1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam hiện nay docx

27 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 234,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, lạm phát cơ bản được hiểu là tỷ lệ lạmphát đã được điều chỉnh loại bỏ những biến động ngắn hạn về giá cả, giúp các nhàhoạch định chính sách xác định xu hướng lạm phát trong dài

Trang 1

Nội dung thảo luận: Lạm phát ở Việt Nam hiện nay

1 Cơ sở lý luận chung về lạm phát.

1.1 Khái niệm về lạm phát.

Lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong một thời gian dài.

1.2 Phương pháp đo lường lạm phát.

Lạm phát còn được đo bằng chỉ số giá cả

1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng.

Chỉ số giá cả được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số giá cả hàng tiêu dùng CPI CPItính chi phí của một giỏ hàng tiêu dùng và dịch vụ trên thị trường Các nhóm chính đó

là hàng lương thực thực, thực phẩm, quần áo , nhà cửa , chất đốt …

Trong thực tế nó được thay thế nó được thay thế bằng chỉ số giá cả tiêu dùng hoặc

chỉ số giá bán buôn: Ip =

1

n pj

j i

d j

Trong đó: p chỉ số giá cả từng loại nhóm hàng

d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại nhóm hàng

1.2.2 Chỉ số giá buôn.

Chỉ số thứ 2 cũng thường được sử dụng là chỉ số giá cả sản suất PPI Đây là chỉ sốgiá bán buôn PPI được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên do người sảnxuất ấn định

1.2.3 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội.

Đây là chỉ số đo mức giá bình quân của tất cả hàng hoá và dịch vụ tạo nên tổngsản phẩm quốc nội, được xác định theo công thức:

Chỉ số giảm phát GDP = n

r

GDP GDP

1.2.4 Chỉ số lạm phát cơ bản.

Vì CPI là chỉ số lạm phát cho bất kỳ một thời kỳ nào, có thể là tháng, quý, năm Vậy, làm thế nào để xác định được xu hướng thay đổi giá cả hàng hoá và dịch vụtrong dài hạn Để làm được điều này, người ta dùng chỉ tiêu lạm phát cơ bản Đây là

Trang 2

chỉ số phản ánh sự tăng giá trong dài hạn sau khi đã loại bỏ những dao động về giámang tính thời vụ, và những đột biến về giá bắt nguồn từ những cú “sốc cung” tạmthời Chỉ số lạm phát cơ bản không thay thế CPI, mà chỉ đóng vai trò là chỉ tiêu bổsung cho CPI, nó cung cấp thông tin về xu hướng dài hạncủa giá tiêu dùng và được sửdụng như chỉ số lạm phát tương lai Như vậy, lạm phát cơ bản được hiểu là tỷ lệ lạmphát đã được điều chỉnh loại bỏ những biến động ngắn hạn về giá cả, giúp các nhàhoạch định chính sách xác định xu hướng lạm phát trong dài hạn, là thông tin hữu íchhoạch định CSTT.

1.3 Phân loại lạm phát

Có nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau:

1.3.1 Căn cứ vào mức độ:

Dựa trên độ lớn nhỏ của tỷ lệ % lạm phát tính theo năm ,người ta chia lạm phát ra thành

a Lạm phát vừa phải (lạm phát 1 con số mỗi năm):

Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng chậm và tỷ lệ lạm phát dưới 10%/năm.Đây mà mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được,với mức lạm phát này,những tácđộng kém hiệu quả của nó là không đáng kể

Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý cho người lao động chỉ trông chờ vào thunhập Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoảng thu nhập ổn định, ít rủi ronên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh

b Lạm phát phi mã (2 con số mỗi năm):

