Luận văn : Hoàn thiện công tác lập kế hoạch ngành viễn thông tới năm 2020
Trang 1Lời mở đầu
Kinh tế nước ta đang phát triển theo hướng kinh tế thị trường, một thị trường
có sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt Sự bùng nổ thông tin cùng với quá trình toàncầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa- xã hội
và chính trị Cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đặc biệt là công ngệthông tin tiếp tục phát triển nhảy vọt thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức toàncầu hoá nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế này càng sâu rộng trong đó côngnghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển Xuhướng quốc tế hoá toàn cầu hoá nền kinh tế xã hội cũng như đời sống thông tin diễn
ra nhanh chóng, nhu cầu trao đổi thông tin trong quá trình phát triển kinh tế của đấtnước, hội nhập kinh tế là nguồn động lực quan trọng cho phát triển Viễn thông.Viễn thông phải là ngành đi đầu trong sự nghiệp đổi mới trở thành môi trường quantrọng tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển và có như vậy thì mới thựchiện được chủ chương của Đảng đưa đất nước trong tương lai trở thành một nướccông nghiệp hiện đại
Nhưng bên cạnh đó công tác chỉ đạo xây dựng kế hoạch cho ngành viễn thôngchưa thực sự phù hợp với môi trường hiện nay việc xác định các chỉ tiêu, mục tiêucủa kỳ kế hoạch chỉ mang tính thống kê định hướng, cho nên việc sử dụng cácnguồn lực cho kỳ kế hoạch còn hạn chế Dẫn đến công tác giám sát kiểm tra nhưngkết quả chưa đạt hiệu quả cao Do vậy việc sử lý các sai phạm của các doanh nghiệphoạt động trong ngành cần một cơ chế chặt chẽ hơn Trong bối cảnh hội nhập nhưhiện nay thì việc phải điều chỉnh công tác kế hoạch phát triển ngành viễn thông chophù hợp với yêu cầu của định hướng phát triển ngành là một yêu cầu cấp thiết
Do vậy em chọn đề tài này nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch hiện nayđồng thời như là một kiến nghị của riêng cá nhân em vào sự phát triển chung củangành viễn thông
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về lập kế hoạch ngành viễn thông.
Chương 2 Hiện trạng công tác lập kế hoạch phát triển ngành viễn thông Chương 3 Đề xuất điều chỉnh trong công tác lập kế hoạch và định hướng
Trang 2Chương 1 Cơ sở lý luận về lập kế hoạch ngành viễn thông.
1.1 Lý luận chung về kế hoạch ngành viễn thông.
1.1.1 Kế hoạch ngành viễn thông trong bối cảnh hội nhập.
I.1.1.1 Một số khái niệm.
I.1.1.1.1 Kế hoạch phát triển ngành.
Hệ thống kế hoạch hóa bao gồm bốn bộ phận liên kết chặt chẽ, trong đó chiếnlược đóng vai trò định hướng xác định tầm nhìn dài hạn, quy hoạch đi sâu vào địnhhướng về không gian và tổ chức kinh tế xã hội, chương trình dự án đóng vai tròđánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của một dự án cụ thể Tuy nhiên để quản lý, điềutiết các không gian và tổ chức kinh tế xã hội, diễn ra trong từng giai đoạn, từng thờiđiểm cụ thể, chúng ta phỉ dựa trên những công cụ cụ thể hơn và kế hoạch phát triển
chính là một trong những công cụ ấy Kế hoạch là công cụ quản lý và điều hành vĩ
mô nền kinh tế quốc dân, nó xác định một cách hệ thống những hoạt động nhằm phát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách sử dụng trong một thời kỳ nhất định
Do vậy nghị quyết đại hội IX của Đảng cộng sản Việt nam đã xác định “ Xâydựng kế hoạch 5 năm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoạch hóa pháttriển” Kế hoạch 5 năm được xác định là trung tâm trong hệ thống kế hoạch hóaphát triển
1.1.1.1.2 Viễn thông.
Để có thể có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của Viễn thông và hiểu các chỉtiêu đánh giá chất lượng Viễn thông và từ đó phân tích các nhân tố tác động đếnhoạt động sản xuất kinh doanh và khai thác dịch vụ Viễn thông thì trước tiên phảihiểu được các khái niệm sau:
Thiết bị Viễn thông: là các phương tiện kỹ thuật, bao gồm cả phần cứng vàphần mền được dùng để thiết lập mạng Viễn thông , cung cấp và sử dụng dịch vụViễn thông
Trang 3Thiết bị mạng: là thiết bị Viễn thông được lắp đặt trên mạng Viễn thông, baogồm thiết bị truyền dẫn, thiết bị chuyển mạch và các thiết bị xử lý thông tin khác.Thiết bị đầu cuối: là thiết bị Viễn thông được đấu nối trực tiếp hoặc gián tiếpđến điểm kết cuối của mạng Viễn thông để gửi, xử lý và nhận các thông tin dướidạng ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh qua mạng Viễn thông.Thiết bị đầu cuối thuê bao là thiết bị đầu cuối di động hoặc cố định của người
sử dụng được đấu nối hoà mạng vào mạng Viễn thông công cộng qua điểm kết nốicua mạng Viễn thông công cộng
Thiết bị đầu cuối thuê bao được phân thành:
+ Thiết bị đầu cuối thuê bao một đường là thiết bị đầu cuối không có chứcnăng chuyển mạch hoặc kết nối các cuộc gọi bao gồm: Thiết bị điện thoại cố định,thiết bị điện thoại di động, thiết bị fax, thiết bị nhắn tin, modem, thiết bị đầu cuốitruy cập Internet, máy tính,…
+ Thiết bị đầu cuối thuê bao nhiều đường là thiết bị đầu cuối có chức năngchuyển mạch, kết nối các cuộc gọi bao gồm các tổng đài, thiết bị cổng truy nhập vôtuyến Internet, thiết bị có tính năng kết nối các cuộc gọi
Dịch vụ Viễn thông: là dịch vụ truyền kí hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âmthanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết nối của mạngViễn thông
Mạng Viễn thông bao gồm: Mạng Viễn thông công cộng, mạng Viễn thôngdùng riêng, mạng Viễn thông chuyên dùng là tập hợp các thiết bị Viễn thông đượcliên kết với nhau bằng các đường truyền dẫn
Mạng Viễn thông công cộng: là mạng Viễn thông do doanh nghiệp Viễn thôngthiết lập để cung cấp các dịch vụ Viễn thông
Mạng Viễn thông dùng riêng: là mạng Viễn thông do cơ quan, tổ chức, doanhnghiệp hoạt động tại Việt Nam thiết lập để bảo đảm thông tin cho các thành viêncủa mạng, bao gồm các thiết bị Viễn thông được lắp đặt tại các địa điểm xác địnhkhác nhau và được kết nối với nhau bằng các đường truyền dẫn do cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp thuê hoặc tự xây dựng
Trang 4Mạng Viễn thông chuyên dùng là mạng Viễn thông để phục vụ thông tin đặcbiệt của các cơ quan nước, phục vụ thông tin quốc phòng, an ninh Chính phủ quyđịnh cụ thể về việc đảng, Nhà thiết lập và hoạt động của các mạng Viễn thôngchuyên dùng.
Mạng nội bộ là hệ thống thiết bị Viễn thông do một tổ chức hoặc cá nhân thiếtlập tại một địa chỉ và phạm vi xác định mà chủ mạng nội bộ đó có toàn quyền sửdụng hợp pháp để đảm bảo liên lạc nội bộ cho các thành viên trong mạng
Hệ thống đường trục Viễn thông quốc gia là một phần của mạng Viễn thôngcông cộng, bao gồm các đường truyền dẫn đường dài trong nước và quốc tế, và cáccổng thông tin quốc tế có tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ hoạt động củamạng Viễn thông quốc gia và ảnh hưởng trực tiệp đến việc phát triển kinh tế xã hội,đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước
Truyền dẫn và phát sóng là việc truyền kí hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âmthanh hình ảnh và các giải pháp của thông tin bằng cáp, sóng vô tuyến điện cácphương tiện quang học và các phương tiện điện tử khác
Quá trình truyền tin tức diễn ra giữa hai người sử dụng: Người gửi tin và ngườinhận tin Thông thường toàn bộ quá trình truyền đưa tin tức do nhiều đơn vị thamgia ở những khoảng cách rất khác nhau thậm chí có những đơn vị trong hệ thốngnằm ngoài lãnh thổ một quốc gia Mỗi đơn vị thực hiện một công đoạn, vai trò củacác đơn vị trong quá trình truyền tin tức quyết định đến chất lượng thông tin nhưnhau (đơn vị đầu cuối, phát tin, nhận tin, truyền đưa tin)
Một quá trình truyền đưa tin tức bao gồm ba công việc chính:
+ Nhận tin từ người gửi tin tức là quá trình thu nhận tin tức;
+ Vận chuyển tin tức trong không gian đến nơi cần thiết tức là sử lý thông tin;+ Trả tin tức cho người nhận tức là quá trình phát tin tức;
Việc chuyển đưa tin tức trong không gian cũng được thực hiện bằng nhiều hìnhthức khác nhau trong Viễn thông thì người ta truyền bằng đường cáp, sóng vô tuyếnđiện, các phương tiện quang học và các phương tiện điện tử khác
Viễn thông được hiểu như cách thức trao đổi dữ liệu thông qua kỹ thuật điện tử
và các công nghệ hiện đại khác Các dịch vụ viễn thông đầu tiên theo nghĩa này là
Trang 5điện báo và điện thoại Ngày nay các thiết bị viễn thông là một thành phần cơ bảncủa hệ thống hạ tầng.
