợ chồng, mà việc bồi thường được thực hiện bằng tàisản riêng của mỗi người Ở đây, sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp là
Trang 32căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, còn hành vi cùng gâythiệt hại của vợ chồng đối với người thứ ba là cơ sở làm phát sinh nghĩa vụchung của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại đã gây ra, bên cạnh nhữngdấu hiệu khác theo quy định của BLDS như hành vi gây thiệt hại của vợchồng phải là hành vi trái pháp luật, có lỗi của cả hai vợ chồng, có mối liên hệnhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả xảy ra, Khi thỏa mãn nhữngđiều kiện này, vợ chồng đã thực hiện hành vi gây thiệt hại đến tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Tráchnhiệm tài sản trong trường hợp này được xác định là trách nhiệm liên đới giữa
vợ chồng, do vậy người bị thiệt hại có quyền yêu cầu vợ chồng hoặc một bên
vợ, chồng bồi thường thiệt hại đã gây ra Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trướchết được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng, nếu khối tài sản chungcủa vợ chồng không đủ để bồi thường thiệt hại thì vợ, chồng có nghĩa vụ dùngtài sản riêng của mình để bồi thường phần còn thiếu tương ứng với mức độ lỗicủa mỗi người đối với thiệt hại đã xảy ra, nếu không xác định được mức độlỗi của mỗi người thì vợ, chồng phải bồi thường theo phần bằng nhau
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
Khi một bên vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện các giao dịch mà không
có sự thỏa thuận của người kia thì về nguyên tắc, giao dịch được xác lập chỉlàm phát sinh quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng của người đã xác lập giaodịch Vợ hoặc chồng có tài sản riêng có toàn quyền định đoạt tài sản đó màkhông phụ thuộc vào ý chí của chồng hay vợ mình, do đó không cần có sựthỏa thuận của vợ chồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 44 LuậtHN&GÐ năm 201419 Tuy nhiên đối với những giao dịch hợp pháp nhằm đáp
19 Nguyễn Thị Quyền (2017), Áp dụng pháp luật trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 33ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì chỉ cần một bên vợ hoặcchồng xác lập, không cần có sự thỏa thuận của vợ chồng vẫn làm phát sinhtrách nhiệm liên đới về tài sản của cả vợ chồng mà không phụ thuộc vào giátrị của giao dịch là lớn hay nhỏ.
Quy định này quy kết trách nhiệm chung của vợ chồng trong các giaodịch mà một bên thực hiện vì nhu cầu của gia đình và khẳng định quyền tựchủ của họ trong việc thực hiện các nhu cầu thiết yếu của gia đình Bởi đâykhông chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của vợ, chồng nhằm đảm bảo duy trìcuộc sống cơ bản, bình thường của gia đình Luật HN&GÐ năm 2014 quyđịnh: "Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhucầu thiết yếu của gia đình" Luật HN&GĐ cũng đã quy định rõ nhu cầu nàođược xác định là nhu cầu thiết yếu, bao gồm: nhu cầu sinh hoạt thông thường
về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thôngthường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình,
Những giao dịch này mặc dù chỉ do một bên xác lập, thực hiện nhưngmục đích lại vì gia đình nên sẽ phát sinh trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng.Nghĩa vụ liên đới được xác định trên cơ sở hôn nhân và không đề cập đến việc
vợ chồng có chung sống cùng nhau hay không Do đó, nghĩa vụ liên đới cũngkhông tồn tại giữa những người chung sống với nhau như vợ, chồng nhưng sẽtồn tại ngay cả khi vợ, chồng kết hôn hợp pháp nhưng không ở cùng nhau Tuynhiên, để phát sinh nghĩa vụ liên đới thì phải đảm bảo một số điều kiện như sau:
- Đó phải là giao dịch hợp pháp
- Đó phải là giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
Mặc dù pháp luật đã có những giải thích về nhu cầu thiết yếu của giađình nhưng việc áp dụng trên thực tế vẫn phát sinh rất nhiều bất cập Khảnăng kinh tế của mỗi hộ gia đình là khác nhau, nên có thể xảy ra trường hợpgiao dịch là nhu cầu thiết yếu đối với gia đình này nhưng đối với gia đình
Trang 34khác thì không Điều này sẽ gây ra khó khăn cho Tòa án trong việc xét xử cáctranh chấp liên quan đến nghĩa vụ trên
- Nghĩa vụ phát sinh từ tài sản riêng để duy trì tài sản chung hoặc đểtạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình
Về nguyên tắc, nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng của vợ chồng sẽ
do khối tài sản riêng của người đó chi trả Tuy nhiên, đối với việc sử dụng tàisản đó để duy trì, phát triển khối tài sản chung nhằm tăng thêm giá trị khối tàisản chung của vợ chồng thì các nghĩa vụ phát sinh liên quan đến khối tài sảnnày sẽ được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng và do khối tài sảnchung đảm bảo thực hiện
Tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng được sử dụng để thỏa mãn nhucầu của chủ sở hữu đó và việc định đoạt tài sản riêng về nguyên tắc sẽ hoàntoàn phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu tài sản Tuy nhiên, trong nhiều giađình, do tài sản chung không đủ để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cácthành viên trong gia đình, mà một thành viên trong gia đình có tài sản riêngthì phải sử dụng khối tài sản đó để đảm bảo cuộc sống cho gia đình Mặc dùtài sản đó vẫn là tài sản riêng của người đó nhưng nghĩa vụ phát sinh từ tàisản đó sẽ là nghĩa vụ của vợ và chồng
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định củaBLDS cha mẹ phải bồi thường
Đây là trách nhiệm bổ sung của cha mẹ bên cạnh nghĩa vụ nuôidưỡng, chăm sóc con Cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại docon gây ra do lỗi của cha mẹ vì đã thiếu trách nhiệm trong việc trông nom,chăm sóc, giáo dục, quản lý con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mấtnăng lực hành vi dân sự để con gây thiệt hại
Khoản 5 Điều 37 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: "Cha mẹ phải bồi
thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự".
Trang 35Cụ thể:
+ Đối với con chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Người chưa đủ mười lăm tuổigây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại:nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gâythiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừtrường hợp quy định tại Điều 599 của Luật này"
Như vậy, nếu người con gây thiệt hại thì cha mẹ phải bồi thường toàn
bộ thiệt hại bằng tài sản chung Nếu tài sản chung của cha mẹ không đủ đểbồi thường thì phải sử dụng tài sản riêng để bồi thường phần còn thiếu
+ Đối với con chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gâythiệt hại
Ở lứa tuổi này, người con phải tự bồi thường thiệt hại bằng tài sảnriêng của mình Nếu tài sản riêng của con không đủ bồi thường thiệt cha mẹphải bồi thường bằng tài sản chung Nếu tài sản chung của cha mẹ không đủthì phải sử dụng đến phần tài sản riêng của mỗi người Như vậy, trường hợpnày tương tự như trường hợp con chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại
+ Đối với con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại:Nếu người con đó gây thiệt hại không phải do lỗi của tổ chức đangquản lý thì cha mẹ phải sử dụng tài sản của con để bồi thường Nếu conkhông có đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ sẽ phải lấy tài sản của mình đểbồi thường nếu có lỗi Trong trường hợp vợ, chồng với tư cách là cha mẹ và
là người giám hộ cho con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự vìngười con này không có vợ, chồng hoặc có vợ, chồng, con nhưng vợ, chồng,con không đủ điều kiện làm giám hộ, khi người con gây thiệt hại thì đươngnhiên vợ chồng phải chịu trách nhiệm chung về tài sản để bồi thường thiệt hại
do con gây ra
Trang 361.2.2.3 Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
Bên cạnh các nghĩa vụ đối với tài sản riêng như đã nêu ở trên, trongquá trình thực hiện quan hệ HN&GĐ, vợ, chồng còn có những nghĩa vụ riêngkhác về tài sản Những nghĩa vụ này có thể phát sinh ngoài quan hệ chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng, chẳng hạn, nghĩa vụ phát sinh từhành vi trái pháp luật của vợ, chồng Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồngđược quy định tại Điều 45 Luật HN&GĐ năm 2014 Những nghĩa vụ này đối lậpvới những nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng được quy định tại Điều 37Luật HN&GĐ năm 2014 Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để xác định trongmột trường hợp nhất định liên quan đến tài sản, nghĩa vụ sẽ thuộc về người vợ,người chồng hay cả hai bên vợ chồng20 Điểm cơ bản nhất để phân biệt giữanghĩa vụ chung của vợ chồng hoặc nghĩa vụ riêng của vợ, chồng chính là mụcđích giao dịch của mỗi bên vợ, chồng Nếu một bên thực hiện giao dịch vì lợi íchchung của gia đình thì đó sẽ được xác định là nghĩa vụ chung Nếu một bên thựchiện nghĩa vụ vì lợi ích cá nhân thì sẽ được xác định là nghĩa vụ riêng LuậtHN&GĐ năm 2014 cũng đã tính đến các trường hợp nghĩa vụ đã tồn tại từ trướckhi phát sinh quan hệ hôn nhân hoặc từ hành vi vi phạm pháp luật của một bên
vợ hoặc chồng Một căn cứ quan trọng nữa để xác định nghĩa vụ chung hay nghĩa
vụ riêng của vợ chồng là việc vợ chồng đã sử dụng loại tài sản nào để thực hiệngiao dịch Nếu vợ chồng sử dụng tài sản riêng vào mục đích riêng, nghĩa vụ phátsinh sẽ là nghĩa vụ riêng về tài sản của họ, còn sử dụng tài sản riêng vào mụcđích trang trải cho cuộc sống gia đình, nghĩa vụ phát sinh sẽ là nghĩa vụ chung
Thứ nhất, nghĩa vụ của vợ, chồng có trước khi kết hôn
Chế độ đồng sản xác định tài sản chung là những tài sản có trong thời
kì hôn nhân Những tài sản khác có trước thời kì hôn nhân, bao gồm: độngsản, bất động sản, hay những tài sản được thừa kế riêng, sẽ thuộc quyền
20 Nguyễn Thị Quyền (2017), Áp dụng pháp luật trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trang 37sở hữu riêng của một bên vợ, chồng Điều này một mặt không làm phá vỡ chế
