1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lv ths luật học pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế thực trạng và giải pháp tại việt nam

144 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Tác giả Đỗ Như Quỳnh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Lan Nguyên
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 164,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐỖ NHƯ QUỲNH PHáP LUậT Về Sử DụNG CáC NGUồN SÔNG QUốC Tế THựC TRạNG Và GIảI PHáP TạI VIệT NAM Pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế Thực trạng và giải pháp tại[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

HÀ NỘI - 2017

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ NHƯ QUỲNH

PH¸P LUËT VÒ Sö DôNG C¸C NGUåN S¤NG QUèC TÕ.

THùC TR¹NG Vµ GI¶I PH¸P T¹I VIÖT NAM

Chuyên ngành : Luật quốc tế

Mã số : 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Lan Nguyên

Trang 3

HÀ NỘI - 2017

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét

để cho tôi có thể bảo vệ luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Như Quỳnh

Trang 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC TẾ VÀ

PHÁP LUẬT SỬ DỤNG CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC

các nguồn sông quốc tế

29

1.2.2 Một số mốc phát triển quan trọng của pháp luật sử dụng các

nguồn sông quốc tế

32

Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC TẾ

37

2.1 Pháp luật quốc tế về sử dụng các nguồn sông quốc tế 37

Trang 6

2.1.1 Điều ước quốc tế 372.1.2 Các tập quán quốc tế 582.1.3 Các nguồn khác

2.2 Pháp luật Việt Nam về sử dụng các nguồn sông quốc tế 632.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam

về sử dụng các nguồn sông quốc tế

63

2.2.2 Sự tương thích giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt

Nam về sử dụng các nguồn sông quốc tế

70

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT VIỆT NAM VỀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC TẾ

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sử dụng các

nguồn sông quốc tế

105

3.2.1 Xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý trong nước về sử dụng

các nguồn sông quốc tế

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Ý nghĩa

COC Bộ quy tắc ứng xử chung

ILA Hiệp hội Luật quốc tế

ILC Ủy ban Luật quốc tế

MRC Ủy hội sông Mê Kông quốc tế

PNPCA Thủ tục thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận

của Ủy hội Sông Mê Kông

UNECE Ủy ban kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc

UNWC Công ước New York năm 1997 của Liên hợp quốc

về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế vào cácmục đích phi giao thông của Liên hợp quốc

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với con người cũngnhư bất cứ sinh vật nào trên trái đất Nhưng thực tế, dân số thế giới ngày càngtăng nhanh, nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn, trong khi đó nguồn nướcngọt lại phân bố không đồng đều giữa các quốc gia trên thế giới Hầu hết cácnguồn nước ngọt trên thế giới được chia sẻ bởi hai hay nhiều quốc gia Chẳnghạn, mỗi nước châu Phi được cho là chia sẻ nguồn nước ngọt với ít nhất mộtnước khác, và rất nhiều nước chia sẻ nguồn nước với nhiều quốc gia khác

Hiện nay, có 276 lưu vực sông xuyên biên giới và 200 tầng nướcngầm xuyên biên giới trên toàn cầu [2]; các lưu vực sông này chiếm gần mộtnửa diện tích bề mặt của trái đất, là nơi cư trú của 40% tổng số dân cư vàcung cấp khoảng 60% tổng số lượng nước ngọt trên thế giới [3] Việc sử dụngchung các nguồn sông quốc tế là điều không tránh khỏi và đang trở thành chủ

đề nóng bỏng trên toàn cầu, khu vực và các quốc gia Đặc biệt các quốc gia cóchung nguồn nước quốc tế thì việc khai thác, sử dụng không hợp lý dẫn đến tìnhtrạng cạn kiệt nguồn nước, suy giảm chất lượng nước làm nảy sinh mâu thuẫn,thậm chí gây ra những cuộc chiến tranh ở một số lưu vực sông quốc tế lớn

Từ năm 1820 đến nay có khoảng 400 điều ước quốc tế liên quan đếnnguồn nước quốc tế được thông qua bao gồm cả điều ước quốc tế đa phương,điều ước quốc tế khu vực và điều ước quốc tế song phương [55] Trong đó, cóhai văn bản pháp lý đa phương đáng chú ý về sử dụng các nguồn sông quốc tế:Công ước Helsinki năm 1992 về bảo vệ và sử dụng các nguồn nước xuyên biêngiới và các hồ quốc tế được các quốc gia thành viên Ủy ban kinh tế Châu Âu củaLiên hợp quốc (UNECE) thông qua năm 1992; Công ước New York năm 1997

Trang 10

của Liên hợp quốc về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế vào các mục đíchphi giao thông có hiệu lực năm 2014 khi Việt Nam trở thành nước thành viênthứ 35 làm cho công ước đủ điều kiện có hiệu lực sau 17 năm kể từ khi thông qua.

Một số điều ước quốc tế khu vực nổi bật: Tại Châu Mỹ có Hiệp ướchợp tác Amazon năm 1978, Tại Châu Âu, Chỉ thị khung về nước tại Châu

Âu và Công ước Helsinki năm 1992, Công ước bảo vệ sông Danube năm

1994, Quy tắc Berlin về tài nguyên nước năm 2004, Tại Châu Á, có Hiệpđịnh về hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông năm 1995 (Hiệpđịnh Mê Kông 1995), Hiệp định phân chia nguồn nước Pakistan năm 1991,

Một số điều ước quốc tế song phương đáng quan tâm: Tại Châu Âu,

có Hiệp định về chất lượng nước các hồ lớn giữa Canada và Mỹ năm 1978, Tại Châu Phi, Hiệp định về nước sông Nil ký giữa Ai Cập và Anh năm1929, Tại Châu Á, Hiệp định phân bổ nước sông Hằng giữa Ấn Độ vàBăngladet năm 1977,

Việt Nam là quốc gia nằm ở hạ lưu vực một số con sông quốc tế và hơnphần lớn lưu lượng nước phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn các consông nằm ngoài biên giới lãnh thổ Những năm gần đây, Việt Nam đang phảihứng chịu những ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu đặc biệt

là sự cạn kiệt của tài nguyên nước trên các con sông quốc tế Ngày 5/9/2012,

Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định "Phê duyệt chiến lược bảo vệ môi

trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã đưa ra định hướng

các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường, trong đó có nguồn nước xuyênbiên giới Đứng trước những thách thức như vậy, các quốc gia trong cộng đồngquốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng cần hợp tác để đưa ra những hướng

đi đúng nhằm khai thác, sử dụng một cách bền vững các nguồn sông quốc tế

Trang 11

Liên quan đến các sông quốc tế ở Việt Nam, hiện Việt Nam là thànhviên của Hiệp định Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông năm