Khi tỷ lệ tăng,giá đã bắt đầu tăng đến 2 chữ số mỗi năm.Ở mức lạm phát 2 chữ sốthấp (11,12,13%/năm), nói chung những tác động tiêu cực của nó là không đáng kể,nềnkinh tế vẫn có thể chấp nhận được Nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức 2 chữ số cao, lạmphát sẽ trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập vì những tác động tiêu cực của nó làkhông nhỏ Lúc đó lạm phát 2 chữ số sẽ trở thành mối đe dọa đến sự ổn định của nềnkinh tế Ở mức 2 chữ số, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhah chóng, gây biếnđộng lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc này người dân tích trữ hànghoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường.Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng

Trang 3

c Siêu lạm phát:

Tùy theo quan điểm của các nhà kinh tế, ngoài các loại lam phát trên, còn có lạmphát 3 chữ số Nhiều người coi các loại lạm phát này là siêu lạm phát vì nó có tỷ lệ lạmphát rất cao và tốc độ tăng nhanh.Với siêu lạm phát, những tác động tiêu cực của nóđến đời sống và đến nền kinh trở nên nghiêm trọng: Kinh tế suy sụp một cách nhanhchóng ,thu nhập thực tế của người lao động giảm mạnh …dẫn đến đời sống kinh tế củangười dân trở nên khó khăn Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít khi xảy ra

1.3.2.Căn cứ vào tính chất:

a Lạm phát thuần tuý:

Là lạm phát mà giá tất cả các hàng hoá và dịch vụ tăng cùng một tỷ lệ, nên giá cảtương đối giữa các mặt hàng là không thay đổi Do đó, lạm phát thuần tuý không làmthay đổi cơ cấu hàng hoá và dịch vụ trong tiêu dùng

dự đoán trước va lạm phát bất thường:

b Lạm phát dự kiến:

Đây là loại lạm phát xảy ra trong một thời gian tương đối dàivới tỷ lệ lạm pháttăng hàng năm khá đều đặn và ổn định.Do vậy,người ta có thể dự đoán trước được tỷ lệlạm phát cho những năm tiếp theo.Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình hình lạmphát đó và người ta đã có những chuẩn bị để thích nghi với tình trạng lạm phát này

c Lạm phát không dự kiến hay lạm phát bất thường:

Là lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đó chưa từng xuất hiện Do vậy tâm

lý, cuộc sống và thói quen của người dân đều chưa thích ứng được.Lạm phát bất thườnggây ra những cú sốc cho nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chínhquyền

1.3.3 Căn cứ vào nguyên nhân:

Lạm phát tiền tệ, lạm phát cầu kéo, lạm phát chi phí đẩy, lạm phát cơ cấu, lạmphát ngân sách

1.3.4 Căn cứ sự biến động:

a Lạm phát ngắn hạn:

Biểu hiện mức giá cả biến động trong ngắn hạn, có tính chất thời vụ, như lạm pháttháng, quý, năm Lạm phát ngắn hạn thường đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trang 4

b Lạm phát dài hạn:

Thể hiện của xu hướng lạm phát trong dài hạn, được loại trừ sự biến động tạmthời có tính thời vụ giá cả Lạm phát dài hạn được đo bằng chỉ số lạm phát cơ bản

1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát.

1.4.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ:

Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá… có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm

phát Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặt hàngcũng tăng Tăng lương đẩy giá lên cao Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liên tụcmức giá chung và có thể giải thích theo các cách sau:

Theo thuyết tiền tệ: Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ, khicung tiền tệ tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát, được thể hiện qua mô hình sau:

Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ.

Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1,với sản lượng đạt ở mức sản lượng tự nhiên Yn tỷ lệthất nghiệp tự nhiên, mức giá cả P1 đường giao nhau với đường tổng cung AD1.Khicung tiền tệ tăng lên thì đường tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2 Trong một thờigian rất ngắn,nền kinh tế sẽ chuyển động đến điển 1’ và sản phẩm tăng lên trên mức tỷ

Trang 5

lệ tự nhiên,tức là đạt tới Y1(Y1>Yn) Điều đó đã làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dướimức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tiền lương tăng lên và giảm tổng cung đường tổng cungdịch chuyển vào đến AS2 Tại đây nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sảnphẩm trên đường tổng cung dài hạn.Ở điểm cân băng mới(điểm2), mức giá đã tăng từ

P1 đến P2.

