1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Doanh nghiệp nước ngoài tại VN. Thực trạng và giải pháp

35 593 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Doanh Nghiệp Nước Ngoài Tại Việt Nam. Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Tạ Thị Thúy Huyền
Người hướng dẫn PGS-TS Hoàng Xuân Quế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Tài chính Ngân hàng
Thể loại Đề án chuyên ngành
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 314 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Doanh nghiệp nước ngoài tại VN. Thực trạng và giải pháp

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của sự toàn cầu hóa, hứa hẹn nhiều biến chuyển Những ảnh hưởng ngày càng lan rộng của các công ty đa quốc gia cùng với sự phát triển như vũ bão của các khoa học công nghệ đã thúc đẩy cả xã hội cùng chạy đua trên con đường phát triển Quá trình chuyên môn hóa, hợp tác hóa ngày càng được chuyên sâu góp phần tăng tổng sản phẩm toàn xã hội

Để hội nhập với nền kinh tế Thế giới, chúng ta cũng phải có sự chuyển mình để không bị gạt ra khỏi vòng quay của sự phát triển Trong bối cảnh đó, xu hướng mở cửa, hợp tác kinh tế với các nước là chủ chương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta

Ngày19/12/1987, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, cho phép các tổ chức, cá nhân là người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Qua đó

đã thu hút được một lượng vốn lớn, tạo lên số lượng các Doanh nghiệp nước ngoài đông đảo, tuy nhiên quá trình đó còn gặp nhiều thách thức, cần có sự nỗ lực từ cả hai phía

Cũng từ suy nghĩ trên, em đã chọn đề tài “Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp”, để có cái nhìn sâu sắc hơn và tác động của nó tới nền kinh tế nước ta

Trong quá trình làm đề án này, em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thầy giáo PGS-TS Hoàng Xuân Quế để em có thể hoàn thành đề tài, nhưng do nhận thức còn hạn chế và thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên không tránh khỏi còn thiếu sót Vì vậy, em mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô

Em xin trân trọng cảm ơn.

Hà Nội, ngày 7 tháng 6 năm 2010 Sinh viên

Tạ Thị Thúy Huyền

Trang 2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI TẠI

VIỆT NAM

I KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI (DNNN)

Doanh nghiệp nước ngoài là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn tại nước

sở tại, và có quyền điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại (theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam)

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại

Doanh nghiệp nước ngoài bao gồm: Văn phòng đại diện của các Tổ chức kinh tế, tài chính, Bảo hiểm, tư vấn Pháp luật nước ngoài, Chi nhánh Công ty nước ngoài, chi nhánh Ngân hàng Thương mại nước ngoài và các Bên nước ngòai tham gia trong các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, được thành lập và hoạt động theo pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các Doanh nghiệp cử đại diện của mình để tham gia các hoạt động của Hiệp hội

II VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI

1 Đối với cả nền kinh tế

Việt Nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng DNNN đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam trên nhiều phương diện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển xuất khẩu, tham gia vào các thị trường quốc tế, …

Trong 5 năm 2001 – 2005 khu vực DNNN đóng góp khoảng 15,5% GDP Giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) cũng gia tăng nhanh chóng qua các năm trong năm 2001 – 2005 đạt trên 34 tỷ USD, đóng góp 35% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước; tính cả dầu thô tỷ lệ này là 56% Riêng năm 2006, xuất khẩu đạt 14,6 tỷ USD tăng 30,1% so với năm trước

Trong vài năm gần đây, rất nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã bắt đầu có lãi Đó là một nhân tố đáng khích lệ

DNNN đã giúp Việt Nam phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm Hiện nay, DNNN chiếm 100% về khai thác dầu, sản xuất ô tô, máy giặt, tủ lạnh, máy điều hoà nhiệt độ, thiết bị văn phòng, … DNNN cũng chiếm 60% sản lượng thép tấm, 28% xi măng, 33% sản phẩm điện/điện tử, 76% thiết bị y tế

DNNN cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt nam DNNN chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các

Trang 3

ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25% trong may mặc và 84% trong điện tử, máy tính và các linh kiện