1995 (Hiệp định Mê Kông 1995) và gần đây nhất, vào ngày 6/11/2015, trảiqua hơn 7 năm với nhiều vòng đàm phán Việt Nam và Trung Quốc đã chínhthức ký Hiệp định khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc và Hiệp định về

tự do đi lại của tàu thuyền ở cửa sông Ka Long (Bắc Luân) Tuy nhiên, hiệnnay trên lưu vực sông Cả chưa có cơ chế đảm bảo chia sẻ và sử dụng nguồnnước giữa Việt Nam và Lào; giữa Việt Nam và Campuchia chưa có cơ chếđảm bảo khai thác và sử dụng nguồn nước trên lưu vực sông Đồng Nai; chưa

có hiệp định hay cơ chế hợp tác nào điều chỉnh và đảm bảo cho việc chia sẻ,

sử dụng nguồn nước một cách công bằng, hợp lý giữa Việt Nam - TrungQuốc đối với thượng nguồn nước sông Hồng; phần thượng lưu của hệ thốngsông Mê Kông và một số sông còn lại của Việt Nam chưa có một điều ướcquốc tế nào điều chỉnh Dù các nước trên lưu vực sông Mê Kông đã bỏ phiếuthuận khi thông qua Hiệp định Mê Kông 1995 nhưng hiện chỉ có Việt Namtham gia Công ước New York năm 1997 của Liên hợp quốc về Luật sử dụngcác nguồn nước quốc tế vào các mục đích phi giao thông còn các nước kháctrong lưu vực sông Mê Kông chưa gia nhập nên các quy định của công ước sẽkhông được áp dụng trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Trongkhi đó, ở thượng nguồn các sông đặc biệt là dòng chính sông Mê Kông cácnước đang đẩy mạnh xây dựng thủy điện như Trung Quốc, Lào, Campuchiaảnh hưởng nghiêm trọng tới lưu lượng nước trên các sông, thay đổi dòng chảygây hạn hán, lũ lụt, nhiễm mặn trên diện rộng khiến cho đời sống kinh tế củangười dân Việt Nam bị thiệt hại nặng nề, cuộc sống gặp nhiều khó khăn

Sự lỏng lẻo trong việc hợp tác quốc tế nói chung và Việt Nam với cácnước trong khu vực nói riêng; sự thiếu hụt các văn bản pháp lý quốc tế khiếncho hệ thống pháp luật quốc tế cũng như ở Việt Nam chưa đủ tính răn đe,chưa thể hiện được sự gắn bó chặt chẽ, liên kết của các quốc gia trong việc

Trang 12

khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển bền vững các sông quốc tế Với mongmuốn góp phần vào việc khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững các

sông quốc tế tại Việt Nam, học viên đã chọn đề tài "Pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam" để nghiên cứu

một số quy định quốc tế, khu vực trong đó có Việt Nam liên quan đến việc sửdụng các nguồn sông quốc tế, qua đó tìm hiểu thực trạng pháp luật của ViệtNam trong việc sử dụng các nguồn sông quốc tế nhằm đưa ra các kiến nghị đểhoàn thiện pháp luật Việt Nam về sử dụng các nguồn sông quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế, đã cómột số công trình nghiên cứu của các tác giả:

Về sách: đã có cuốn "Cơ sở pháp lý bảo vệ nguồn nước quốc tế của

Việt Nam" của Nguyễn Trường Giang, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Sách

"Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tế" của Nguyễn Trường Giang, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Sách "Môi trường và phát triển bền vững"

của Nguyễn Đình Hòe xuất bản năm 2007;

Các bài viết: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Đức Lịch, Đại học Quốc

gia Hà Nội, Khai thác chung sông Mê Kông - Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

và các nước liên quan bảo vệ năm 2010; Luận văn thạc sĩ luật học của Đinh

Như Hiền Trang (2016), Phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý của Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà

Nội; Nguyễn Thúy Hằng, Bảo vệ nguồn nước cho tương lai, Báo Tài nguyên

và môi trường, ngày 1/1/2015; Nguyễn Thị Hoàn, Thực trạng, cơ hội và

thách thức đối với Việt Nam trong hợp tác phát triển vùng sông Mê Kông

-Báo cáo Hội thảo Đại học kinh tế Quốc dân; Bài tổng hợp của Nguyễn ThịLụa, Đồng Thị Ngân, Thu Trang trên diễn đàn môi trường về Báo cáo Tổng

Trang 13

quan quản lý nguồn nước xuyên biên giới và môi trường của tiến sĩ MigaiAkech thuộc Trung tâm nghiên cứu Luật môi trường quốc tế, Nairobi.

Các công trình trên đã có nhiều thành tựu và kết quả nhất định khinghiên cứu về vấn đề liên quan đến nguồn nước quốc tế Tuy nhiên hiện nay,chưa có công trình nào đề cập đến pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc

tế Kế thừa những thành tựu đã đạt được của các công trình nghiên cứu đitrước, luận văn này nghiên cứu về pháp luật sử dụng các nguồn sông quốc tế,thực trạng và giải pháp cho Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Tập trung đi sâu nghiên cứu một số quy định của

pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam về sử dụng các nguồn sông quốc tế.Qua đó, thấy được thực trạng pháp luật Việt Nam về sử dụng các nguồn sôngquốc tế và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về sửdụng các nguồn sông quốc tế cho Việt Nam

Mục tiêu cụ thể:

Làm rõ khái niệm, đặc điểm về nguồn sông quốc tế;

Phân tích một số quy định cơ bản về sử dụng các nguồn sông quốc tế ởmột số hiệp định đa phương, khu vực, song phương cũng như pháp luật ViệtNam;

Phân tích hiện trạng pháp luật sử dụng các nguồn sông quốc tế củaViệt Nam và đưa ra giải pháp hoàn thiện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và

quy định cơ bản của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam liên quan đến việc

Trang 14

sử dụng các nguồn sông quốc tế Thực trạng pháp luật sử dụng các nguồnsông quốc tế và giải pháp hoàn thiện cho Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề về

lý luận và thực tiễn pháp lý sau:

Về lý luận: Khái niệm nguồn sông quốc tế; Pháp luật về sử dụng cácnguồn sông quốc tế

Về thực tiễn pháp lý, luận văn giới hạn ở việc phân tích một số nộidung cơ bản của Công ước New York năm 1997, Công ước Helsinki 1992,Hiệp định Mê Kông 1995 liên quan đến vấn đề sử dụng các nguồn sông quốctế; Phân tích một số quy định pháp luật Việt Nam về sử dụng các nguồn sôngquốc tế như: Luật tài nguyên nước 1998, Luật tài nguyên nước 2012 và một

số văn bản hướng dẫn thi hành; tìm hiểu thực trạng pháp luật về sử dụng cácnguồn sông quốc tế và giải pháp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Hiện đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến các nguồnnước quốc tế tuy nhiên các nghiên cứu đó chủ yếu đi sâu nghiên cứu về sửdụng các nguồn nước quốc tế nói chung hoặc tập trung vào một sông quốc tế

cụ thể tại Việt Nam như các nghiên cứu về sông Mê Kông Mặt khác, hiệnchưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến pháp luật về sử dụng cácnguồn sông quốc tế cũng như thực trạng pháp luật Việt Nam trong việc sửdụng các nguồn sông quốc tế