Cung tiền tệ tiếp tục tăng ,đường tổng cầu lại dịch chuyển ra đến AS3, nền kinh tếđạt tới mức cân bằng mới tại điểm 3 Tại đây mức giá giả đã tăng lên đến P3 Nếu cungtiền tệ vẫn tiếp tục diễn ra và nền kinh tế đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn, lạmphát tăng cao

1.4.2 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy:

Lạm phát này xảy ra do những cú sốc tiêu cực hoặc do kết quả của những cuộc

đấu tranh đòi tăng lương gây ra Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy được thể hiện qua môhình sau:

0 Y1 Yn (Tổng sản phẩm)

Lạm phát chi phí đẩy.

Trang 6

Lúc đầu nền kinh tế ở điểm1, là giáp điểm của đường tổng cầu AD1 và đườngtổng cung AS1,với mức sản lượng tự nhiên(sản lượng tiềm năng)và tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên Do mong muốn có được mức sống cao hơn hoặc do cho rằng tỷ lệ lạm phát dựtính trong nền kinh tế sẽ tăng cao,những người công nhân đấu tranh đòi tăng lương.Vì

tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên những đòi hỏi tăng lươngcủa công nhân dễ được giới chủ chấp nhận,ảnh hưởng của việc tăng lương(cũng giốngnhư ảnh hưởng của những cú sốc cung tiêu cực) làm đường tổng cung AS1 dịch chuyểnvào đến AS2.

Nền kinh tế sẽ chuyển từ điểm1’ giao điểm của đường tổng cung mới AS2 vàđường tổng cầu AD1 Sản lượng đã giảm xuống dưới mức sản lượng tự nhiênY’

(Y’<Yn ) và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, đồng thời mức giá cảtăng lên đến P’

1 Vì mục đích muốn duy trì một mức công ăn việc làm cao hơn hiệntại,Chính phủ sẽ thực hiện các chính sách điều chỉnh năng động nhằm tác động lêntổng cầu,làm tăng tổng cầu,lúc này đường tổng cầu AD1 dịch chuyển ra AD2, nền kinh

tế quay trở lại mức sản lượng tiềm năng,và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tại điểm cân bằngđiểm2, mức giá cả tăng lên đến P2.

Các công nhân đã được nhượng bộ và được tăng lương vẫn có thể tiếp tục đòităng lương lên cao hơn Đồng thời,những sự nhượng bộ đó đã tạo ra sự chênh lệch vềmức lương trong tầng lớp công nhân, tình trạng đòi tăng lương lại tiếp diễn, kết quả làđường tổng cung lại dịch chuyển vào đến AS3 , thất nghiệp lại tăng lên cao hơn mức tỷ

lệ tự nhiên và Chính phủ lại thực hiện các chính sách điều chỉnh năng động làm dịchchuyển đường tổng cầu AD3 để đưa nền kinh tế trở lại mức sản lượng tiềm năng và tỷ

lệ thất nghiệp tự nhiên, mức giá cả cũng tăng lên đến P3 Nếu quá trình này cứ tục tiếpdiễn thì kết quả sẽ là việc tăng liên tục của mức giá cả, đây là tình trạng lạm phát chiphí đẩy

1.4.3 Lạm phát cầu kéo:

Một trường hợp khác vì mục tiêu công ăn việc làm cao, cũng dẫn đến lạm phátcao, đó là lạm phát cầu kéo được thể hiện qua mô hình sau:

Trang 7

Để đạt được mục tiêu này, nếu các nhà hoạch định chính sách sẽ phải đưa ranhững biện pháp nhằm đạt được chỉ tiêu sản lượng lớn hơn mức sản lượng tiềm năng,mức chỉ tiêu sản lượng cần đạt được đó làYt (Yt>Yn).Các biện pháp mà họ đưa ra sẽtác động lên tổng cầu,đường tổng cầu sẽ dịch chuyển ra đến AD2 , nền kinh tế chuyểnđến điểm 1’ (giao điểm giữa đường tổng cầu mới AD2 và đường tổng cung ban đầu

