MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CHUNG VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 7 1 1 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng 7 1 2 Căn cứ pháp[.]
Trang 11.2 Căn cứ pháp lý xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng 13
Chương 2: NGHĨA VỤ CHUNG VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN LUẬT ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN
2.1 Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận
xác lập và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình 202.2 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ
chồng cùng phải chịu trách nhiệm và thực tiễn thực hiện tại tỉnh
2.3 Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của gia đình và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình 312.4 Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản chung và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình 342.5 Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát
triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu
40
Trang 2của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường và thực tiễn thực
2.7 Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan và thực
Chương 3: NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TỪ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CHUNG VỀ TÀI SẢN
3.1 Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc
thực hiện pháp luật về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây tỷ lệ các vụ án về hôn nhân và gia đình ởnước ta đang có chiều hướng gia tăng, bên cạnh những nguyên nhân phổ biếnnhư tính cách, lối sống, quan niệm không thể hòa hợp còn xuất hiện mộtnguyên nhân mới dẫn đến những mâu thuẫn lớn trong cuộc sống của các giađình hiện đại, đặc biệt với những gia đình trẻ, đó là tranh chấp về nghĩa vụchung về tài sản
Thực tiễn trên địa bản tỉnh Hòa Bình từ năm 2015 đến năm 2019, sốlượng các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) tăng giảm khôngđồng đều Năm 2015 so với năm 2016 số vụ án Tòa án thụ lý giảm Sau đó sốlượng vụ án tăng mạnh vào năm 2017 và giảm nhẹ ở các năm 2018 và 2019.Tuy nhiên nhìn chung trong vòng 05 năm số lượng vụ án có chiều hướngtăng Cụ thể năm 2015 Tòa án thụ lý 1.732 vụ án, năm 2016 Tòa án thụ lý1.490 vụ án, năm 2017 tăng đột biến, Tòa án thụ lý 2.400 vụ án, đến năm 2018giảm còn 2.286 vụ án và tăng nhẹ ở năm 2019 khi Tòa án thụ lý 2299 vụ án1
Nhìn chung các vụ án HN&GĐ trên địa bàn tỉnh có nội dung chủ yếu
về đề nghị giải quyết ly hôn, chia tài sản chung, giải quyết con chung, giảiquyết công nợ và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
1 Theo Báo cáo tổng kết các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình.
Trang 5Luật HN&GĐ đã quy định tại Điều 37 về "Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng", tuy nhiên việc áp dụng pháp luật trên thực tế vẫn còn nhiều bất
cập, lúng túng Với đặc thù là một tỉnh miền núi Tây Bắc, Hòa Bình có địa hìnhphức tạp, mật độ dân số không lớn, cơ sở hạ tầng còn hạn chế so với các tỉnh,thành phố khác dẫn đến mặt bằng trình độ học vấn của người dân chưa cao.Mặt khác, sự phát triển của xã hội đã làm gia tăng tình trạng tranh chấp về nghĩa
vụ chung về tài sản của vợ chồng, phát sinh nhiều diễn biến mới khó lường
trước Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng trong chế độ tài sản luật định và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình"
là cần thiết nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận của quy định pháp luật về nghĩa vụchung về tài sản của vợ chồng, nghiên cứu thực tiễn thực hiện, áp dụng phápluật giải quyết các tranh chấp về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng tạitỉnh Hòa Bình, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiệnquy định của pháp luật về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng trong chế
độ tài sản luật định
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhóm các luận văn, luận án
Một số công trình nghiên cứu như: Nguyễn Hồng Hải (2002), Xác định chế độ tài sản của vợ chồng, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Văn Cừ (2005),
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận
án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Các công trình này đãnghiên cứu, phân tích và đưa ra định nghĩa về chế độ tài sản của vợ chồng
2
Trang 6Nông Thị Thoa (2017), Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của
vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, đã nghiên cứu, phân tích những vấn đề lýluận liên quan đến nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, quy định về nghĩa
vụ chung về tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam
Nguyễn Bảo Trâm (2018), Giải quyết các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân từ thực tiễn xét xử của Tòa án, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn này đã nghiên cứu
cụ thể các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, nghiên cứu từ thực tiễn xét
xử của tòa án
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đề cập đến những góc nhìn khácnhau, các vấn đề lý luận chung của pháp luật về chế độ tài sản, nghĩa vụ tàisản của vợ chồng và thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tốtụng theo quy định của pháp luật hiện hành Đây là cơ sở lý luận quan trọng
để tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận văn, từ đó đưa ra quanđiểm khách quan về những vấn đề được nghiên cứu
Nhóm các bài nghiên cứu, bài báo, tạp chí
Tác giả Nguyễn Thị Lan (2012), với bài "Một số vấn đề về hợp đồng mua bán tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng", Tạp chí Luật học, (8); Tác giả Bùi Thị Mừng (2004), "Bảo vệ quyền của người phụ nữ đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", Tạp chí Luật học, Đặc san phụ nữ Các bài viết này đã
phân tích khía cạnh vợ chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi cùng thựchiện một giao dịch, cũng như quyền và nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu
Trang 7chung hợp nhất, từ đó giúp định hình một số nghĩa vụ chung về tài sản của vợchồng trong mối quan hệ gia đình, xã hội Tuy nhiên, các bài trên nghiên cứukhi Luật HN&GĐ năm 2000 đang có hiệu lực và Luật chưa có một điều,khoản riêng về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, do đó chưa đưa ra cáinhìn bao quát về các nghĩa vụ này.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu nói trên đã tiếp cận, phân tíchchế độ tài sản của vợ chồng nói chung và một số khía cạnh cụ thể liên quanđến quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng Mặc dù các công trình kể trênkhông nghiên cứu cụ thể những quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợchồng nhưng đây là nguồn tài liệu phong phú và giá trị để nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật liên quan đến đề tài luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 8Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyếtnhững nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát những vấn đề lý luận liên quan tới nghĩa vụ chung
về tài sản của vợ chồng;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực
hiện nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng thông qua nghiên cứu thực tiễntại tỉnh Hòa Bình;
Thứ ba, đề xuất một số biện pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật
về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận về nghĩa vụchung về tài sản của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định Đồng thời nghiêncứu các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, thực hiện pháp luật vềnghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định
Trang 9cứu theo Luật HN&GĐ năm 2014 Đề tài chỉ nghiên cứu nghĩa vụ chung vềtài sản của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định, mà không nghiên cứu vấn
đề này trong chế độ tài sản theo thỏa thuận Vì vậy, toàn bộ các nội dungnghiên cứu được thể hiện trong luận văn chỉ giới hạn trong các nghĩa vụchung về tài sản của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng, thực hiện pháp luật về nghĩa vụ chung
về tài sản của vợ chồng qua các vụ việc, bản án cụ thể trên địa bàn tỉnh HòaBình từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận, quy định của pháp luật
về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Luận văn đã phân tích việc áp dụng pháp luật về nghĩa vụ chung về tàisản của vợ chồng qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Hòa Bình, qua đó có căn cứ
để chỉ ra những vấn đề còn vướng mắc, bất cập trong các quy định của phápluật về vấn đề này, và cơ sở để đưa ra các biện pháp hoàn thiện pháp luật
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việcnghiên cứu hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồngtheo Luật HN&GĐ năm 2014
6 Phương pháp nghiên cứu
6
Trang 10Phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng,duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nhànước và pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: Phương pháp phân tích,phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp Trongquá trình nghiên cứu thực tiễn, tác giả kết hợp sử dụng một số phương phápnhư phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thống kê và khảo sát thựctiễn nhằm đưa ra những dẫn chứng cụ thể và sinh động, tăng tính thuyết phụccho luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nghĩa vụ chung về tài sản của
