1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận đề tài đặc điểm vai trò của công ty cổ phần theo pháp luật hiện hành

24 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm Vai Trò Của Công Ty Cổ Phần Theo Pháp Luật Hiện Hành
Tác giả Lê Nguyễn Phương Duy
Người hướng dẫn T.S Từ Hữu Công
Trường học Đại học Bình Dương
Chuyên ngành Luật doanh nghiệp
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 694,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG KHOA KINH TẾ MÔN LUẬT DOANH NGHIỆP TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI ĐẶC ĐIỂM VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH GVHD T S Từ Hữu Công SVTH Lê Nguyễn Phương Duy MSSV 201030[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG KHOA KINH TẾ

MÔN LUẬT DOANH NGHIỆP

MSSV: 201030012 LỚP 201QT4411

Bình Dương, 2021

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 2

1.1 Khái niệm về công ty cổ phần 2

1.2 Các điều kiện,sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần 3

Các điều kiện để hình thành công ty cổ phần 3

Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần 3

1.3 Vốn của công ty cổ phần 5

1.4 Phân loại 6

1.5 Cổ phiếu 7

1.6 Quyền và nghĩa vụ của Đại hồi đồng cổ đông 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT 9

2.1 Vai trò của các công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế 9

2.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nội dung và ý nghĩa thực tiễn 13

2.2.1 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thực chất và những mục tiêu cần vươn tới 13

2.2.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, giải pháp chiến lược để đổi mới khu vực kinh tế nhà nước Con đường liên kết, hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh 16

2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty 17

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 20

3.1 Hoàn thiện cơ chế về bảo vệ cổ đông: 20

3.2 Luật hoá quy định về thành viên độc lập hội đồng quản trị: 20

3.2.Luật hoá quy định về thành viên độc lập hội đồng quản trị: 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

Lời nói đầu.

LỜI MỞ ĐẦU.

Trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế, những năm gần đây nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung ở nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường như một đòi hỏi tấtyếu của sự phát triển Trong điều kiện cơ chế quản lí thay đổi, khi hiệu quả sản xuấtkinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì doanh nghiệp thuộckhu vực kinh tế nhà nước đã bộc lộ đầy đủ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút

và khủng hoảng

Làm thế nào để cấu trúc sở hữu nhà nước và cải cách khu vực kinh tế nhà nướcnhằm nâng cao hiểu quả, vai trò của nó theo tinh thần các Nghị quyết Đại hội và 6 và 7của Đảng? Một trong những giải pháp có tính chiến lược để giải quyết những vấn đềnày là tiến hành cổ phẩn hóa một số doanh nghiệp nhà nước nhầm đã dạng hóa sở hữu

đã các yếu tố cạnh tranh làm động lực để tăng hiệu quả kinh doanh và xác lập một môhình doanh nghiệp hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường

Trên thực tế, công ty cổ phần và vận động cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nướckhông phải là những hiện tượng kinh tế xã hội xa lạ đối với nền kinh tế thế giới Đầuthế kỷ 18 công ty cổ phần đã trở thành hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến ở hầuhết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Một câu hỏi được đặt ra là hình tháicông ty có phải là mô hình doanh nghiệp thích hợp với những đòi hỏi khách quan củanền kinh tế nước ta hiện nay hay không? Người viết chọn đề tài này không ngoài mụcđích nghiên cứu, tìm tòi những luận cứ, cơ sở khoa học để trả lời câu hỏi trên cũng nhưmong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào tiến trình đổi mới kinh

tế đất nước

Trang 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN.