AS1) Sản lượng bây giờ đã đạt tới mức Y1 lớn hơn sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thấtnghiệp tự nhiên đã đạt được

Vì hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế là thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên nên tiền lương tăng lên và đường tổng cung sẽ di chuyển vào đến AS2 , đưa nềnkinh tế từ điểm 1’ chuyển sang điểm 2’ Nền kinh tế quay trở về mức sản lượng tiềmnăng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nhưng ở một mức giá cả P2 cao hơn P1.

Trang 8

Đến lúc này, tỷ lệ thất nghiệp lại cao hơn muc tiêumà các nhà hoạch định chínhsách cần đạt được Do đó họ lại tiếp tục thực hiện các chính sách lam tăng tổng cầu.Quátrình này cứ tiếp diễn liên tục và đẩy giá cả trong nền kinh tế lên cao hơn.

Do vậy, trong mọi trường hợp,tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước cao,kéo dài

là nguồn gốc tăng cung ứng tiền và gây ra lạm phát

1.4.5 Lạm phát theo tỷ giá hối đoái:

Tỷ hối đoái giữa đồng nội tệ so với đơn vị tiền tệ nước ngoài tăng cũng là nguyênnhân gây ra lạm phát

Thứ nhất, khi tỷ giá tăng ,đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác động lên tâm lý củanhững người sản xuất trong nước,muốn kéo giá hàng lên cao theo mức tăng của tỷ giáhối đoái

Thứ hai, khi tỷ giá tăng, giá nguyên liệu ,hàng hóa nhập khẩu cũng tăng cao,đẩychi phí về nguyên liệu tăng lên,lại quay trở về lạm phát phí đẩy như đã phân tích ở trên.Việc tăng giá cả của nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu thường gây ra phản ứng dâychuyền, làm tăng giá cả ở rất nhiều hàng hóa khác, đặc biệt là các hàng hóa của nhữngngành có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và nhũng ngành có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau (nguyên liệu của ngành này là sản phẩm của ngành khác….)

Trang 9

Trong tháng 12/2010, mức tăng giá tiêu dùng (CPI) của cả nước là 1,98%, cũng

là mức tăng cao nhất trong năm Đóng góp chủ yếu vào con số này là mức tăng giá ởkhu vực hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 3,31% (riêng lương thực tăng tới 4,67%).Cũng trong tháng này, giá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới 2,53%.Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giáo dục mới là nhóm tăng giá mạnhnhất trong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%) Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở -vật liệu xây dựng (15,74%) Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá vớimức giảm gần 6% trong năm 2010

Về CPI của các vùng miền, đáng chú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12tăng 2,04%; cao hơn 1,87% của khu vực thành thị

Trong tháng 12, giá vàng và đôla Mỹ không leo thang mạnh như những thángtrước (lần lượt tăng 5,43% và 2,86%) Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giávàng đã tăng tới 30% trong khi mức tăng của đôla Mỹ là xấp xỉ 10%

Như vậy, tháng 12 đã là tháng có chỉ số CPI tăng mạnh nhất trong năm 2010.Việc CPI năm 2010 tăng ở mức 2 con số không nằm ngoài dự báo khi từ tháng 9đến nay chỉ số này đã liên tục tăng mạnh Song năm này có thể coi là một năm chỉ sốgiá diễn biến khá phức tạp., chỉ riêng 3 tháng đầu năm 2010, CPI đã tăng 4,12%, gâysức ép lớn lên mục tiêu kiềm chế lạm phát của Chính phủ

Theo tổng cục thống kê, trong tỷ lệ lạm phát 11,75% năm 2010 của Việt Nam,yếu tố tiền tệ đóng góp tới 4,65% và các yếu tố khác góp 7,1% Yếu tố tiền tệ đã cómột “đóng góp” đáng kể trong sự gia tăng vượt chỉ tiêu (dù đã được điều chỉnh) củalạm phát năm 2010, đặc biệt là từ đầu quý IV

Đến quý 3/2010, về cơ bản lạm phát được kiềm chế; nhưng sang quý 4/2010,lạm phát tăng cao ngoài khả năng dự đoán Đến cuối năm 2010 Việt Nam vẫn chưa

"cắt nghĩa" đúng được tình hình lạm phát nên các giải pháp điều hành thời gian qua

Trang 10

vẫn nghiêng về "giải pháp để bình ổn giá" mà không phải là để "kiểm soát lạm phát".

"Tất cả các biện pháp đối phó của VN đều được đưa ra khi giá cả đã biến động rồi,nên hiệu quả không cao Minh chứng là nước ta đã đưa ra nhiều giải pháp tập trungvào quý IV của năm nay, trong khi trước đó đều không có hoặc chưa quyết liệt

Các giải pháp bình ổn giá vẫn "nặng về hành chính" nên đã hạn chế tác dụng.Ví

dụ, để kiểm soát giá, chúng ta cũng yêu cầu tiểu thương tại các chợ niêm yết giá bán.Tuy nhiên, tiểu thương có hàng nghìn lý do như vàng, tỷ giá tăng, bão lụt… để tănggiá mà các cơ quan chức năng không thể làm gì được

2.1.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát.

- “Nguyên nhân chủ yếu không phải do sai lầm của chính sách và điều hành vĩ

mô, chính sách tiền tệ trong năm cũng không phải là nhân tố làm cho lạm phát tăngcao Nguyên nhân chính là xuất phát từ những nhân tố khách quan như sự bất ổn kinh

tế, giá cả thế giới và một số yếu tố chủ quan nội tại của nền kinh tế”.bên cạnh đó, giá

cả một số hàng hóa thiết yếu thế giới tiếp tục tăng cao (giá dầu thô và giá xăng - gastăng, sắt thép, nguyên vật liệu nhập khẩu tăng do kinh tế thế giới phục hồi, giá cảnguyên vật liệu tăng trên 10%), giá vàng biến động mạnh; Trung Quốc mất mùa nên

đã thu hút hàng hóa của Việt Nam khá mạnh

- Trong nước, dịch bệnh trong nông nghiệp, bão lũ nặng nề ở miền Trung làmảnh hưởng khá lớn đến cung cầu hàng hóa, giá lương thực thực phẩm tăng do việcchủ động đưa giá lên để tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước và nông dân;tăng lương cơ bản, tăng chi phí giáo dục, y tế; do chi tiêu ngân sách và đầu tư côngkhá lớn những năm qua và cả năm 2010; kết hợp tỷ giá tăng, giá vàng tăng, yếu tốtâm lý kỳ vọng lạm phát trong dân dẫn đến tổng cầu tăng đột biến, làm giá tăng mạnh

- Việc phá giá đồng bạc Việt Nam (VNĐ) và xuất nhập khẩu Trong năm 2010 tỷgiá trên thị trường tự do tăng trên 10% và tỷ giá giao dịch của các tổ chức tín dụng(TCTD) đối với khách hàng tăng 5,9% Tỷ giá chính thức từ cuối năm 2009 đến hếtnăm 2010 được ngân hàng nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng hai lần Riêng đợt điềuchỉnh ngày 18/8/2010, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa Đồng Việt Nam và Đô la

Mỹ tăng 2,1%, từ 18.544 VND/USD, lên mức 18.932 VND/USD Mục tiêu của việcđiều chỉnh nhằm khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập siêu

Trang 11

- Do tác động của lãi suất Tình trạng vòng “luẩn quẩn”: Tổ chức tín dụng thiếutiền vốn so với cầu tín dụng phải huy động với mức cao hơn mức trần Nhà nước quyđịnh dẫn đến lãi suất cho vay cũng tăng, trong khi thị trường thì thừa tiền để tiêu dùnghàng hoá hợp thị hiếu, làm cho tiền trong lưu thông đổ vào lĩnh vực phi sản xuất,không qua ngân hàng, đọng lại ở thị trường bất động sản rộng lớn nhưng lại bị “đóngbăng” do giá cao chơi vơi Thiếu thanh khoản cục bộ đã “thổi” lãi suất thị trường liênngân hàng lên mức khá cao