Sự hội tụ trong lĩnh vực viễn thông cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu
sử dụng và truyền dẫn dữ liệu của con người cũng thăng lên theo cấp số nhân.Ngành viễn thông đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển đưa tri thức củaloài người đến với mỗi người chúng ta, thúc đẩy quá trình sáng tạo đưa thông tinkhắp nơi về về các nghành lĩnh vực khoa học, các thông tin giải trí cũng như thời sựkhác Viễn thông đem lại sự internet băng thông rộng thúc đẩy nghành công nghệthông tin phát triển lên một hội tụ, hay sự thống nhất về các loại hình truyền dẫn dữliệu dịch vụ như thư thoại, video, và dữ liệu mức cao hơn với đa dạng các loại hìnhdịch vụ và chi phí rẻ hơn Mạng viễn thông giúp người sử dụnh có thể gọi điện thoạiqua mạng Internet, có thể chia sẻ ngồn dữ liệu, có thể thực hiện những giao dịchmọi nơi trên khắp thế giới một cách đơn giản Viễn thông ngày càng tạo nên một thếgiới gần hơn hội tụ cho tất cả mọi người
1.1.1.1.3 Hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới,một quốc gia nếu không bị tụt hậu và có sự phát triển bền vững thì không thể thamgia vào quá trình quốc tế hóa hóa dời sống kinh tế, hội nhập nền kinh tế quốc tế,tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế
Hội nhập (hay liên kết) kinh tế quốc tế được hiểu là các nền kinh tế thế giớihợp tác lẫn nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau Hội nhập kinh tếquốc tế được coi là một khâu trong quá trình phát triển và là tiền đề cho quá trìnhphát triển bền vững
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại những lợi ích kinh tế mà không phải quốcgia nào cũng có được Hội nhập thực hiện tự do hóa thương mại tạo điều kiện thuậnlợi trong việc tiếp thu vốn, công nghệ, trình độ quản lý Về lâu dài tự do hóa thươngmại sẽ góp phần tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế
1.1.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển nghành Viễn thông và ý nghĩa với kế hoạch phát triển nghành.
Tự do hóa thương mại sẽ tạo điều kiện cho mỗi quốc gia thành viên có điềukiện thuận lợi trong việc tiếp thu vốn, công nghệ, trình độ quản lý Nghành viễn
Trang 6thông không đứng ngoài xu thế đó, sự hội nhập sẽ giúp cho các nghành có được sựthuận lợi trên Không những thế sự cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập sẽ trở thànhđộng lực phát triển của nghành Bên cạnh đó, sự hội nhập sẽ giúp cho Việt Namnâng cao hiệu lực quản lý nhà nước một cách có ý thức và theo lộ trình cụ thể thôngqua việc thực hiện các cam kết khi tham gia vào các tổ chức như WTO, AFTA…Đây là những thuận lợi mà chúng ta không thể có được nếu đóng cửa nền kinh tế,đứng ngoài cuộc chơi toàn cầu hóa đang lan tỏa đến từng quốc gia.
Tuy nhiên hội nhập không chỉ mang lại sự thuận lợi cho nghành mà nó cũngđặy ra các vấn đề cạnh tranh Trong khi năng lực của các doanh nghiệp trong nướccòn hạn chế thì sự gia nhập của các tập đoàn lớn sẽ là một thách thức không nhỏtrong sân chơi bình đẳng Việc mở cửa thị trường sẽ là cơ hội tốt cho các tập đoànlớn của nước ngoài vào Việt Nam điều đó sẽ làm mất thị trường của một số cácdoanh nghiệp trong nước còn đang hoạt động một cách yếu kém, không những vậy
sẽ tạo ra một luuồng chảy chất sám ra nước ngoài nơi mà có điều kiện để phát triển
và là cơ hội của bất kỳ ai… Đó chỉ là một số khó khăn cơ bản mà nếu nghành Viễnthông nói chung, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nói riêng nếu không có
sự chuẩn bị tốt thì sẽ không thể nào hội nhập thành công
Về phần Kế hoạch nghành viễn thông trong bối cảnh hội nhập cũng phải có sựđiều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế để có thể không chỉkhai thác được tiềm năng trong nước mà còn tận dụng được những nguồn lực đến từbên ngoài như vốn, khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý… Bên cạnh đó kế hoạchcũng là một bản cam kết của nhà nước về định hướng phát triển ngành trong tươnglai sao cho phù hợp vớ các thông lệ quốc tế, các thỏa thuận đã được kí kết trong quátrình đàm phán Từ đó mới có thể tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoàitrong lĩnh vực viễn thông Và trên hết hội nhập đòi hỏi kế hoạch phát triển nghànhphải có sự điều chỉnh sao cho có thể tận dụng mọi lợi thế và khắc phục khó khăn để
có thể đưa ngành phát triển vững mạnh trong giai đoạn mới
Với viễn thông thì khi có hội nhập các công nghệ mới sẽ du nhập vào ViệtNam một cách thuận lợi và có hệ thống không chỉ do chúng ta tự đầu tư, đem về màcòn do các quốc gia, các tập đoàn lớn mang đến thông qua việc đầu tư vào ViệtNam một cách chủ động Chính vì thế khi có sự hội nhập công nghệ của ngànhViễnthông vốn đã thay đổi nhanh lại càng nhanh do phải theo kịp với các công nghệ tiêntiển trên thế giới, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sự kết nối và tương thích với mạng
Trang 7toàn cầu, đồng thời làm chậm bước tiến của chúng ta trong việc đi thẳng vào côngnghệ cao Chính vì thế, hao mòn vô hình của nghành khi công nghệ thay đổi sẽ cótốc độ nhanh hơn sau khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Điều nàyđòi hỏi kế hoạch ngành viễn thông không được cứng nhắc mà phải luôn có sự điềuchỉnh sao thích hợp với điều kiện mới, nhanh chóng thay đổi thích nghi với ngoạicảnh để có thể dẫn dắt ngành phát triển.
Bên cạnh các công nghệ các nguồn vốn cả trực tiếp và gián tiếp sẽ liên tục đổvào Việt Nam trong lĩnh vực Viễn thông đây là lĩnh vực công nghệ co, các nhà đầu
tư trên thế giới có xu hướng đầu tư ra các nước của họ có xu hướng bão hòa điềunày đặt ra cho Kế hoạch nghành trong điều kiện mới làm sao có thể đưa ra cácphương án để thu hút và tận dụng tốt nhất nguồn vốn nước ngoài ồ ạt vào Việt Namsau hội nhập
Ngoài công nghệ và vốn, một yếu tố cũng vô cùng quan trọng đó là trình độquản lí và nền tảng kiến thức hiện đại sẽ du nhập theo nguồn vốn đầu tư vào ViệtNam, đây là yếu tố mà Việt Nam nói chung và các nước đang phát triển nói riêngđang vừa thiếu lại vừa yếu, do tư duy kinh tế chưa phát triển nền kinh tế thị trườngchưa thực sự hoàn thiện Tự do hóa thương mại chúng ta sẽ có những bài học kinhnghiệm quý báu về công tác quản lý, về cách điều hành mà các nước tiên tiến đang
áp dụng, để từ đó có thể linh hoạt áp dụng một cách hợp lý vào Việt Nam Điều nàykhông thể ncó được nếu chúng ta đóng cửa nền kinh tế và nó đặt ra kế hoạch ngànhviễn thông trong giai đoạn mới phải có sự điều chỉnh để có thể phát triển một độingũ nhân lực có đủ trình độ và năng lực để có thể tiếp thu được toàn bộ các kiếnthức, kinh nghiệm quản lý phục vụ cho sự phát triển ngành
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là một thách thức lớn đòi hỏi Kế hoạch pháttriển ngành Viễn thônng phải có sự điều chỉnh linh hoạt sao cho phù hợp với điềukiện mới tránh sự cứng nhắc trong Kế hoạch sẽ khiến cho nghành không bắt kịptheo các xu hướng thời đại, bỏ lỡ các thời cơ đang mở rộng Điều chỉnh công tác lập
kế hoạch trong giai đoạn mới là phải làm rõ được các yếu tố ảnh hưởng gồm cảthuận lợi, khó khăn của hội nhập đến Viễn thông của Việt Nam để từ đó có thể cócác chỉ tiêu, mục tiêu, giải pháp điều chỉnh bổ sung sao cho ngành có thể nắm bắtcác cơ hội, vượt lên khó khăn để không ngừng phát triển
1.1.2 Sự cần thiết phải lập kế hoạch ngành viễn thông.
Trang 8Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế Văn kiện đại hội Đảng IX đã khẳngđịnh mục tiêu phát triển của chiến lược 10 năm 2001 – 2010: “Đưa đất nước ra khỏitình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần củanhân dân; Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ,kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, an ninh quôc phòng được tăng cường; Thể chếkinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thếcủa nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”.