vợ chồng
Chương 2: Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng theo quy định của
pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thực hiện pháp luật
về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng và một số kiến nghị
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CHUNG
VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
1.1 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng chính là một xã hội thunhỏ với tổng thể các mối quan hệ, đóng vai trò vô cùng quan trọng, là nềntảng cơ bản để tạo nên xã hội Một xã hội có tồn tại vững mạnh hay không,phụ thuộc rất nhiều vào những gia đình ở trong xã hội đó, muốn biết một xãhội phát triển theo hướng như thế nào, chỉ cần nhìn vào những gia đình sẽhiểu được phần nào vấn đề Ở tất cả các quốc gia, pháp luật là hệ thống cácquy tắc ứng xử do Nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm vàđường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm choquyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên quy mô toàn xã hội Do đó,những quy định của pháp luật về HN&GĐ của mỗi quốc gia cũng phần nàophản ánh thể chế, đường lối, chính sách của quốc gia đó Trong mọi xã hội,nền kinh tế vững mạnh là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển xã hội cũngnhư đảm bảo an sinh xã hội, sự yên ấm, hạnh phúc của mỗi công dân Đối vớimỗi gia đình, một trong những yếu tố cơ bản để gia đình có thể tồn tại và pháttriển, thực hiện được các chức năng cơ bản của gia đình chính là điều kiện vậtchất bao gồm tài sản và các quyền tài sản Khối tài sản chung của vợ chồngtrong gia đình luôn tồn tại như một tất yếu khách quan nhằm đảm bảo choviệc đáp ứng các nhu cầu của đời sống chung, đảm bảo sự tồn tại và phát triểncủa các thành viên gia đình Vì vậy, chế độ tài sản của vợ chồng là một trong
8
Trang 12những chế định quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khi tìm hiểu
về pháp luật về HN&GĐ
Tài sản đóng một vai trò quan trọng, là vấn đề trung tâm của mọi quan
hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Theo quy định tại Điều 105
BLDS năm 2015 thì: "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai"
Trong khi đó, hôn nhân là sự kết hợp, gắn bó giữa một người nam vàmột người nữ được công nhận về mặt pháp luật, văn hóa, tạo nên quan hệ vợchồng Hôn nhân tạo ra quyền lợi và nghĩa vụ giữa giữa hai người, đồng thờithiết lập những mối quan hệ gắn kết giữa người này với người thân của ngườikia Trên cơ sở hôn nhân, gia đình được xác lập với quan hệ then chốt là quan
hệ vợ chồng cùng với quan hệ giữa cha mẹ và con cái Để gia đình tồn tại,phát triển và thực hiện được các chức năng cơ bản của mình, pháp luật luônquan tâm điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng là một chế định pháp lý bao gồm hệthống các quy phạm pháp luật xác định và điều chỉnh quan hệ pháp luật giữa
vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của họ đối với tài sản chung cũng như tài sảnriêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Về mặt pháp lý, quan hệ tài sảncủa vợ chồng được xác lập đồng thời với sự xác lập quan hệ hôn nhân và chỉchấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Việc thiết lập quan hệ hôn nhânlàm nảy sinh quan hệ tài sản của vợ chồng và ngược lại, quan hệ tài sản giữa
vợ và chồng tồn tại như một tất yếu khách quan của quan hệ hôn nhân Có thể
Trang 13nói, quan hệ tài sản của vợ chồng hình thành từ hôn nhân, tồn tại trong hônnhân và chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt2.
Tuy nhiên, quan điểm trên chưa thực sự đầy đủ bởi các quy định vềchế độ tài sản được nhà làm luật nghiên cứu, đưa ra ngoài mục đích địnhnghĩa còn có ý nghĩa là căn cứ pháp lý trong giải quyết các tranh chấp liênquan đến quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng và chia tài sản khi có tranh
chấp phát sinh Do vậy, "Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng"3.
Trong mỗi gia đình, chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện mối liên kết
về tài sản giữa người vợ với người chồng cũng như từng thành viên trong giađình kể từ khi người nam và người nữ kết hôn Nhìn ở góc độ kinh tế, chế độtài sản của vợ chồng là một phần và bị chi phối bởi các quy định về kinh tếcủa nền kinh tế quốc gia, tại từng thời điểm nhất định Về góc độ tình cảm,chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của hai người khi
họ xác định chung sống với nhau, gắn kết và sẵn sàng chia sẻ những lợi íchcũng như khó khăn cho nhau, đó là sự khác biệt giữa mối quan hệ vợ chồngvới các mối quan hệ khác, khi hai người không cùng huyết thống nhưng sẵnsàng hợp nhất để cùng nhau tiếp tục phát triển, tồn tại
2 Hoàng Ngọc Huyên (1996), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 8.
3 Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 13.
10
Trang 141.1.2 Khái niệm nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, "Nghĩa vụ là bổn phận phải
chuẩn về ứng xử được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác trong văn hóa,đạo đức, thuần phong mỹ tục Những quan niệm này dần trở thành chuẩn mực
mà tất cả mọi người, vô hình chung phải thực hiện theo, nếu không muốn bị
xã hội lên án Các quy chuẩn này có thể thay đổi theo thời gian, đôi khi thayđổi theo cảm xúc, cảm nhận của số đông Hình phạt cho hành vi vi phạm làthái độ chê trách của cả cộng đồng, áp lực từ chính gia đình, người thân củangười vi phạm, nghiêm khắc hơn, người vi phạm có thể bị "tẩy chay", trở nên
cô độc nếu có những hành vi trái ngược với quan niệm xã hội
Dưới góc độ luật pháp, lẽ phải là những quy tắc, chuẩn mực mang tínhbắt buộc chung phải thi hành hay thực hiện đối với tất cả tổ chức, cá nhân.Khi một người vi phạm những quy tắc này, họ sẽ bị xử lý tùy theo mức độ viphạm của hành vi Việc xử lý là bắt buộc và có tính cưỡng chế thay vì xử lýtheo cảm tính như khi vi phạm chuẩn mực của xã hội
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, nghĩa vụ là việc một cá nhân, tổ chứcbắt buộc phải thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc nhiều hành vi nhằmđảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ thể có quyền Nếu vi phạm, chủ thểthực hiện sẽ bị xử lý tùy vào mức độ vi phạm và hậu quả mà hành vi vi phạm
đó gây ra Trong pháp luật dân sự, hình phạt phổ biến được áp dụng là bồithường thiệt hại
4 Bùi Quang Tịnh (chủ biên, 2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh niên, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 742
Trang 15Theo đó, nghĩa vụ về tài sản là những nghĩa vụ liên quan đến tài sản
mà chủ thể phải thực hiện nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cácchủ thể khác Trong đời sống hôn nhân, nhằm đảm bảo cuộc sống gia đình,thực hiện các giao dịch về tài sản với những người khác, vợ chồng có thể phảithực hiện nhiều nghĩa vụ chung về tài sản Khi xác định được một nghĩa vụ vềtài sản là nghĩa vụ chung của vợ chồng thì về nguyên tắc, nghĩa vụ đó đượcthực hiện bằng tài sản chung Việc xác định nghĩa vụ chung của vợ chồngtrước hết phải căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ chồng và mục đích của việcthực hiện các nghĩa vụ tài sản đó
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm nghĩa vụ chung về tài sảncủa vợ chồng như sau: Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng là nhữngnghĩa vụ về tài sản mà vợ chồng cùng có trách nhiệm phải làm, phải thực hiệnphát sinh trên cơ sở sự thỏa thuận bình đẳng, tự nguyện giữa vợ chồng, hoặctheo quy định của pháp luật, được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng
và tài sản riêng của mỗi bên khi tài sản chung không đủ, nhằm đáp ứng nhucầu đời sống chung, lợi ích chung của gia đình và quyền, lợi ích hợp pháp củacác chủ thể khác có tham gia giao dịch về tài sản với vợ chồng
Trong xã hội hiện nay, vợ chồng có quyền bình đẳng và tự do thamgia các mối quan hệ xã hội, kinh tế, do đó mỗi người đều có thể tự tham gianhững quan hệ pháp luật dân sự và có những quyền lợi, nghĩa vụ riêng về tàisản Giao dịch về tài sản đối với tài sản riêng của mỗi người do người đó độclập thực hiện và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, đồng thời tự thanhtoán những khoản chi phí liên quan đến nghĩa vụ riêng về tài sản Khi cónghĩa vụ riêng về tài sản phát sinh, mỗi người phải tự sử dụng tài sản riêngcủa mình để thực hiện nghĩa vụ, trừ khi được người còn lại đồng ý sử dụng tàisản chung để thực hiện nghĩa vụ riêng, tuy nhiên nghĩa vụ này vẫn không
12
Trang 16được coi là nghĩa vụ chung về tài sản Các nghĩa vụ về tài sản được coi lànghĩa vụ chung khi bên có nghĩa vụ thực hiện là cả hai vợ chồng, mục đíchthực hiện nghĩa vụ là đảm bảo sinh hoạt, chi phí liên quan đến cuộc sốngchung của gia đình Do đó nghĩa vụ chung có thể được thực hiện bằng tài sảnchung cũng có thể được thực hiện bằng tài sản riêng nếu người có tài sảnriêng tự nguyện dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ.