Nắm bắt được tình hình đó, luận văn đã đi sâu phân tích một số kháiniệm, một số quy định cơ bản của của pháp luật quốc tế cũng như pháp luậtViệt Nam về sử dụng các nguồn sông quốc tế; phân tích thực trạng pháp luật

Trang 15

của Việt Nam về sử dụng các nguồn sông quốc tế từ đó kiến nghị một số giảipháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,duy vật lịch sử, các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới,

mở cửa và hội nhập quốc tế để phân tích làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

Đồng thời, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thểnhư phân tích, đánh giá, tổng hợp, thống kê, so sánh

Bên cạnh đó, tác giả có nghiên cứu và kế thừa các công trình khoa học

đã công bố nhằm đảm bảo cho luận văn có sức tính khoa học và thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về các nguồn sông quốc tế và pháp luật sử dụng

các nguồn sông quốc tế

Chương 2: Nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt

Nam về sử dụng các nguồn sông quốc tế

Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về

sử dụng các nguồn sông quốc tế

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT SỬ DỤNG CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC TẾ

1.1 Khái quát chung về nguồn sông quốc tế

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm

1.1.1.1 Khái niệm

Vào cuối thế kỷ XVIII, các nguồn nước quốc tế được hiểu đơn giản là cácsông quốc tế chảy qua lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia Trong thế kỷ XIX,khái niệm các nguồn nước quốc tế được mở rộng, bao gồm không những sông

mà cả các hồ quốc tế như được nêu trong Định ước cuối cùng của Hội nghịViên 1815 (Điều 108, Định ước cuối cùng của Hội nghị Viên năm 1815).Sông và hồ quốc tế được đề cập ở đây chỉ hạn chế trong các sông, hồ quốc tế

có thể giao thông được mà thôi [16] Về sau này, khái niệm sông, hồ quốc tếđược mở rộng để bao gồm cả các nhánh, các kênh đào nối với dòng chính củacác sông hoặc hồ đó Tuy vậy, khái niệm trên không bao gồm nước ngầm màchỉ bao gồm nước mặt của nguồn nước quốc tế đó [41]

Bắt đầu từ những năm 50, Hội luật quốc tế mới bắt đầu nêu ra kháiniệm lưu vực sông quốc tế và đến năm 1966 khái niệm này với nội dungtương đối toàn diện và khoa học đã được đưa vào trong Quy tắc Helsinki doHội thông qua (gọi là Quy tắc Helsinki 1966) Theo quy tắc này, một lưu vựcsông quốc tế là một khu vực địa lý nằm trên hai hay nhiều quốc gia được giớihạn bởi lưu vực của hệ thống các nguồn nước, trong đó có nước mặt và nước

Trang 17

Khái niệm nguồn nước quốc tế này rộng hơn nhiều các khái niệm vẫnđược sử dụng trước kia, vì nó bao gồm toàn bộ hệ thống dòng chính, dòngnhánh, hồ, kênh, đào và nước ngầm và những thành phần môi trường kháctrong cả lưu vực của một nguồn nước quốc tế.

Quy tắc Heksinki 1966 đã xem xét lại cơ bản khái niệm nguồn nướcquốc tế Theo quy tắc này, toàn bộ lưu vực sông quốc tế là một thể thốngnhất Do đó, chỉ có thể sử dụng và phát triển nguồn nước có hiệu quả khi tiếnhành quản lý tổng thể nguồn nước của một lưu vực sông quốc tế, như Hội luật

quốc tế nhận xét "lưu vực nguồn nước là một đơn vị thủy văn không thể chia

cắt được đòi hỏi phải xem xét toàn diện nhằm mục đích sử dụng tối đa và pháttriển bất kỳ phần nào của nguồn nước" [6]

Cách tiếp cận tổng thể theo lưu vực đã được ủng hộ trong các tuyên

bố của các hội nghị quốc tế như Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trườngcon người năm 1972, Hội nghị của Liên hợp quốc về nước tại Mar del Platanăm 1977 Chính đó là cơ sở quan trọng để Hội luật quốc tế đưa ra Các quytắc Montreal sau này [54]

Tuy nhiên, vì một số lý do, khái niệm lưu vực sông quốc tế gặp phải

sự chống đối trong các cuộc thảo luận cả ở Ủy ban luật quốc tế và Ủy banpháp lý của Đại hội đồng Liên hợp quốc Người ta lo ngại là "lưu vực sôngquốc tế" có thể ám chỉ một cách tiếp cận quá lý thuyết đối với tất cả cácnguồn nước quốc tế bất chấp các đặc điểm và một loạt các hoàn cảnh cụ thểcủa mỗi trường hợp Tương tự như vậy, người ta lo ngại rằng khái niệm lưuvực sông quốc tế quá nhấn mạnh đến các vùng đất trong lưu vực, và sợ rằngcác vùng đất này của lưu vực cũng có thể bị điều chỉnh bởi luật về các nguồnnước quốc tế [46]

Trang 18

Theo khoản 1 Điều 1 Công ước Helsinki năm 1992 về bảo vệ và sửdụng các nguồn nước xuyên biên giới và các hồ quốc tế (sau đây gọi tắt là

Công ước Helsinki 1992): "Các nguồn nước xuyên biên giới được hiểu là bất

kỳ nguồn nước mặt hay nước ngầm nào có một phần, chảy ngang hoặc nằm

trên biên giới giữa hai hay nhiều quốc gia" Khái niệm này khá rộng, đối

tượng áp dụng trong phạm vi Công ước bao gồm không chỉ nước mặt, nướcngầm, mà cả túi nước ngầm và không nhắc đến phần lãnh thổ lưu vực sôngcủa mỗi quốc gia Tuy nhiên, mặc dù Công ước cho phép các nước khôngphải là thành viên Ủy ban kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc (UNECE) thamgia, nhưng đến nay, chưa có nước nào không phải là thành viên UNECE gianhập Điều này dẫn tới việc sử dụng khái niệm "nguồn nước xuyên biên giới"theo Công ước Helsinki 1992 như khái niệm cho "nguồn nước quốc tế" chưamang tính phổ quát quốc tế

Khái niệm nguồn nước quốc tế lần đầu tiên được Ủy ban Luật quốc tếcủa Liên hợp quốc đưa vào Dự thảo Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tếvào mục đích phi giao thông và chính thức được ghi nhận trong Công ước củaLiên hợp quốc về luật sử dụng các nguồn nước quốc tế vào các mục đích phígiao thông được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1997 (dưới đâyđược gọi tắt là Công ước New York năm 1997) Theo Điều 2a của Công ướcNew York năm 1997 thì "nguồn nước là một hệ thống nước mặt và nước ngầm,kết nối thành một thể thống nhất và thường chảy vào một điểm cuối chung trên

cơ sở các mối quan hệ kết nối tự nhiên của chúng" và "nguồn nước liên quốcgia" là một nguồn nước có các phần nằm trên các quốc gia khác nhau (2b)

Khác với Công ước New York năm 1997, trong Hiệp định hợp tácphát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông (viết tắt là Hiệp định Mê Kông)không nói về khái niệm "nguồn nước" mà khái niệm "lưu vực" được nói đến

Trang 19

cảnh khác nhau, thường dùng nhất là "lưu vực" Mê Kông, cũng như các thuậtngữ "lưu vực sông", "cấp lưu vực", "toàn lưu vực", "hệ thống sông" nhưng lạikhông định nghĩa về thuật ngữ này [13].

Công ước New York năm 1997 có phạm vi rộng hơn Hiệp định MêKông 1995 cả về mặt địa lý và chức năng Công ước New York năm 1997 đềcập cả nước mặt, nước ngầm như một thể thống nhất và áp dụng một "phươngpháp tổng thể và kết nối trong quản lý nước" kết hợp tài nguyên nước dướiđất có mối liên hệ với nhau và gây ảnh hưởng tới dòng chày mặt và các môitrường trên mặt đất Hơn nữa, Công ước New York năm 1997 không phânbiệt dòng chính và dòng nhánh mà điều chỉnh chúng về mặt pháp lý như nhau.Trong khi đó, Hiệp định Mê Kông 1995 lại không nhắc gì đến nước dưới đấttrong văn bản Hiệp định Hiệp định Mê Kông 1995 cũng đưa vào một số địnhnghĩa nhất định và các dạng sử dụng nước dự kiến liên quan tới chuyển nướcdòng chính ra ngoài lưu vực trong mùa mưa; không đưa vào các loại sử dụngnước cho sinh hoạt và quy mô nhỏ không gây ảnh hưởng đáng kể đến dòngchảy dòng chính và bỏ qua dòng nhánh Điều đó là đặc biệt có ý nghĩa đối vớiviệc quản trị một nguồn nước và cả một lưu vực bởi vì lời văn của Hiệp địnhphân biệt dòng chính và dòng nhánh theo các mục đích quản lý mà thiếu cácnguyên tắc pháp lý và cơ chế cụ thể để điều chỉnh việc phát triển nguồn nướctrên các dòng nhánh

Cả trong Công ước New York năm 1997 và Hiệp định Mê Kông 1995đều không nhắc tới định nghĩa "nguồn sông quốc tế" và chưa có bất kỳ vănbản, nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa thế nào là "nguồn sông quốc tế"

Ngoài ra, tác giả Trần Điệp Thành trong cuốn luận văn Khuôn khổ

pháp lý quốc tế đảm bảo sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc khai thác và

sử dụng công bằng tài nguyên nước lưu vực sông Mê Kông [25] đã đưa ra

Trang 20

định nghĩa "sông quốc tế" không chỉ là những sông chảy qua lãnh thổ của haihay nhiều quốc gia nhất định mà còn bao gồm các sông có nguồn nước ngầmchảy từ quốc gia khác chảy vào.

Tác giả trong ấn phẩm Quản lý nguồn nước xuyên biên giới - Chia sẻ

của IUCN đã viết: Thuật ngữ về các nguồn nước xuyên biên giới Thuật ngữ

có thể gây tranh cãi Thuật ngữ "các dòng sông quốc tế" để chỉ nước chảytrong lòng dẫn của con sông (thuật ngữ nguồn nước thường được sử dụng chomục đích này), hoặc cho toàn bộ hệ thống thu nước mặt và/hoặc nước ngầm

có liên quan Thuật ngữ "lưu vực sông quốc tế" thường được dùng để chỉdòng chảy nước mặt, nước ngầm, nước mưa và nước trong đất trong một lưuvực Trong luật hàng hải, thuật ngữ "vùng nước quốc tế" là thuật ngữ pháp lýchỉ các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, trongkhi được sử dụng để mô tả lưu vực sông được chia sẻ, nó có thể có ý nghĩagiống như "con sông quốc tế" Do đó, chúng ta sử dụng thuật ngữ các nguồnnước xuyên biên giới và nguồn nước chia sẻ một cách linh hoạt để chỉ nướcngọt (nước bề mặt và nước ngầm) chảy qua biên giới quốc gia hoặc qua ranhgiới nhiều địa phương trong một quốc gia [3]

Kế thừa các quan điểm của Công ước New York năm 1997, trong luậnvăn này có thể hiểu "nguồn sông quốc tế" là nội hàm của "nguồn nước quốctế" bởi nó là một trong những yếu tố cơ bản tạo thành nguồn nước quốc tế

Trong bài viết này, nguồn sông quốc tế được tác giả định nghĩa là một hệ

thống nước mặt và nước ngầm, kết nối thành một thể thống nhất và thường chảy vào một điểm cuối chung trên cơ sở các mối quan hệ kết nối tự nhiên của chúng mà các phần này nằm trên các quốc gia khác nhau.

Công ước New York năm 1997 được xây dựng như một hiệp ước

Trang 21

một mẫu hình và bổ sung những khoảng trống thiếu hụt mà các hiệp ước khácchưa bào trùm tới [14] Tác giả đã kế thừa quan điểm của Công ước NewYork năm 1997 để đưa ra định nghĩa "nguồn sông quốc tế" Việc đưa ra kháiniệm về nguồn sông quốc tế theo quan điểm của tác giả mang lại ý nghĩa nhấtđịnh trong cuốn luận văn này:

Việc coi nguồn sông quốc tế nằm trong khái niệm nguồn nước quốc tế

là căn cứ quan trọng để xây dựng, điều chỉnh các quy định pháp luật liên quanđến các nguồn sông quốc tế nói chung và nguồn nước quốc tế nói riêng mộtcách phù hợp

Giải quyết được lo ngại có một số khái niệm liên quan đến sông quốc

tế đang quá nhấn mạnh đến các vùng đất trong lưu vực, sợ rằng các vùng đấtnày của lưu vực cũng có thể bị điều chỉnh bởi luật về các nguồn nước quốc tế

Khẳng định vai trò quan trọng của các nguồn sông quốc tế, tăngcường nhận thức của người dân trong việc khai thác, bảo tồn và phát triển cácnguồn sông quốc tế hiện nay Từ đó điều chỉnh các quy định pháp luật đượcnhanh chóng, kịp thời đáp ứng quá trình phát triển của thế giới, là cơ sở điềuchỉnh việc khai thác một cách hợp lý đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn tàinguyên quý giá, là cơ sở quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh

1.1.1.2 Đặc điểm

* Nguồn sông quốc tế là một hệ thống nước mặt và nước ngầm, kết nối thành một thể thống nhất và thường chảy vào một điểm cuối chung trên

cơ sở các mối quan hệ kết nối tự nhiên của chúng

- Các mối quan hệ kết nối tự nhiên là cơ sở hình thành nguồn sông quốc tế

Trang 22

Tự nhiên là một hệ thống mà mỗi thành tố của nó là một bộ phận khôngthể thiếu của toàn thể, có những mối quan hệ phức tạp với phần còn lại của hệthống, tương tác đa chiều với chúng Mỗi thành tố có thể vừa là tác nhân, vừa

là hệ quả tác động của của một hoặc một số yếu tố khác trong hệ thống Việctách ra các mối quan hệ đơn nhất, một chiều để xem xét là rất khó khăn vàviệc nghiên cứu các mối quan hệ đơn nhất thường chỉ có tính lý thuyết Tuynhiên nó cho phép đánh giá được về mặt lý thuyết vị trí của mỗi yếu tố trong

hệ thống và cung cấp cơ sở cho một số nghiên cứu giản lược nào đó [6].Nguồn sông quốc tế được hình thành trên cơ sở tác động của các yếu tố hìnhthành dòng chảy:

Khí hậu: Sông ngòi là sản phẩm của khí hậu Yếu tố khí hậu có ảnhhưởng quyết định tới tài nguyên nước là bức xạ Mặt Trời, nhiệt độ, mưa vàgió Các yếu tố này một mặt trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành cáncân nước khu vực, mặt khác tác động gián tiếp tới lượng và chất nước thôngqua các quá trình phong hóa, thành tạo địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, pháttriển thảm thực vật, hệ sinh thái Bức xạ Mặt Trời là yếu tố cấp năng lượngchính cho quá trình hình thành chế độ nhiệt và điều kiện tự nhiên thích hợpđối với sự sống trên Trái Đất

Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng: Yếu tố địa hình ảnh hưởng đáng kể tớitài nguyên nước là độ cao, hình dạng, mức độ cắt xẻ bề mặt, độ dốc và độ dàisườn dốc Địa hình bằng phẳng hạn chế tiêu thoát nước, thuận lợi cho việckéo dài thời gian duy trì lớp nước trên mặt, tăng thấm Địa hình âm thuận lợicho tích lũy trầm tích và chứa nước, tạo cơ chế điều tiết tự nhiên dòng chảy

lũ Địa hình cắt xẻ mạnh thuận lợi cho tiêu thoát nước và tăng mật độ lướisông Địa chất thổ nhưỡng có ảnh hưởng tới nước mặt, nước dưới đất cả vềchế độ, lượng và chất [6, tr 25]

Trang 23

Lớp phủ thực vật: Che phủ, ngăn không cho mặt đất chịu tác độngtrực tiếp của mưa, bức xạ gây phong hóa bở rời, bảo vệ đất chống xói mòn vàgiảm dòng rắn từ lưu vực vào sông Làm cho đất tơi xốp, có cấu tượng, bềnvững trước các tác động xói mòn, giữ ẩm đất và tăng thấm tạo ra tăng điều tiếtdòng chảy theo mùa Điều hòa vi khí hậu, duy trì độ ẩm hợp lý trong đất vàkhông khí [6, tr 26].

Phần bề mặt hứng nước cấp cho sông gọi là lưu vực hay bồn thu nước,gồm có bồn thu nước mặt và bồn thu nước dưới đất Đường phân nước củamột lưu vực là đường bao quanh và ngăn cách nó với các lưu vực lân cận.Đường phân nước mặt và đường phân nước ngầm trùng nhau sẽ tạo thành mộtlưu vực kín Trong vùng núi cao, đường phân nước đi qua các điểm cao nhấttheo hướng dốc chung của địa hình Trong vùng đồng bằng châu thổ, ranhgiới giữa hai lưu vực thường là một miền trũng, do quá trình hình thành châuthổ bắt đầu từ bờ sông trong những thời kỳ nước lũ tràn bờ [6, tr 39]

Những con sông lớn có sự phân hóa rõ nét theo đặc điểm tự nhiên vàđiều kiện sử dụng thành thượng, trung, hạ lưu và phần lưu vực tương ứng vớichúng gọi là thượng, trung, hạ du

Nguồn sông quốc tế được xem như là một thể thống nhất về tự nhiên,địa lý và vật chất Điều này phản ánh một thực tế khách quan là tất cả cácthành phần của một nguồn sông quốc tế đều có quan hệ mật thiết với nhau, vàbất kỳ sự thay đổi nào ở một phần của nguồn sông quốc tế cũng có thể dẫnđến sự thay đổi ở những phần khác của nguồn sông đó

- Là một hệ thống nước mặt và nước ngầm, kết nối thành một thể thống nhất và thường chảy vào một điểm cuối chung

Trước hết, nguồn sông quốc tế là hệ thống nước mặt và nước ngầm,

kết nối thành một thể thống nhất

Trang 24

Nước là dạng tài nguyên đặc biệt Nước có khả năng tự tái tạo vềlượng, về chất và về năng lượng [18] Trong biên nhiệt độ Trái Đất, nước tồntại được ở cả ba thể rắn, lỏng, hơi và dễ dàng chuyển hóa được từ thể nàysang thể khác Đây là một dị thường tính chất lý học quý báu khiến nước trởthành hợp chất hóa học có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực tự nhiên, xãhội và khép kín tuần hoàn nước [6, tr 10] Tuần hoàn nước là quá trình nước

tự vận động khép kín, từ bốc hơi do bị đốt nóng bởi bức xạ Mặt Trời, chuyểndịch theo dòng khí do chênh lệch áp suất, mật độ, đến ngưng tụ sinh mưa rơixuống mặt đất, tạo dòng chảy trên mặt hoặc trong đất, đổ vào lưới sông và chảyđến các thủy vực nơi nó đã bốc hơi dưới tác động của trọng lực Tuần hoànnước diễn ra liên tục trên quy mô toàn cầu, nhưng phân hóa về quy mô theovùng địa lý Lượng mưa hàng năm ở lục địa là 111.000km3 Nó có nguồn gốc

từ bốc hơi trực tiếp là 70.000km3, hơi nước đến từ đại dương là 41.000km3 vàtạo ra khoảng 41.000km3 dòng chảy hoàn trả cho đại dương Lượng dòngchảy này chính là khả năng tái tạo về lượng của tài nguyên nước [6, tr 12]

Hệ thống thủy văn toàn cầu gồm 4 kiểu kho chứa tự nhiên là: đạidương, thủy vực lục địa, băng, khí quyển và dòng trao đổi giữa chúng (ở cả bathể rắn, lỏng, hơi) Dòng giữa các thủy vực mặt và ngầm, giữa các thủy vựcngầm với nhau thường rất phức tạp và có thể có hướng dòng thay đổi theomùa hoặc pha khác nhau của chu kỳ nước Khi hai thủy vực thông nhau,những thủy vực có nguồn nuôi dồi dào, có mực nước hoặc mức áp lực thủytĩnh cao hơn sẽ tạo ra dòng chảy đến thủy vực còn lại

Giữa nước mặt và nước dưới đất tồn tại các dạng quan hệ sau:

Nước mặt thường xuyên là nguồn nuôi nước dưới đất: Khi thủy vựcmặt và nước dưới đất thông nhau và mực nước trong các thủy vực mặt caohơn mực nước (mức áp lực thủy tĩnh) của các tầng chứa nước bão hòa

Trang 25

Nước dưới đất thường xuyên là nguồn nuôi nước mặt: Khi mực nước củacác đới chứa nước bão hòa trong đất luôn cao hơn mực nước của thủy vực mặt.

Nước dưới đất và nước mặt luân phiên nuôi nhau: Xảy ra khi mựcnước của các đới chứa nước bão hòa trong đất cao hơn mực nước của thủyvực mặt có lưu thông trực tiếp với nó vào mùa kiệt và thấp hơn vào mùa lũ.Khi nước trong các thủy vực mặt dâng cao trong mùa lũ, một phần nước lũ sẽngấm qua vùng bờ vào các tầng chứa nước chưa bão hòa, một mặt làm dângmực nước ngầm, mặt khác làm chậm lại quá trình dâng nước mặt Khi nước

lũ rút, phần nước lũ đã chứa tạm vào vùng bờ sẽ dần dần được rút ra, trả vàothủy vực mặt Đây là cơ chế tạo ra quá trình điều tiết bờ, một trong những quátrình tự nhiên quan trọng góp phần làm giảm cao độ đỉnh lũ, giảm mức độ ácliệt của lũ [6, tr 66]

Thứ hai, hệ thống nước đó cùng chảy vào điểm cuối chung.

Điểm cuối chung được hiểu là nơi giao nhau của nguồn nước mà cụthể là nước sông Nước ở các nguồn sông chảy về hội tụ tại một điểm hìnhthành dòng chảy chung

Như vậy, nước mặt và nước ngầm được hình thành một cách tự nhiên,kết hợp tạo thành một thể thống nhất hình thành dòng chảy tự nhiên và cùngchảy, hội tụ về một điểm chung là một đặc điểm cơ bản, yếu tố cần và đủ củanguồn sông quốc tế

* Có các phần của nguồn nước sông nằm trên các quốc gia khác nhau

Nước trên bề mặt đất theo quy luật chung đều chảy từ nơi cao xuốngnơi thấp, lâu ngày các đường chảy tạo thành sông suối Mỗi một dòng sôngđều có phần diện tích hứng và tập trung nước gọi là lưu vực sông Một lưu

Trang 26

trên mặt và dưới đất Đường chia nước trên mặt là đường nối các đỉnh cao củađịa hình Nước từ đỉnh cao đó chuyển động theo hướng dốc của địa hình đểxuống chân dốc đó là các suối nhỏ rồi tập trung xuống các nhánh sông lớnhơn để chảy về biển Cứ như thế chúng tạo thành mạng lưới sông Trên lưuvực sông, ngoài các diện tích đất trên cạn còn có các thành phần đất chứanước thuộc dòng chảy sông, hồ và các vùng đất ngập nước theo từng thời kỳ.Tất cả phần bề mặt lưu vực cả trên cạn và dưới nước đều là môi trường và nơi

ở cho các loài sinh sống Về mặt hình thái, một con sông có thể chia thành cácvùng thượng lưu, trung lưu và hạ lưu

Vùng thượng lưu của sông thường là các vùng núi cao với địa hìnhdốc, chia cắt phức tạp Đây là nơi khởi nguồn của các dòng sông và bề mặtthường bao phủ bằng những cánh rừng thượng nguồn như những "kho nướcxanh" có vai trò điều hòa dòng chảy, làm giảm dòng chảy đỉnh lũ và tănglượng dòng chảy mùa cạn cho khu vực hạ lưu

Trung lưu các dòng sông thường là vùng đồi núi hoặc cao nguyên có 4địa hình phức thấp và thoải hơn, là vùng trung gian chuyển nước xuống vùng

hạ lưu Tại vùng trung lưu, các con sông thường có độ dốc nhỏ hơn, lòng sôngbắt đầu mở rộng ra hơn và bắt đầu có bãi, đáy sông có nhiều cát mịn Các bãiven sông thường có nguy cơ bị ngập nước tạo thành các bãi chứa lũ tạm thời

Hạ lưu sông là vùng thấp nhất của lưu vực sông, phần lớn là đất bồi tụlâu năm có thể tạo nên các vùng đồng bằng rộng Nói chung các sông khichảy đến hạ lưu thì mặt cắt sông mở rộng, sông thường phân thành nhiềunhánh đổ ra biển Sông ở hạ lưu thường có độ dốc nhỏ, dòng bùn cát chủ yếu

ở đáy sông là cát mịn và bùn Do mặt cắt sông mở rất rộng nên tốc độ nướcgiảm nhỏ khiến cho quá trình bồi lắng là chủ yếu, còn xói lở chỉ xảy ra trong

Trang 27

phân nhánh, lòng sông biến dạng uốn khúc theo hình sin và thường có sự biếnđổi về hình thái dưới tác động của các quá trình bồi, xói liên tục, như vùng hạlưu gần cửa của các sông Hồng và sông Cửu Long.

Như vậy, nguồn sông mà có các thành phần cấu thành dòng sông nằmtrên các quốc gia khác gồm có một trong các phần trung lưu, thượng lưu, hạlưu nằm toàn bộ hoặc chung dòng chảy với quốc gia khác đều được coi lànguồn sông quốc tế

1.1.2 Các sông quốc tế

1.1.2.1 Sông quốc tế trên thế giới

Hiện nay, có 276 lưu vực sông xuyên biên giới và 200 tầng nướcngầm xuyên biên giới trên toàn cầu [2]; các lưu vực sông này chiếm gần mộtnửa diện tích bề mặt của trái đất, là nơi cư trú của 40% tổng số dân cư vàcung cấp khoảng 60% tổng số lượng nước ngọt trên thế giới [3] Chỉ tínhriêng Châu Phi đã có tới 59 lưu vực sông, hồ xuyên biên giới [55], và là nơisinh sống của khoảng 2/3 dân số châu lục này Lịch sử hình thành đã để lạicho châu lục này nhiều dòng sông quốc tế do ba hay nhiều quốc gia cùng chia

sẻ hơn bất kỳ một châu lục nào trên thế giới Châu Phi đã cố gắng giải quyếtvấn đề này bằng một số sáng kiến quản lý sông xuyên biên giới, ví dụ như ởlưu vực sông Niger, sông Nile, sông Senegal Nhưng những thách thức nàykhông phải chỉ có duy nhất ở châu Phi

Điển hình là các sông như:

Amazon là một trong các sông dài nhất thế giới và là sông có lưu vựcrộng nhất thế giới [38] Các nghiên cứu của Brasil và Peru vào các năm 2007

và 2008 kết luận rằng sông Amazon dài 6.992 km và dài hơn sông Nile Sôngchảy qua các nước Peru, Brazil, Bolivia, Colombia, Ecuador Sông chứa 1/5lượng nước ngọt tự nhiên trên thế giới Amazon có lưu vực rộng nhất thế giới

Trang 28

với hơn 1.000 sông nhánh đan chéo nhau dệt thành một mạng sông dày đặc,trong đó có hơn 17 nhánh có chiều dài 1.500 km Lưu vực Amazon chiếmkhoảng 40% tổng diện tích đại lục Nam Mỹ, lớn gấp đôi diện tích lưu vựcsông Congo ở châu Phi.