Xuất phát từ mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng,chiến lược phát Bưu chính Viễn thông đến năm 2010 và định hướng phát triển đếnnăm 2020 và chỉ số 58- CT/TW của Bộ Chính trị sẽ xem xét lý do cần phải xâydựng kế hoạch 5 năm phát triển Viễn thông ở ba khía cạnh sau:
Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế
Để thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế của Đảng thì phải phát triển cơ
sở hạ tầng tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển Viễn thông vàInternet lại là một phần quan trọng của cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia do đó phảiđược ưu tiên phát triển Những ứng dụng công nghệ thông tin vào trong vào trongcác ngành kinh tế khác góp phần làm tăng năng xuất của những ngành này từ đóthúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của đất nước Do đó phát triểnViễn thông là cần thiết vì nó là yếu tố khách quan cho quá trình sản xuất Mục tiêucủa công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện đại hoá là xây dựng nước ta là thành mộtnước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại
Mặt khác, trong Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoácủa đất nước” Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất cảu
sự phát triển, ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin nước ta nhằm góp phầngiải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ, tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộcđổi mới, phát triển nhanh và hiện đại các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả quá trình chủ động hội nhập kinh tếquốc tế
Muốn thực hiện được điều đó thì phải ưu tiên phát triển mạng thông tin quốcgia liên kết với mạng thông tin quốc tế Đẩy mạnh đầu tư xây dựng mạng thông tin
Trang 9quốc gia, bao gồm hệ thống Viễn thông và Internet Việt Nam Phát triển mạngthông tin quốc gia đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của toàn xã hội.
Có thể nói thế kỷ XXI là thể kỷ của sự bùng nổ công nghệ thông tin, thế kỷ màcác công nghệ Viễn thông, Internet trở thành công nghệ gốc, quyết định phát triểncác loại công nghệ khác Nếu không phát triển công nghệ thông tin thì mọi côngnghệ khác sẽ trở nên lạc hâu, kém hiệu quả và bị loại trừ
Trong cuộc sống ngày nay, đời sống xã hội đang có bước thay đổi lớn nhờ sựphát triển không ngừng của cách mạng công nghệ, tình hình kinh tế, chính trị thếgiới đang có nhiều thay đổi, cả thế giới đang trở thành một thị trường thống nhất thì
sự phát triển phồn thịnh của đất nước không chỉ phụ thuộc vào yếu tố bên trongquốc gia mà còn phụ thuộc rất nhiều vào vận hội và khả năng khai thác, học hỏi ởthế giới bên ngoài
Các nguồn thông tin từ thế giới bên ngoài có thể qua nhiều con đường vàphương tiện khác nhau về nước ta như: báo chí, phát thanh, truyền hình…Tuy nhiêncác phương tiên này chỉ cho nguồn thông tin một chiều Để có thể giải quyết hàngloạt các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cần phải có các phương tiệngiúp cho việc trao đổi thông tin hai chiều và nhiều chiều phương tiện đó chính làViễn thông và Internet
Thực tế trong tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, công nghệthông tin là môi trường quan trọng tạo ra các điều kiện ban đầu cho việc hội nhập.Công nghệ thông tin là động lực chủ yếu phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin.Như vậy công nghệ thông tin nói chung và viễn thông nói riêng phải đi trước mộtbước trong quá trình hội nhập Công nghệ thông tin là cơ sở phát triển công nghệ củamọi ngành kinh tế – xã hội hiện đại Muốn như vậy phải có kế hoạch phát triển Viễnthông cũng như Internet một cách hợp lý để đạt được sự phát triển kinh tế của đất nước
Xuất phát từ yêu cầu đời sống xã hội
Để thực hiện mục tiêu chiến lược 2001 – 2010 là nâng cao đời sống vật chất,văn hoá, tinh thần của người dân Thì Viễn thông cần phải phát triển mạnh hơn nữa,các phương tiện dịch vụ truyền thông tin ngày càng phải đa dạng hơn nữa dễ dàngtiện lợi cho người sử dụng Nếu như trước đây chỉ có dịch vụ truyền thông tin như
Trang 10phát triển các dịch vụ Viễn thông mới như điện thoại dùng thẻ, điện thoại di động,điện thoại hình, dịch vụ nhắn tin, dịch vụ Internet, dịch vụ tư vấn…Yêu cầu tăng lênthường xuyên là nhân tố thúc đẩy Viễn thông phát triển và không ngừng cải tiến,nâng cao chất lượng dịch vụ.
Mặt khác xét về khía cạnh xã hội thì sự phát triển của Viễn thông sẽ kéo theocác ngành mới ra đời như lắp ráp điện tử, sản xuất điện thoại… tạo thêm được nhiềuviệc làm mới làm tăng thu nhập của người dân từ đó cải thiện được đời sống vậtchất tinh thần của người dân cũng như đóng góp vào việc làm giảm gánh nặng thấtnghiệp cho toàn xã hội
Xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của công nghệ thông tin nói chung
và Viễn thông nói riêng
Trong điều kiện nước ta hiện nay là nên kinh tế thị trường vấn đề nâng cao chấtlượng sản phẩm dịch vụ được coi là nhân tố hàng đầu giúp doanh nghiệp chiếnthắng và đạt được mục tiêu kinh doanh của mình như doanh thu, lợi nhuận, uy tín…
Sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt thì thông tin ngày càngnhanh nhạy và chính xác Chính vì vậy mà không ai có thể đảm bảo chắc rằngnhững dịch vụ Viễn thông hiện có sẽ tiếp tục thành công trong tương lai nếu khôngđược cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ
Phương hướng, nhiệm vụ đại hội IX của Đảng đặt ra đối với Bưu chính Viễnthông trong chương trình kết cấu hạ tầng là phát triển mạng lưới Bưu chính Viễnthông hiện đại đồng bộ, thống nhất, và đa dạng đáp ứng tối đa nhu cầu phát triểnkinh tế xã hội, an ninh quốc phòng với chất lượng cao nhất, điều chỉnh giá cước đểkhích người dân sử dụng rộng rãi Đến năm 2010, số máy điện thoại, số người sửdụng Internet trên 100 dân đạt mức trung bình của khu vực
Chính vì vậy phải có kế hoạch phát triển Viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ
là giải pháp cứu cánh trong chương trình phát triển cơ sở hạ tầng của nước ta
Trên đây là ba lý do cần phải xây dựng kế hoạch phát triển Viễn thông vậyvấn đề đặt ra là xây dựng kế hoạch trong khoảng thời gian nào thì sẽ phù hợp1năm, 3 năm, 5 năm Vấn đề này sẽ được giải quyết như sau:
Trang 11+ Xây dựng kế hoạch phát triển Viễn thông trong khoảng 5 năm bởi vì thờigian 5 năm là thời gian đủ ngắn để đảm bảo việc định lương có cơ sở vững chắchơn (xác định các chỉ tiêu thực thi được chính xác hơn).