1.1.3 Sự cần thiết của việc quy định nghĩa vụ chung về tài sản của
vợ chồng
Việc quy định cụ thể nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng là sự tiến
bộ của luật pháp, nhằm nhấn mạnh trách nhiệm đảm bảo duy trì, xây dựngcuộc sống hôn nhân của vợ chồng, qua đó đã tạo nên những giá trị quan trọng,
có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Thứ nhất, việc quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng tạo cơ
sở để xác định nghĩa vụ cơ bản của mỗi người đối với gia đình, là yêu cầu tấtyếu nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống chung của gia đình khi xác lập hôn nhân
Từ những quy định cụ thể này, mỗi cá nhân, trong quan hệ hôn nhân
đã tự xác định được những nghĩa vụ của bản thân đối với gia đình, người thân
và xã hội Từ đó mỗi người tự điều chỉnh hành vi cho phù hợp, định hướngnhững việc cần làm trước, những nghĩa vụ cần ưu tiên thực hiện cũng nhưnhững nhu cầu cấp thiết phải đáp ứng, trước khi thực hiện những nhu cầu cánhân, nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của các thành viên gia đình, đặcbiệt là con chung
Thứ hai, quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng giúp phân
biệt rõ giữa nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng về tài sản
Trang 17Bên cạnh việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng,việc quy định nghĩa vụ chung về tài sản đã làm sáng tỏ hơn với từng nghĩa vụ
về tài sản, các chủ thể được dùng tài sản chung hay tài sản riêng để thực hiện.Qua đó, mỗi người có hướng điều chỉnh, dựa trên khối tài sản được phép sửdụng thực hiện nghĩa vụ để lựa chọn giao dịch phù hợp Điều này đóng vai trò
vô cùng quan trọng vì trong cuộc sống, mỗi người bên cạnh việc tham gia cácgiao dịch phục vụ nhu cầu chung của cuộc sống hôn nhân còn tham gia nhiềugiao dịch khác, vì nhiều mục đích khác nhau, đôi khi có thể xảy ra tranh chấptrong việc sử dụng một tài sản để thực hiện nhiều nghĩa vụ Do vậy, quy định
về nghĩa vụ chung về tài sản đã tạo nên một hành lang pháp lý rõ ràng, giúpcho người phải thực hiện nghĩa vụ và người được thực hiện nghĩa vụ có căn
cứ pháp lý, lựa chọn tài sản phù hợp để thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo lợi íchcủa các bên và tuân thủ quy định của pháp luật
Thứ ba, việc quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng tạo cơ
sở pháp lý để giải quyết tranh chấp liên quan đến các nghĩa vụ về tài sản, xácđịnh trách nhiệm của vợ chồng khi thực hiện các nghĩa vụ chung
Việc xác định nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản trong đời sốnghôn nhân cũng định hướng, giúp cho vợ, chồng xác định được trách nhiệmcủa mình đối với người khác, đối với xã hội trong việc thực hiện các giao dịch
về tài sản
Thực tế cho thấy, trong quan hệ hôn nhân đôi khi xảy ra mâu thuẫn,tranh chấp giữa vợ chồng với nhau hoặc với người thứ ba về nghĩa vụ đối vớitài sản Nguyên nhân bởi xã hội đa dạng với nhiều hình thức giao dịch, phục
vụ nhiều mục đích khác nhau, từ đó phát sinh các nghĩa vụ về tài sản tươngứng Việc quy định nghĩa vụ chung về tài sản đã góp phần định hướng giúp
14
Trang 18vợ, chồng cũng như người được thực hiện nghĩa vụ xác định rõ chủ thể củanghĩa vụ là một người hay cả người vợ và người chồng, lấy đó làm căn cứ xácđịnh nghĩa vụ về tài sản cần thực hiện là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng.Bên cạnh đó, việc quy định cụ thể nghĩa vụ chung về tài sản đã góp phần xácđịnh công sức và thái độ đóng góp của mỗi người trong việc vun đắp, xâydựng gia đình, làm căn cứ để phân tích, đánh giá, và đưa ra nhận định chínhxác khi phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng
Thứ tư, quy định nghĩa vụ chung của vợ chồng tạo cơ sở pháp lý trong
việc thực hiện và xác định nghĩa vụ về tài sản trong các giao dịch giữa vợchồng với người thứ ba
Căn cứ từ những quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng,mỗi cá nhân trong xã hội đã có nhận thức đúng đắn và định hình rõ các loạigiao dịch là nghĩa vụ riêng hay nghĩa vụ chung của vợ chồng Từ đó, mỗingười dù là một bên vợ, chồng hay người thứ ba thực hiện giao dịch với vợchồng đều xác định được quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để người thứ ba khi thực hiện giaodịch với vợ chồng yên tâm và xác định được tính chất của giao dịch dân sựkhi xác lập Đồng thời những quy định này đã tạo ra cơ chế bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của người thứ ba khi tham gia giao dịch với vợ chồng, từ đóđảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ kịp thời và hiệu quả, giảm thiểu tranh chấpphát sinh
1.2 Căn cứ pháp lý xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng được xác lập dựa trên một sốcăn cứ sau:
Trang 19Thứ nhất, từ sự thỏa thuận của vợ chồng trên cơ sở bình đẳng, tự
nguyện, tự do ý chí, tự định đoạt trong các giao dịch về tài sản
Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng phát sinh trong trường hợphai người cùng có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí với nhau, trên cơ sở tự dolựa chọn, đưa ra ý kiến và cùng quyết định tham gia một giao dịch dân sự mà
từ đó phát sinh nghĩa vụ về tài sản Giao dịch này thể hiện sự mong muốn từ
cả người vợ và người chồng, sự đồng lòng thống nhất, không bị người kiacũng như người thứ ba ép buộc
Theo quy định của pháp luật, vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyềnngang nhau về mọi mặt trong gia đình5 Bình đẳng là cơ sở quan trọng để đảmbảo duy trì một cuộc sống hôn nhân tiến bộ, gắn kết và phát triển Do vậy,trong các mối quan hệ cũng như giao dịch liên quan đến cuộc sống hôn nhân,
vợ chồng luôn cần tôn trọng sự bình đẳng của nhau Trong các giao dịch phục
vụ cuộc sống chung của gia đình, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việcbàn bạc, có kế hoạch định hướng lựa chọn và xác lập giao dịch, đồng thời cóquyền bình đẳng khi thụ hưởng những lợi ích phát sinh từ giao dịch đó Chính
vì vậy, khi giao dịch phát sinh nghĩa vụ về tài sản, người vợ và người chồngđều có nghĩa vụ như nhau và có trách nhiệm chung với nhau để thực hiệnnghĩa vụ Điều này không phụ thuộc vào khả năng tài chính, sức khỏe, nănglực mà căn bản là tinh thần trách nhiệm cùng nhau giải quyết và đảm bảo thựchiện nghĩa vụ Do đó, trong các giao dịch về tài sản, người vợ và người chồngđều có quyền đưa ra ý kiến, thể hiện quan điểm về mọi vấn đề liên quan đếngiao dịch, như cách thức thực hiện, đối tượng thực hiện, hình thức của giaodịch… Người vợ và người chồng phải tôn trọng ý kiến của nhau, dù bất đồng