Sông Nile là sông lớn thứ hai trên thế giới với độ dài 6.650 km, chảy qua

10 quốc gia như: Ai Cập, Nam Sudan, Uganda và Ethiopia Dòng sông bắt nguồn

từ Burudi phía Nam xích đạo, chảy dọc theo vùng Đông Bắc Phi và cuối cùngmới chảy qua lãnh thổ Ai Cập trước khi đổ ra Địa Trung Hải nhưng Ai Cập lànơi ghi dấu ấn của con sông này Người ta nói rằng, không thể có nền văn minh

Ai Cập cổ đại nếu không có sông Nile; và Ai Cập sẽ bị sa mạc hóa hoàn toànnếu dòng sông này cạn nước Dòng sông cung cấp nước ngọt cho toàn bộ đấtnước Tuy chỉ 22% chiều dài của sông Nile chảy qua Ai Cập, nhưng đó lại chính

là đoạn quan trọng nhất, giàu phù sa nhất và cũng yên ả nhất Người đời saucho rằng, chính việc thuận tiện giao thông thủy trên sông Nile đã giúp ngườixưa chuyên chở được những khối đá khổng lồ để xây dựng Kim tự tháp [30]

Sông Parana (hay còn gọi là sông Rio de la Plata) dài 4.880 km, là consông dài thứ hai ở Nam Mỹ, chảy qua các nước Brazil, Paraguay, Argentina

Vì nằm giữa Brazil và Paraguay nên Parana được coi như đường biên giớigiữa hai nước

Sông Amur (Hắc Long Giang) dài 4.444 km nằm ở Đông Á, tạo thànhbiên giới tự nhiên giữa miền Viễn Đông của Nga và vùng Mãn Châu (tỉnhHắc Long Giang) của Trung Quốc [19] Sông Amur là biểu tượng rất quantrọng trong mối quan hệ Nga - Trung

Sông Congo ở châu Phi có chiều dài 4.700 km Sông này bắt nguồn từvùng núi cao phía đông bắc Zambia, chạy theo một đường cong ngược chiều kim

Trang 29

đồng hồ, uốn khúc qua nước Cộng hòa Congo, Cộng hòa Dân chủ Congo, Cộnghòa Trung Phi, Angola, Tanzania, Cameroon, Zambia, Burundi và Rwanda [15].

Danube là con sông dài thứ hai ở châu Âu, chỉ sau sông Volga, Nga.Sông bắt nguồn từ vùng Rừng Đen của Đức, chảy qua 19 nước ở Trung vàĐông Âu rồi đổ vào Biển Đen Cũng giống dòng Mê Kông, Danube có vai tròrất quan trọng đối với cuộc sống của hàng chục triệu người tại những quốc gia

mà con sông chảy qua Dòng sông được mệnh danh là "mạch sống châu Âu"này lại từng bị tàn phá nặng nề trong suốt hơn một thế kỷ Sự xuất hiện củahàng chục con đập trên sông làm gián đoạn dòng chảy, ngăn chặn quá trìnhvận chuyển trầm tích từ thượng lưu xuống hạ lưu, gây ra tình trạng xói mòn ởnhiều nơi, khiến 80% vùng đất ngập nước của sông biến mất

Sông Rhein Là một trong những con sông lớn nhất thế giới, sông cóchiều dài 1.320 km và diện tích lưu vực là 224.000 km2 Sông Rhein có lượngnước rất dồi dào Sông Rhein bắt nguồn từ dãy Alps ở biên giới Thụy Sĩ, chảycuồn cuộn về phía Tây Bắc, đi qua các nước Áo, Pháp, Đức, Thụy Sĩ… đếngần thành phố cảng Rotterdam thì đổ vào Bắc Hải Đây được xem là huyếtmạch của châu Âu [23]

Sông Mê Kông dài khoảng 4.800km chảy qua 6 nước, hai quốc giathượng lưu vực là Trung Quốc và Myanmar, bốn quốc gia hạ lưu vực là TháiLan, Lào, Campuchia và Việt Nam Về lượng nước, Trung Quốc đóng gópkhoảng 15-18% dòng chảy trung bình hàng năm của lưu vực sông Mê Kôngnhưng đóng góp tới 30% dòng chảy mùa khô, Lào 35%, Thái Lan 18%,Campuchia 20% và Việt Nam 11% [10]

Từ cuối thế kỷ XIX, trên thế giới đã liên tiếp xảy ra những tranh chấpgiữa các quốc gia liên quan đến vấn đề sử dụng các nguồn sông quốc tế như:Tranh cấp giữa Mỹ và Meehico về việc sử dụng nước của những con sông mà

Trang 30

hai quốc gia cùng chia sẻ; Tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakitxtan về nguồnnước sông Indus; Ấn độ và Pakitxtan về nguồn nước sông Hằng; Mâu thuẫn

về việc sử dụng nước sông giữa Ai Cập và Eetiopi về sử dụng nước sông Nilegay gắt tới mức Ấn Độ cảnh cáo sẽ tấn công bằng quân sự Eetiopi nếu nướcnày không bảo đảm nguồn nước cho Ai Cập; Bất đồng nghiêm trọng vềnguồn nước sông Jordan giữa Palextin, Ixraen và Gióocđani; Xyri nằm giữaThổ Nhĩ Kỳ và Irắc đe dọa tấn công Thổ Nhĩ Kỳ vì nước này dùng đập ngănnước sông Ơphrát, làm chuyển hướng dòng chảy của sông này và hạn chếnước về vùng hạ lưu trong đó có Xyri;

Bên cạnh đó những tranh chấp mang tính chất khu vực như: Tranhchấp gay gắt giữa năm nước Trung Á cùng chia sẻ hai con sông Amu DDarria

và Sia DDararria; Tại Trung Đông tranh chấp về nguồn nước diễn ra hàngngàn năm qua hiện đang là vấn đề gây căng thẳng trong khu vực; Tại lưu vựcsông Dămbêdi ở miền Nam Châu Phi tranh chấp về nước luôn xảy ra,…

Những sông lớn như Amazon, Mê Kông, Nile, Danube, Rhine đều chảyqua 5 quốc gia trở lên Sự chia sẻ nguồn nước sông là nguyên nhân của nhiềucuộc đụng độ, mâu thuẫn, bất đồng cả ở song phương, đa phương và khu vực