1.1 Khái niệm về công ty cổ phần.

Vào đầu thế kỷ XVII và đến nửa sau thế kỷ XIX, nhiều phát minh mới xuất hiện đãgiúp các nước phương Tây chuyển từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng Thêmvào đó là sự phát triển của quan hệ tín dụng Kết quả là sự ra đời của một hình thứckinh tế mới, đó là công ty cổ phần Công ty cổ phần là một xí nghiệp mà vốn của nó donhiều người tham gia góp dưới hình thức mua cổ phiếu Công ty cổ phần là hình thức

tổ chức phát triển của sở hữu hỗn hợp, từ sở hữu vốn của một chủ sang hình thức sởhữu của nhiều chủ diễn ra trên phạm vi công ty Công ty cổ phần là sản phẩm tất yếucủa quá trình xã hội hoá về kinh tế xã hội và cũng là sản phẩm tất yếu của quá trìnhtích tụ và tập trung hoá sản xuất

Cổ phiếu của công ty cổ phần là một loại chứng khoán có giá, bảo đảm cho cổdông được quyền lĩnh một phần thu nhập từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty thông qua lợi tức cổ phiếu (thu nhập từ cổ phiếu) Thông thường, lợi tức cổphiếu cao hơn lợi tức ngân hàng, nếu không, người có tiền sẽ gửi tiền vào ngân hàng,

ít rủi ro hơn Cổ phiếu có thể mua bán trên thị trường chứng khoán dựa vào mệnh giá

cổ phiếu, dao động giữa mệnh giá tối thiểu và tối đa

Người chủ sở hữu cổ phiếu là cổ đông Các cổ đông là chủ của công ty và họ cóquyền tham dự các đại hội cổ đông, hưởng lợi tức cổ phiếu, chuyển nhượng cổ phần,đầu phiếu

Như vậy, công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách quan hệ sở hữu khỏi quátrình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng Từ đó, nó tạo nênmột hình thái xã hội hoá sở hữu giữa một bên là đông đảo quần chúng với một bên làtầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho các kếhoạch kinh doanh qui mô lớn Những người đóng vai trò sở hữu trong công ty cổ phầnkhông trực tiêp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác cho bộ máy quản lý của công ty Trong

đó, Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị là hai tổ chức chính đại diện cho quyền sởhữu của các cổ đông trong công ty, quyền sở hữu tối cao thuộc về Đại hội cổ đông

Trang 5

Chương 1: Tổng quan về công ty cổ phần.

1.2 Các điều kiện,sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần.

Các điều kiện để hình thành công ty cổ phần.

Cũng như các hình thức tổ chức kinh doanh khác, một công ty cổ phần được thành lập thì nó phải có một số điều kiện nhất định Trong đó có những điều kiện quantrọng mà nếu thiếu một điều kiện nào đó thì công ty cổ phần không thể được thành lập

 Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn : Công ty cổ phần là công ty được thành lập do các thành viên hợp tác góp vốn cùng tổ chức sản xuất kinh doanh Các cổ đông của công ty có thể là các cá nhân hoặc các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân Nhưng điều quan trọng là các cá nhân hay các tổ chức tham gia góp vốn phải độc lập về vốn, nghĩa là họ phải có quyền tự quyết định đối với phần vốn của mình, họ phải là người chủ sở hữu phần vốn đó Nói cách khác họ phải là những người sở hữu vốn độc lập

 Những người có vốn muốn tham gia đầu tư để kinh doanh thu lơi nhuận: Trong xã hội có nhiều người và nhiều doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi Không ai không muốn đồng tiền của mình sinh lời Tuy nhiên trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, việc đầu tư cho kinh doanh thường gắn liền với nhiều rủi ro và họ có thể bị phá sản Với nhiều người, để yên tâm

và thu lợi nhuận chắc chắn, họ đem tiền gửi vào ngân hàng, tuy lãi ít nhưngtiền của họ được bảo vệ an toàn

 Lợi nhuận thu được phải đủ sức hấp dẫn người có vốn tham gia kinh doanh: Với mục đích tối đa hoá lợi ích, những người có vốn sẽ tìm nơi nào

có lợi nhất trong số những nơi có thể để đầu tư Như vậy họ sẽ phải so sánhlợi nhuận thu được giữa các nơi Khi nhà đầu tư có ý định rót vốn của mìnhvào công ty cổ phần thì họ cũng sẽ có sự so sánh lợi ích giữa việc mua cổ phần và việc gửi tiền vào ngân hàng, hoặc đầu tư cho dự án đầu tư khác

Do vậy công ty cổ phần muốn thu hút vốn thì lợi nhuận do kinh doanh phảilớn hơn khoản lợi tức ngân hàng hay lợi tức khi đầu tư vào lĩnh vực khác Không những thế lợi nhuận này phải lớn hơn ở mức cần thiết thì người có vốn mới sẵn sàng đầu tư vào công ty cổ phần

Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần.