5 Xem Điều 17 Luật HN&GĐ.
16
Trang 20quan điểm Chỉ khi giao dịch dân sự được thực hiện một cách tự nguyện vàbình đẳng giữa hai vợ chồng, không ai bị cưỡng ép, lừa dối, giao dịch đó mới
có hiệu lực Vì cả hai vợ chồng cùng là chủ thể của giao dịch, do đó nếu chỉ
có một trong hai người tự nguyện thực hiện, mà bên kia bị cưỡng ép, lừadối… thì giao dịch đó không đảm bảo điều kiện có hiệu lực của giao dịch làchủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện6
Khi cả hai vợ chồng cùng đồng ý thực hiện giao dịch nghĩa là họ chấpnhận cùng nhau hưởng quyền lợi cũng như nghĩa vụ, cùng chấp nhận rủi ronếu xảy ra, cùng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ phát sinh Ngay khi haingười thống nhất việc thực hiện giao dịch, mỗi người đã thể hiện ý chí chấpnhận thực hiện nghĩa vụ và nghĩa vụ về tài sản phát sinh sẽ là nghĩa vụ chung,không phụ thuộc giao dịch đó phục vụ cho mục đích chung của gia đình haymục đích riêng của mỗi người Ví dụ: Người vợ đi làm xa nên có nhu cầumua xe máy, người chồng đồng ý và cùng vợ đi mua xe Hai vợ chồng cùngchọn loại xe, màu sắc, mức giá tiền và cùng thống nhất chọn mua 1 chiếc xe,tiền để mua xe lấy từ quỹ chung của hai vợ chồng Như vậy, mặc dù nhu cầumua xe là của riêng người vợ nhưng việc người chồng cùng thực hiện giaodịch, hai vợ chồng thống nhất chọn lựa và ký kết đã thể hiện đây là giao dịchhai vợ chồng cùng xác lập, là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng và dùngtài sản chung để thanh toán
Khi xác lập giao dịch cũng như khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản,người vợ và người chồng có thể cùng nhau thực hiện, ủy quyền, hoặc đểngười kia đại diện cho mình Cốt lõi của việc phát sinh nghĩa vụ chung về tàisản là khi vợ chồng thể hiện ý chí muốn thực hiện và chấp nhận các hệ quảpháp lý phát sinh từ giao dịch đó, do vậy dù vợ chồng cùng thực hiện hay chỉ
6 Xem điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS.
Trang 21một người đại diện cho người còn lại thì nghĩa vụ chung về tài sản vẫn phátsinh Trường hợp người vợ hoặc chồng đại diện cho nhau theo ủy quyền hoặctheo pháp luật khi xác lập giao dịch, nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở đại diệngiữa vợ và chồng là nghĩa vụ chung của vợ chồng Vì khi đó, người đứng rathực hiện giao dịch đang đại diện cho người còn lại, là người trực tiếp thểhiện ý chí và nguyện vọng thay cho người kia, bao gồm cả ý chí tự nguyện vàthực hiện quyền bình đẳng khi tham gia giao dịch Giao dịch do vợ hoặcchồng thực hiện trên cơ sở đại diện giữa vợ và chồng đã thể hiện, chứa đựng ýchí của người được đại diện, nên cũng làm phát sinh nghĩa vụ chung của vợchồng về tài sản khi liên quan đến tài sản chung.
Thứ hai, từ các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu và lợi ích
chung của gia đình, trách nhiệm của các bên vợ, chồng đối với gia đình
Trong cuộc sống hôn nhân, các giao dịch phát sinh nhằm phục vụnhững nhu cầu thiết yếu của gia đình, chăm sóc con cái, cải thiện cuộc sốngluôn được ưu tiên hàng đầu, đây được xác định là những nghĩa vụ chung vềtài sản cơ bản của mỗi gia đình Bởi lẽ, các nhu cầu về thực phẩm, cơ sở vậtchất, vật dụng gia đình, chi phí nuôi dạy con, thăm nom cha mẹ là nhữngyêu cầu tối thiểu mà mỗi gia đình cần có để duy trì và phát triển, đạt đượcmục đích của hôn nhân Cuộc hôn nhân không thể tồn tại bền vững nếunhững nhu cầu kể trên không được đáp ứng và việc đáp ứng những nhu cầutrên là nghĩa vụ của cả vợ và chồng Mặc dù tùy hoàn cảnh gia đình, điềukiện kinh tế, mỗi người có cách đóng góp và mức đóng góp khác nhaunhưng về cơ bản mỗi người đều phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ này.Trong một số trường hợp, một trong hai người có thể tự mình thực hiện giaodịch nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trên nhưng nghĩa vụ về tài sảnphát sinh từ giao dịch đó vẫn được coi là nghĩa vụ chung, bởi ý nghĩa cấp
18
Trang 22thiết và tầm quan trọng của những giao dịch này đối với sự tồn tại và pháttriển của mỗi gia đình
Việc thực hiện các nghĩa vụ chung này trước tiên được sử dụng từkhối tài sản chung, bao gồm các tài sản hình thành trước hôn nhân mà vợchồng thỏa thuận là tài sản chung và những tài sản được hình thành trong thời
kỳ hôn nhân Nếu tài sản chung không đủ, mỗi người, tùy khả năng sẽ phải sửdụng tài sản riêng để tiếp tục thực hiện hết nghĩa vụ chung về tài sản, nhằmđảm bảo đáp ứng nhu cầu thiết yếu của những thành viên trong gia đình cũngnhư bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của người thực hiện giao dịch về tài sản với
vợ chồng
Thứ ba, các giao dịch trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận làm phát sinh
nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng phải không trái pháp luật, không trái
đạo đức xã hội
Một đặc điểm cơ bản để nghĩa vụ được đảm bảo thực hiện là nghĩa vụ
đó phải phát sinh từ giao dịch hợp pháp Mặc dù các giao dịch được xác lậptrên tinh thần tự do, tôn trọng thỏa thuận giữa các bên, tuy nhiên pháp luậtdân sự không công nhận những thỏa thuận trái pháp luật, vi phạm đạo đứchoặc ảnh hưởng tới lợi ích của bên thứ ba Cụ thể, điều kiện để giao dịch dân
sự có hiệu lực là mục đích và nội dung của giao dịch đó không vi phạm điềucấm của luật và không trái đạo đức xã hội7 Trong đó, điều cấm của luật lànhững quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vinhất định, còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đờisống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng8 Do đó, giao dịch vi