- Do biến động của giá vàng và diễn biến tâm lý của người dân Lạm phát tâm lýtrong nền kinh tế đang ảnh hưởng đến nhiều mặt đời sống xã hội, đặc biệt là giá cácloại hàng hóa trên thị trường Thứ nhất: Các chính sách quản lý nhà nước nhằm mụctiêu điều hành tốt hơn nền kinh tế nhưng đôi khi chính yếu tố tâm lý của người dân lạilàm nảy sinh lạm phát tâm lý Thứ hai: Tâm lý người dân rất nhạy cảm với lạm phát

và thường có phản ứng đôi khi quá mức càng đẩy lạm phát lên cao Trong khi đó, cácphản ứng của Chính phủ chống lại lạm phát thường chậm, chính sách điều hànhkhông nhất quán, khiến người dân càng mất niềm tin vào hiệu quả chính sách Điềunày thể hiện qua những cơn sốt của thị trường vàng, đô la, hay bất động sản khi ngườidân đổ xô đầu tư và găm giữ các loại tài sản khác thay thế tiền đồng Thứ ba: Tâm lýkhông cất trữ

- Do vấn đề tiền tệ Đối với năm 2010, Có thể nói kênh tiền tệ qua hệ thống ngânhàng không phải là nguyên nhân chủ yếu gây nên lạm phát cao trong năm 2010 Thứnhất, qua phân tích các nguyên nhân ở phần đầu tiểu luận cùng với sự tác động lêncác nhóm hàng hóa và dịch vụ Thứ hai là mức tăng tổng phương tiện thanh toán vàtăng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đến hết năm 2010 so với nhiều năm gầnđây không phải là cao, vẫn nằm trong tầm kiểm soát theo mục tiêu đề ra từ đầu năm

2.1.3 Các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính Phủ đã áp dụng tại Việt Nam năm 2010.

Thứ nhất, tập trung kiềm chế lạm phát Chính phủ giao NHNN tiếp tục điều hành

chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng; bảo đảm tốc độ tăng trưởng tíndụng khoảng 25% và tổng phương tiện thanh toán khoảng 20% Điều hành linh hoạtcác công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm phù hợp với mụctiêu phát triển và điều kiện thực tế của thị trường tài chính, tiền tệ và nền kinh tế Sử

Trang 12

dụng linh hoạt các công cụ lãi suất theo hướng giảm dần để tạo điều kiện giảm mặtbằng lãi suất thị trường.

Thứ hai, thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán.

NHNN được giao điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt trong mối quan hệvới lãi suất giữa tiền VN và ngoại tệ, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân thương mại và cáckênh đầu tư khác theo hướng ổn định, góp phần khuyến khích xuất khẩu, hạn chếnhập siêu, huy động được các nguồn ngoại tệ hiện chưa thu hút được từ DN và cáctầng lớp dân cư, kiều hối, tiền gửi từ bên ngoài vào VN, cải thiện cán cân thanh toánquốc tế, tạo điều kiện để tăng dự trữ ngoại hối Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhậpsiêu theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng để bảo đảm tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩuđạt trên 6% và tỷ lệ nhập siêu khoảng 20% trong năm 2010

Thứ ba, bảo đảm nguồn lực thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Bộ Tài

chính được giao tăng cường quản lý, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả chi ngân sách nhànước Sử dụng linh hoạt các nguồn vốn để bảo đảm yêu cầu chi của ngân sách nhànước

Thứ tư, bảo đảm ổn định, an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Chính phủ

giao NHNN kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng; tăngcường công tác thanh kiểm tra, giám sát để đánh giá được thực trạng hoạt động củatừng ngân hàng thương mại tổ chức tín dụng và của toàn bộ hệ thống ngân hàng, các

tổ chức tín dụng để có phương án xử lý kịp thời khi cần thiết

Thứ năm, tiếp tục thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh Thúc đẩy phát triển

sản xuất, xuất khẩu hàng nông sản, chú ý những mặt hàng VN có thế mạnh như gạo,

cà phê, thủy sản

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác tư tưởng, thông tin, tuyên truyền, tạo đồng thuận

cao trong xã hội

2.2 Năm 2011

2.2.1.Thực trạng lạm phát năm 2011.