Về mặt lý thuyết, chúng ta đều nhận thấy hình thái doanh nghiệp dưới dạng công ty

cổ phần là sản phẩm của một quá trình tiến hóa lâu dài, gắn liền với những nấc thangphát triển của xã hội hóa sở hữu trong nền kinh tê trị trường Về mặt lịch sử, có thểthấy rằng quá trình tiến hóa và phát triển của các hình thái doanh nghiệp được đặttrong bởi ba mức độ phát triển của xã hội hóa sở hữu mặc dù biểu hiện của chúng tahết sức linh hoạt và đa dạng

Hình thái kinh doanh một chủ, một hình thái bao gồm các loại doanh nghiệp trong

đó người sở hữu duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên cơ

Trang 6

sở lao động của bản thân hoặc thuê mướn người khác với nhiều vốn liếng sẵn có vàtính toán trên cơ sở những đòi hỏi của thị trường Đây là hình thái phổ biến thống trịtrong nền sản xuất hàng hóa nhỏ và trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản tự docạnh tranh Phương pháp kinh doanh này bao gồm hai cách thức: Kinh doanh theophương thức sản xuất hành hóa nhỏ và kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa.Giữa chúng tuy có sự khác nhau về mục đích và đặc điểm kinh doanh nhưng lại là sựkết hợp tất yếu của cùng một quá trình phát triển dựa trên sở hữu tư nhân Nếu như quátrình xã hội hóa nhờ hai tác nhân chủ yếu là trao đổi và tín dụng về mặt lịch sử, chínhnhờ sự trợ giúp của tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay nặng lãi mà hình thái kinhdoanh một chủ đã có sự chuyển biến về chất Từ phương thức kinh doanh xé lẻ ruộngđất và phân tán tư liệu sản xuất trong tay những người tư hữu nhỏ sang phương thứckinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa bằng quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, tưliệu sản xuất trong tay một số ít người Cùng với sự phát triển của thị trường thế giới,quy mô buôn bán và sản xuất đòi hỏi phải tập trung tư bản ngày càng lớn Để có thểđứng vững trong cạnh tranh và đáp ứng được những nhu cầu của thị trường các hìnhthức kinh doanh chung vốn lần lượt ra đời và phát triển.Hình thái kinh doanh chungvốn xét về mặt lịch sử là một bước tiến hóa trong chết dụng tín dụng, chuyển từphương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn sang phương thức kinh doanh chủyếu dựa vào vốn góp Nó được xem như là hình tháo trung gian để hình thành công ty

cổ phần sau này Trong lịch sử từng tồn tại hai mô hình kinh doanh thuộc hình thái này

đó là: Hình thái kinh doanh hợp tác xã của những người sản xuất hàng hóa nhỏ nhằmchống lại sự tan rã và phá sản của họ trước phương thức kinh doanh tư bản chủnghĩa.Hình thái công ty chung vốn của các nhà tư bản với ba hình thức phổ biến: Công

ty dân sự, công ty hợp danh và công ty hợp tư đơn giản.Trách nhiệm vô hạn và sự ràngbuộc lỏng lẻ về mặt pháp lý là những bất lợi làm cho hình thái công ty chung vốn chỉtồn tại trong một khoảng thời gian ngắn nhường chổ cho công ty cổ phần ra đời vàphát triển Những hạn chế đó đã làm cho hình thức này ngày nay có xu hướng thu vềnhững ngành kinh doanh nhỏ trong nông nghiệp, dịch vụ bán lẻ, đại lý cho các hãng…

và thường là các nhóm có tính chất gia đình Qua đó, có thể thấy rằng hình thái công ty

cổ phần bằng những ưu thế cảu mình tất yếu sẽ ra đời và thống trị kinh tế thếgiới.Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của nhà tư bản”, hai tác giả L.Kenđơ và M.Atlơ cho