7 Xem điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS.
8 Xem Điều 123 BLDS.
Trang 23phạm những điều kiện trên sẽ không được pháp luật bảo vệ, đồng nghĩa vớinhững thỏa thuận liên quan đến giao dịch đó bị vô hiệu
Theo quy định của pháp luật dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu khônglàm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từthời điểm giao dịch được xác lập Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bênkhôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên
có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường9 Từ đây có thể thấy, mặc dù vợ chồng tựnguyện thỏa thuận và thống nhất ý chí thực hiện một giao dịch, từ đó phátsinh nghĩa vụ về tài sản, nhưng nếu giao dịch đó trái pháp luật, không đượcluật pháp công nhận thì người trực tiếp thực hiện giao dịch đó có nghĩa vụphải tự chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả của hành vi Nếu cả hai vợchồng cùng thống nhất và tự nguyện thực giao dịch trái pháp luật thì cả hai vợchồng cùng có trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho bênthực hiện giao dịch với vợ chồng những gì đã nhận được và cùng có quyềnđược nhận những gì bên kia hoàn trả, đồng thời cùng có nghĩa vụ bồi thườngnếu hai vợ chồng là bên có lỗi gây ra thiệt hại
Thứ tư, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng phát sinh trên cơ sở
các quy định của pháp luật
Pháp luật luôn phát triển và phản ảnh xu hướng phát triển của xã hội.Chính vì vậy, các nhà làm luật đã dự liệu những tình huống có thể xảy ra,cách thức xử lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên, đảmbảo pháp luật luôn được thực thi đúng người, đúng lúc Trong một số trườnghợp, vợ chồng đều phải có trách nhiệm trước pháp luật về những thiệt hại xảy
ra trong cuộc sống hôn nhân chung như bồi thường thiệt hại do gia súc gây ra,
9 Xem Điều 131 BLDS.
20
Trang 24bồi thường thiệt hại do con gây ra, bồi thường thiệt hại do cây cối, do nguồnnguy hiểm cao độ là tài sản chung gây ra Đây đều là những trường hợp thựctiễn, thường gặp và việc xác định rõ ràng nghĩa vụ chung của vợ chồng trướcpháp luật và xã hội trong việc bồi thường thiệt hại xảy ra là cần thiết.
Kết luận chương 1
Vợ chồng cùng thực hiện tốt các nghĩa vụ chung về tài sản là yếu tốcăn bản để xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững, đồng thời gây dựngniềm tin giữ các thành viên trong gia đình cùng nhau chung sống, là tiền đềcủa một xã hội phát triển Chương 1 đã phân tích khái niệm, đặc điểm, cáccăn cứ xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, từ đó phân tích ýnghĩa của việc quy định các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng Nghĩa
vụ chung về tài sản của vợ chồng là những nghĩa vụ về tài sản mà vợ chồngphải cùng thực hiện, phát sinh trên cơ sở bình đẳng, cùng thống nhất ý chí,nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống gia đình, được thực hiệnbằng tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi người khi tài sảnchung không đủ để thực hiện Việc quy định cụ thể nghĩa vụ chung về tàisản của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định giữa nghĩa vụchung và nghĩa vụ riêng về tài sản, tạo cơ sở pháp lý để xác định tài sản thựchiện các nghĩa vụ đó là tài sản chung hay tài sản riêng hay cả hai loại tài sản
Đó cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp phát sinh từ thực tế cuộcsống giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa vợ chồng với người khác, đồng thờibảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của mỗi bên vợ chồng về tài sản, lợiích chung của gia đình và lợi ích hợp pháp của người thứ ba có giao dịch vềtài sản với vợ chồng
Trang 26Chương 2 NGHĨA VỤ CHUNG VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN LUẬT ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH HÒA BÌNH
Theo quy định của pháp luật hiện hành, vợ chồng có các nghĩa vụchung về tài sản bao gồm nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùngthỏa thuận xác lập; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của phápluật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm; Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thựchiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; Nghĩa vụ phát sinh từ việcchiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; Nghĩa vụ phát sinh từ việc sửdụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ranguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do congây ra mà theo quy định của BLDS thì cha mẹ phải bồi thường và nghĩa vụkhác theo quy định của các luật có liên quan10 Tại địa bàn tỉnh Hòa Bình, các
vụ việc tranh chấp, các nghĩa vụ phát sinh chủ yếu là từ giao dịch do vợchồng cùng thỏa thuận xác lập, trong đó các cặp vợ chồng cùng nhau thựchiện một giao dịch sau đó phát sinh nghĩa vụ về tài sản hoặc một trong haingười tự thực hiện một giao dịch và phát sinh tranh chấp về việc xác địnhnghĩa vụ là riêng hay chung
2.1 Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình
Nghĩa vụ này được quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật HN&GĐ
Trong thực tế có rất nhiều trường hợp vợ và chồng cùng thỏa thuận đểxác lập một giao dịch Thỏa thuận có thể bằng lời nói, văn bản, tin nhắn,
10 Xem Điều 37 Luật HNGĐ.
Trang 27những giao dịch cũng có thể rất lớn như mua nhà, mua xe, vay nợ cho đến đichợ, mua sắm đồ gia dụng… Trong các giao dịch đó cả vợ chồng đều là chủthể của giao dịch và có quyền lợi, cũng như nghĩa vụ ngang nhau Căn cứ quantrọng để xác định chủ thể - người sẽ được hưởng quyền lợi và phải chịu tráchnhiệm thực hiện nghĩa vụ phát sinh là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của vợchồng, không quan trọng mục đích thực hiện giao dịch đó là gì, vì mục đíchchung chăm lo cho cuộc sống của cả gia đình hay phục vụ mục đích riêng, vìlợi ích của người vợ, người chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình.
Đối với một số giao dịch đơn giản như mua sắm đồ gia dụng, vậtphẩm cho gia đình, một trong hai vợ chồng có thể tự đi mua bằng tiền là tàisản chung của vợ chồng Khi người còn lại biết việc và không có phản đối,vẫn tiếp tục sử dụng tài sản đó đồng nghĩa với việc người này đã đồng thuận
về việc thực hiện giao dịch và sẽ cùng chịu trách nhiệm nếu có sự cố và nghĩa
vụ phát sinh Đối với các trường hợp vợ chồng cùng tham gia thực hiện giaodịch và cùng ký tên vào chứng từ thì khi có nghĩa vụ phát sinh, bên thứ bađược thực hiện nghĩa vụ rất thuận tiện trong việc yêu cầu bên có nghĩa vụthực hiện nghĩa vụ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của mình Trong thực tế cónhiều trường hợp do thiếu hiểu biết pháp luật, khi thực hiện giao dịch là ý chíchung của vợ chồng nhưng chỉ một bên người vợ hoặc người chồng đứng têncho một khoản vay, nợ chung của vợ chồng Mặc dù trong hợp đồng chỉ có kýtên một người, nhưng người còn lại có tham gia thỏa thuận, trao đổi, nắmđược toàn bộ các nội dung của hợp đồng và nhất trí cùng thực hiện nghĩa vụtrả nợ, cả bên vợ chồng và bên thứ ba thực hiện giao dịch với vợ chồng đềungầm hiểu người này cũng được coi là một bên tham gia hợp đồng và phảiliên đới chịu trách nhiệm thực hiện nếu có nghĩa vụ phát sinh Thực tế xã hộinước ta, với quan niệm vợ chồng đồng cam cộng khổ, tuy hai mà một, nhiềungười vẫn để vợ/ chồng mình đứng tên mua bán tài sản, sở hữu tài sản, vay nợ
24
Trang 28cho khoản vay chung, và nhiều người chủ nợ cũng vì quan điểm trên, chorằng chỉ cần một bên vợ/ chồng đứng tên và ký vào giấy nợ là đã có sự ràngbuộc đối với cả hai người Đây là lỗ hổng nhận thức khiến nhiều người khi vợchồng còn yêu thương nhau thì cùng thống nhất ký kết, sau khi tình cảm rạnnứt, người không đứng tên vay tiền đã phủ nhận vai trò của mình trong hợpđồng vay nợ tài sản Những trường hợp này rất khó để chứng minh được tráchnhiệm thực hiện nghĩa vụ của người không ký kết vào giao dịch.