+ Thời gian 5 năm đủ dài so với một năm và 3 năm để đảm bảo cho sự đánhgiá hiệu quả các chính sách phát triển Viễn thông, đảm bảo cho các chính sách vàgiải pháp này bộc lộ được mặt nhược điểm, ưu điểm
+ 5 năm là khoảng thời gian trùng khớp với một nhiệm kỳ lãnh đạo chính trịđảm bảo sự thống nhất giữa lãnh đạo kinh tế và lãnh đạo chính trị đảm bảo tổ chứctriển khai quy trách nhiệm cho các cấp
Do việc xây dựng kế hoạch việc xây dựng kế hoạch cho phù hợp với tình hìnhtrên và sự chỉ đạo của chính phủ nhằm đạt được sự thay đổi của đời sống văn hóa xãhội của đất nước, thì việc sửa đổi bổ xung là điều vô cùng cần thiết
1.1.2.1 Sơ lược về lịch sử ngành Viễn thông
Ngành Bưu chính Viễn thông trước đây được gọi là ngành Bưu điện, lịch sửhình thành và phát triển của ngành gắn với lịch sử dân tộc trong sự nghiệp giảiphóng, bảo vệ và xây dựng tổ quốc Theo nguồn từ Bộ Bưu chính Viễn thông thìlịch sử hình thành và hoạt động của ngành Bưu chính Viễn thông có thể tóm tắt nhưsau
Bưu chính Viễn thông trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứunước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và miền Nam sau giải phóng, làthực hiện nhiệm vụ thông tin liên lạc của Đảng và Nhà nước, cho các cơ quan, đơn
vị và nhân dân Thời kỳ này là thời kỳ có nhiều khó khăn đối với ngành, Ngân sáchNhà nước rất eo hẹp, còn ưu tiên phục vụ cho chiến đấu, bảo vệ miền Bắc xã hộichủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, phục vụ trước hết
là cho các nhu cầu cấp bách nhất, nên đã thiếu lại càng thêm thiếu Dù vậy, phát huytruyền thống cách mạng “Trung thành, Dũng cảm, Tận tuỵ, Sáng tạo, Nghĩa tình”,các bộ công nhân viên toàn ngành Bưu điện đã không ngại hy sinh, gian khổ, phấnđấu hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánhgiá cao, tặng phần thưởng cao quý: Huân chương độc lập, Huân chương Sao vàng…Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Sau khi hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giảiphóng dân tộc, thống nhất nước nhà, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước
Trang 12tiến vào giai đoạn cách mạng mới – giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc Cán bộ công nhân viên ngành BĐVN cùng với nhân dân bước vào cuộcchiến đấu mới, đó là cuộc chiến đấu với nghèo nàn, lạc hậu và chiến đấu bảo vệbiên giới phía Bắc, biên giới phía Nam của Tổ quốc Tiếp nối truyền thống vẻ vangtrong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, ngành Bưu điện đã viết tiếp nhữngtrang sử mới, lập thêm nhiều kỳ tích mới trong thời kỳ xây dựng XHCN và gópphần đưa đất nước tiến con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Năm 1976, Tổng cục Bưu điện đã chính thức tham gia 2 tổ chức quốc tế là:Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) và Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) vàtăng cường mở rộng quan hệ quốc với nhiều nước trên thế giới
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, non sông trở về một mối, ngày02/08/1976, Hội nghị thống nhất toàn ngành Bưu điện được tổ chức tại thành phố
Hồ Chí Minh Từ đây, ngành Bưu điện Việt Nam thống nhất dưới sự chỉ đạo chungvào một đầu mối, một đơn vị kế hoạch với Nhà nước Ngành là đơn vị trực thuộcHội đồng Chính phủ vừa thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về thông tin liên lạc,vừa làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và phục vụ các yêu cầu của Đảng và Nhànước
Ngày 02/11/1979, Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết 390/CP xác định “NgànhBưu điện là cơ quan thông tin liên lạc của Đảng và chính quyền các cấp, đồng thời
là một ngành kinh tế – kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, hoạt động theo phươngthức kinh doanh xã hội chủ nghĩa và chế độ hạch toán kinh tế” Hệ thống tổ chứcngành Bưu điện gồm:
- Tổng cục Bưu điện
- Bưu điện tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Bưu điệntỉnh)
- Bưu điện huyện và tương đương
- Trạm Bưu điện xã và tương đương
Tổng cục Bưu điện quản lý toàn bộ tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn, tổ chức,cán bộ của các Bưu điện tỉnh, các xí nghiệp , các đơn vị sự nghiệp trong Ngành,không ngừng cải tiến hệ thống quản lý Bưu điện để đáp ứng yêu cầu phát triển củanền kinh tế quốc dân Từ đó trải qua nhiều lần thay đổi và cải cách lại bộ máy quản
Trang 13lý hành chính của Ngành đến 26/ 10/1992, Chính phủ ra nghị định số 03/CP về việcthành lập Tổng cục Bưu điện là cơ quan của Chính phủ có chức năng quản lý Nhànước về Bưu chính Viễn thông, kỹ thuật truyền tín hiệu Phát thanh Truyền hình vàcông nghiệp Bưu điện trong cả nước Ngày 07/05/1994, Thủ tướng chính phủ raquyết định số 91/TTg chuyển Tổng công ty Bưu chính Viễn thông thành đoàn kinhdoanh của Nhà nước Từ năm 1995 đến nay Ngành Bưu chính Viễn thông chuyển
từ độc quyền sang cạnh tranh, đã có nhiều doanh nghiệp mới tham gia cạnh tranh vàchiếm thị phần của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Ngành Bưu điện là một trong những Ngành đi đầu trong công cuộc đổi mới và
là ngành kinh tế đầu tiên được thưởng Huân chương Sao Vàng Ngành phát huytruyền thống đó và tiếp tục để phát triển ứng dụng khoa học công nghệ mới vàotrong các lính vực sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội
1.1.2.2 Vai trò của kế hoạch phát triển ngành đối với sự phát triển của viễn thông.
Ngành viễn thông trong xu thế hội nhập đóng vai trò là ngành tiên phong điđầu phát triển để làm tiền đề cho các ngành khác phát triển và góp phần quan trọnggiúp kinh tế Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới nền kinh tế tri thức và thôngtin Trong điều kiện đó thì Kế hoạch phát triển ngành là vô cùng cần thiết với vai tròlà:
Là cơ sở để nhà nước chỉ đạo phát triển viễn thông thống nhất, đồng bộ với cácbản kế hoạch khác của nhà nước, đảm bảo đầu tư xây dựng mạng lưới viễn thôngđạt hiệu quả kinh tế
Là cơ sở để nhà nước ban hành các chính sách và huy động các nguồn vốntrong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, làm cơ sở cho kế hoạch hàng năm và 5năm của ngành, đồng thời còn là cơ sở để các địa phương xây dựng kế hoạch viễnthông trên địa bàn phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương
Định hướng cho các doanh nghiệp viễn thông xây dựng các các kế hoạch pháttriển phù hợp với kế hoạch quốc gia
Bên cạnh đó viễn thông là ngành thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng vì thế bản thânngành cũng có các tính chất hàng hóa công cộng, bởi vậy cần phải có sự can thiệpnhà nước để có thể thực hiện các nhiệm vụ viễn thông công ích tránh tình trạng các
Trang 14doanh nghiệp chỉ chạy theo lợi nhuận mà quên mất nhiệm vụ xã hội khác, điều nàyrất dễ sảy ra trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cạnh tranh khốc liệt vàchạy theo lợi nhuận là trên hết Vì thế cần có một công cụ nhà nước để điều tiết hoạtđộng của các doanh nghiệp sao cho đảm bảo sự phát triển của ngành, lại vừa có thểthực hiện tốt các mục tiêu xã hội đã đề ra cho Viễn thông.
Trong bối cảnh hiện nay khi mà Việt Nam tham gia vào WTO một loạt cáccam kết của chúng ta chuẩn bị và đang bắt đầu thực hiện các khó khăn như môitrường cạnh tranh nâng cao, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ ồ ạt tham gia vào thịtrường Việt Nam sẽ rất khó khăn với các doanh nghiệp trong nước… Bên cạnhnhững thuận lợi như tiếp thu vốn công nghệ, trình độ tổ chức quản lý… của nềnkinh tế tiên tiến trên thế giới Chính vì thế Kế hoạch phát triển ngành là vô cùngquan trọng trong điều kiện như hiện nay
1.2 Các yêu cầu đối với một bản kế hoạch phát triển ngành.
1.2.1 Kế hoạch phát triển là một trạng thái động, là một quá trình cho từng
Có rất nhiều các yếu tố không thể dự báo thì cũng rất khó cho được kết quảmột cách chính sác Đặc biệt hiện nay khi mà quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh
mẽ khiến cho cơ cấu kinh tế của quốc gia thay đổi một cách đáng kể; dòng hành;nguồn vốn; công nghệ… giữa các quốc gia có sự lưu chuyển không ngừng Những
yế tố đó đặt ra vấn đề cần sử lí xem xét luận chứng các điều kiện, xác định các dự
án kế hoạch một cách kĩ lưỡng, đảm bảo tính linh hoạt Do vậy kế hoạch phát triểnphải đề cập được nhiều phương àn, thườn xuyên cập nhật, bổ xung tư liệu cần thiết
để có giải pháp điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế
Trang 151.2.2 Kế hoạch phát triển phải đạt được mục tiêu phát triển trong thế vận
động tiến bộ và bền vững.
Chúng ta đều biết hệ thống lãnh thổ kinh tế bao gồm rất nhiều các bộ phận cấuthành nên, mà các phân hệ này thì lợi ích không giống nhau nên rất dễ xảy ra cácmâu thuẫn Có thể nói lợi ích của mỗi cá nhân trong xã hội là rất khác nhau, lợi íchmỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi vùng lãnh thổ có tính cục bộ và thường vận độngkhông cùng chiều Do vậy vấn đề rất quan trọng là kế hoạch phát triển phải làm thếnào để hệ thống phát triển không ngừng và đạt được hiệu qủa không ngừng và sựphát triển của các đối tượng phải nhất quán theo đúng một hướng nhất định
Trong hki xây dựng kế hoạch phát triển cần phải tính tới việc có nhiều đốitượng hoạt động khác nhau trong tư thế cạnh tranh trên cùng một lãnh thổ nhằmgiành lợi ích riêng về mình Có thể kế hoạch phát triển phải xác định được mục tiêuphát triển và các giải pháp kiến thiết trên lãnh thổ tạo được sự phát triển hài hòa,nhịp nhàng cho toàn bộ hệ thống
1.2.3 Kế hoạch phát triển phải thể hiện đa dạng phân công lao động theo lãnh
thổ một cách đa dạng và linh hoạt.
Hoạt động kinh tế của con người ở mỗi lãnh thổ khác nhau lại có sự khác biệt
vô cùng đa dạng Phân công lao động theo lãnh thổ lôi cuốn được các đối tượng tựnhiên, kinh tế, xã hội vào quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ mang lại lợiích cho các tầng lớp dân cư, các nhóm xã hội khác nhau cùng tham gia vào quátrình phức tạp đó Khi thực hiện phân công lao động theo lãnh thổ phải cụ thể hóađược định hướng, thậm chí cả những diến biến trong tương lai của phân công laođộng theo ngành
Phân công xã hội theo lãnh thổ phản ánh sự lựa chọn địa diểm cho các nhà đầu
tư, của dân cư Do vậy cần bố trí hợp lí từ nguồn vốn, nguồn lực cho kế hoạch cầnđạt được các chỉ tiêu mà bản kế hoạch đưa ra trong thời hạn của kế hoạch cũng nhưtrong công tác xây dựng kế hoạch của cá năm tiếp theo Do vậy kế hoạch phát triểnbản thân nó phải thẻ hiện sự đa dạng phân công lao động theo lãnh thổ nhưng phảithể hiện lợi ích sao cho phân công lao động đó diễn ra một cách tự nguyện
Trang 161.2.4 Kế hoạch phát triển phải đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường, tiến bộ
của khoa học công nghệ và phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
Phát triển để có thể thỏa mãn các nhu cầu hôm nay mà không tổn hại đến sựphát triển tương lai là một cau hỏi lớn trước bất kì con đường phát triển nào nhằmđạt được cả ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường Các tính toán của kế hoachphát triển phải dựa trên các yêu cầu bền vững của các yếu tố phát triển
Tránh phát triển nóng, tôn trọng phát triển hài hòa nhịp nhàng của toàn hệthống cũng như từng phần tử của nó Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà
cơ hội đến rất nhanh và ai cũng muốn chớp lấy để theo đuổi mục tieu lợi ích thì điềunày tưởng chừng như rất dễ mà rất khó thực hiện Tình trạng đó sẽ dẫn đến phát triểnnhanh mà gây phá vỡ hệ thống chung của xã hội, gây ra các hậu quả khó lường.Ngoài ra kế hoạch phát triển phải đảm bảo một trật tự trong ngắn hạn cũng như đảmbảo yêu cầu phát triển trong dài hạn
1.3 Phương pháp xây dựng kế hoạch ngành viễn thông.
1.3.1 Đặc điểm của nghành viễn thông.
1.3.1.1 Viễn thông là ngành công nghệ thay đổi nhanh chóng.
Với tiến bộ vệ mọi phương diện, công nghệ thông tin/Internet và Viễn thôngkhông tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới mà còn “thu nhỏ” quá đất xoá
đi cách biệt về biên giới và thay đổi nếp sống, cách suy nghĩ cũng như cách làmviệc và giải trí của xã hội nó làm tăng tính cạnh trang và sự minh bạch của nền kinh
tế giúp cho quá trình trao đổi hàng hoá dịch vụ diễn ra một cách nhanh chóng, thuậnlợi và hiệu quả hơn
Những thay đổi của công nghệ Viễn thông thế giới: Công nghệ Viễn thônghiện nay đã tiến bộ vượt bậc trong hai lĩnh vực là công nghệ băng rộng (ADSL) vàViễn thông di động và một số công nghệ khác nữa So với trước đây chưa có côngnghệ băng rộng việc truy cập Internet mất rất nhiều thời gian muốn liên lạc bằngđiện thoại cố định không liên được, hiện nay việc truy cập Internet đã tiết kiệm thờigian rất nhiều so với trước đây
Các công nghệ Viễn thông kết nối Internet trong thời gian qua trên thế giớitriển khai công nghệ mới WAP giúp máy điện thoại và vô tuyến có thể truy cậpInternet làm thay đổi các công nghệ cũ trước đây
Trang 17Điện thoại di động: Số lượng điện thoại di động áp dụng công nghệ mới trênthế giới có xu hướng sử dụng rất nhiêu Điện thoại mới đó là điện thoại di động vôtuyến, theo dự báo của các nhà nghiên cứu thì trong tương lai nó sẽ trở thànhphương tiện quan trọng để truy cập Internet và thực hiện các dịch vụ thương mạiđiện tử cho người sử dụng.
Đó là một số xu hướng phát triển của thế giới, còn ở Việt Nam thì Viễn thôngthay đổi một cách nhanh chóng bắt đầu từ năm 1994 khi mạng điện thoại di độngđầu tiên bắt đầu đi vào hoạt động và khai thác cho đến nay thì thị trường điện thoại
di động đã phát triển một cách nhanh chóng Năm 2004 được coi là năm bùng nổcủa thị trường điện thoại di động
1.3.1.2 Môi trường kinh doanh của ngành Viễn thông đang chuyển dần từ độc quyền sang cạnh tranh.
Cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh nó bao gồm cạnh trong nội bộ ngành
và cạnh tranh giữa các ngành với nhau
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sảnxuất một loại hàng hoá dịch vụ nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch cạnh tranh trong nội
bộ ngành chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật, không cócạnh trong nội bộ ngành thì sẽ không có sáng kiến, cải tiến thì bản thân ngành đó sẽ
bị trì trệ Nói cách khác muốn có sự phát triển thì phải ra cạnh tranh trong nội bộngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất ởnhững ngành khác nhau nhằm mục tiêu tìm nguồn đầu tư có lợi Cạnh tranh giữacác ngành được thể hiện bằng sự dịch chuyển nguồn lực từ ngành này sang ngànhkhác dẫn đến sự cân bằng về cung cầu sản phẩm giữa các ngành và bình quân tỉxuất lợi nhuận, đảm bảo sự bình đẳng cho việc đầu tư vốn giữa các ngành khácnhau Điều đó tạo nhân tố tích cực cho sự phát triển
Viễn thông cũng như các ngành kinh tế khác đều phải tuân theo quy luật củanền kinh tế thị trường đó là quy luật cạnh tranh Môi trường kinh doanh của ngànhViễn thông đang chuyển dần từ độc quyền sang cạnh tranh Trước đây trên thịtrường dịch vụ Viễn thông chỉ có một nhà cung cấp duy nhất đó là Tổng công tyBưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) hiện nay đứng trên góc độ nhà cung cấp
Trang 18dịch vụ thì VNPT không còn là nhà cung cấp độc quyền nữa Trên thị trường đãxuất hiện thêm 5 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực Viễn thông đó là:
+ Công ty Viễn thông quân đội (Viettel);
+ Công ty Viễn thông điện lực (ETC);
+ Công ty cổ phần Bưu chính Viễn thông Sài gòn (SPT);
+ Công ty cổ phần Viễn thông hàng hải (Vishipel);
+ Công ty cổ phần Viễn thông Hà nội (Hanoi Telecom);
Với sự tham gia vào thị trường của năm Công ty này đã làm cho làm cho cạnhtranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Viễn thông ngày càng gay gắt hơn
Đặc điểm của thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam: trên thị trường cáckhách hàng nhận biệt được chất lượng của dịch vụ Viễn thông thông qua dấu hiệubiểu hiện như mức độ hiện đại của trang thiết bị, thái độ phục vụ, giá cả Thị trườngdịch vụ Viễn thông bố trí chủ yếu ở các trung tâm thành phố lớn còn ở các vùngnông thông còn hạn chế Trong tương lai thị trường dịch vụ Viễn thông sẽ phát triểnrộng khắp các vùng nông thôn trong cả nước
Đặc điểm riêng của thị trường dịch vụ Viễn thông là: Thị trường dịch vụ Viễnthông xuất hiện cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý và xu hướng toàn cầu hoáhội nhập vào thị trường và nền kinh tế thế giới Các đặc điểm riêng thể hiện trên cáckhía cạnh sau:
+ Quy mô thị trường mở rộng nhanh chóng, đặc biệt là vùng thành phố, vùngnông thôn, vùng sâu vùng xa đang có xu hướng phát tiển
+ Cơ cấu khách hàng trên thị trường dịch vụ Viễn thông có sự thay đổi theohướng chuyển sang đối tượng tư nhân, doanh nghiệp
1.3.2 Phương pháp đánh giá thực trạng phát triển ngành.
Dựa vào thực tế phát triển của ngành trong từng năm và trong cả giai đoạn 5năm, 10 năm khi đánh giá ngành phải thể hiện được các nội dung cơ bản sau:
Đánh giá về quy mô và mức độ phát triển ngành thông qua các chỉ tiêu pháttriển của ngành trong 5- 10 năm qua: Các chỉ tiêu cần xét đến như mật độ điệnthoại/ 100 dân; mật độ sử dụng thuê bao di động/ 100 dân; quy mô phát triển của
Trang 19nghành (tổng doanh thu, tổng số máy, tổng số thuê bao…), phát triển mạng lưới củanghành.