Đóng góp của DNNN cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005 là khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, năm

2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005

Bình quân trong thời kỳ 2001 – 2006 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm thêm cho khoảng 11 vạn việc làm mỗi năm đưa tổng số lao động trực tiếp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tính đến cuối năm 2006 lên 1, 13 triệu người Ngoài ra khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra khoảng vài triệu lao động gián tiếp trong 6 năm qua

DNNN đã hỗ trợ Việt Nam một cách tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để Việt nam gia nhập ASEAN, ký kết thoả thuận khung với EU, bình thường hoá quan hệ và thoả thuận thương mại song phương với Mỹ

Sự đóng góp của DNNN vẫn thể hiện một vị trí tương đối nhỏ trong các lĩnh vực dịch vụ do vẫn còn rào cản lớn Các lĩnh vực này bao gồm cả ngân hàng, viễn thông, quảng cáo, văn hoá, y tế và giáo dục Với mối lo nếu như mở rộng các lĩnh vực này sẽ ảnh hưởng lớn đến các công ty nội địa hoặc đưa các lĩnh vực này nằm ngoài sự kiểm soát của Chính phủ, Chính phủ đã ban hành hàng loạt quy định hạn chế DNNN trong các lĩnh vực này (cụ thể là dự án 100% vốn nước ngoài trong viễn thông, quảng cáo,

…) Quy tắc này có thể cần được thay đổi do Hiệp định Thương mại Song phương và việc Việt Nam tham gia vào WTO

Đóng góp theo lĩnh vực của DNNN thể hiện sự thay đổi cơ cấu trong suốt 10 năm qua Trong giai đoạn đầu, trọng tâm của dòng DNNN có vẻ như được đặt vào thị trường dịch vụ trong nước như xây dựng, khách sạn và nhà ở, nguyên liệu xây dựng, ngân hàng và tài chính, viễn thông Thời gian trôi qua, nhiều hoạt động DNNN liên quan đến sản xuất hàng xuất khẩu như may mặc, điện tử, đã trở nên rõ nét hơn Xu hướng này dẫn đến sự thay đổi từ khuyến khích về vốn sang khuyến khích về công nghiệp lao động Điều đó có thể dễ nhận thấy qua việc tiếp tục giảm quy mô trung bình của dự án đầu tư Xu hướng này phản ánh sự thay đổi của các chính sách DNNN từ thay

Trang 4

thế hàng nhập khẩu sang các hàng xuất khẩu Trên cơ sở các điều kiện của thị trường, đây không phải là một dấu hiệu bất lợi.

Một yếu tố quan trọng dẫn đến sự thay đổi trong mô hình DNNN là sự phát triển về số lượng các nhà đầu tư doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)

Trang 5

CHƯƠNG II VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Việt Nam có ba mặt Đông, Nam và Tây-Nam trông ra biển với bờ biển dài 3.260

km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc Chỉ riêng Vịnh Bắc Bộ đã tập trung một quần thể gần 3.000 hòn đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, các đảo Cát Hải, Cát Bà, đảo Bạch Long Vĩ Xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Phía Tây - Nam và Nam có các nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu

Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, có thể dễ dàng qua lại cả

Trung Quốc lẫn các nước ASEAN và có thể trở thành một đối tác sản xuất chặt chẽ cho

cả hai Đặc biệt, miền Bắc tiếp giáp với biển Đông và có tiềm năng liên kết được với nhịp độ phát triển của khu vực năng động này và đó là một ưu thế vượt trội của Việt Nam so với các nước ASEAN trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

2 Sự ổn định về kinh tế - xã hội

Nhìn chung, Việt nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị và xã hội

ổn định so với các nước khác trong khu vực Tổ chức Tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính trị (PERC) tại Hồng Kông xếp Việt nam ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị

và xã hội sau sự kiện 11 tháng Chín So với các nước ASEAN khác như In-đô-nê-xi-a, Mã-lai-xi-a, Phi-líp-pin, và Trung quốc, Việt nam có ít các vấn đề liên quan đến tôn giáo

và mâu thuẫn sắc tộc hơn Sau khi đưa ra chính sách “đổi mới”, Việt nam đã và đang đạt được mức tăng trưởng GDP ổn định Sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang được duy trì Việt nam được đánh giá là nơi an toàn để đầu tư Đảng cộng sản Việt nam

đã điều hành đất nước trong nhiều thập kỷ qua và không ai mong muốn có những thay đổi trong môi trường chính trị Các giới chức đã ủng hộ một chính sách cải cách và quá

Trang 6

trình chuyển sang một nền kinh tế thị trường đang tiếp tục.Trong khung cảnh của những

sự kiện diễn ra trong vài năm qua liên quan đến chủ nghĩa khủng bố, Việt nam được biết đến như là một trong những nước an toàn nhất xét về các tội ác chống con người và quyền sở hữu

3 Sự phát triển về kinh tế

Việt Nam là một quốc gia nghèo và đông dân đang dần bình phục và phát triển sau sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát viện trợ tài chính từ khối các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, và sự yếu kém của nền kinh tế tập trung Chính sách Đổi Mới năm

1986 thiết lập nền "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997 Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999 Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự

do hóa nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết

để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn

Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau khi đã kết thúc đàm phán song phương với tất cả các nước có yêu cầu (trong đó có những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007

4 Nguồn nhân lực dồi dào, được đào tạo Dân số

Cả nước năm 2006 ước tính 84,11 triệu người, tăng 1,21% so với dân số năm

2005 (năm 2005 tăng 1,31%), trong đó dân số nam 41,33 triệu, nữ 42,78 triệu Dân số thành thị 22,82 triệu người, tăng nhanh do tốc độ đô thị hoá những năm gần đây và chiếm 27,1% số dân năm 2006; dân số nông thôn 61,29 triệu người

Nguồn nhân lực

Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm 1/7/2006 ước tính là 43,44 triệu người, tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm trước Tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục giảm

từ 57,2% trong năm 2005 xuống 55,7% trong năm 2006 để chuyển dịch sang các khu vực có năng suất lao động cao hơn, phù hợp với chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tương ứng, tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng tiếp tục tăng từ

Trang 7

18,3% lên 19,1% và khu vực dịch vụ từ 24,5% lên 25,2% Trong các thành phần kinh tế, lao động thuộc khu vực nhà nước vẫn tăng nhẹ so với năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực thành thị tiếp tục giảm, đạt 4,4%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của nam là 4,8%, của nữ là 3,9%.

LAO ĐỘNG ĐANG LÀM VIỆC TẠI THỜI ĐIỂM 1/7 HÀNG NĂM

PHÂN THEO LOẠI HÌNH VÀ NGÀNH KINH TẾ

Nông, lâm nghiệp và thủy sản 24351.5 24172.3

Việt Nam đã giữ gìn và bảo tồn một số vườn quốc gia đa dạng sinh học quý hiếm như Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn (khu vực núi Phan-xi-păng, Lào Cai), Vườn quốc gia Cát Bà (Quảng Ninh), vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), vườn quốc gia Pù-mát (Quảng Bình), vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình), vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), vườn quốc gia Côn Đảo (đảo Côn Sơn, Bà Rịa-Vũng Tàu), vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai)… Các vườn quốc gia này là nơi cho các nhà sinh học Việt Nam và thế giới nghiên cứu khoa học, đồng thời là những nơi du lịch sinh thái hấp dẫn

Rừng và đất rừng chiếm một diện tích lớn trên lãnh thổ Việt Nam Các khu

rừng quốc gia được nhà nước bảo vệ và có kế hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững Những khu rừng quí đó lại được thiên nhiên "chia" cho nhiều địa phương trên cả nước: rừng Ba Vì (Hà Tây), rừng Cát Bà (Hải Phòng), rừng Cúc Phương (Ninh Bình),

Trang 8

rừng Bạch Mã (Huế), rừng Cát Tiên (Ðồng Nai), rừng Côn Ðảo, rừng ngập nước (Cà Mau) v.v

Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú Dưới lòng đất có nhiều khoáng sản

quí như: thiếc, kẽm, bạc, vàng, angtimoan, đá quí, than đá ở thềm lục địa của Việt Nam

có nhiều dầu mỏ, khí đốt

Về tài nguyên nước, nếu tính cả lượng nước sản sinh từ nước ngoài thì mức

đảm bảo nước trung bình cho một người trong một năm cũng vào loại khá, trên mức trung bình so với khu vực châu Á và thế giới, duy chỉ có vấn đề là nước phân bố không đồng đều theo không gian với thời gian

Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10 km), chảy theo hai hướng chính là tây bắc- đông nam và vòng cung Hai sông lớn nhất là sông Hồng và sông Mê Công tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu Hệ thống các sông suối hàng năm được bổ sung tới 310 tỷ m3 nước Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ chiếm tới 70-80% lượng nước cả năm và thường gây ra lũ lụt

Nguồn suối nước khoáng cũng rất phong phú: suối khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh), suối khoáng Hội Vân (Bình Ðịnh), suối khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối khoáng Dục Mỹ (Nha Trang), suối khoáng Kim Bôi (Hoà Bình) v.v

Quần thể động vật ở Việt Nam cũng phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều

loài thú quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ của thế giới Hiện nay, đã liệt kê được 275 loài thú có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng thể, 2.400 loài cá, 5.000 loài sâu

bọ (Các rừng rậm, rừng núi đá vôi, rừng nhiều tầng lá là nơi cư trú của nhiều loài khỉ, vẹc, vượn, mèo rừng Các loài vẹc đặc hữu của Việt Nam là vẹc đầu trắng, vẹc quần đùi trắng, vẹc đen Chim cũng có nhiều loài chim quý như trĩ cổ khoang, trĩ sao Núi cao miền Bắc có nhiều thú lông dày như gấu ngựa, gấu chó, cáo, cầy )

6 Hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài phải rõ ràng, ổn định

Từ thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư của DNNN 20 năm qua, đến nay có thể nói trong điều kiện của thế giới và khu vực hiện nay, DNNN thực sự trở thành hình thức hợp tác kinh tế quốc tế rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển

Nhìn lại 20 năm trước, trong bối cảnh quốc tế: chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên

Xô và Đông Âu tan vỡ; các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam trên nhiều mặt Thế giới có những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và an ninh quốc tế, sự phục hồi chậm của nền kinh tế thế giới và biến động giá cả trên thị trường quốc tế Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á thực hiện cải cách kinh tế, trở thành khu vực phát triển năng động của thế giới Tình hình trong nước: Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng

Trang 9

kém phát triển, sản xuất nhỏ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, mức lạm phát lên tới trên 700% vào năm 1986, sản xuất đình trệ, cơ sở kỹ thuật lạc hậu và lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng

Với bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để khôi phục và phát triển kinh

tế-xã hội, Đảng ta đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, thực hiện công cuộc “đổi mới” toàn diện, trong đó có việc hoàn thiện, nâng Điều lệ Đầu tư năm 1977 thành bộ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, đã khẳng định sự đúng đắn của chủ trương, đường lối mở cửa nền kinh tế của Đảng, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp ĐỔI MỚI trong chặng đường vừa qua

Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn DNNN vào Việt Nam Luật này đã bổ sung và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn cảnh mới 1[1]

Đây là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã thể chế hóa đường lối của Đảng, mở đầu cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn DNNN, theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế

Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi,

bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000; cùng với các văn bản dưới Luật đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế Pháp luật DNNN và các văn bản pháp luật liên quan đến DNNN được ban hành đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ cho các hoạt động DNNN tại Việt Nam Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, khung pháp lý song phương và đa phương liên quan đến DNNN cũng không ngừng được mở rộng và hoàn thiện với việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà DNNN vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự khác biệt đáng kể so với một số nước

có kinh tế thị trường truyền thống

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc 1

Trang 10

hội đã ban hành Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn DNNN, một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn DNNN Thực tế đã chứng minh việc ban hành Luật Đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích cực của tình hình DNNN vào Việt Nam kể từ năm 2006 tới nay

Từ thực tiễn thu hút DNNN 20 năm qua cho thấy việc tạo dựng môi trường pháp

lý cho DNNN trong thời gian qua là rất cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt thu hút vốn DNNN ở khu vực và trên thế giới, Luật Đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành

“đòn bẩy” quan trọng trong việc thu hút DNNN vào Việt Nam trong 20 năm qua, đảm bảo cho việc thực hiện chủ trương thu hút DNNN của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế-xã hội đất nước ta vừa qua

Luật Đầu tư năm 2005 xác định việc phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh và Ban quản lý Khu Công nghiệp, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu kinh tế (sau đây gọi là Ban quản lý) cấp Giấy Chứng nhận đầu tư (GCNĐT) cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy hoạch Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế cũng như các dự án còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh và Ban quản lý tự quyết định và cấp GCNĐT

Việc phân cấp cấp GCNĐT về UBND cấp tỉnh và Ban quản lý là một chủ trương thực hiện cải cách hành chính trong quản lý kinh tế và đã được tổng kết trong nhiều năm qua, đã tạo điều kiện thuận lợi để UBND cấp tỉnh và Ban quản lý thực hiện được trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư trong nước và DNNN trên địa bàn Việc phân cấp mạnh cho UBND tỉnh và Ban quản lý đã tạo điều kiện cho các Bộ, ngành quản lý nhà nước tập trung thực hiện chức năng hoạch định chính sách, dự báo, kiểm tra, giám sát

Cho tới nay, công tác quản lý hoạt động DNNN ở địa phương, nhất là các địa phương có nhiều doanh nghiệp DNNN đã đi vào nề nếp, theo trình tự hợp lý, đã được đơn giản hóa,…được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá có nhiều đổi mới, góp phần cải thiện môi trường đầu tư-kinh doanh của địa phương

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh đã phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện các nội dung quản lý hoạt động DNNN, từ thẩm định cấp GCNĐT đến

Trang 11

hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các

Bộ, ngành liên quan tổ chức tập huấn, trao đổi nghiệp vụ và hỗ trợ các địa phương từ việc tổ chức hội nghị, hội thảo vận động xúc tiến, xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu

tư, ban hành văn bản hướng dẫn về DNNN tại địa bàn,… đưa hoạt động quản lý DNNN

ở các địa phương đi vào nề nếp Mô hình “một cửa, liên thông”, cách làm “trải thảm đỏ đón nhà đầu tư” tiếp tục xuất hiện và có tác động lan toả rộng khắp trong cả nước, đã góp phần nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn DNNN vào Việt Nam

Khuôn khổ pháp lý từng bước được hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản lý là các yếu tố và động lực góp phần đưa lại kết quả đáng khích lệ của hoạt động DNNN tại Việt Nam, góp phần xác định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn DNNN trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước ta

II HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI QUA CÁC

GIAI ĐOẠN

Từ khái niệm doanh nghiệp nước ngoài, chúng ta tìm hiểu hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam chình là tìm hiểu dòng DNNN vào Việt Nam qua các giai đoạn

1 Trong thập niên 80, đầu thập niên 90

Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng DNNN vào Việt Nam còn nhỏ

Đến năm 1991, tổng vốn DNNN ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô-la Mỹ Tuy nhiên, con số DNNN đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểm vào 1996 với tổng vốn đăng ký lên đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ Sự tăng mạnh mẽ của DNNN này là do nhiều nguyên nhân Các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa được khai thác Thêm vào đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi hàng loại các yếu tố tích cực khác như lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và tỷ lệ biết chữ cao

Bên cạnh những yếu tố bên trong còn có các yếu tố bên ngoài đóng góp vào việc gia tăng của DNNN Thứ nhất là làn sóng vốn chảy dồn về các thị trường mới nổi trong những năm 80 và đầu những năm 90 Trong các thị trường này, Đông Nam Á là một điểm chính nhận DNNN Năm 1990, các nước Đông Nam Á thu hút 36% tổng dòng DNNN đến các nước đang phát triển Thứ hai là dòng vốn nước ngoài vào các nền kinh

tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi mà họ cho rằng đang có các cơ hội kinh doanh mới và thu lợi nhuận Thứ ba, là các nước mạnh trong vùng (cụ thể là Mã-lai-xi-

a, Xin-ga-po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuất khẩu vốn Là một nền kinh tế đang trong thời

kỳ quá độ ở Đông Nam Á, Việt Nam có được lợi thế từ các yếu tố này[1]

2 Trong khoảng thời gian (1991-1996)

Trang 12

Trong khoảng thời gian 1991-1996, DNNN đóng một vai trò quan trọng trong

việc tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và đã có những đóng góp cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam

3 Trong khoảng thời gian (1997-1999)

Trong giai đoạn 1997-1999, Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt dốc của nguồn

DNNN đăng ký, cụ thể là 49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm 1999, một phần

là do khủng hoảng tài chính châu Á Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam đều từ khu vực châu Á và phải đối mặt với những khó khăn thực sự tại quốc gia của mình Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư này đã buộc phải huỷ hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nước ngoài Cuộc khủng hoảng cũng buộc các nhà đầu tư phải sửa đổi thấp đi chỉ tiêu mở rộng sang châu Á Cuộc khủng hoảng cũng đã dẫn đến việc đồng tiền của các nước Đông Nam Á bị mất giá Việt Nam, do vậy, cũng trở nên kém hấp dẫn đối với những dự án tập trung vào xuất khẩu Hơn nữa, các nhà đầu

tư nước ngoài cũng nhận ra rằng các dự kiến về nhu cầu của thị trường đã bị thổi phồng Các bức rào cản cho việc kinh doanh cũng trở nên rõ ràng hơn

4 Trong khoảng thời gian (2000-2002)

Giai đoạn 2000-2002: Giá trị DNNN đăng ký tăng trở lại vào năm 2000 với

mức 25,8% và 2001 với mức 22,6%, nhưng vẫn chưa được hai phần ba so với năm

1996 DNNN đăng ký tăng vào năm 2001 và 2002 là kết quả của dự án đường ống Nam Côn Sơn (2000) với tổng vốn đầu tư là 2,43 tỷ đô-la Mỹ, và Dự án XD-KD-CG Phú Mỹ (2001) với tổng vốn đầu tư là 0,8 tỷ đô-la Mỹ Năm 2002, DNNN đăng ký lại giảm xuống còn khoảng 1,4 tỷ đô-la Mỹ, đạt khoảng 54,5% của mức năm 2001

Có rất nhiều nguyên nhân làm DNNN giảm xuống Nguyên nhân thứ nhất là do

sự xuống dốc của nền kinh tế toàn cầu theo sau sự tan vỡ của bong bóng công nghệ cao tại Mỹ cùng với khủng hoảng kéo dài tại Nhật bản đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước châu Á

5 Trong khoảng thời gian (2003-2010)

Năm 2002 – 2003: vốn DNNN từ châu Âu tiếp tục giảm xuống, còn 80 triệu

USD năm 2002 và 73 triệu USD năm 2003 (so với mức gần 1.082 triệu năm 2001) Vốn DNNN từ các nước ASEAN cũng giảm sút, nhưng khu vực Đông Á lại tích cực đầu tư vào Việt Nam, trở thành các chủ đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, đặc biệt là 4 nước Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc

Năm 2004: Theo báo cáo của Cục đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),

dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DNNN) vào Việt Nam năm 2004 đã đạt 4,3 tỷ USD, vượt xa kế hoạch đề ra So với các nước trong khu vực, Việt Nam đứng hàng thứ

ba, chỉ sau Singapore, Malaysia và tương đương với Thái Lan Đây là tín hiệu đáng

Trang 13

mừng cho thấy xu hướng phục hồi dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày một

rõ rệt trong điều kiện nguồn vốn đầu tư, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu đang tiếp tục suy giảm và cạnh tranh gay gắt

Năm 2006: cả nước đã thu hút được trên 10,2 tỷ USD vốn đăng ký mới, tăng

57% so với năm trước và đạt mức cao nhất từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đến nay, vượt mức kỷ lục đã đạt được vào năm 1996 là 8,6 tỷ USD

Trong tổng vốn đầu tư nước ngoài (DNNN) đăng ký năm 2006 có gần 8 tỷ USD vốn đăng ký của hơn 800 dự án mới và hơn 2,2 tỷ USD vốn tăng thêm của 440 lượt dự

án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Như vậy, cả vốn đăng ký của các dự án mới và vốn đầu tư mở rộng sản xuất đều tăng mạnh so với năm 2005, trong đó vốn đăng ký của các dự án mới tăng tới 77%

Cùng với việc gia tăng vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện năm 2006 cũng đạt mức cao nhất trong vòng 20 năm qua Tiến độ giải ngân vốn DNNN trong năm 2006 được đẩy nhanh, nhất là đối với các dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất Tổng vốn DNNN thực hiện trong cả năm ước đạt trên 4,1 tỷ USD, tăng 24,2% so với năm trước

Năm 2007, Việt Nam đã thu hút trên 20,3 tỉ USD, tăng 69,2% so với năm 2006

Sang năm 2008, dù tình hình kinh tế thế giới xấu đi, nhưng vốn DNNN cam kết đã đạt hơn 64 tỉ USD, gấp gần ba lần năm 2007 Ðiều này phản ánh niềm tin của các nhà đầu

tư nước ngoài vào tiến trình hội nhập, mở cửa thị trường, cũng như vào triển vọng và tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam, tin tưởng vào sự ổn định chính trị, xã hội và những quyết sách tích cực và hiệu quả của Chính phủ Việt Nam trong việc đối phó với cơn khủng hoảng tài chính hiện nay

Năm 2008: Cục Đầu tư Nước ngoài - Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã có con số sơ bộ

về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DNNN) vào Việt Nam trong năm 2008 Theo đó, tổng vốn DNNN đăng năm 2008 đã đạt hơn 64 tỷ USD, gấp gần ba lần năm 2007

Đây là mức thu hút vốn DNNN kỷ lục từ trước đến nay của Việt Nam Điều này càng có ý nghĩa trong trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng Cụ thể, trong tháng 12/2008, cả nước đã cấp mới thêm 112 dự án DNNN với tổng số vốn đăng ký đạt 1,17

Trang 14

về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

Năm 2008, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó

có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD Malaysia đứng đầu, với

55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, Đài Loan đứng thứ hai, với 132 dự án, vốn đầu tư 8,64

tỷ USD Nhật Bản đứng thứ ba, với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD

Năm 2009: Tuy chỉ bằng 30% của năm 2008 nhưng con số 21,48 tỷ USD vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam trong cả năm 2009 vẫn là kết quả khá, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH-ĐT vừa cho biết

Mặc dù khủng hoảng kinh tế toàn cầu song, Việt Nam đã vượt mục tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm nay, theo kế hoạch ban đầu chỉ là 20 tỷ USD bằng 24,6% so với năm 2008 và 215 dự án xin bổ sung vốn với tổng vốn tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008

Riêng tháng 12, Việt Nam có thêm 1,78 tỷ USD vốn đăng ký và bổ sung Theo “bảng xếp hạng” dự án của Cục Đầu tư nước ngoài thì dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm số vốn lớn nhất, với 8,8 tỷ USD

Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD Tiêu biểu có các dự án lớn như Khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam Các dự án này có tổng vốn đăng ký lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ 3 với 2,97

tỷ USD vốn đăng ký

Trong tổng số 43 nước và vùng lãnh thổ đầu từ vào Việt Nam, năm nay, Hoa Kỳ là nước đầu tư lớn nhất, chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, kế đến là Cayman Islands, Samoa, Hàn Quốc

Cũng như năm ngoái, Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục là địa phương thu hút nhiều vốn DNNN nhất, tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên

Vốn thực hiện cũng đạt khá, ước đạt 10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008

Trong đó, cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 16,34 tỷ USD, bằng 24,6% so với năm 2008 và 215 dự án xin bổ sung vốn với tổng vốn tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008

Riêng tháng 12, Việt Nam có thêm 1,78 tỷ USD vốn đăng ký và bổ sung

Theo “bảng xếp hạng” dự án của Cục Đầu tư nước ngoài thì dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm số vốn lớn nhất, với 8,8 tỷ USD

Trang 15

Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD Tiêu biểu có các dự án lớn như Khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam Các dự án này có tổng vốn đăng ký lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD.