Ngay quý 1 tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã lên đến mức cao nhất trong vòng hai năm

2010 và 2011, với gần 14% trong tháng 3/2011, trong khi chính quyền đang cố gắng

ổn định nền kinh tế sau thời gian dài dành ưu tiên cho việc tăng trưởng

Tỷ lệ lạm phát trong quý 1 tăng trung bình 12,79% so với cùng kỳ năm ngoái,

Trang 13

chủ yếu là do giá thực phẩm tăng 17%.

Vào thời gian này, chính phủ tuyên bố sẽ theo đuổi “một chính sách tiền tệ chặtchẽ và thận trọng”, với việc “giảm bớt đầu tư vào khu vực công và quản lý thâm hụtthương mại” vốn đã lên đến 12,4 tỉ đô la trong năm 2010

Chính Phủ đã xoa dịu nỗi lo ngại của các nhà đầu tư và nhà kinh tế hồi tháng 2,thời điểm mà Ngân hàng Nhà nước loan báo phá giá đồng bạc lần thứ tư trong vòng

14 tháng, ở mức 9,3% Ngân hàng đã tăng một số lãi suất cơ bản và tiến hành hàngloạt biện pháp nhằm ổn định các chỉ số quan trọng Ngược lại, chính phủ đã quyếtđịnh tăng giá xăng dầu lên 18% và giá điện lên 15% kể từ ngày 1/3

Với chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2011 tăng 2,17% so với tháng trước Trong cácnhóm hàng hóa và dịch vụ, hai nhóm có chỉ số giá tăng cao hơn nhiều mức tăng chunglà: Giao thông tăng 6,69%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,67% Các nhóm hàng hóa

và dịch vụ có chỉ số giá thấp hơn mức tăng chung nhưng cao hơn 1% là: Hàng ăn vàdịch vụ ăn uống tăng 1,98%

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2011 tăng 6,12% so với tháng 12/2010; tăng13,89% so với cùng kỳ năm trước Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm naytăng 12,79% so với bình quân cùng kỳ năm 2010

Chỉ số giá vàng tháng 3/2011 tăng 5,0% so với tháng trước; tăng 4,58% so vớitháng 12/2010; tăng 41,27% so với cùng kỳ năm trước Chỉ số giá đô la Mỹ tháng3/2011 tăng 3,06% so với tháng trước; tăng 3,70% so với tháng 12/2010; tăng12,05% so với cùng kỳ năm 2010

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2011 tăng 9,69% so vớiquý trước và tăng 23,12% so với cùng kỳ năm 2010 Chỉ số giá sản xuất công nghiệpquý I/2011 tăng 5,05% so với quý trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước Chỉ

số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2011 tăng 5,91% so với quý trước

và tăng 15,23% so với cùng kỳ năm trước Chỉ số giá xuất khẩu quý I/2011 tăng 4,48%

so với quý trước và tăng 9,89% so với cùng kỳ năm 2010 Chỉ số giá nhập khẩu quýI/2011 tăng 3,38% so với quý trước và tăng 7,99% so với cùng kỳ năm trước Chỉ sốgiá cước vận tải quý I/2011 tăng 5,86% so với quý trước và tăng 11,47% so với cùng

kỳ năm 2010

Ngày đăng: 30/03/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mức tăng CPI các tháng đầu năm 2012 - Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam hiện nay docx
Bảng 1 Mức tăng CPI các tháng đầu năm 2012 (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w