Theo quy định của pháp luật11, đối với các giao dịch phải có sự đồng ýcủa cả hai vợ chồng thì giao dịch đó phải có đủ chữ ký của cả vợ và chồngmới phát sinh hiệu lực như giao dịch bán tài sản chung, thế chấp bằng tài sảnchung… Như vậy khi một trong hai bên vợ chồng không thể trực tiếp thamgia đàm phán, ký kết để thực hiện giao dịch, người còn lại có thể đại diện chovợ/ chồng mình bằng hình thức đại diện cho nhau Thông qua việc đại diện đãthể hiện ý chí của người được đại diện trong việc xác lập, thực hiện giao dịch.Theo quy định của pháp luật, vợ chồng có quyền đại diện cho nhau trong haitrường hợp là đại diện theo ủy quyền và đại diện pháp luật
Đại diện theo ủy quyền là hình thực đại diện trong đó một bên vợ hoặc
chồng ủy quyền cho chồng hoặc vợ mình tham gia xác lập, thực hiện các giaodịch thay mặt mình Việc ủy quyền này phải được lập thành văn bản, trong
đó, nêu rõ phạm vi đại diện, những giao dịch được xác lập, thực hiện Ngườiđại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện ghi trongvăn bản
Đại diện theo pháp luật là trong trường hợp một bên vợ (hoặc chồng)
mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ
11 Xem khoản 2 Điều 24 Luật HNGĐ
Trang 29hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa ánchỉ định là người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theoquy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ
có liên quan12
Đại diện cho nhau giữa vợ chồng là căn cứ quan trọng để xác định ýchí của mỗi người khi tham gia giao dịch dân sự, từ đó xác định rõ nghĩa vụcủa vợ chồng trong việc thực hiện các nghĩa vụ về tài sản phát sinh là nghĩa
vụ chung Khi một người đại diện cho vợ/ chồng mình tham gia giao dịch dân
sự, mọi yêu cầu, ý kiến của người đó được coi là quan điểm chung của hai vợchồng Như vậy, khi hai bên vợ chồng cùng thỏa thuận đi đến quyết định xáclập một giao dịch, nếu một người không thể thực hiện giao dịch đó thì ngườikia có thể đại diện cho vợ/ chồng mình tham gia và mọi quyền lợi hoặc nghĩa
vụ phát sinh sẽ thuộc về trách nhiệm chung của cả hai người Tài sản đượcdùng thể thực hiện nghĩa vụ là tài sản chung, nếu tài sản chung không đủ thìmỗi bên có trách nhiệm phải dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ, trừtrường hợp hai bên có thỏa thuận dùng tài sản riêng của mỗi người để thựchiện nghĩa vụ chung về tài sản
Trường hợp một bên vợ hoặc chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh,
Điều 36 Luật HN&GĐ quy định: "Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận
về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó Thỏa thuận này phải lập thành văn bản" Như vậy việc vợ hoặc chồng có văn bản thể hiện ý
chí đồng ý cho người chồng hoặc vợ mình đưa tài sản chung vào kinh doanh
12 Nguyễn Văn Huy (2015), " Đại diện cho nhau giữa vợ và chồng - Một số tồn tại và giải pháp hoàn thiện",
Bộ Tư pháp, tại địa chỉ https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1871 ngày truy cập 23/6/2020.
26
Trang 30đã cho thấy người này đồng ý để người còn lại đại diện cho mình sử dụng,định đoạt tài sản chung đó Mọi giao dịch đều là quyết định của hai người vànghĩa vụ phát sinh từ giao dịch là nghĩa vụ chung Tuy nhiên trong trườnghợp bên đưa tài sản chung vào kinh doanh vi phạm pháp luật hình sự, nghĩa
vụ bồi thường có thể là nghĩa vụ chung (phụ thuộc vào chủ thể, hành vi vàmức độ liên quan) nhưng trách nhiệm hình sự là trách nhiệm riêng của ngườitrực tiếp thực hiện hành vi vi phạm Nếu người còn lại không biết, tham gia,giúp sức cho hành vi vi phạm này thì không bị xem xét trách nhiệm hình sự
Thực tiễn thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng chothấy các nghĩa vụ này được thực hiện rất đa dạng dưới các hình thức khácnhau Những điều đó có thể thấy rõ qua một số vụ việc cụ thể sau:
* Vụ thứ nhất: Vụ kiện ly hôn giữa nguyên đơn chị Ngô Thu H và bị
đơn anh Lê Trọng T
Nội dung: Chị Ngô Thu H kết hôn với anh Lê Trọng T từ ngày30/01/2002, hai bên đều tự nguyện và đăng ký tại Ủy ban nhân dân (UBND)thị trấn Cao Phong - huyện Cao phong - tỉnh Hòa Bình Sau khi kết hôn vợchồng về chung sống tại thành phố Hòa Bình Đến năm 2017 do phát sinhmâu thuẫn trong cuộc sống, hai người sống ly thân, chị H sống tại thành phốHòa Bình còn anh T sống tại huyện Cao Phong Sau một thời gian nhận thấykhông thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân với anh T, ngày 14/01/2019chị H có đơn đề nghị TAND thành phố Hòa Bình giải quyết cho mình được lyhôn với anh T
Trang 31Về công nợ chung, anh T trình bày anh có vay Ngân hàng Đầu tư 03khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân bao gồm:
- Năm 2015 vợ chồng ký hợp đồng vay ngân hàng BIDV chi nhánhCao Phong số tiền 200.000.000đ để sửa nhà tại Cao Phong và thế chấp quyền
sử dụng đất mang tên anh Lê Trọng T Dư nợ đến nay là 70 400.000đ anh T
sẽ tiếp tục trả không yêu cầu chị H trả cùng
- Ngày 16/01/2018 anh vay tín chấp lương của anh số tiền79.000.000đ, dư nợ còn 58.309.520đ để đầu tư cho chị H sản xuất kinh doanhvải may mặc, phục vụ công việc của chị H
- Ngày 15/01/2019 anh vay tín chấp lương của anh số tiền79.000.000đ, dư nợ còn 79.000.000đ tiếp tục để đầu tư cho chị H vào việc sảnxuất kinh doanh
Chị H chỉ thừa nhận khoản vay năm 2015 là khoản vay chung nhưng
để sửa sang lại căn nhà mang tên anh T, là tài sản riêng của anh T nên anh T
có nghĩa vụ tự thanh toán khoản nợ của mình Đối với hai khoản vay năm
2018 và năm 2019 chị cho rằng thời điểm này vợ chồng đã ly thân, chị khôngbiết hai khoản vay này nên không có nghĩa vụ trả nợ
Tại Bản án sơ thẩm số 27/2019/HN&GĐ ngày 25/12/2019 của Tòa ánnhân dân (TAND) thành phố Hòa Bình nhận định như sau:
"Theo hợp đồng số 01/2015 anh T và chị H vay thế chấp bằng quyền
sử dụng đất mang tên anh T, anh T là người đứng ra vay, số tiền dư nợ tính
28
Trang 32đến ngày 05/12/2019 là 70.400.000đ Các đương sự đều đồng ý để anh Tđứng ra trả ngân hàng Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự nên hộiđồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Số tiền dư nợ là 58.309.520đ theo hợp đồng số 01/2018 và số tiền dư
nợ là 79.000.000đ theo hợp đồng số 01/2019 Chị H không công nhận Tuynhiên số tiền vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên anh T và chị H phải cótrách nhiệm trả ngân hàng là có căn cứ Vì vậy mỗi bên phải trả 1/2 số tiền."