Đánh giá các yếu tố nguồn lực tác động đến phát triển của ngành như là nguồnlực, vốn đầu tư, khoa học công nghệ… Đây là những yếu tố đóng vai trò then chốttrong việc vạch ra các giải pháp và hoạch định các chính sách nhằm đạt được mụctiêu phát triển trong tương lai
Đánh giá môi trường phát triển ngành: Môi trường pháp lý, hệ thống luật pháp,điều hành quản lý nhà nước, các doanh nghiệp hoạt động thế nào Điều quan trọng
là sau khi đánh giá thực trạng chúng ta có thể rút ra được các mặt mạnh, mạt yếukém của ngành trên tất cả các khía cạnh , rút ra được xu hướng phát triển của ngành
1.3.3 Các phương pháp thực hiện dự báo trong kế hoạch ngành viễn thông 1.3.3.1 Một số đặc điểm đặc thù khi dự báo nghành viễn thông.
Trong ngành viễn thông chỉ tiêu đánh giá phát triển của ngành thể hiện ởmật độ điện thoại/ 100 dân, chính vì thế đây là chỉ tiêu chủ chốt đánh giá mức độphổ cập cũng như tôc độ phát triển ngành
Về dự báo điện thoại di động cần chú ý đến các yếu tố sau:
+ Giá thiết bị đầu cuối: đây là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định củakhách hàng đặc biệt là khách hàng có thu nhập thấp
+ Cạnh tranh: thị trường dịch vụ di động có sự cạnh tranh ở mức rất cao, dẫnđến giá dịch vụ giảm nhanh
+ Các dịch vụ giá trị gia tăng và ứng dụng: do phát triển công nghệ và cạnhtranh các nhf cung cấp dịch vụ rất chú trọng cung cấp các ứng qua mạng
+ Các yếu tố đột biến: bao gồm các yếu tố công nghệ, dịch vụ, kĩ thuật, kinhtế- xã hội Những yếu tố này có khả năng bùng phát nhu cầu
1.3.3.2 Một số phương pháp thường dùng trong dự báo phát triển viễn thông 1.3.3.2.1 Dự báo theo phương pháp hồi quy tương quan.
Phương pháp này dự báo mật độ điện thoại dựa trên mối quan hệ giữaGDP/người và số máy điện thoại phát triển hàng năm
Trang 20Theo khuyến cáo của ITU và các nhà khoa học thì mối liên hệ tương quan giữamật độ điện thoại và GDP bình quân trên đầu người được biểu diễn dưới dạng hàm
a0(t) = αy(t) + (1-α)[ay(t) + (1-αy(t) + (1-α)[a)[a0(t-1) + a1(t-1)]
a1(t) = [a0(t) - a0(t-1)] + (1-γ) a) a1(t-1)
αy(t) + (1-α)[a: Hệ số san bằng mũ
γ) a : Hệ số san bằng xu hướng
y(t): Số máy điện thoại của năm t
Nhìn chung các hàm dự báo trên đây chỉ sử dụng trong một khoảng thời giandài và ổn định, nếu chúng ta áp dụng các phương pháp dự báo trên trong một vàinăm thì sẽ không cho kết quả chính sác cao Do vậy chúng ta cũng có thể dự báotheo phương pháp chuyên gia
1.3.3.4 Phương pháp đánh giá các xu hướng phát triển của ngành.
Dựa vào đặc điểm ngành viễn thông ở trên có thể thấy xu hướng của ngành làluôn có sự biến động vì đây là ngành có công nghệ thay dổi nhanh và mang tính kếtnối toàn cầu Chính bởi lý do đó khi đánh giá xu hướng phát triển của của ngànhcần phải đánh giá được xu hướng công nghệ mới trên thế giới, xem công nghệ nàokhả thi có khả năng phổ biến trong tương lai, khả năng áp dụng ở Việt nam ra saotrên cơ sở đó sẽ đánh giá xu hướng của ngành
Trang 21Xu hướng phát triển phải mang tính thực tiễn cao không xa vời thực tế sẽgâpy ảnh hưởng đến định hướng phát triển của ngành Ngoài ra sự phát triển củangành phải mang tinh linh động đi trước đón đầu phù hợp với lộ trình của nước ta.
1.3.3.5 Phương pháp xây dựng quan điểm, mục tiêu cho phát triển ngành.
Chính từ đánh giá thực trạng kết hợp với dự báo, các đánh giá xu hướng ở trênlấy đó làm cơ sở để đưa ra các quan điểm, mục tiêu phát triển cho ngành
Về quan điểm để thực hiện được phải dựa trên quan điểm phát triển của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, kết hợp với quan điểm đã có của chiến lược phát triểnngành từ đó sẽ cân đối dựa trên đặc điểm, tình hình, các dự đoán tương lai củangành rồi sẽ đưa ra quan điểm phát triển của kế hoạch phát triển Viễn thông
Quan điểm cạnh sự phát triển về lợi ích kinh tế phải đảm bảo sự phát triển cácdịch vụ công ích xóa bbỏ khoảng cách chênh lệch về mức độ tiếp súc với các phảilựa chọn những mũi nhọn phát triển và vấn đề ưu tiên của nghành đó tập trung đithẳng vào công nghệ cao, bên dịch vụ của vùng sâu, vùng xa…
Quan điểm phát triển ngành phải thể hiện xu thế hội nhập trong cơ chế thịtrường, nhà nước chỉ đóng vai trò điều tiết, tham gia vào các công việc mang tínhchất hướng doanh nghiệp vào lợi ích cộng đồng, phát triển thị trường một cách lànhmạnh… còn lại thúc đẩy cạnh tranh để ngành có thể phát triển một cách bền vững
và thu hút mọi nguồn lực phát triển ngành
Về xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu ngành viễn thông phải dựa trên đánh giá về xuhướng, các dự báo về phát triển của ngành dể từ đó xây dựng các mục tiêu một cáchhợp lý vừa đảm bảo tính thực tiễn, vừa không bị chậm so với nhịp độ phát triển Mục tiêu, chỉ tiêu phải thể hiện đáp ứng các nhu cầu xã hội như đáp ứng việc
sử dụng dịch vụ của các tầng lớp dân cư và phải thể hiện rõ ràng như: mật độ điệnthoại/ 100 dân Mục tiêu của ngành được đưa ra dựa trên nhiều yếu tố như thựctrạng, xu hướng nhưng quan trọng nhất vẫn là dự báo về nhu cầu của ngành trongtương lai, đây là những chỉ tiêu định lượng chủ yếu
Trang 221.3.3.6 Các yêu cầu cơ bản của giải pháp trong bản kế hoạch phát triển
ngành viễn thông.
Giải pháp bám sát vào thực trạng, các mục tiêu và chỉ tiêu trên nền tảng cânđối nhu cầu khả năng, chính vì thế giải pháp là một hệ quả tất yếu cần phải có trongbản kế hoạch phát triển
Giải pháp thể hiện được việc tổ chức thực hiện kế hoạch một cách đồng bộ,nhịp nhàng giữa các ban ngành, các tổ chức, các doanh nghiệp…
Giải pháp phải thể hiện cơ chế giám sát thực hiện kế hoạch một cách chặt chẽ.Bên cạnh đó giải pháp còn phải có các hướng giải quyết các vấn đề về pháp lý, nângcao năng lực cạnh tranh
Trên đây là các lý thuyết cơ bản về các kế hoạch phát triển nói chung và vềngành Viễn thông nói riêng cũng như tác động hai chiều của kế hoạch đối với ngànhsau hội nhập và tác động hội nhập đến kế hoạch phát triển ngành, cũng như sự khácbiệt trong kế hoạch phát triển ngành Viễn thông so với ngành kết cấu hạ tầng khác
đó là sự đòi hỏi phải có sự điều chỉnh trong tình hình mới Nắm rõ được các yêu cầu
đó mới có thể giúp cho chúng ta có sự điều chỉnh hợp lý kế hoạch phát triển ngànhViễn thông trong bối cảnh hội nhập
Trang 23Chương II Hiện trạng công tác lập kế hoạch phát triển ngành
viễn thông 2.1 Thực trạng kế hoạch viễn thông phát triển ngành giai đoạn 2006- 2010 2.1.1 Thị trường viễn thông.