Trang 7

Chương 1: Tổng quan về công ty cổ phần.

rằng: Ngày nay các công ty cổ phần đã tồn tại một cách hết sức phổ biến ở Mỹ và cácnước tư bản phát triển, mô hình công ty cổ phần với ưu điểm lớn nhất của nó là mọicông nhân đều có cổ phần kinh tế phát triển đến đỉnh cao Hình thái công ty cổ phầnchuyển từ với những công ty có hàng trăm nghìn thậm chí hằng triệu cổ đông bao gồmcác nhà tư bản lớn, công nhân và viên chức Đi đôi với quá trình xã hội hóa sản xuất,trên thực tế nội bộ công ty cổ phần cũng diễn ra hai quá trình: Quyền sở hữu cổ phầnphân tán cao độ và giá trị cổ phần tập trung cao độ Kết quả của hai quá trình đó làviệc đông đảo chủ sở hữu cổ phần giá trị nhỏ, tức là những cổ đông nhỏ vứt bỏ quyềntham gia quyết định tại đại hội cổ đông Hàng trăm nghìn, hàng triệu cổ đông nhỏ chỉtham gia mua bán trên thị trường chứng khoán, họ không gắn bó cố định với một công

ty cổ phần nào và qua đó những nhà tư bản lớn có thể sử dụng một số vốn tương đốinhỏ, chỉ sở hữu một lượng cổ phần tương đối ít nhưng có thể chi phối một giá trị cổphần rất lớn: Hãng dầu mỏ lớn nhất thế giới ETSON do năm cổ đông nắm quyền chiphối nhưng năm cổ đông này cũng chỉ chiếm 4,8% cổ phần của hãng Như vậy, sốlượng cổ đông lớn rất ít nhưng đã tập trung trong tay mình quyền chi phối hàng loạtcông ty cổ phần loại lớn Rõ ràng là tại các nước tư bản phát triển các công ty cổ phần

là mô hình kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao mà không suy yếu quan hệ chiếm hữu

tư nhân của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Công ty cổ phần đã tạo điều kiệncho tư bản ngày càng tập trung, vai trò chi phối và thống trị của nhà tư bản ngày càngtăng cường Đến đây đặt ra một vấn đề cần giải quyết là mô hình công ty cổ phần cóphù hợp với công cuộc cải cách kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là ởnước ta trong giai đoạn hiện nay hay không?

1.3 Vốn của công ty cổ phần.

Theo điều 112:

1 Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã bán Vốnđiều lệ của công ty cổ phần khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng mệnh giá cổphần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty

2 Cổ phần đã bán là cổ phần được quyền chào bán đã được các cổ đông thanhtoán đủ cho công ty Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần đã bán là tổng số cổphần các loại đã được đăng ký mua

Trang 8

3 Cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần là tổng số cổ phần các loại

mà Đại hội đồng cổ đông quyết định sẽ chào bán để huy động vốn Số cổ phần đượcquyền chào bán của công ty cổ phần khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng số cổphần các loại mà công ty sẽ chào bán để huy động vốn, bao gồm cổ phần đã được đăng

ký mua và cổ phần chưa được đăng ký mua

4 Cổ phần chưa bán là cổ phần được quyền chào bán và chưa được thanh toáncho công ty Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần chưa bán là tổng số cổ phầncác loại chưa được đăng ký mua

5 Công ty có thể giảm vốn điều lệ trong trường hợp sau đây:

a) Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốngóp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạtđộng kinh doanh liên tục từ 02 năm trở lên kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp

và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trảcho cổ đông;

b) Công ty mua lại cổ phần đã bán theo quy định tại Điều 132 và Điều 133 củaLuật này;

c) Vốn điều lệ không được các cổ đông thanh toán đầy đủ và đúng hạn theoquy định tại Điều 113 của Luật này

1.4 Phân loại.

Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổđông phổ thông

Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu

cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:

Cổ phần ưu đãi cổ tức;

Cổ phần ưu đãi hoàn lại;

Cổ phần ưu đãi biểu quyết;

Cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về chứngkhoán

Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần

ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định

Trang 9

Chương 1: Tổng quan về công ty cổ phần.

Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu cổ phần đó các quyền,nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau

Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi cóthể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông

Cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu kýkhông có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở Chứng chỉ lưu kýkhông có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổthông cơ sở, trừ quyền biểu quyết

Chính phủ quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết

1.5 Cổ phiếu.

Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi số hoặc dữ liệuđiện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu phảibao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty;

Số lượng cổ phần và loại cổ phần;

Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu;

Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông

là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sởchính đối với cổ đông là tổ chức;

Chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty;

Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu;Nội dung khác theo quy định tại các điều 116, 117 và 118 của Luật này đối với

cổ phiếu của cổ phần ưu đãi

Trường hợp có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu do công ty phát hành thìquyền và lợi ích của người sở hữu cổ phiếu đó không bị ảnh hưởng Người đại diệntheo pháp luật của công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra.Trường hợp cổ phiếu bị mất, bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại dưới hình thức khác thì cổđông được công ty cấp lại cổ phiếu theo đề nghị của cổ đông đó Đề nghị của cổ đôngphải bao gồm các nội dung sau đây:

Thông tin về cổ phiếu đã bị mất, bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại dưới hình thứckhác;

Trang 10

Cam kết chịu trách nhiệm về những tranh chấp phát sinh từ việc cấp lại cổ phiếumới.

1.6 Quyền và nghĩa vụ của Đại hồi đồng cổ đông.

Theo điều 138 là:

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyếtđịnh cao nhất của công ty cổ phần

Đại hội đồng cổ đông có quyền và nghĩa vụ sau đây:

Thông qua định hướng phát triển của công ty;

Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chàobán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần;

Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên;Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản trởlên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công

ty quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác;

Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;

Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;

Xem xét, xử lý vi phạm của thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên gâythiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;

Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;

Quyết định ngân sách hoặc tổng mức thù lao, thưởng và lợi ích khác cho Hộiđồng quản trị, Ban kiểm soát;

Phê duyệt quy chế quản trị nội bộ; quy chế hoạt động Hội đồng quản trị, Bankiểm soát;

Phê duyệt danh sách công ty kiểm toán độc lập; quyết định công ty kiểm toánđộc lập thực hiện kiểm tra hoạt động của công ty, bãi miễn kiểm toán viên độc lập khixét thấy cần thiết;

Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

Trang 11

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT.

2.1 Vai trò của các công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế

Công ty cổ phần được hình thành và phát triển do sự đòi hỏi của sự phát triển nềnkinh tế thị trường, trong đó chế độ tín dụng và ngân hàng là đòn bẩy cho quá trình xãhội hóa sở hữu, tiền đề của công ty cổ phần Công ty cổ phần là hình thức kinh tế cóvai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Vai trò lớn nhất của công ty cổ phần là nó đã góp phần đẩy nhanh quá trình xã hộihóa sở hữu cả về tốc độ lẫn qui mô vì bản thân công ty cổ phần đã là sản phẩm của sự

xã hội hóa sở hữu, được thể hiên qua quá trình tích tụ và tập trung tư bản Sự lớn lên tựnhiên của tư bản bằng con đường tích tụ và tập trung tư bản đã gặp phải những giớihạn Chính nhờ sự ra đời của công ty cổ phần mà tư bản được tập trung nhanh chóng

và làm xuất hiện những xí nghiệp khổng lồ mà không một tư bản riêng lẻ nào đủ sứctạo nên C.Mác đã đánh giá rằng nếu như phải chờ cho đến khi tích lũy tư bản làm chomột số tư bản lớn lên đến mức có thể làm được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đếnnay thế giới vẫn chưa có đường sắt; ngược lại, với các công ty cổ phần, việc tập trung