Ngày 09/01/2020 chị Ngô Thu H có Đơn kháng cáo đề nghị xem xétlại việc chị phải trả hai khoản vay năm 2018 và năm 2019 của anh T trongthời gian vợ chồng đã ly thân, chị không biết gì về hai khoản vay đó
Tại Bản án phúc thẩm số 03/2020/HN&GĐ-PT ngày 02/6/2020TAND tỉnh Hòa Bình nhận định:
"Theo khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ thì vợ, chồng chỉ chịu trách nhiệmliên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 30hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25 và 26Luật này Hợp đồng vay tiền của anh T trong vụ án này không thuộc mộttrong các trường hợp nêu trên
Mặt khác, anh T và chị H đều khai thống nhất, anh chị ly thân từ năm
2017, anh T sống tại thị trấn Cao Phong, chị H sống tại thành phố Hòa Bình,mỗi người một nơi, công việc hai người tự do, không ai quan tâm đến ai, ăn ởsinh hoạt mỗi người một nơi, mỗi người nuôi một con
Trang 33Bản án sơ thẩm xác định chị H có trách nhiệm liên đới trả nợ vì vaytrong thời kỳ hôn nhân, đây là nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật Tài sản domột bên tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung (quy định tại khoản 1Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014) Nhưng không có quy định nào là cứ vaytrong thời kỳ hôn nhân là nợ chung.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có căn cứ để chấpnhận kháng cáo của chị H, sửa phần nghĩa vụ trả nợ của chị Ngô Thu H tạiBản án HN&GĐ sơ thẩm số 27/2019/HN&GĐ-ST ngày 25 tháng 12 năm 2019của TAND thành phố Hòa Bình theo hướng chị H không phải chịu tráchnhiệm trả cho anh T số tiền 68.654.764đ để anh T trả nợ Ngân hàng."
Theo quan điểm của cá nhân: Trường hợp này giao dịch mà anh Tthực hiện là ý chí riêng của anh T, không liên quan đến chị H Trong cuộcsống có nhiều trường hợp chỉ người vợ hoặc người chồng đứng ra vay nợnhưng là ý chí chung của hai vợ chồng, tuy nhiên trường hợp này anh Tkhông thể chứng minh được hai khoản vay năm 2018 và năm 2019 có ý chícủa chị H Mặc dù anh khai mục đích sử dụng tiền là để cho chị H lo sản xuất,mua bán, phục vụ công việc của chị H, nhưng thực tế cho thấy anh chị đã lythân từ năm 2017, trong khoảng thời gian ly thân việc anh đứng ra vay nợgiúp chị H, vì công việc của chị H là khó xảy ra, trong khi chị H phủ nhậnviệc có tham gia, biết việc hoặc đồng tình với việc vay nợ này, do đó không
có căn cứ để coi nghĩa vụ trả hai khoản nợ này là nghĩa vụ chung của vợchồng Do đó, theo tôi, quan điểm nhận định và cách giải quyết của Tòa áncấp phúc thẩm là chính xác và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành
* Vụ thứ hai: Vụ án kiện đòi nợ giữa nguyên đơn chị Mùi Thị S và bị
đơn chị Nguyễn Thị V, anh Phạm Văn L
30
Trang 34Nội dung: Từ năm 2011, chị Mùi Thị S đã nhiều lần bán ngô cho vợchồng chị Nguyễn Thị V và anh Phạm Văn L, các lần mua bán chị V làngười trực tiếp làm việc, ghi sổ với chị S Tuy nhiên chị V, anh L đã khôngthanh toán hết tiền ngô cho chị S Đến ngày 18/09/2017, chị V, anh L đithuyền lên khu vực Suối Bàng - huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La, chị S đã gặp
và trao đổi, lập biên bản có sự chứng kiến của đại diện Công an xã SuốiBàng với nội dung chị V, anh L thừa nhận mua ngô của chị S, còn một số
nợ, hẹn đến ngày 25/9/2017 sẽ mang sổ lên đối chiếu để trả nốt tiền Đếnngày 20/11/2017, chị V không trả nợ như đã hẹn nên chị S có đơn gửiTAND thành phố Hòa Bình với nội dung khởi kiện đòi nợ, yêu cầu chị V,anh L trả nợ số tiền hàng còn thiếu
Tại Bản án sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 28/9/2018 TAND thànhphố Hòa Bình nhận định việc mua bán ngô hạt, ngô bắp năm 2011 giữa bênmua chị V anh L và bên bán chị S với tổng số tiền 164.379.000đ là có thật.Chị V anh L đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền, có lỗi và phải chịu trách nhiệm do
vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 280, Điều 351, Điều 364 BLDS…Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Mùi Thị S, buộc chị Nguyễn Thị V vàanh Phạm Văn L phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho chị S 94.397.000đ
Quan điểm của cá nhân: Trong vụ án này, Tòa án xác định cả chị V vàanh L đều là người có nghĩa vụ trả nợ là đúng Mặc dù khi giao hàng chỉ cóchị S và chị V đứng ra giao dịch, anh L chỉ tham gia cùng vợ nhưng khôngđứng tên hay ghi sổ nợ gì, nhưng việc hai anh chị cùng nhau kinh doanh, cùnglấy hàng, anh L có chứng kiến việc chị V lấy ngô của chị S và nợ tiền chị S,anh L cũng tham gia vào các giai đoạn kinh doanh sau đó và số tiền lời sẽđược hai vợ chồng dùng để chi tiêu cho gia đình, vì mục đích chung Bêncạnh đó anh L cũng thể hiện ý chí của mình bằng việc ký vào biên bản nhận
Trang 35nợ ngày 18/9/2017 tại huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La, có đủ căn cứ để khẳngđịnh anh L cùng chung ý chí và cùng xác lập giao dịch mua bán, nhận nợcùng chị V đối với chị S Vì vậy, anh L và chị V đều có nghĩa vụ trả nợ nhưnhau đối với chị S và nghĩa vụ này được coi là nghĩa vụ chung về tài sản của
vợ chồng
2.2 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình
Nghĩa vụ này được quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật HN&GĐ
Bồi thường thiệt hại là nhằm buộc bên gây ra thiệt hại phải khắc phụchậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần chobên bị thiệt hại, mức bồi thường theo thoả thuận của các bên hoặc theo quybênh của pháp luật Bồi thường thiệt hại phải có đầy đủ các điều kiện sau đây:
có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật hoặc sự kiện và có mối liên hệnhân quả giữa hành vi, sự kiện với thiệt hại đã xảy ra
Có thể phân loại nghĩa vụ bồi thường thiệt hại như sau:
- Bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất về vậtchất thực tế, được tính thành tiền hoặc hiện vật do một bên có hành vi gâythiệt hại cho một hoặc các bên còn lại, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí đểngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút
- Bồi thường thiệt hại về tinh thần là trách nhiệm bồi thường chonhững tổn thất về tinh thần của người khác do xâm hại đến tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín gây nên Ngoài việc chấm dứt hành vi vi
32
Trang 36phạm, xin lỗi cải chính công khai, người gây ra thiệt hại còn phải bồi thườngmột khoản tiền cho người bị thiệt hại.