độ tài sản chung của vợ chồng mặt khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vợ,chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng củamình, ngăn chặn việc kết hôn chỉ nằm vào khối tài sản có sẵn của bên kia
Do tính chất của chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là chế độcộng đồng tạo sản, trong đó xác định những tài sản mà mỗi bên có trước khikết hôn là tài sản riêng của vợ chồng, tương ứng với điều đó thì những nghĩa
vụ của vợ, chồng có trước khi kết hôn cần phải là nghĩa vụ riêng của mỗi bên
Sự kiện kết hôn không làm thay đổi tính chất của loại nghĩa vụ này, không thểchuyển hóa thành nghĩa vụ chung của vợ chồng
Thứ hai, nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng
Như đã đề cập trước đó, quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản làquyền được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản dưới luật Tuy nhiên, điđôi với quyền sở hữu tài sản thì vợ chồng sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ phátsinh từ việc thực hiện quyền sở hữu đó Ta có thể lấy một ví dụ để chứng minhcho vấn đề này, quyền sở hữu nhà ở là tài sản riêng của một bên (người vợ hoặcngười chồng) từ trước khi kết hôn, sau khi kết hôn không có thỏa thuận xác địnhnhà ở đó là tài sản chung, thì người vợ hoặc người chồng phải thực hiện mọinghĩa vụ đối với nhà ở của riêng họ theo quy định tại Điều 11 Luật Nhà ở năm
2014 Tuy nhiên, nghĩa vụ này sẽ được loại trừ khi họ sử dụng đó để duy trì,phát triển khối tài sản chung của gia đình, tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của giađình Lúc này, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng sẽ trở thành nghĩa vụchung Điều này cũng phù hợp với quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 khixác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng thuộc tài sảnchung, trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì hoa lợi,lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia mới là tài sản riêngcủa người đó
Trang 38Thứ ba, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình
Trước tiên, cần phải xác định rõ nhu cầu của gia đình trong trường hợpnày là những nhu cầu như thế nào Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ đưa ra địnhnghĩa về nhu cầu thiết yếu tại khoản 20 Điều 3, tuy nhiên, có thể hiểu rằng nhucầu của gia đình tại đây đã bao gồm toàn bộ nhu cầu thiết yếu đã được nêu tạikhoản 20 Điều 3 (nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập,khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác) của các giađình trên lãnh thổ Việt Nam Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 45 LuậtHN&GĐ năm 2014, nếu một bên người vợ hoặc người chồng xác lập, thựchiện một giao dịch dân sự về tài sản riêng của người đó, và giao dịch đó hoàntoàn biệt lập với các nhu cầu của gia đình người vợ hoặc người chồng (ví dụnhư giao dịch về thương mại của cá nhân người tham gia giao dịch, khôngliên quan đến nhu cầu sinh hoạt thông thường của gia đình), thì người thamgia giao dịch phải tự mình thực hiện tất cả các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịchngười đó đã tham gia, không được chia sẻ nghĩa vụ phải thực hiện với ngườicòn lại trong quan hệ hôn nhân hoặc với bất kỳ người trong gia đình nào khác
Thứ tư, nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ hoặc chồng
Vi phạm pháp luật là hành vi trái luật và có lỗi do chủ thể có năng lựchành vi thực hiện làm xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.Các dấu hiệu để nhận biết một hành vi vi phạm pháp luật bao gồm:
+ Vi phạm pháp luật là hành vi (biểu hiện ra bên ngoài, ra thế giớikhách quan), nó có thể tồn tại dưới dạng hành động, không hành động, nhưngmọi suy nghĩ của con người không bao giờ được coi là vi phạm pháp luật;
+ Vi phạm pháp luật là hành vi phải trái với yêu cầu cụ thể của phápluật, với biểu hiện là những gì pháp luật cấm không làm những gì mà phápluật yêu cầu/sử dụng quyền mà pháp luật trao nhưng vượt quá giới hạn; Có lỗi