đã được thực hiện trong “nháy mắt” Công ty cổ phần còn tạo điều kiện thuận lợi cho

sự di chuyển tư bản đầu tư, tăng tính linh hoạt và cạnh tranh trong nền kinh tế, phântán rủi ro cho những người đầu tư trong môi trường cạnh tranh quyết liệt

Công ty cổ phần hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến trong nền kinh tế thị trường

có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thịthường có sự quản lí của nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường,công ty cổ phần tạo ra các công cụ để có thể huy độngvốn với quy mô lớn và hiệu qủa cao.nhờ phát hành cổ phiếu và trái phiếu,công ty cổphần có thể huy động được những nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi nằm tản mạn trong xãhội để đầu tư vào những công trình đòi hỏi những nguồn vốn lớn và dài hạn mà từng

cá nhân hoặc từng doanh nghiệp không có khả năng tích luỹ được như đầu tư xây dựngđường sắt,xây dựng những xí nghiệp công nghiệp sử dụng công nghệ cao trong nềnkinh tế nước ta hiện nay thiếu vốn đang là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển.Huy động

Trang 12

vốn của từng doanh nghiệp.

Hình thức huy động vốn hiện nay ở nước ta còn nghèo nàn (với hai hình thức chủyếu là hệ thống quỹ tiết kiệm và tín phiếu kho bạc nhà nước), và so với hình thức huyđộng vốn qua công ty cổ phần thì những hình thức đó còn mang nhiều nhược điểm đóivới cả người gửi và người đi vay:

Thứ nhất nếu huy động vốn qua hệ thống tiết kiệm,tín dụng thì lãi suất và chi phícao gây khó khăn cho người sử dụng vốn vì phải thông qua nhiều khâu, chi phí nghiệp

vụ và lợi tức tăng lên Huy động vốn qua công ty sẽ giảm được mọi chi phí không cầnthiết do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng vốn cũng như bảo vệ quyền lợingười có vốn

Thứ hai gửi tiền vào quỹ tiết kiệm tuy có được một lãi suất ổn định,hạn chế phầnnào rủi ro nhưng ngừi có vốn hoàn toàn mất khả năng chi phối việc sử dụmg vốn cũngnhư không được hưởng những may mắn của việc sử dụng đồng vốn đó Sử dụng vốnmua cổ phiếu mặc dù phải chịu sự rủi ro ở một mức độ nhất định nhưng họ cũng sẽđược hưởng những may mắn mà trong thương trường lúc nào cũng có Hơn nữa, mua

cổ phần tuy được giải phóng khỏi nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn nhưng các cổ đôngvẫn có quyền lực trong đại hội cổ đông,và một khi điều kiện và khả năng cho phép họ

có thể đựoc bầu vào cơ quan lãnh đạo công ty Chính vì những lợi ích ấy mà việc mua

cổ phần hấp dẫn hơn gửi tiền tiết kiệm.Tất nhiên cũng cần phải thấy rằng để nhữngđiều đó trở thành hiện thực còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác liên quan đếnviệc làm cho công ty cổ phần có một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân.Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân tán rủi ro nhằm hạn chế những tiêu cực vềkinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng

Rủi ro trong kinh doanh là có thể xảy ra tuy không phải là một tất yếu đối với mọidoanh nghiệp song cũng là lẽ tự nhiên trong thương trường

Khắc phục rủi ro bằng sự thận trọng là điều cần thiết song không phải là cách duy nhấtbởi vì mức độ rủi ro lại thường tỉ lệ thuận với triển vọng thu lợi nhuận.Vì vậy trongkinh doanh muốn thu lợi nhuận cao đôi khi phải mạo hiểm.Chấp nhận rủi ro là mộtphẩm chất cần có của một nhà kinh doanh nhưng chấp nhận mạo hiểm không phải làliều lĩnh theo kiểu”được ăn cả ngã về không”,chấp nhận mạo hiểm nhưng vẫn cần có

Ngày đăng: 22/02/2023, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w