2.1.1.1 Về phát triển dịch vụ.
Đánh giá sự phát triển dịch vụ Viễn thông thông qua một số chỉ tiêu như: Tổng doanhthu Viễn thông; Mật độ điện thoại trên 100 dân; Thuê bao điện thoại cố định; Thuê baođiện thoại di động; Thuê bao Internet; Mức tăng, tốc độ tăng của các chỉ tiêu trên
a Thứ nhất đánh giá về doanh thu Viễn thông
Tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm
Năm Doanh thu Viễn thông (tỷ) Tốc tộ tăng trưởng (%)
Nguồn Bộ Bưu chính Viễn thông
Doanh thu Viễn thông thông liên tục tăng đều qua các năm, doanh thu Viễnthông năm 2009 tăng 36,0 % so với năm 2006, năm 2010 tăng hơn năm 2006 là11,9 % sở dĩ có được điều đó là do trong khoảng thời gian này có nhiều doanhnghiệp tham gia vào thị trường Viễn thông làm số thuê bao điện thoai, thuê baoInternet tăng lên và bổ sung vào thị trương những loại hình dịch vụ mới cho sảnlượng điện thoại của toàn ngành tăng lên sự tăng lên của thuê bao điện thoại vàthuê bao Internet sẽ lần lượt được xem xét sau đây
b Thứ hai đánh giá về thuê bao điện thoại, Mật độ điện thoại.Trong thời gian
vừa qua thì tổng số thuê bao điện thoại trong cả nước liên tục tăng từ năm 1997 đến
Trang 24Tổng số thuê bao điện thoại và Mật độ điện thoại từ Năm1997– 2010
Năm Tổng số thuê bao
Nguồn: Bộ Bưu chính Viễn thông
Từ bảng cho thấy số máy điện thoại tăng lên hàng năm và máy trên 100 dâncũng liên tục tăng từ năm 1997 đến nay liên tục tăng cao một phần do sự góp mặtcủa mạng điện thoại di động Viettiel, MobiFone và mạng VinaPhone Mạng điệnthoại di động MobiFone là mạng điện thoại di động đầu tiên của Việt Nam từ đâybắt đầu bước vào thời kỳ kinh doanh của điện thoại di động
Điều đó góp phần nâng cao tổng số thuê bao trong cả nước và mật độ điệnthoại trong khoảng thời gian này tăng lên với tốc độ rất nhanh Năm 2000 mật độ
Trang 25tiêu của Ngành trong thời kỳ kế hoạch này là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và pháttriển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia hiện đại, đồng bộ và ổn định lâu dài, phù hợpvới xu hướng phát triển của quốc tế, đáp ứng mọi như cầu về thông tin của xã hội và
an ninh, quốc phòng, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhậpkinh tế quốc tế
Trên đây là đánh giá tổng quát về điện thoại và mật độ điện thoại, vậy cụ thể
về mức tăng của điện thoại cố định và di động đóng góp vào mức tăng chung củađiện thoại hàng năm như thế nào điều này sẽ được lý giải trong phần phân tích về cơcấu điện thoại cố định và di động trong khoảng thời gian 2006– 2009 sẽ được trìnhbày sau đây
Cơ cấu điện thoại cố đinh và di động trong thời kỳ 2006 – 2009 Năm
Tổng số thuê
bao điện thoại
(nghìn)
Thuê bao ĐTCĐ (nghìn)
Thuê bao ĐTDĐ (nghìn)
Cơ cấu ĐTCĐ (%)
Cơ cấu ĐTDĐ (%)
Nguồn: Bộ Bưu chính Viễn thông
Nhìn chung trong khoảng thời gian từ năm 2006 và 2009 tổng số thuê baođiện thoại cố định và di động trong cả nước đều tăng, Cơ cấu điện thoại cố địnhtrong tổng số chiếm một tỷ lệ nhỏ và ổn định còn cơ cấu điện thoại di động tăng đây
là một điều hợp với xu thế phát triển chung
Tuy cơ cấu điện thoại cố đinh trong tổng số nhưng hàng năm có giảm nhưngnếu xét về góc độ tăng trưởng thì thuê bao điện thoại cố định vẫn tăng đều đặn bởi
vì trong khoảng thời gian 2006- 2010 có sự ra nhập thị trường kinh doanh điệnthoại cố định của hai doanh nghiệp đó là Viettel EVN và SPT ngoài ra còn một sốcông ty khác nữa… Tuy nhiên việc cạnh tranh trong thị trường điện thoại cố địnhkhông gay gắt như trong thị trường điện thoại di động
Trang 26Thông tin di động đang là loại hình dịch vụ Viễn thông “nóng nhất” ở ViệtNam hiện nay Năm 2006 – 2009, với việc đầu tư mở rộng mạng lưới, hạ giá cướcmạnh mẽ, thị trường điện thoại di động Việt Nam đã đạt được một con số ấn tượng50.425.000 thuê bao nhưng thực chất còn nhiều thuê bao ảo do các nhà mạng cungcấp ra thị trường rất nhiều đầu số.
Trong khoảng 10 năm đã có 8 lần giảm giá cước, Tổng công ty Bưu chínhViễn thông Việt Nam (VNPT) đã rất nỗ lực để có được mức giá dịch vụ điện thoạingang bằng với khu vực
Giá c ước điện thoại di động qua 5 thời kỳ chính điện thoại di động qua 5 thời kỳ chính ện thoại di động qua 5 thời kỳ chính c i n tho i di ại di động qua 5 thời kỳ chính điện thoại di động qua 5 thời kỳ chính.ộng qua 5 thời kỳ chính ng qua 5 th i k chính ời kỳ chính ỳ chính.
QĐ số 320 (26/4/1994)
QĐ số 256 (01/6/1996)
QĐ số 829 (1/11/2001)
QĐ số 49 (01/4/2003)
QĐ 1964 (19/7/2004)
Thuê bao ngày
Trang 27Giá cước điện thoại di động liên tục giảm từ từ năm 2006 đến năm 2009 điều
đó làm cho nhu cầu về điện thoại di động của người dân tăng lên điều đó là nguyênnhân lý giải số thuê bao điện thoại di động liên tục tăng từ năm 2006 đến nay
Sự góp mặt của của SFone, Viettel vào năm 2003, 2004 vào đầu năm 2005 cóthêm sự tham gia vào thị trường của 2 công ty là HanoiTelecom cùng VP Telecom
và đến cuối năm 2008 và đầu năm 2009 là sự góp mặt của Vietnammobile vàBeeline đã làm nóng thị trường dịch vụ điện thoại Trên thị trường ngoài cuộc chạyđua về giá cước, khuyến mại cũng đã xuất hiện cuộc chạy đua về công nghệ, chấtlượng dịch vụ Người tiêu dùng cũng đã quen với phong cách kinh doanh của cácnhà cung cấp cũng như quen thuộc với các khẩu hiệu của họ: MobiFone là “Sứcmạnh di động của bạn” Sfone – “Nghe là thấy” Viettel – “Hãy nói theo cách củabạn” VinaPhone thì có vùng phủ sóng rộng nhất và là mạng lớn nhất Việt Namhiện nay
2.1.1.2 Năng lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
Thị trường Viễn thông đang chuyển mạnh từ độc quyền sang cạnh tranh với sựtham gia của nhiều thành phần kinh tế Hiện nay các doanh nghiệp cung cấp hạ tầngmạng và dịch vụ Viễn thông cơ bản đều là các doanh nghiệp Nhà nước hoặc cáccông ty cổ phần có vốn Nhà nước Trong lĩnh vực dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụInternet đã có sự tham gia của nhiều thành phân kinh tế khác nhau tạo nên hệ thốngcung cấp dịch vụ đa dạng và phong phú
Thị phần của các doanh nghiệp Viễn thông trên thị trường VNPT vẫn làdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông và chủ lực chiếm hơn 90% thị phần;Viettel chiếm: 3,06%; SPT: 2,14%; ETC: 0,67%; FPT: 0,56%; 0,06%
Các doanh nghiệp cạnh tranh khốc liệt nhằm giành giật thị phân về phíadoanh nghiệp mình bắt đầu bằng sự ra đời của “thế lực di động” mới mới Viettel
Mạng điện thoại di động Beeline, Vietnammobile Chính thức đi vào hoạtđộng từ ngày 15/07/2009, nâng tổng số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin diđộng tại Việt Nam lên con số 6 Sự xuất hiện của Beeline, Vietnammobile đã khiếnthị trường dịch vụ điện thoại di động trở nên nóng bỏng buộc các “đàn anh”VinaPhone, MobiFone, Viettel và SFone phải đưa ra nhiều chương trình hạ giá vàthay đổi cách tính giá cước Viettel xây dựng một hệ thống Viễn thông phủ sóng 63
Trang 28nhanh chóng và rộng khắp trên toàn quốc Đặc biệt, với cách tính cước và cácchương trình khuyến mại dài hơn.