Pháp luật dân sự quy định hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại là:trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong đó:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng phải
dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồithường và người gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng
Nếu giữa hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có thiệt hạixảy ra bao giờ cũng sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và bên gâythiệt hại chỉ có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hủy bỏhợp đồng và vi phạm đề nghị giao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng bởi lẽ hợp đồng chưa được giao kết giữa các bên hoặc được coi làchưa hề tồn tại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ phát sinh khi cóhành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thựchiện không đúng hợp đồng gây ra Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ hợp đồngnhưng hành vi gây thiệt hại không phải là do vi phạm hợp đồng thì tráchnhiệm phát sinh cũng không phải là trách nhiệm theo hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một
loại trách nhiệm dân sự khi người có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật
Trang 37quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũngđược phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quyđịnh đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi íchhợp pháp của người khác Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạmđến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân
và tổ chức khác13
Như vậy, trong đời sống có thể thấy rất nhiều trường hợp hai vợ chồngcùng có hành vi hoặc có một sự kiện xảy ra liên quan trực tiếp đến cả haingười dẫn đến hậu quả phải bồi thường thiệt hại Trong trường hợp này, nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại trở thành nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, vìcùng trong mối quan hệ pháp luật dân sự, hai vợ chồng đều là phía có nghĩa
vụ bồi thưởng, tài sản để thực hiện nghĩa vụ là tài sản chung của vợ chồnghoặc tài sản riêng nếu có sự thỏa thuận từ các phía Quy định này là phù hợp
với quy định tại Điều 587 BLDS: "Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau".
13 Nguyễn Minh Oanh (2010), "Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại", Thông tin pháp luật dân sự, tại địa chỉ https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/ 2010/04/05/4702-2/ ngày truy cập 29/6/2020.
34
Trang 38Trong cuộc sống, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thểxảy ra vì nhiều lý do Sau đây là một ví dụ: Vì gia đình có xích mích với nhàhàng xóm, hai vợ chồng đã cùng nhau ném chất xú uế sang nhà hàng xóm,gây mất trật tự công cộng, làm bẩn nhà, gây hư hại một số tài sản Như vậytrong trường hợp này cả hai vợ chồng có sự thống nhất ý chí với nhau, cùngnhau thực hiện hành vi sai trái và dẫn đến hậu quả phải bồi thường thiệt hại.Đây là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại chung của vợ chồng.
Ví dụ thứ hai: Hai vợ chồng có một căn nhà là tài sản chung đang chothuê ổn định Tuy nhiên do nhu cầu về tài chính nên hai vợ chồng quyết địnhkhông cho thuê nữa và bán căn nhà đó Như vậy nghĩa vụ phát sinh do đơnphương chấm dứt hợp đồng là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng
Ví dụ thứ ba: Hai vợ chồng có nuôi một chú chó, khi người hàng xóm
đi qua nhà, chú chó đã cắn người hàng xóm khiến người này bị thương tích vàphải đi tiêm phòng bệnh dại Như vậy chi phí điều trị thương tích cho ngườihàng xóm là nghĩa vụ chung của vợ chồng dù cả hai người không ai có hành
vi trực tiếp gây nên thiệt hại
Ở các ví dụ trên, mọi thiệt hại đều liên quan đến hành vi của người
vợ và người chồng hoặc tài sản chung của vợ chồng, do đó nghĩa vụ chung vềtài sản bao gồm những nghĩa vụ bồi thường trong cùng một sự kiện mà người
vợ và người chồng đều là bên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cùngmột chủ thể Tuy nhiên cần lưu ý không phải tại bất kỳ sự kiện phát sinh thiệthại nào có liên quan đến cả hai vợ chồng thì nghĩa vụ bồi thường đều là nghĩa
vụ chung
Trang 39Ví dụ: Hai vợ chồng cùng tham gia giao thông nhưng người chồng lái
xe chở người vợ và gây ra tai nạn giao thông, như vậy mặc dù trên xe có cảhai vợ chồng nhưng nghĩa vụ phát sinh là nghĩa vụ của riêng người chồng, tàisản dùng để thực hiện nghĩa vụ là tài sản riêng của người chồng Nếu dùng tàisản chung để thực hiện nghĩa vụ là do người vợ sẵn sàng chia sẻ trách nhiệmbồi thường của chồng bằng tài sản chung mà không phải do người vợ cũng cótrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
2.3 Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình
Nghĩa vụ này được quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật HN&GĐ
Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, với đầy đủ các mối quan hệ,nhu cầu phát sinh như một xã hội thu nhỏ Khi hai người kết hôn với nhau vàxây dựng một gia đình đồng nghĩa với việc họ phải có trách nhiệm cùng nhauvun vén, đảm bảo một cuộc sống tối thiếu cho bản thân, cho vợ hoặc chồngmình và cha mẹ, con cái Bởi vậy, những nhu cầu thiết yếu không phải chỉđơn giản là ăn no mặc ấm mà bao gồm cả việc đảm bảo nhà ở cho cả gia đình,việc học tập của con cái, phụng dưỡng cho cha mẹ hai bên… Những nhu cầuthiết yếu là những nhu cầu tối thiểu cần có để duy trì một cuộc sống mạnhkhỏe, gia đình hạnh phúc, hôn nhân bền vững Do đó, để phân biệt giữa "nhucầu thiết yếu" và "nhu cầu không thiết yếu" cần tập trung vào mục đích mànhu cầu đó hướng tới và nếu không đáp ứng được nhu cầu đó, mục đích hônnhân có đạt được hay không Dù người thực hiện giao dịch là người vợ hayngười chồng, nếu giao dịch đó nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đìnhthì nghĩa vụ phát sinh vẫn là nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, điều nàythể hiện rõ tầm quan trọng của những nhu cầu đó
36
Trang 40Theo quy định của Luật HN&GĐ, nhu cầu thiết yếu bao gồm nhu cầusinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhucầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗingười, mỗi gia đình14 Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống của gia đình, nhucầu thiết yếu cần được xem xét ở góc độ rộng, nhìn vào tổng thể tình hình đểđánh giá mức độ cần thiết Ví dụ: Người vợ cho rằng xe máy chung của giađình đang hỏng, việc sửa xe là nhu cầu thiết yếu Người chồng lại cho rằngmáy ảnh cá nhân của anh ta đang hỏng nhưng việc sửa máy ảnh mới là thiếtyếu vì nguồn thu từ công việc nhiếp ảnh của người chồng là nguồn thu chínhcủa gia đình do người vợ không có việc làm Trường hợp này việc sửa máyảnh là tài sản riêng của người chồng thiết yếu hơn việc sửa xe máy là tài sảnchung của vợ chồng Bởi lẽ, để xác định một nhu cầu có thiết yếu hay khôngcần đặt câu hỏi nếu không đáp ứng nhu cầu đó, gia đình có thể sinh hoạt bìnhthường hay không? Ở đây, việc chiếc xe máy chưa sử dụng được không ảnhhưởng trực tiếp đến sinh hoạt gia đình, bởi đây là phương tiện đi lại bìnhthường, có thể được thay thế bằng xe đạp, xe buýt, tuy nhiên chiếc máy ảnhtuy là vật sở hữu cá nhân của người chồng lại là công cụ tạo ra nguồn thuchính cho gia đình, nếu không sửa được chiếc máy ảnh, gia đình sẽ không cònnguồn thu và nhiều nhu cầu khác sẽ bị hạn chế Như vậy, nếu mục đích củamột giao dịch là phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, dù giao dịch đó domột trong hai vợ chồng thực hiện hoặc cả hai người cùng thực hiện, giao dịchphục vụ cho tài sản chung hay tài sản riêng, nghĩa vụ phát sinh vẫn là nghĩa
vụ chung về tài sản của vợ chồng
Một giao dịch được coi là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng,ngoài mục đích chính là phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, cần phải đápứng được điều kiện của mọi giao dịch, đó là tính hợp pháp Nếu giao dịch trái
14 Xem khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ.