1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh

91 1,2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh
Tác giả Trần Quang Nguyên
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 721,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ QUỐC TẾ

~~~~~~*~~~~~~

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

CUỐI KHÓA

Đề tài:

QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI VPBANK – CHI NHÁNH ĐÔNG ANH

Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN THƯỜNG LẠNG

Mã sinh viên : CQ482061

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Trần Quang Nguyên, sinh viên lớp Kinh tế quốc tế 48B, Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân

Tôi xin cam đoan chuyên đề thực tập cuối khóa “Quản lý rủi ro tỷ giá VPBank –

chi nhánh Đông Anh.” là do tôi tự viết dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thường

Lạng và sự giúp đỡ của các anh chị tại Ngân hàng TMCP các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam – chi nhánh Đông Anh chứ không sao chép từ bất kỳ nguồn nào khác Các dữ liệu được sử dụng trong chuyên đề đều trung thực và có trích dẫn nguồn cụ thể

Tôi xin chấp nhận mọi hình thức xử lý của trường và khoa nếu có vi phạm những điều đã cam kết ở trên

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2010

Sinh viên thực hiện

Trần Quang Nguyên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả chuyên đề xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thường Lạng Thầy là người đã hướng dẫn đề tài và cung cấp các kiến thức để tác giả thực hiện, và hoàn thiện chuyên đề thực tập cuối khóa này

Tác giả chuyên đề xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân và khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả thực hiện chuyên đề thực tập này, giúp cho tác giả có thêm kinh nghiệm và kiến thức trong quá trình học tập

Tác giả chuyên đề xin chân thành cảm ơn Ngân hàng TMCP các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam – chi nhánh Đông Anh đã tạo điều kiện cho tác giả tham gia thực tập

và hoàn thiện chuyên đề này Xin cảm ơn các cán bộ làm việc tại chi nhánh đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành chuyên đề

Mặt khác trong quá trình thực hiện chuyên đề này, tác giả chuyên đề còn nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, cán bộ của trung tâm thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, đã giúp thu thập thông tin chính xác, kịp thời góp phần thực hiện bài viết này được nhanh, chính xác hơn

Tác giả chuyên đề cũng nhận được nhiều sự góp ý, sửa chữa của bạn bè cùng lớp Giúp cho bài viết được hoàn chỉnh hơn Tuy nhiên chuyên đề thực tập này không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả chuyên đề mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy Cô giáo và bạn bè, giúp cho chuyên đề được hoàn thiện hơn nữa

Hà Nội Ngày 04 tháng 05 năm 2010Tác giả xin chân thành cảm ơn

Trần Quang Nguyên

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đã làm nổi bật hơn những tồn tại, thách thức và rủi ro mà các NHTM Việt Nam cần tập trung giải quyết trong tương lai gần

Tồn tại cơ bản của các NHTM Việt Nam là năng lực cạnh tranh yếu và rất dễ bị tổn thương từ những biến động hay những cú sốc bất lợi ở trong nước hoặc ngoài nước Do năng lực tài chính yếu, trình độ và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế (quản trị ngân hàng, quản trị kinh doanh và quản lý rủi ro, trình độ công nghệ ngân hàng, mức độ áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng và tính chuyên nghiệp trong hoạt động ngân hàng chưa cao

Những thách thức mà các NHTM Việt Nam phải vượt qua là: sức ép cạnh tranh gia tăng do việc nới lỏng, dỡ bỏ những hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài trong việc tiếp cận, gia nhập thị trường; sức ép ngày càng tăng từ phía các cổ đông về kỳ vọng tăng trưởng tài sản có, lợi nhuận, cổ tức…

Các quy định của NHNN về đảm bảo an toàn hoạt động ngày càng cao và sát hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; nhu cầu của khách hàng về dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, yêu cầu về tiện ích, chất lượng dịch vụ ngày càng cao và với chi phí hợp lý

Sự thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng và kinh nghiệm, môi trường hoạt động ngân hàng thay đổi nhanh và còn chứa đựng các yếu tố khó dự báo, đo lường

Chấp nhận rủi ro là trung tâm của hoạt động ngân hàng Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những

cơ hội có lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận

Trong số các loại rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng thì rủi ro hoạt động là loại rủi ro bao trùm, và trong đó không thể không nói đến rủi ro về tỷ giá Đây là loại rủi ro do không kịp thời ban hành các quyết định hoặc có không đầy đủ các

Trang 5

quy trình hoạt động phòng chống rủi ro tỷ giá và các thủ tục tác nghiệp, do thiếu cán bộ

có đủ trình độ, kinh nghiệm, đạo đức

Với mong muốn nâng đẩy mạnh hoạt động quản lý rủi ro tỷ giá tại VPBank, tác giả chọn đề tài “Quản lý rủi ro tỷ giá VPBank – chi nhánh Đông Anh.”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý rủi ro tỷ giá trên các phương diện như: cơ cấu tổ chức, các chính sách, nhân lực, công nghệ, quy trình tác nghiệp… từ đó thấy những tồn tại bất cập và tìm ra giải pháp khắc phục những thiếu sót đó

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của rủi ro tỷ giá, quản

lý rủi ro tỷ giá và nghiên cứu thực trạng công tác quản lý rủi ro tỷ giá tại VPBank – chi nhánh Đông Anh trong khoảng thời gian từ 2008 – 2010

3 Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phân tích so sánh để giải quyết các vấn đề

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài các phần như: lời mở đầu, lời giới thiệu, lời cam kết, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo… thì nội dung chính của chuyên đề được gồm 3 chương:

Chương 1: Giới thiệu khái quát về VPBank

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý rủi ro tỷ giá tại VPBank – Chi nhánh Đông Anh

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tỷ giá VPBank – Chi nhánh Đông Anh

Trang 6

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ VPBANK

1.1 Tổng quan về VPBank

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của VPBank

Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBANK) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với thời gian hoạt động 99 năm Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 04 tháng 9 năm 1993 theo Giấy phép thành lập

số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 09 năm 1993

Các chức năng hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm: Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, từ các tổ chức kinh tế và dân cư; Cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế và dân cư từ khả năng nguồn vốn của ngân hàng; Kinh doanh ngoại hối; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác; Cung cấp các dịch vụ giao dịch giữa các khách hàng và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của NHNN Việt Nam

Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 20 tỷ VND Sau đó, do nhu cầu phát triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ Đến tháng 8/2006, vốn điều lệ của VPBank đạt 500 tỷ đồng Tháng 9/2006, VPBank nhận được chấp thuận của NHNN cho phép bán 10% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là Ngân hàng OCBC - một Ngân hàng lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều lệ sẽ được nâng lên trên 750 tỷ đồng Tiếp theo, đến cuối năm 2006, vốn điều lệ của VPBank sẽ tăng lên trên 1.000 tỷ đồng Và hiện nay vốn điều lệ của VPBank đã tăng lên 1.500 tỷ đồng vào tháng 7/2007

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến việc mở rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn Cuối năm 1993, Thống đốc

Trang 7

VPBank được phép mở thêm Chi nhánh Hải Phòng và tháng 7/1995, được mở thêm Chi nhánh Đà Nẵng Trong năm 2004, NHNN đã có văn bản chấp thuận cho VPBank được mở thêm 3 Chi nhánh mới đó là Chi nhánh Hà Nội trên cơ sở tách bộ phận trực tiếp kinh doanh trên địa bàn Hà Nội ra khỏi Hội sở; Chi nhánh Huế; Chi nhánh Sài Gòn Trong năm 2005, VPBank tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho mở thêm một số Chi nhánh nữa đó là Chi nhánh Cần Thơ; Chi nhánh Quảng Ninh; Chi nhánh Vĩnh Phúc; Chi nhánh Thanh Xuân; Chi nhánh Thăng Long; Chi nhánh Tân Phú; Chi nhánh Cầu Giấy; Chi nhánh Bắc Giang Cũng trong năm 2005, NHNN đã chấp thuận cho VPBank được nâng cấp một

số phòng giao dịch thành chi nhánh đó là Phòng Giao dịch Cát Linh, Phòng giao dịch Trần Hưng Đạo, Phòng giao dịch Giảng Võ, Phòng giao dịch Hai Bà Trưng, Phòng Giao dịch Chương Dương Trong năm 2006, VPBank tiếp tục được NHNN cho mở thêm Phòng giao dịch Hồ Gươm (đặt tại Hội sở chính của Ngân hàng) và Phòng giao dịch Vĩ Dạ, phòng giao dịch Đông Ba (trực thuộc Chi nhánh Huế), Phòng giao dịch Bách Khoa, phòng Giao dịch Tràng An (trực thuộc Chi nhánh Hà Nội), Phòng giao dịch Tân Bình (trực thuộc Chi Nhánh Sài Gòn), Phòng Giao dịch Khánh Hội (trực thuộc Chi nhánh Hồ Chí Minh), phòng giao dịch Cẩm Phả (trực thuộc CN Quảng Ninh), phòng giao dịch Phạm văn Đồng (trực thuộc

CN Thăng Long), phòng giao dịch Hưng Lợi (trực thộc CN Cần Thơ) Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới giao dịch trên đây, trong năm 2006, VPBank cũng đã mở thêm hai Công ty trực thuộc đó là Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản; Công ty Chứng Khoán

VPBank đã có tổng số 131 Chi nhánh và Phòng giao dịch trên toàn quốc:

- Tại Hà Nội: 1 Trụ sở chính, 44 chi nhánh và phòng giao dịch

- Các tỉnh, thành phố khác thuộc miền Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Hòa Bình, Thái Bình):

26 Chi nhánh và Phòng giao dịch

- Khu vực miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế,

Đà Nẵng, Bình Định, Bình Thuận): 26 Chi nhánh và Phòng giao dịch

- Khu vực miền Nam (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang): 35 Chi nhánh và Phòng giao dịch

Trang 8

550 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh VPBank - Western Union (tính đến 31/08/2009)

Ngày 10/9/1993, khi VPBank chính thức mở cửa giao dịch tại 18B Lê Thánh Tông, số lượng CBNV chỉ có vỏn vẹn 18 người Cùng với việc phát triển và mở rộng quy mô hoạt động, số lượng nhân sự của VPBank cũng tăng lên tương ứng

Đến hết 31/12/2009, tổng số nhân viên nghiệp vụ toàn hệ thống VPBank là: 2.506 CBNV, hơn 92% trong số đó có độ tuổi dưới 40, khoảng 80% CBNV có trình độ đại học và trên đại học

Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên chính là sức mạnh của ngân hàng Chính vì vậy, những năm vừa qua VPBank luôn quan tâm nâng cao chất lượng công tác quản trị nhân sự VPBank thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo trong và ngoài nước nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên

Đại hội cổ đông năm 2005 được tổ chức vào cuối tháng 3/2006, một lần nữa, VPBank khẳng định kiên trì thực hiện chiến lược ngân hàng bán lẻ Phấn đấu trong một vài năm tới trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu khu vực phía Bắc và nằm trong nhóm 5 Ngân hàng dẫn đầu các Ngân hàng TMCP trong cả nước

1.2 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của VPBank

Trong những năm vừa qua, VPBank đã rất nỗ lực để nâng cao vị trí mình trong hệ thống các Ngân hàng TMCP, cụ thể VPbank đã đạt được một số thành tựu sau:

1.2.1 Về huy động vốn của VPBank

Quy mô huy động vốn của VPBank tăng trưởng cao và ổn định, tương ứng với tốc

độ tăng tài sản có

Trong giai đoạn 2005 – 2007, đặc biệt giai đoạn từ đầu năm 2008 đến nay, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất trong nước và trên thị trường quốc tế, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các Tổ chức tín dụng trong nước gây ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của các Ngân hàng Trước các biến động về giá

Trang 9

hoạt trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch giữa lãi suất cho vay – huy động và chênh lệch lãi suất giữa các chi nhánh Các biện pháp chủ động và linh hoạt trong điều chỉnh lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp về cả VND và ngoại tệ

đã góp phần giảm thiểu tác động thị trường đối với việc huy động vốn, nâng cao hệ số

sử dụng vốn, chất lượng quản trị vốn sau cùng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Để đạt được những thành tựu trên, có một nguyên nhân chủ yếu là VPBank đã không ngừng nâng cao vốn chủ sở hữu, tăng tổng tài sản một cách mạnh mẽ

Bảng 1.1 Bảng tổng kết về quy mô của VPBank từ năm 2004 - 2009.

10,159

18,137

20,334

27,998

Vốn chủ sở hữu 199 391 1

756

2,260

5,031

13,324

13,609

15,679

(Nguồn: Phòng Nghiên Cứu Phát Triển VPBank)

Qua những con số ở bảng 1.1, ta thấy, từ năm 2004 đến năm 2009 quy mô tài sản tăng lên 674%, trong đó có sự tăng lên tương xứng của Vốn chủ sở hữu Điều này tạo ra những lợi thế trong cạnh tranh của VPBank với các NHTM khác như về chi phí, uy tín… Chính vì vậy, dư nợ tín dụng cũng tăng lên mạnh mẽ, đã làm cho lợi nhuận trước thuế tăng từ 43 tỷ đồng năm 2003 lên 382 tỷ đồng năm 2009 Lợi nhuận của ngân hàng không ngừng thay đổi và chứng tỏ một quy mô sử dụng vốn và quản lý vốn ngày càng hiệu quả

Trang 10

VPBank liên tục đạt những kết quả hoạt động kinh doanh đáng khích lệ Tổng lợi nhuận trước thuế và sau dự phòng rủi ro của toàn hệ thống VPBank tăng 382 tỷ đồng so với năm 2008.

Lợi nhuận sau thuế/Vốn điều lệ bình quân (ROE) là: 11.93% ; Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân (ROA) là: 0.9%

Sự phân tích trên đã chứng tỏ VPBank là một ngân hàng đang vươn lên mạnh mẽ và năng động, tích cực hội nhập và khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường ngân hàng

1.2.2 Hoạt động tín dụng của VPBank

Tổng dư nợ tín dụng của VPBank đến cuối tháng 5/2009 là 13.665 tỷ đồng, tăng gần 600 tỷ đồng so với cuối tháng trước, tăng 5% so với cuối năm 2008 và giảm 12% so với cùng kỳ năm ngoái Trong đó cho vay bằng VNĐ đạt 13.383 tỷ đồng chiếm 98% tổng dư nợ Đến cuối tháng 5/2009 VPBank mới đạt 18,6% kế hoạch tăng trưởng dư nợ tín dụng cả năm 2009

Thực hiện chủ trương kích cầu của chính phủ, VPBank đã tích cực triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất, đến cuối tháng 5/09 dư nợ các khoản hỗ trợ lãi suất của VPBank đạt gần 1.000 tỷ đồng

Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu toàn hàng đến cuối tháng 5/2009 là 366 tỷ đồng (chiếm 2,68% tổng dư nợ), giảm 75 tỷ đồng so với cuối năm trước (giảm 0,7% về tỷ lệ)

Nợ cần chú ý đến cuối tháng 5/2009 là 240 tỷ đồng (chiếm 1,76% tổng dư nợ), giảm 256

tỷ đồng so với cuối năm trước

1.2.3 Hoạt động kinh doanh vốn giao dịch liên ngân hàng

Tổng nguồn vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) đến cuối tháng 5/2009 là 1.118 tỷ đồng – giảm 240 tỷ đồng so với cuối năm trước Nguyên nhân nguồn vốn thị trường 2 giảm là do trong 5 tháng đầu năm nguồn vốn huy động từ dân cư (thị trường 1 của VPBank tăng khá mạnh (tăng 1.570 tỷ đồng), trong khi dư nợ tín dụng

Trang 11

nhiều (dư nợ chỉ tăng 692 tỷ đồng) so với tăng nguồn vốn, nguồn vốn của VPBank tạm thời dư thừa nên VPBank đã chủ động điều chỉnh giảm nguồn vốn huy động trên thị trường 2.

Tổng tiền gửi có kỳ hạn, cho vay liên ngân hàng và đầu tư trái phiếu các loại đến cuối tháng 5 là 3.958 tỷ đồng – tăng 1.175 tỷ đồng so với cuối năm trước Trong đó riêng tiền gửi có kỳ hạn và cho vay liên ngân hàng là 1.930 tỷ đồng – tăng 569 tỷ đồng

so với cuối năm trước Số dư đầu tư trái phiếu Chính phủ và trái phiếu khác là 2.028 tỷ đồng – tăng 606 tỷ đồng so với cuối năm trước

Trong 5 tháng đầu năm, tỷ giá ngoại tệ trên thị trường đặc biệt là USD cũng có nhiều biến động, nguồn ngoại tệ mua bán khan hiếm, tuy nhiên ngân hàng vẫn luôn cố gắng khai thác các nguồn ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng để đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ của các khách hàng xuất nhập khẩu tại VPBank

1.2.4 Hoạt động của các công ty con trực thuộc VPBank

VPBank có 2 công ty trực thuộc (sở hữu 100% vốn) là AMC và Công ty chứng khoán

- Công ty Quản lý tài sản VPBank (AMC) tiếp tục triển khai các dự án bất động sản hiện tại (Fideco, Bình Tân – Sakico 362 Phố Huế, Dự án Hòa Bình – Đầm Sen ), phối hợp với các chi nhánh VPBank triển khai các văn phòng trụ sở, thẩm tra hồ sơ thiết

kế, hồ sơ thanh quyết toán XDCB tại các Chi nhánh, đơn vị trực thuộc

- Công ty Chứng khoán VPBank, với sự hồi phục dần của thị trường chứng khoán, giao dịch của thị trường trong tháng 5/2009 đã diễn ra sôi động với xu hướng tăng điểm mạnh mẽ, hoạt động của công ty trong tháng 5/2009 cũng diễn ra hết sức sôi động Trong tháng số lượng tài khoản mở mới đạt 146 tài khoản, lũy kế đạt 4.880 tài khoản Tổng giá trị giao dịch chứng khoán niêm yết toàn công ty đạt 530 tỷ đồng, phí môi giới thu được đạt gần 1,3 tỷ đồng Tuy tình hình thị trường phục hồi và tăng điểm thời gian gần đây, song định hướng và chỉ đạo đầu tư của các cấp lãnh đạo Công ty Chứng khoán

là không tham gia đầu tư, tập trung vào phân tích tình hình thị trường cũng như các công

Trang 12

ty niêm yết để có bước chuẩn bị thích hợp về sau, đồng thời xử lý và cơ cấu lại danh mục hiện tại.

Tổng thu nhập thuần của công ty 5 tháng trong năm 2009 đạt 16,6 tỷ đồng, tổng chi phí hoạt động là 18,4 tỷ đồng

1.2.5 Các sản phẩm dịch vụ của VPBank

1.2.5.1 Hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank

Hệ thống thanh toán được thiết kế để chuyển tiền từ TCTD này sang TCTD khác một cách nhanh chóng và hiệu quả, dù là chuyển tiền trong nước hay chuyển ra nước ngoài Tuy là Ngân hàng Nhà nước vận hành hệ thống thanh toán trong nước, các TCTD cũng phải thiết lập và duy trì một môi trường kiểm soát thích hợp đối với phần của mỗi ngân hàng tham gia trong hệ thống để đảm bảo rằng việc thanh toán được thực hiện không có sai sót, kịp thời, sử dụng toàn bộ số tiền thu được, đồng thời đảm bảo rằng mỗi khoản thanh toán đều phải có đủ chứng từ, đúng các bước và được phê duyệt Những nguyên tắc này cũng được áp dụng cho các hệ thống thanh toán quốc tế như SWIFT Vì khối lượng giao dịch và số tiền chuyển qua hệ thống thanh toán của NHNN và SWIFT hàng ngày là rất lớn và hầu hết các giao dịch đều được hoàn thành, nên VPBank luôn có biện pháp kiểm soát hoạt động chặt chẽ

Trong những năm qua, kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước liên tục tăng trưởng với tốc độ cao đã tạo thuận lợi cho hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của VPBank

Trang 13

Bảng 1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank giai đoạn 2007 – 2008

Đơn vị : Triệu USD

Lượng GD Giá trị Lượng GD Giá trị

Chuyển tiền TTR 2.957 150 8.783 190

Tổng cộng 4.307 229,2 11.567 353,79

(Nguồn: Trung tâm thanh toán VPBank)

Trước đây theo mô hình thanh toán phân tán thì chỉ cho phép xử lý TTQT ở một số Chi nhánh cấp I Các Chi nhánh khác và Phòng giao dịch không có cán bộ thao tác kỹ thuật TTQT cũng không có phần mềm để tự thực hiện giao dịch TTQT tại đơn vị mình Hiện nay, theo mô hình tập trung, mô hình này cho phép Hội sở có thể kết nối online để quản lý và xử lý trực tuyến các giao dịch TTQT trên màn hình của tất cả các Chi nhánh và Phòng Giao dịch của VPBank Điều này phù hợp với xu thế chung của Ngân hàng hiện đại, cho phép bán sản phẩm rộng khắp trên toàn hệ thống, chuyên môn hóa nghiệp vụ thanh toán Tốc độ tăng trưởng trong hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank luôn đạt ở mức cao và ổn định là nhờ sự đóng góp của mạng SWIFT Trung bình khoảng 6.000 điện SWIFT/tháng

Trang 14

1.2.5.2 Hoạt động kinh doanh thẻ của VPBank

Trong những năm qua, dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ của VPBank đã phát triển với tốc độ rất nhanh Hoạt động này đã thực sự trở thành một dịch vụ của ngân hàng hiện đại mang tính nền tảng, là mũi nhọn cho chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, mở ra một hướng cho việc huy động vốn, cũng như cấp tín dụng

Sau khi chính thức phát hành thẻ ghi nợ nội địa mang tên Autolink vào cuối năm

2006 VPBank đã ký hợp đồng với Diebold mua 1.000 máy ATM và triển khai ký kết thuê địa điểm lắp đặt ATM tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và các tỉnh thành có sự hiện diện của VPBank Đến nay, đã có 170 máy ATM của VPBank được lắp đặt và đi vào hoạt động Đến 31/12/2007, số lượng thẻ Autolink phát hành là gần 17,000 thẻ Số lượng thẻ Platinum là 752 thẻ, trong đó có 508 thẻ Tín dụng Tháng 7/2007, VPBank đã hoàn thành việc kết nối với hệ thống ATM của Vietcombank Tính đến tháng 9/2009, VPBank đã phát hành được 60.000 thẻ Autolink và 5.000 thẻ Platinum

1.3 Kế hoạch tăng vốn của VPBank

Ngoài các mục tiêu đề ra ở trên VPBank còn có kế hoạch dài hạn cho quá trình tăng vốn của mình Ngày 16/3/2010, VPBank đã tổ chức Đại hội cổ đông năm 2010.Theo đó, cổ đông VPBank đã thống nhất phương án tăng vốn điều lệ VPBank từ

2117 tỷ đồng lên 4000 tỷ đồng Việc tăng vốn trong năm 2010 được thực hiện làm 2 đợt, dự kiến chậm nhất vào ngày 31/12/2010 Cụ thể:

+ Đợt 1, tăng vốn điều lệ thêm 339 tỷ đồng từ 2117 tỷ đồng lên 2456 tỷ đồng

Trang 15

dưới hình thức phát hành thêm 33,9 triệu cổ phần dành cho các cổ đông hiện hữu tại thời điểm chốt danh sách cổ đông.

Tỷ lệ phân phối là 16,01%, trong đó tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu là 6% và tỷ lệ chia cổ phiếu thưởng là 10,01% Giá phát hành cổ phần cho đối tượng tham gia tăng vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận dùng chia cổ tức bằng cổ phiếu và nguồn quỹ thặng dư, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ cho cổ đông bằng mệnh giá

Hội đồng quản trị Ngân hàng dự kiến thời gian thực hiện xong việc tăng vốn đợt 1

Trong đó việc đầu tư tài sản là để mua đất và xây dựng trụ sở Trong thời gian tới mua VPBank dự kiến mua đất và xây dựng trung tâm dữ liệu theo đúng tiêu chuẩn quy định của NHNN khoảng 58 tỷ đồng Xây dựng trự sở chính chi nhánh Cần Thơ khoảng 14,5 tỷ đồng Xây dựng trụ sở chính tại chi nhánh Hải Phòng, Huế khoảng 58 tỷ đồng Mua đất và xây dựng trụ sở tại một số địa phương khác khoảng 159,9 tỷ đồng

Khoản 1451 tỷ đồng để đầu tư vào cổ phiếu, chứng từ có giá có khả năng thanh khoản cao, vay trung và dài hạn với tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng khoảng 12-15%/năm.Tăng vốn lên 12 nghìn tỷ đồng vào 2014

Ngoài ra thì trong kì họp cổ đông cũng thông qua các chỉ tiêu cần đạt được trong năm 2010

Trang 16

Bảng 1.3 Chỉ tiêu của VPBank trong năm 2010

(Nguồn: Báo cáo tài chính VPBank 2009)

Qua bảng trên chúng ta thấy năm 2010, VPBank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế

là 650 tỷ đồng, tương đương tăng 70% so với năm 2009

Kế hoạch cho giai đoạn 2010 – 2014, cũng dự kiến tăng trưởng vốn điều lệ lên 12 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 467% so với 31/12/2009 Lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2014 dự kiến tăng lên 2800 tỷ đồng được mục tiêu của ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt là rất lớn Đây là mục tiêu rất lớn và kế hoạch này cũng là một thách thức mà ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ Ngân hàng TMCP Các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam cần phải quyết tâm để thực hiện trong năm nay, và trong việc thực hiện kế hoạch dài hạn của mình

Trên đây chúng ta đã đi qua sơ lược về lịch sử hình thành, tình hình hoạt động, kinh doanh của VPBank Phần sau của chuyên đề xin được đề cập về thực trạng công tác quản lý rủi ro tỷ giá tại VPBank – chi nhánh Đông Anh

Trang 17

CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TẠI VPBANK - CHI NHÁNH

ĐÔNG ANH

2.1 Giới thiệu sơ lược về ngành Ngân hàng

2.1.1 Định nghĩa ngân hàng thương mại

Đầu tiên ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng trung gian Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại Ví dụ: Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính Ở Pháp: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác…

Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền

đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

2.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại

2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn của NHTM

Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác;

Trang 18

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giáy tờ có giá khác để huy động vốn của

tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước;

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam,các tổ chức nước ngoài;

- Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước;

- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;

2.1.2.2 Hoạt động tín dụng của NHTM

Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất

A, Cho vay

Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới hình thức sau:

- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

- Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

B, Bảo lãnh

NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM

C, Chiết khấu

Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác

Trang 19

C, Cho thuê tài chính

Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công

ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

2.1.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khỏan cho khách hàng trong và ngoài nước

Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khỏan tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Ngoài ra, chi nhánh của ngân hàng thương mại được mở tài khỏan tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh Hoạt động dịch vụ thanh tóan và ngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động sau:

- Cung cấp các phương tiện thanh toán;

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng;

- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ;

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN;

- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép;

- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng;

- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh tóan liên ngân hàng trong nước;

- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

Trang 20

2.1.2.4 Các hoạt động khác của NHTM

Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt động khác bao gồm:

Góp vốn và mua cổ phần – Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và quỹ

dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh

Tham gia thị trường tiền tệ - Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền

tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức mua bán các công

cụ của thị trường tiền tệ

Kinh doanh ngoại hối – Ngân hàng thương mại được pháp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế

Ủy thác và nhận ủy thác – Ngân hàng thương mại được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý trong các lính vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý.Cung ứng dịch vụ bảo hiểm – Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, đươch thanh lập công ty trực thuộc hoặc lien doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật

Tư vấn tài chính – Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng Bảo quản vật quý giá – Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật

Trang 21

2.1.3 Đặc điểm của các NHTM

2.1.3.1 NHTM giữ vị trí quan trọng nhất thị trường tài chính

NHTM đảm nhiệm vai trò đặc biệt trên thị trường tài chính nói riêng và trong toàn

bộ nền kinh tế nói chung Trong đó NHTM giữ vị trí quan trọng nhất trên thị trường tài chính với việc nắm giữ khoảng 80% tài sản có trong hệ thống ngân hàng, có khả năng chi phối hoạt động của hệ thống tài chính và các tổ chức tín dụng So với các tổ chức tín dụng khác NHTM được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác mà một số trung gian tài chính khác không thể thực hiện được bao gồm việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và làm dịch vụ bao thanh toán, do đó tạo nên sự đa dạng về nghiệp vụ kinh doanh và các sản phẩm dịch vụ cung ứng của NHTM Đối tượng khách hàng phong phú cùng với địa bàn hoạt động rộng khắp hoạt động của NHTM càng trở nên quan trọng hơn

NHTM là công cụ của chính phủ trong việc tài trợ vốn cho các mục tiêu chiến lược, là công cụ thực hiện chinh sách tiền tệ

Do có vai trò quan trọng nhất, tác động đến tất cả các chủ thể cùng với sự đa dạng

về khách hàng cũng như các nghiệp vụ và địa bàn hoạt động rộng lớn nên NHTM có khả năng thoả mãn tốt nhất lợi ích của mọi chủ thể tham gia trên thị trường tài chính và toàn bộ nền kinh tế Thể hiện thông qua vai trò của nó

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất hiện nay, là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) đóng vài trò là trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực tiếp Các ngân hàng thương mại huy động vốn chủ yếu dưới dạng: tiền gửi thanh toán (checkable deposits), tiền gửi tiết kiệm (saving deposits), tiền gửi có kỳ hạn (time deposits) Vốn huy động được dùng để cho vay: cho vay thương mại (commercial loans), cho vay tiêu dùng (consumer loans), cho vay bất động sản (mortage loans) và để mua chứng khoán chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương Ngân hàng thương mại dù ở quốc gia nào

Trang 22

cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, cũng là trung gian tài chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất

2.1.3.2 NHTM đảm nhiệm những chức năng quan trọng trong nền kinh tế

Chức năng trung gian tín dụng, khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng thì ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay

- Đối với người gửi tiền, NHTM thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi

- Đối với người đi vay, NHTM sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ

- Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại

Chức năng tạo tiền: Chức năng tạo tiền không giới hạn trong hành động in thêm tiền và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước Bản thân các ngân hàng thương mại trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch

Trang 23

Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số

mở rộng tiền gửi Hệ số này đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng

Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát hành

mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng

Chức năng trung gian thanh toán, ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khác thu khác theo lệnh của khách hàng

Hoạt động của các ngân hàng liên quan hầu hết đến các chủ thể kinh tế trong xã hội nên sự sụp đổ của một ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền đồng thời đến toàn hệ thống Các ngân hàng có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn

Trang 24

nhau rất chặt chẽ, chỉ một trục trặc nhỏ trong quá trình thanh toán của một ngân hàng cũng sẽ gây lên vấn đề thanh khoản của cả hệ thống Mặt khác sự sụp đổ của ngân hàng sẽ gây khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, đồng thời ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền

2.1.3.3 Chứa đựng nhiều rủi ro do trong hoạt động kinh doanh của NHTM

- Đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ – một hàng hoá đặc biệt với đặc điểm rất nhạy cảm dễ bị tác động ảnh hưởng bởi những thay đổi, biến động của các yếu tố môi trường Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng là nguồn vốn đi vay dưới hình thức tiền với tính chất ổn định tương đối thấp

- NHTM sử dụng vốn chủ yếu là cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân, hoặc đầu tư vào tài sản tài chính;

- Cường độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng cao;

- Khách hàng của các ngân hàng có quan hệ tiếp tục, thường xuyên, gắn bó mật thiết và lâu dài với ngân hàng;

- Sản phẩm của ngân hàng là dịch vụ tài chính với những đặc điểm vô hình, không ổn định và không dự trữ;

- Tuy mức dư nợ trong những năm gần đây, tăng trưởng khá phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế Nhưng bên cạnh đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc Các rủi ro này chủ yếu là do thủ tục pháp lý và yếu tố chủ quan làm kéo dài thời gian thu hồi nợ và gây lỗ cho ngân hàng vì thời gian kéo dài, tài sản hư hao, vốn tồn đọng

Vì vậy các hoạt động ngân hàng luôn song hành với các rủi ro, mức lợi nhuận luôn tỉ lệ thuận với độ rủi ro nên luôn cần sự quản lý vĩ mô cần thiết để hạn chế rủi

ro cho hệ thống ngân hàng Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nhưng rủi ro tín dụng, thanh khoản và tác nghiệp đang là những rủi ro chính

mà các ngân hàng Việt Nam đối mặt:

Trang 25

A, Rủi ro tín dụng

Dù danh nghĩa là hoạt động đa năng, nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng hiện vẫn chiếm trên/dưới 90% tổng thu nhập của từng NHTM Việt Nam Rủi ro tín dụng của các NHTM chủ yếu là do thất bại của khách hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với NHTM

Những rủi ro tín dụng như vậy ngoài nguyên nhân từ chủ quan của khách hàng còn

có nguyên nhân từ phía NHTM đã vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của TCTD, và trong một số vụ còn có sự tiếp tay của một số cán bộ NH cho đối tác lợi dụng việc kinh doanh BĐS để lừa đảo

Hiện nay thì các yêu cầu về thông tin phục vụ phân tích tín dụng vẫn chưa được đáp ứng đáng tin cậy, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời Các thông tin về báo cáo tài chính của doanh nghiệp chưa bị bắt buộc phải qua kiểm toán do vậy độ chính xác của báo cáo chưa cao

Việc tìm kiếm thông tin cực kỳ khó khăn, tình trạng thông tin bất cân xứng là phổ biến (cán bộ tín dụng chủ yếu lấy thông tin từ chính sự khai báo của khách hàng) Thiếu các trung tâm dữ liệu khách hàng cá nhân, hộ gia đình, DNVN (Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN mới chỉ cung cấp thông tin về DN)

B, Tiềm ẩn rủi ro tác nghiệp

Theo Hiệp ước Basel II thì rủi ro hoạt động/rủi ro tác nghiệp là rủi ro thiệt hại xuất phát từ việc các quy định nội bộ, con người và hệ thống không đầy đủ/hoặc không hoạt động/hoặc xuất phát từ các sự kiện bên ngoài Định nghĩa này bao gồm rủi ro pháp lý nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và uy tín Dạng rủi ro này ở Việt Nam tuy chưa nhiều, nhưng với sự phát triển của kinh tế thị trường và CNTT thì đây được coi là rủi ro tiềm ẩn

Ngoài ra còn đã xảy ra một số vụ kẻ xấu nổ súng, dùng dao đe dọa cướp tiền NH trên đường vận chuyển hoặc của khách hàng vừa giao dịch với NH

Trang 26

C, Thanh khoản là vấn đề nhạy cảm

Rủi ro thanh khoản NH là tình trạng NH mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ của mình khi đến hạn hay là khả năng NH không có được đủ vốn khả dụng (cung thanh khoản) với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà NH cần để đáp ứng cầu thanh khoản.Rủi ro thanh khoản làm giảm thu nhập, uy tín, mất khả năng thanh toán Trong ngắn hạn, có lẽ các Ngân hàng sợ nhất tình trạng này, đặc biệt khi thông tin rủi ro bị lọt

ra bên ngoài Liên quan đến rủi ro thanh khoản, có chuyên gia ngân hàng cho rằng có mối quan hệ giữa lãi suất và thanh khoản Mỗi khi thanh khoản hệ thống có vấn đề, Lãi suất, đặc biệt là Lãi suất huy động và Lãi suất liên ngân hàng lại bị đẩy lên cao khiến ngân hàng gặp rủi ro về thu nhập và giá trị tài sản của Ngân hàng chịu ảnh hưởng bất lợi của những biến động Lãi suất Từ đó lại dẫn đến rủi ro thanh khoản Đây là một cái vòng luẩn quẩn, nếu không có khung quản trị rủi ro tốt thì các ngân hàng không thể thoát ra được

Rủi ro chính sách đối với thị trường tài chính nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng ở Việt Nam thời gian qua cũng được nhiều chuyên gia nêu ra Rủi ro chính sách có thể làm tăng rủi ro về lãi suất và tỉ giá của các NHTM Tuy nhiên, theo một số ý kiến thì NHTW nước nào cũng mong muốn chính sách đưa ra ổn định, có tính dự báo để hỗ trợ thị trường, vấn đề ở đây là những diễn biến khó lường của môi trường kinh tế (trong và ngoài nước) ngoài dự kiến Vì vậy, công tác thống kê, xử lý thông tin, chất lượng dự báo rất cần được quan tâm đúng mức

2.1.3.4 Các NHTM hoạt động mang tính hệ thống

Hình thức hoạt động mang tính hệ thống của các ngân hàng thương mại dễ dẫn đến rủi ro sụp đổ cả hệ thống khi thị trường có những biến động xấu Thị trường liên ngân hàng hiện nay hoạt động chủ yếu để giao dịch, vay nợ lẫn nhau nhưng cũng không thể phủ nhận khả năng hoạt động của thị trường này, tuy nhiên cũng luôn phải chú ý điều chỉnh để hệ thống ngân hàng hoạt động tốt không gây ảnh hưởng xấu đến thị trường

Trang 27

Việc sụp đổ có hệ thống có thể khiến tình trạng lạm phát tăng cao dẫn đến khủng hoảng kinh tế như năm 2007 vừa qua tại Mỹ.

Qua những phần trên, đã đưa ra một cách tổng quan nhất về hoạt động, cũng như các rủi ro mà hệ thống NHTM thường gặp phải, sau đây em xin đề cập đến rủi ro tỷ giá nói chung và rủi ro tỷ giá với một NHTM nói riêng

2.2 Giới thiệu sơ lược về rủi ro tỷ giá với một ngân hàng

2.2.1 Rủi ro tỷ giá của một ngân hàng

Như chúng ta đã biết có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro ngoại hối: Thứ nhất, các ngân hàng giao dịch các hợp đồng tiền nước ngoài nhằm phục vụ cho cho khách hàng và cho chính bản thân mình;

Thứ hai, các ngân hàng đầu tư vào vào tài sản có và huy động vốn bằng các ngoại tệ.

Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại hối ròng (trường hay đoản) trong mua bán ngoại hối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại

tệ Chúng ta sẽ thấy rằng, nếu tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối càng lớn Một trạng thái ngoại hối dương là trạng thái ngoại hối trường ròng với một loại ngoại tệ (Tức là tài sản nợ bằng ngoại hối nhiều hơn tài sản có bằng ngoại hối đối với một loại ngoại tệ) và khi trạng thái ngoại hối là trường ròng thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro ngoại hối khi đồng tiền đó giảm giá so với đồng nội tệ Và tương tự chúng ta sẽ có một trạng thái ngoại hối âm là trạng thái ngoại hối đoản ròng đối với một loại ngoại tệ, và khi mà trạng thái ngoại hối của một đồng tiền là đoản ròng thì, thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro ngoại hối khi đồng tiền đó lên giá so với đồng bản tệ Như vậy, khi trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ là khác 0 thì ngân hàng luôn luôn phải đối phó với với rủi ro ngoại hối, khi tỷ giá của ngoại tệ biến động so với đồng bản tệ.

Trong môi trường toàn cầu hóa tài chính – ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng ngày càng phải đối mặt với vấn đề rủi ro ngoại hối nhiều hơn Những

Trang 28

rủi ro này có thể phát sinh thông qua các hoạt động giao dịch ngoại hối; cho vay bằng ngoại tệ (ví dụ như cho vay bằng ngoại tệ USD); mua các chứng khoán được phát hành bằng ngoại tệ (ví dụ như mua trái phiếu của chính phủ Mỹ, trái phiếu Châu Âu…); hoặc là phát hành các chứng khoán nợ bằng ngoại tệ để duy trì vốn (ví dụ như phát hành các trái phiếu, kì phiếu bằng ngoại tệ)

2.2.2 Tác động của rủi ro tỷ giá với một ngân hàng

Như phần trên đã trình bày, khi mà một ngân hàng đang có trạng thái ngoại hối trường (đoản) với một loại ngoại tệ thì ngân hàng đó đang phải đối mặt với rủi ro ngoại hối Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp ngân hàng có trạng thái ngoại hối đối với một loại ngoại tệ nào đó là trường (đoản), thì rủi ro ngoại hối còn phụ thuộc vào hướng và mức độ biến động của tỷ giá hối đoái, tức là:

Lãi/lỗ đối với ngoại tệ i = (trạng thái ngoại hối ròng/đoản của ngoại tệ i) x

(mức biến động của ngoại tệ i).

Như vậy ta có thể thấy một ngân hàng có thể điều chỉnh được trạng thái ngoại hối của mình Nhưng lại không thể điều chỉnh được tỷ giá của một loại ngoại tệ Bởi nhân tố chính xác định sự vận động của tỷ giá lại chính là các lực lượng kinh tế, nạn đầu cơ thì không ổn định Chính vì thế mà các ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về tỷ giá Nhất là trong điều kiện Việt Nam chúng ta đã tham gia vào WTO Thì việc hội nhập sâu, hôi nhập chủ động trong lĩnh vực ngân hàng càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Chính điều này đòi hỏi các nhà quản lý ngân hàng cần có chính sách điều hành, thực hiện việc phòng chống rủi ro về tỷ giá thật tốt Đòi hỏi các nhà quản lý cần phải thường xuyên trau dồi các kiến thức mới Để có thể ứng phó nhanh nhất với những biến động của tỷ giá, hay có thể phán đoán chiều hướng của tỷ giá, từ đó mà đưa ra các quyết định chính xác nhất, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng của mình Có như vậy thì ngân hàng của mình mới có thể phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Trang 29

Như phần trên đã nói, rủi ro tỷ giá được cấu thành do hai hoạt động: Mua bán ngoại hối và hoạt động trên tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ Chính vì thế mà chúng ta sẽ xem xét hai yếu tố cấu thành rủi ro tỷ giá đối với một NHTM là mua bán ngoại hối và hoạt động trên tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ.

2.2.3.1 Hoạt động mua bán ngoại tệ

Thị trường ngoại hối của thế giới đã trở thành thị trường lớn nhất trong thị trường tài chính, với doanh số mua bán chục nghìn tỷ USD mỗi ngày Hơn nữa, thị trường này thực chất hoạt động 24/24 giờ mỗi ngày Bắt đầu từ Sydney, Tokyo, LonDon và đến NewYork Do đó, rủi ro ngoại hối có thể phát sinh vào bất cứ khi nào, ngay cả khi ngân hàng đã đóng cửa ngừng giao dịch Trạng thái ngoại hối của ngân hàng phản ánh bốn hoạt động của ngân hàng trên thị trường ngoại hối mà chúng ta liệt kê như sau:

1.Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các hợp đồng ngoại thương;

2.Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho mình) nhằm mục đích thực hiện đầu tư trực tiếp hay gián tiếp;

3.Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho mình) nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó để giảm rủi ro ngoại hối;

4.Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến động của tỷ giá.

Hai hoạt động đầu, ngân hàng thường thực hiện cho khách hàng để thu phí, và

do đó, rủi ro ngoại hối ngân hàng không phải gánh chịu Hoạt động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối (phòng vệ), tức là nhằm giảm rủi ro ngoại hối Như vậy, rủi ro ngoại hối thực chất chỉ liên quan đến trạng thái ngoại hối mở (open position) đối với hoạt động mua bán mang tính chất đầu cơ (unhedged position), tức là hoạt động thứ 4 Trạng thái ngoại hối mở thường được thực hiện trong trong các giao dịch giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường

Trang 30

ngoại hối và đặc biệt với các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đầu tư những ngân hàng tạo thị trường bằng cách yết tỷ giá mua bán hai chiều “Bid – Ask” đối với các ngoại tệ giao dịch.

Trang 31

2.2.3.2 Trạng thái tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ.

Khía cạnh thứ hai của rủi ro ngoại hối mà các ngân hàng phải chịu là sự không cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ Tài sản có bằng ngoại tệ là các khoản mục, các bảng tổng kết tài sản, như: các khoản cho vay bằng ngoại tệ; các chứng khoán bằng ngoại tệ; tiền gửi bằng ngoại tệ ở ngân hàng khác; tiền mặt bằng ngoại tệ… Tài sản nợ bằng ngoại tệ là các khoản mục trên bảng tổng kết tài sản, như: phát hành các chứng chỉ tiền gửi bằng ngoại tệ; phát hành trái phiếu Châu Âu; và các hình thức huy động vốn bằng ngoại tệ Do tính chất toàn cầu hóa thị trường tài chính đã tạo ra những khả năng to lớn để tăng nguồn vốn của các ngân hàng bằng các loại ngoại tệ khác nhau Đây là lợi thế to lớn không những đa dạng hóa nguồn vốn và sử dụng bằng ngoại tệ, và còn tạo ra những cơ hội để tăng được lợi tức đầu tư và giảm được chi phí vốn huy động.

Như phần trên đã đề cập đến rủi ro ngoại tệ trong hoạt động kinh doanh của NHTM, ở phần sau đây, xin giới thiệu về quản lý rủi ro tỷ giá tại VPBank

2.3 Thực trạng quản lý rủi ro tỷ giá trong hoạt động VPBank – chi nhánh Đông Anh.

2.3.1 Thực trạng hoạt động KDNT tại VPBank

2.3.1.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động KDNT tại VPBank.

Ngày 19/5/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký công văn số CNH xác nhận Ngân hàng thương mại cổ phần Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh (VPBank) đủ điều kiện cung ứng các dịch vụ ngoại hối

3592/NHNN-Theo công văn này, VPBank đã đủ điều kiện hoạt động cung ứng các dịch vụ ngoại hối sau:

+ Cung cấp các giao dịch hối đoái dưới hình thức giao dịch giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền lựa chọn, hợp đồng tương lai và các giao dịch hối đoái khác theo thông

lệ quốc tế;

Trang 32

+ Huy động vốn, cho vay và bảo lãnh bằng ngoại tệ dưới các hình thức theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;

+ Phát hành, đại lý phát hành thẻ quốc tế;

+ Cung cấp các dịch vụ chuyển tiền và thanh toán (trong nước và quốc tế); nhận và chi, trả ngoại tệ;

+ Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá bằng ngoại tệ;

+ Ủy nhiệm cho tổ chức tín dụng khác và tổ chức kinh tế làm đại lý cung ứng một

số dịch vụ ngoại hối, bao gồm dịch vụ đổi ngoại tệ, dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ và các dịch vụ khác;

+ Cung cấp các dịch vụ ủy thác và quản lý tài sản bằng ngoại hối;

+ Cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư bằng ngoại hối (mua, bán, sáp nhập, bảo lãnh và làm đại lý phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ…);

+ Cung ứng các dịch vụ tư vấn cho khách hàng về ngoại hối;

+ Thực hiện các hoạt động ngoại hối khác theo thông lệ quốc tế và phù hợp với pháp luật Việt Nam

Cùng ngày, Thống đốc NHNN cũng đã có công văn số 3593/NHNN-CNH xác nhận VPBank đã đăng ký cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế

Căn cứ vào phạm vi cho phép, khi cung ứng các dịch vụ trên, VPBank có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về quản lý ngoại hối hiện hành của Việt Nam và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến họat động cung ứng dịch vụ ngoại hối

2.3.1.2 Bộ phận thực hiện hoạt động KDNT

Tại Ngân hàng TMCP các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam thì bộ phận được phân bổ tham gia hoạt động KDNT là Phòng thanh toán quốc tế Chức năng và nhiệm vụ của Phòng thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Các Doanh

Trang 33

A, Chức năng của Phòng thanh toán quốc tế

- Thực hiện công tác thanh toán xuất, nhập khẩu và dịch vụ đối ngoại liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu của các đơn vị trong nước với đối tác nước ngoài qua chi nhánh theo đúng quy định, quy chế, quy trình nghiệp vụ của Nhà nước, NHNN Việt Nam, Ngân hàng TMCP các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt

Nam

- Cân đối nguồn ngoại tệ, đề suất lãi suất đầu vào, đầu ra cho chi nhánh

- Lập và duyệt các báo cáo thống kê của NHNN

B, Nhiệm vụ của Phòng thanh toán quốc tế

- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dich vụ của khách hàng

- Thực hiện các nghiệp vụ phát hành thư bảo lãnh, mở L/C trả chậm đối với nước ngoài; các nghiệp vụ bảo lãnh trong nước đối với trường hợp kí quỹ 100% …

- Quản lý bảo mật mã điện, kiểm tra mẫu dấu, chữ kí và khóa điện của ngân hàng đặt tại nước ngoài.

- Trên cơ sở kiểm tra bộ chứng từ xuất khẩu, phối hợp với bộ phận quan hệ

đề xuất tỷ lệ chiết khấu, thực hiện chiết khấu chững từ hàng hàng xuất khẩu cho khách hàng khi có yêu cầu của bộ phận quan hệ khách hàng.

- Tư vấn cho khách hàng về các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ của phòng

- Thực hiện hoạch toán thu phí các nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu, bảo lãnh và các loại chi phí khác có liên quan theo biểu phí dịch vụ hiện hành.

- Cân đối nguồn ngoại tệ, đảm bảo trong hạn mức bán một ngày của chi nhánh, duyệt hồ sơ mua bán ngoại tệ, và chuyển qua các bộ phận có liên quan.

- Thực hiện các nghiệp vụ lấy, duyệt, cập nhật, công bố, lưu ý hồ sơ tỷ giá công bố hàng ngày, tỷ giá thống kê hàng tháng phục vụ các báo cáo.

Trang 34

- Lập, công bố và lưu trữ các loại tỷ giá mua bán thành phẩm như lãi suất huy động, lãi suất cho vay, phí dịch vụ ngân hàng…

- Thực hiện nhiệm vụ khác do Ban giám đốc lãnh đạo.

Trên đây chúng ta đã điểm qua về các hoạt động của VPBank cũng như các phòng ban có liên quan đến việc KDNT, sau đây xin được giới thiệu về hoạt động phòng chống rủi ro tỷ giá tại VPBank – chi nhánh Đông Anh.

2.3.1.3 Các sản phẩm KDNT của VPBank

VPBank là một định chế tài chính tuy mới thành lập từ năm 1993, nhưng

cũng đã có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối VPBank là ngân hàng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ chuyên nghiệp với chất lượng tốt nhất, kịp thời, an toàn và hiệu quả đến với khách hàng.

Với thế mạnh về nguồn vốn ngoại tệ, kinh nghiệm tích lũy được trong hoạt động KDNT, ngoài việc đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngoại tệ của khách hàng, ngân hàng còn giúp khách hàng tránh khỏi những rủi ro trong hoạt động ngoại hối bằng cách cung cấp đa dạng các sản phẩm, thiết kế các sản phẩm ngoại hối đặc thù phù hợp thực trạng hoạt động kinh doanh, nguồn ngoại tệ của khách hàng.

Hiện nay, VPBank cũng cung cấp các sản phẩm ngoại hối như các chi nhánh cấp I

thuộc VPBank bao gồm:

►Mua bán ngoại tệ;

- Giao dịch giao ngay (Spot)

- Giao dịch kì hạn (Forward)

- Giao dịch quyền chọn (Option)

- Giao dịch tương lai (Furture)

- Giao dịch hoán đổi (Swap)

Trang 35

+ Hoán đổi ngoại tệ (FX Swap)

+ Hoán đổi lãi suất (IRS)

► Vay gửi trên thị trường liên ngân hàng: Phục vụ nhu cầu vay gửi;

► Giao dịch các giấy tờ có giá trị trên thị trường tiền tệ;

► Ủy thác đầu tư trong và ngoài nước.

2.3.1.4 Vai trò của các nghiệp vụ phái sinh trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Như chúng ta ai đã đề cập ở phần trên về đặc điểm của ngành ngân hàng, và cũng như các yếu tố hình thành rủi ro tỷ giá, thì chúng ta biết rằng rủi ro tỷ giá có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động KDNT của NHTM Và ảnh ảnh hưởng này có tác động đến mức nào thì phụ thuộc vào tình trạng riêng của mỗi NHTM, và cách phòng chống rủi ro tỷ giá của NHTM đó Ta cũng đã biết rủi ro ngoại hối cũng có thể phòng ngừa hữu hiệu bằng cách sử dụng tốt các nghiệp vụ giao dịch phái sinh Trên đây xin đưa ra tác dụng của các nghiệp vụ phái sinh được áp dụng để phòng tránh tỷ giá mà được các NHTM trên thế gới áp dụng rộng rãi và các NHTM của Việt Nam cũng đang bắt đầu áp dụng:

A, Giao dịch kỳ hạn

Trong sự lựa chọn nào đó ngân hàng có thể chọn giải pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối của mình bằng cách sử dụng nghiệp vụ giao dịch có kỳ hạn nghĩa là ngân hàng sẽ bán ngoại tệ để nhận lại nội tệ

Mục đích của các hợp đồng kỳ hạn là nhằm loại trừ những khả năng không chắc chắn về tỷ giá giao ngay tại thời điểm tín dụng đến hạn Như vậy, thay vì chờ đến tận thời điểm cuối năm, mới chuyển lượng ngoại tệ thu được thành nội tệ với một mức tỷ giá giao ngay chưa biết trước, thì ngân hàng có thể tại thời điểm ngày hôm nay bán có

kỳ hạn 1 năm lượng ngoại tệ dự tính sẽ thu được bao gồm cả gốc và lãi tại mức tỷ giá

kỳ hạn đã biết để nhận nội tệ Việc giao nhận giữa ngoại tệ và nội tệ được thực hiện tại thời điểm cuối năm Như vậy, bằng cách bán kỳ hạn số ngoại tệ dự tính thu được với

Trang 36

một tỷ giá đã được xác định ngay ngày hôm nay, ngân hàng đã tránh được rủi ro do tỷ giá biến động tại thời điểm cuối năm và do đó, đảm bảo được mức lợi tức dự tính trong hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ

Trên thế giới nghiệp vụ kỳ hạn được giao dịch rất phổ biến trên thị trường giao dịch qua quầy OTC, do đó thỏa mãn được hầu hết các đối tác có nhu cầu bảo hiểm rủi

ro, mà chủ yếu là các ngân hàng và các công ty xuất nhập khẩu Nhưng tại Việt Nam thì những giao dịch này vẫn còn rất hạn chế

B, Hợp đồng tương lai

Thay vì sử dụng nghiệp vụ kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng các hợp đồng tương lai để bảo hiểm rủi ro ngoại hối Các hợp đồng tương lai được giao dịch trên cơ sở có tổ chức Cần phải xác định số lượng hợp đồng mà ngân hàng phải bán là số lượng mà sao cho lợi nhuận thu được từ các hợp đồng tương lai này để bù đắp mọi thua lỗ từ khoản tín dụng bằng ngoại tệ khi giá trị đồng ngoại tệ giảm so với đồng nội tệ Có hai trường hợp xem xét:

- Mức thay đổi giá trị tương lai của nội tệ và ngoại tệ được dự tính đúng bằng mức thay đổi giá trị giao ngay của nội tệ và ngoại tệ sau thời gian 1 năm Nghĩa là, sự thay đổi tỷ giá giao ngay và giao tương lai có mối tương quan hoàn hảo với nhau, tức rủi ro cơ bản bằng 0

- Tỷ giá giao ngay và giao tương lai được dự tính là thay đổi cùng chiều (tăng cùng tăng và giảm cùng giảm), nhưng mức độ thay đổi khác nhau, tức là tồn tại rủi ro cơ bản Trong nhiều trường hợp, thị trường tuơng lai không cho phép ngân hàng áp dụng hợp đồng dài hạn 1 năm để bảo hiểm khoản tín dụng có kỳ hạn một năm Vì vậy, ngân hàng phải áp dụng phương pháp giao dịch trên thị trường tương lai và tăng sự không chắc chắn về giá trong các hợp đồng tiếp theo Điều này đã khiến cho các nhà quản trị ngân hàng ưu tiên bảo hiểm rủi ro các tài sản có kỳ hạn dài trên thị trường kỳ hạn hoặc thị trường hoán đổi hơn là thị trường tương lai

C, Giao dịch quyền chọn

Trang 37

Giống như hoạt động của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, nhà đi vay và cho vay bằng ngoại tệ bảo hiểm rủi ro ngoại hối thông qua hợp đồng quyền chọn tiền tệ, một khả năng tương tự là việc các ngân hàng cũng có thể sử dụng được các hợp đồng quyền chọn nhằm bảo hiểm rủi ro ngoại hối Tuy nhiên, khách hàng phải trả một khoản chi phí nhất định khi tham gia giao dịch này và khoản chi phí này sẽ chênh lệch nhau phù thuộc vào các yếu tố: sự tồn tại rủi ro cơ bản, tính thanh khoản của thị trường, kỳ hạn của hợp đồng

và bản chất của quyền chọn tương lai kiểu Mỹ là có thể thực hiện quyền chọn trước khi hợp đồng đến hạn, trong khi đó bản chất của hợp đồng quyền chọn kiểu châu Âu chỉ có thể thực hiện tại thời điểm khi hợp đồng đến hạn

Cần lưu ý, một khía cạnh khác của thị trường phi tập trung (OTC) và thị trường tập trung đó là tính pháp lý và thuế Trong nhiều giao dịch, thuế chỉ đánh trên sàn, cũng như tính pháp lý được xem xét rất nghiêm ngặt trên thị trường OTC Ngược lại, khi giao dịch trên sàn thì đối tác của nhà giao dịch là Sở giao dịch, trong trường hợp này thì rủi ro về tín dụng hầu như không có

D, Giao dịch hoán đổi tiền tệ

Hoán đổi tiền tệ (Currency Swaps) được các ngân hàng sử dụng rất phổ biến để bảo hiểm rủi ro ngoại hối của mình

Trong trường hợp các tiền tệ trên bảng cân đối tài sản không cân xứng với nhau, chúng ta dễ thấy rằng trong giao dịch hoán đổi tiền tệ thì phần gốc và phần lãi đều được bao gồm trong hợp đồng Đối với giao dịch hoán đổi lãi suất thì chỉ phần thanh toán lãi suất là bao gồm trong hợp đồng Lý do là vì trong giao dịch hoán đổi tiền tệ thì cả phần gốc và phần lãi đều bộc lộ rủi ro ngoại hối

Chuyên đề nghiên cứu giải pháp phòng chống rủi ro tỷ giá tại tại VPBank – chi nhánh Đông Anh, nhưng do tính chất của chi nhánh chưa phải là đại lý cấp I, cho nên các nghiệp

vụ liên quan đến nghiệp vụ phái sinh chưa có điều kiện áp dụng vào thực tiễn, chính vì thế

mà bài viết của chỉ xin được đề cập đến một mảng của việc phòng chống rủi ro tỷ giá, đó

là mảng: phòng chống rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại VPBank – chi nhánh Đông Anh.

Trang 38

2.3.2 Thực trạng rủi ro tỷ giá và quản lý rủi ro tỷ giá trong KDNT tại VPBank – chi nhánh Đông Anh

2.3.2.1 Thực trạng KDNT của VPBank – chi nhánh Đông Anh

VPBank tuy không phải là NHTM đầu tiên triển khai hoạt động KDNT, tuy được

thành lập, và tham gia hoạt động KDNT không lâu như các NHTM được thành lập từ trước Nhưng VPBank lại có lợi thế là người đi sau, nên học hỏi được các kinh nghiệm trong việc triển khai hoạt động KDNT

VPBank là ngân hàng có doanh số mua bán ngoại tệ có tỷ trọng khá so với các

NHTM khác Ngân hàng có phương pháp xác định tỷ giá và công bố linh hoạt, kịp thời Bên

cạnh đó ngân hàng VPBank cũng là thành viên có vai trò cùng NHNN ổn định tỷ giá hối đoái Nhờ lợi thế đó mà VPBank – chi nhánh Đông Anh đã thu hút được nhiều khách hàng

tham gia vào hoạt động này, và góp phần vào thu nhập chung của chi nhánh Tuy nhiên việc mua bán ngoại tệ chủ yếu thông qua nghiệp vụ giao ngay phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu với vai trò dịch vụ khách hàng chứ chưa thể hiện kinh doanh kiếm lời

Các nghiệp vụ phái sinh: nghiệp vụ hoán đổi, kì hạn… còn chưa được triển khai tại VPBank – chi nhánh Đông Anh Nhiều khách hàng còn chưa ý thức được ý nghĩa của nghiệp vụ này trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá Theo đánh giá, nhu cầu sử dụng các sản phẩm tài chính phái sinh trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá chỉ ở mức độ tiềm năng khi phần lớn các doanh nghiệp đều cho rằng biến động tỷ giá trên thị trường không quá lớn Doanh nghiệp chưa nhận thức thật đầy đủ về các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp

Nên các dịch vụ của VPBank – chi nhánh Đông Anh chưa thể mang lại nhiều lợi nhuận

như tiềm năng có thể đạt được

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn vài điều cần điểm qua về hoạt động KDNT của chi nhánh trong 2 năm gần đây

A, Doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh trong giai đoạn 2008 – 2009

Doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh trong giai đoạn 2008 – 2009 thông qua

Trang 39

Bảng 2.1 Hoạt động KDNT của Chi Nhánh Đông Anh

Đơn vị: Nghìn USD

hoạch 2009

Tăng trưởng (%)Doanh số mua ngoại tệ 3.215 4.110 3.400 120,88Doanh số bán ngoại tệ 3.375 4.125 3.500 117,85Lãi từ KDNT 15,031 25,125 20 167,15

Nguồn: Phòng thanh toán quốc VPBank – CN ĐA

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy doanh số mua án ngoại tệ liên tục tăng trong hai năm gần đây là năm 2008 và 2009, mặc dù 2009 là năm mà xảy ra khủng hoảng tài chính thế giới Nhưng với những chính sách hợp lý của mình thì chi nhánh vẫn vượt được kế hoạch đề ra trong hoạt động KDNT Đặc biệt có thể thấy tốc độ tăng trưởng của lãi thu

từ hoạt động KDNT tăng trưởng mạnh từ năm 2009 so với 2008, với tốc độ phát triển

2009 đạt đến 67,15% so với 2008 và phát triển 25% so với kế hoạch đặt ra trong năm

2009 Đạt được kết quả như trên là nhờ có các nguyên nhân sau:

Thứ nhất là do biến động của tỷ giá trong thời gian qua là luôn luôn tăng, làm cho kết quả KDNT của chi nhánh được cải thiện đáng kể

Thứ hai là sự thích ứng tốt, nhạy bén với biến động của thị trường, tránh được những rủi ro do biến động của tỷ giá gây ra với hoạt động của chi nhánh Bên cạnh đó, chi nhánh còn mua được ngoại tệ của khách hàng, chủ động được nguồn cung ngoại tệ, tránh được tình trạng phải mua ngoại tệ từ Hội sở chính, chính vì thế mà khi cung ngoại tệ cho nhà nhập khẩu, chi nhánh được hưởng toàn bộ phần chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán ngoại

tệ cho nhà nhập khẩu, góp phần vào tăng trưởng chung của chi nhánh

Ngoài ra, hoạt động KDNT trong những năm gần đây có chiều hướng tăng trưởng mạnh

là vì chi nhánh đã thực hiện linh hoạt các hoạt động Marketing, khuyến khích, thu hút khách hàng bán ngoại tệ cho Chi nhánh với mức tỷ giá hợp lý Đặc biệt là khi mà nghị quyết 173 về

Trang 40

kết hối ngoại tệ cho các doanh nghiệp được thực thi thì hoạt động mua bán ngoại tệ trở nên thuận lợi và nhanh chóng hơn, đẩy mạnh doanh số mua bán ngoại tệ của chi nhánh.

Ngoài ra, dựa vào bảng 2.1 chúng ra có thể thấy hoạt động KDNT của chi nhánh ngày càng được mở rộng thông qua 3 hoạt động chính là: thứ nhất, mua bán ngoại tệ nhằm mục tích đầu cơ, vì quãng thời gian qua là khoảng thời gian mà tỷ giá ngoại tệ có sự biến động lớn, thường là tăng giá, làm cho hoạt động đầu cơ phát triển mạnh mẽ Thứ hai, mua bán ngoại tệ nhằm mục đích thanh toán quốc tế Thứ ba, mua bán ngoại thệ nhằm chi trả kiều hối Chỉ riêng trong năm 2009 thì doanh số mua bán ngoại tệ cũng tăng 19% so với năm

2008 về mặt số lượng, đây quả là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động KDNT

B, Đối tượng tham gia hoạt động KDNT của chi nhánh

Để phân tích được đối tượng tham gia giao dịch với VPBank – chi nhánh Đông

Anh trong quãng thời gian vừa qua Chúng ta xem xét bảng 2.2:

Bảng 2.2 Doanh số mua bán ngoại tệ theo đối tượng 2008 – 2009.

Ngày đăng: 17/12/2012, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (2007), Tài chính quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
2. PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo (2009), Nghiệp vụ thanh toán quốc tế, NXB Tài chính Khác
3. PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (2002), Thih trường ngoại hối Việt Nam tiến trình hội nhập quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
4. TS Nguyễn Minh Kiều (2008), Thị trường ngoại hối và các giải pháp phòng ngừa rủi ro, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
5. thông tư số 26/2009/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2009 của NHNN Việt Nam quy định việc mua – bán ngoại tệ của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước Khác
7. TS.Phùng Khắc Đế - Phó thống đốc NHNNVN, Thị trường tiền tệ trong quá trình xây dựng nền kinh tế định hướng XHCN ở Việt Nam Khác
8. Ngân hàng Nhà nước, quyết định số 1081/2002/QD-NHNN của Thống đốc NHNN ban hàng về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động trong hoạt động ngoại hối Khác
9. TS Sử Đình Thành – TS Vũ Thị Minh Hằng, Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ NXB ĐH Quốc Gia Tp.HCM, 200610. Các trang web Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Bảng tổng kết về quy mô của VPBank từ năm 2004 - 2009. - Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh
Bảng 1.1 Bảng tổng kết về quy mô của VPBank từ năm 2004 - 2009 (Trang 9)
Bảng 1.2  Hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank giai đoạn 2007 – 2008 - Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh
Bảng 1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank giai đoạn 2007 – 2008 (Trang 13)
Bảng 1.3 Chỉ tiêu của VPBank trong năm 2010 - Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh
Bảng 1.3 Chỉ tiêu của VPBank trong năm 2010 (Trang 16)
Bảng 2.1 Hoạt động KDNT của Chi Nhánh Đông Anh - Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh
Bảng 2.1 Hoạt động KDNT của Chi Nhánh Đông Anh (Trang 39)
Bảng 2.2 Doanh số mua bán ngoại tệ theo đối tượng 2008 – 2009. - Quản lý rủi ro tỷ giá tại vpbank – chi nhánh đông anh
Bảng 2.2 Doanh số mua bán ngoại tệ theo đối tượng 2008 – 2009 (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w