SFone là một thương hiệu điện thoại di trung tâm điện thoại di động CDMA(S-Telecom) với thương hiệu SFone được thành lập theo hình thức hợp đồng hợptác kinh donh giữa Công ty cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT)
và công ty SLD có trụ sở tại Singapore (Liên doanh các tập đoàn Viễn thông củaHàn Quốc gồm SK Telecom, LG Telecom va Dong Ah Telecom) Đây là hợp đồngliên doanh xây dựng, khai thác, phát triển và cung cấp dịch vụ điện thoại di động tếbào, điện thoại vô tuyến cố định (WLL) và các dịch vụ giá trị gia tăng trên toàn lãnhthổ Việt Nam theo công nghệ CDMA 2000 1X
2.1.2 Phát triển mạng lưới Viễn thông.
Đánh giá sự phát triển của mạng Viễn thông Việt Nam trên các mặt như:
+ Mạng Viễn thông quốc tế
+ Mạng Viễn thông trong nước
+ Mạng thông tin di động, mạng điện thoại thẻ và mạng Viễn thông phục vụTrung ương và Chính phủ
a.Mạng Viễn thông quốc tế
Sự phát triển của mạng Viễn thông quốc tế trong thời gian quan được thể hiệnqua bảng dưới đây
Trang 29Sự phát triển của mạng Viễn thông quốc tế thời kỳ 2006 – 2010
Năm
Tuyến cáp
quang (tuyến)
Trạm vệ tinh mặt đất (trạm)
Trạm VSAT (trạm)
Tổng số kênh liên lạc (kênh)
Hướng liên lạc (hướng)
Kênh liên lạc qua vệ tinh (kênh)
Kênh liên lạc qua cáp biển (kênh)
Cơ cấu kênh liên lạc qua vê tinh (%)
Cơ cấu kênh liên lạc qua cáp biển (%)
Sản lượng điện thoại quốc tế (phút)
Trang 30Từ bảng số liệu cho thấy mạng Viễn thông quốc tế trong thời gian qua liên tụctăng cường dung lượng , nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu lưu lượng và khảnăng cung cấp các dịch vụ Viễn thông quốc tế Trong thời kỳ 2006 – 2009, thựchiện chủ chương của Bộ Bưu chính Viễn thông các doanh nghiệp trong ngành đãtăng cường lưu lượng của các tuyến cáp quang biển, cáp quang trên đất liền thay thếdần các kênh vệ tinh đi quốc tế do đó đã làm cho tổng số kênh liên lạc qua vệ tinhliên tục giảm qua các năm (năm 2006 là 874 đến năm 2009 chỉ còn 285) từ đó đãlàm cho cơ cấu của kênh liên lạc qua vệ tinh cũng liên tục giảm
Mạng truyền dẫn quốc tế có 4 tuyến cáp quang (cáp biển TVH và SMW3, cáptrên đất liền CSC, tuyến TP Hồ Chí Minh – Phnôngpênh) qua 4 năm đều khôngthay đổi Các trạm vệ tinh mặt đất từ năm 2006 đến năm 2009 đề không thay đổi ( 8trạm vệ tinh mặt đất)
Các trạm VSAT (trạm lấy thông tin qua vệ tinh) tăng lên liên tục qua các năm
từ đó làm cho sản lượng điện thoại quốc tế tăng lên qua các năm
b Mạng Viễn thông trong nước
Sự phát triển của mạng Viễn thông trong nước giai đoan 2006 – 2009
Tổng chiều dài các tuyến cáp quang nội tỉnh
Nguồn: Bộ Bưu chính Viễn thông
Từ bảng số liệu cho thấy năm 2006 trong cả nước đã cáp quang hoá được 61/
63 tỉnh thành phố có tryền dẫn cáp quang liên tỉnh tốc độ truyền là 2,5 Gb/s Tuyếncáp quang Hà Nội – T.P Hồ Chí Minh đã được đầu tư nâng dung lượng lên 20 Gb/s
Trang 31Tổng chiều dài các tuyên cáp quang liên tỉnh đạt 6590 km Tổng chiều dài các tuyêncáp quang nội tỉnh 22.000 km.
Năm 2008 thực hiện cáp quang hoá tới 63/63 tỉnh thành phố Cũng trongnăm này đã lắp đặt thêm 135 tuyến cáp quang nội tỉnh nên đã nâng tổng chiều dàicác tuyến cáp quang nội tỉnh lên 26.500 km
Mạng Viễn thông nông thôn tiếp tục được mở rộng qua các năm VNPT làdoanh nghiệp duy nhất trên thị trường chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ Viễnthông công ích, VNPT đã tiến hành thử nghiệm công nghệ phù hợp với mạng Viễnthông nông thôn Năm 2006: 98% số xã trên toàn quốc có máy điện thoại, năm
2009 con số này tăng lên 99,5% số xã có máy điện thoại trên cả nước trong đó100% số xã đồng bằng, trung du, hải đảo, 91, 9% số xã miền núi, 89,8% số xã vùngcao biên giới
c Mạng thông tin di động, mạng điện thoại thẻ và mạng Viễn thông phục vụ Trung ương và Chính phủ
Mạng thông tin di động tiếp tục được phát triển trong những năm vừa qua Đốivới mạng VinaPhone và MobiPhone, đã lắp đăc thêm 292 trạm BTS của 2 mạngtrên, nâng tổng số trạm trên mạng đạt 1.100 trạm tại 64 tỉnh thành phố Đã mở dịch
vụ chuyển vùng với 181 đối tác tại 42 nước Năm 2002 mạng VinaPhone hoànthành việc cung cấp lên mạng IN dung lương 1,1 triệu số Các dịch vụ VinaCard,MobiCard, Mobi4U hoạt động hiệu quả
Trong năm 2006 và 2009 các mạng VinaPhone và MobiPhone, Viettel liêntăng trương Số trạm BTS trong 3 năm lần lượt là 11.337 và 21.370 phủ sóng 100%trung tâm các huyện trong cả nước
Bên cạnh sự phát triển của cãc mạng VinaPhone và MobiPhone thì các mạngnhư Viettel, Sfone, Vietnammobile và Beeline liên tục phát triển để tiến tăng tăngvùng phủ sóng trong cả nước
Mạng điện thoại thẻ hiện nay được cung cấp bởi nhà cung cấp VNPT trongthời gian quan cũng liên tục tăng các trạm để phục vụ nhu cầu của nhân dân Sựphát triển mới của các trạm điện thoại thẻ được minh hoạ bằng bảng sau
Trang 32Mức tăng trạm CardPhone trong thời kỳ 2001 – 2004
Năm CardPhone (trạm) Tổng số trạm Mức tăng qua các năm
và Chính Phủ đảm bảo chất lượng ổn định
Nhìn chung trong khoảng thời kỳ 2006 – 2009 vấn đề phát triển mạng lướiViễn thông trong nước và quốc tế đang bước đầu phát triển mạnh mẽ về quy mô, cókhả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ mới với công nghệ tiên tiến, ngang vớicác nước trong khu vực
Độ an toàn của mạng cao, sử dụng dự phòng đạt khoảng 30% Mạng đườngtrục có độ tin cậy lớn do sử dụng đồng thời thêm nhiều tuyến cáp quang và viba
Mạng điện thoại di động phủ sóng trên toàn quốc (đến trung tâm các tỉnh vàthành phố)
Mạng truyền dẫn liên tỉnh đã được cáp quang hoá 63/63 tỉnh, thành phố Cáctuyến cáp quang đường trục sử dụng công nghệ thông tin di động GSM tương đốisớm Tuy nhiên bên cạnh các kết quả đạt được như đã nêu ở trên thì vẫn còn một sốtồn tại Một số hệ thống thiết bị có thời gian khai thác đã lâu cấu hình vòng chưađược hoàn chỉnh để có thể đảm bảo độ an toàn chung của toàn mạng lưới thiết bịcủa nhiều nhà cung cấp khác nhau, gây khó khăn nhất định cho việc quản lý tậptrung, ảnh hưởng đến việc phát triển mạng sau này
Việc tổ chức quản lý, khai thác mạng theo địa giới hành chính đang bộc lộnhiều nhược điểm, cần sớm được tổ chức lại Mạng thông tin di động mới chủ yếu