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ 3 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký

Trong tổng số 43 nước và vùng lãnh thổ đầu từ vào Việt Nam, năm nay, Hoa Kỳ là nước đầu tư lớn nhất, chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, kế đến là Cayman Islands, Samoa, Hàn Quốc

Cũng như năm ngoái, Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục là địa phương thu hút nhiều vốn DNNN nhất, tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên Vốn thực hiện cũng đạt khá, ước đạt 10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn DNNN đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn DNNN giải ngân trong 4 tháng đầu năm 2010 lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ năm 2009 Trung bình, giải ngân vốn DNNN đạt khoảng 850 triệu USD/tháng Đây là mức khá cao và tương đương giải ngân vốn DNNN giai đoạn trước suy thoái kinh tế

Về triển vọng, có nhiều cơ sở thực tế thế giới và trong nước để tin rằng thu hút DNNN năm 2010 sẽ cao hơn mức tăng 10% so với năm 2009 mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt ra

II TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ

1 Cấp chứng nhận đầu tư từ 1988 đến 2007:

Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án DNNN được cấp phép đầu

tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm) Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD Biểu đồ tình hình cấp chứng nhận đầu tư tại Việt Nam có sự biến động (xem tại Phụ lục)

Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nên kết quả thu hút vốn DNNN còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD), DNNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước

Trong thời kỳ 1991-1995, vốn DNNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” DNNN tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng DNNN” đầu tiên vào Việt Nam) với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm

cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một số

Trang 16

nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị trường mới, vì vậy, DNNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD) Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước

Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn

13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều dự án DNNN được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông)

Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn DNNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002 Và

có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng

Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính phủ 2[2], vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu Nhìn chung trong 5 năm 2001-2005, vốn DNNN cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn DNNN vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp v.v.) Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng DNNN” thứ hai vào Việt Nam

2.Tình hình cấp Giấy chứng nhận đầu tư năm 2009:

Theo các báo cáo nhận được đến 15/12/2009, trong năm 2009 cả nước có 839 dự

án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD Tuy chỉ bằng 24,6 % so với năm 2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay

2

Trang 17

Trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm

là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008

Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng

ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008

Theo lĩnh vực đầu tư:

Dịch vụ lưu trú và ăn uống vẫn là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm Trong đó, có 32 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD

Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm Trong đó có một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trong năm như Khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USDLĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong năm

2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD vốn tăng thêm

Theo đối tác đầu tư:

Trong năm 2009, có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, Cayman Islands đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký 2,02

tỷ USD chiếm 9,4%, đứng thứ 3 là Samoa với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%; Hàn Quốc đứng thứ 4 với 1,66 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 7,7% tổng vốn đầu tư đăng ký

Theo địa bàn đầu tư:

Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn DNNN nhất trong năm 2009 với 6,73

tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm Tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD

3 Tình hình cấp Giấy chứng nhận đầu tư 04 tháng đầu năm 2010:

Trong 4 tháng đầu năm 2010, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 3,6 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2009 Xuất khẩu của khu vực DNNN (kể cả dầu khí) 4 tháng đầu năm ước đạt 11,25 tỷ USD, tăng 31,9% so với cùng Nếu không tính dầu thô, khu vực DNNN ước đạt xuất khẩu 9,46 tỷ USD tăng 44% so với cùng kỳ 2009 Nhập khẩu của khu vực DNNN 4 tháng đầu năm ước đạt 10,24 tỷ USD, tăng 55,6% so với cùng kỳ

Ngày đăng: 17/12/2012, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phân theo loại hình kinh tế - Doanh nghiệp nước ngoài tại VN. Thực trạng và giải pháp
h ân theo loại hình kinh tế (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w