1.1.2.2 Các sông quốc tế tại Việt Nam

Theo thống kê của Bộ tài nguyên và môi trường năm 2010, Việt Nam

có hơn 2.370 con sông có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sôngchính Tổng diện tích các lưu vực sông là 1.167.000 km2, trong đó, phần lưuvực nằm ngoài lãnh thổ chiếm khoảng 72% Nếu phân chia theo quy mô, ViệtNam có 13 con sông có diện tích lưu vực lớn hơn 10.000 km2, bao gồm 9 sôngchính (sông Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - ThuBồn, Ba, Đồng Nai và Cửu Long) và 4 sông nhánh lớn (sông Đà, Lô, Sê San

Trang 31

gia với Trung Quốc, Lào hoặc Campuchia với phần diện tích lưu vực ở ngoàibiên giới Việt Nam lớn gấp 3,3 lần diện tích lưu vực trong nước Các sông nộiđịa còn lại đều là sông liên tỉnh, có lưu vực bao phủ trên địa bàn hai tỉnh trở lên.Chính vì vậy, tổng lượng nước mặt của các lưu vực sông trên lãnh thổ ViệtNam khoảng 830-840 tỷ m3/năm, nhưng chỉ có khoảng 310-315 tỷ m3 (37%) lànước nội sinh, còn 520-525 tỷ m3 (63%) là nước chảy từ các nước láng giềngvào lãnh thổ Việt Nam (thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2006) [29]

Những quốc gia nằm ở thượng lưu trong các hệ thống sông quốc tế ởViệt Nam là Trung Quốc (sông Hồng và sông Mê Kông), Myanmar (sông MêKông), Lào (sông Mê Kông, sông Hồng, sông Mã, sông Vàm Cỏ Đông vàsông Đồng Nai) Riêng hệ thống sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, phần lớn diệntích lưu vực trên lãnh thổ Việt Nam là ở phần thượng lưu khu vực và lưu vựcsông Mê Kông Việt Nam có một phần lãnh thổ Tây Nguyên, Tây Bắc nằm ởthượng lưu các sông nhánh so với Campuchia Trong đó một số sông điểnhình có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về kinh tế lẫn chính trị:

Trong các hệ thống sông quốc tế đã nêu ở trên, hai nguồnsông quốc tế đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với Việt Nam làlưu vực sông Mê Kông và lưu vực sông Hồng - Thái Bình Tổnglượng dòng chảy hàng năm của lưu vực sông Hồng và lưu vực sông

Mê Kông đến Việt Nam là 608 tỷ m3, chiếm 73,25% toàn bộ lượngnước mặt của tất cả các hệ thống sông suối của Việt Nam, trong đó,lượng nước đến từ quốc gia thượng lưu của hai lưu vực sông này là473,89 tỷ m3, chiếm gần 80% tổng lượng nước của hai con sông.Nguồn nước mặt của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào các quốc giathượng lưu cùng chia sẻ các dòng sông quốc tế, việc sử dụng nước

ở các quốc gia thượng lưu sẽ tác động rất lớn cả về lưu lượng lẫnchất lượng nước [26]

Trang 32

Lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình là một lưu vực sông liên quốcgia chảy qua 3 nước Việt Nam, Trung Quốc, Lào với tổng diện tích tự nhiênvào khoảng 169.000km2 và diện tích lưu vực của hai sông này trong lãnh thổViệt Nam vào khoảng 87.840km2 Châu thổ sông nằm hoàn toàn trong lãnhthổ Việt Nam có diện tích ước tính khoảng 17.000km2 Chiều dài sông Hồngtrong lãnh thổ Việt Nam khoảng 328km Phần lưu vực nằm ở Trung quốc là:81.200 km2 chiếm 48% diện tích toàn lưu vực Phần lưu vực nằm ở Lào là:1.100 km2 chiếm 0,7% diện tích toàn lưu vực Phần lưu vực nằm ở Việt Namlà: 87.840 km2 chiếm 51,3% diện tích lưu vực.

Đây là con sông lớn thứ hai (sau sông Mêkông) chảy qua Việt Nam đổ

ra biển Đông Sông Hồng được hình thành từ 3 sông nhánh lớn là sông Đà,sông Lô và sông Thao Sông Thái Bình cũng được hình thành từ 3 nhánh sônglớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Hai hệ thống sông được nốithông với nhau bằng sông Đuống và sông Luộc tạo thành lưu vực sông Hồng -sông Thái Bình

Lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình được giới hạn từ 20023’ đến 25030’

vĩ độ Bắc và từ 1000 đến 107010’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp lưu vực sôngTrường Giang và sông Châu Giang của Trung Quốc Phía Tây giáp lưu vựcsông Mêkông Phía Nam giáp lưu vực sông Mã Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ

Phần lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam có

vị trí địa lý từ: 20023’ đến 23022’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến 107010’ kinh độTây [27]

Mê Kông là con sông lớn nhất ở Đông Nam Châu Á, bắt nguồn từ caonguyên Tây Tạng, Trung Quốc sông chảy qua lãnh thổ của 6 nước là TrungQuốc (tỉnh Vân Nam), Myanma, Lào, Thái Lan, Cămpuchia và Việt Nam

Trang 33

795.000 km2 và tổng lượng dòng chảy hàng năm 475 tỉ m3 So với các lưu vựcsông trên Thế giới, Mê Kông đứng thứ 8 về tổng lượng dòng chảy, thứ 12 vềchiều dài và thứ 21 về diện tích lưu vực Sông được chia làm hai phần,Thượng lưu vực gồm phần diện tích nằm trên đất Trung Quốc và Myanma códiện tích 189.000 km2 (chiếm 24% diện tích lưu vực) và phần Hạ lưu vực,gồm phần diện tích nằm ở 4 nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam códiện tích là 606.000 km2 (chiếm 76% diện tích lưu vực) Diện tích lưu vực vàphần trăm đóng góp vào dòng chảy cho sông Mê Kông của 6 nước ven sôngđược thể hiện ở bảng dưới [28] Tài nguyên nước tính theo đầu người là cao

so với các lưu vực sông quốc tế khác Dòng chảy từ sông Langcang - Thượngnguồn lưu vực sông Mê Kông đóng góp 16% dòng chảy trung bình hàng nămcủa lưu vực sông Mê Kông nhưng đóng góp tới 30% dòng chảy mùa khô Có

sự khác biệt rất lớn về dòng chảy trong mùa mưa và mùa khô gây ra bởi chế

độ gió mùa Tây Nam, với khoảng thời gian mùa mưa và mùa khô xấp xỉ nhau

Mê Kông là sông có mức đa dạng sinh học cao thứ hai trên thế giớisau Amazon và có ngành đánh bắt thủy sản nước ngọt lớn nhất thế giới vớikhoảng 2,3 triệu tấn/năm Tổng dân số sống ở hạ lưu vực sông Mê Kông ướctính khoảng 60 triệu người năm 2007, với khoảng 90% dân số của Campuchia(13 triệu) và 97% dân số Lào (5,9 triệu), 39% dân số Thái Lan (23 triệu), và20% dân số Việt Nam (17 triệu ở đồng bằng sông Cửu Long và 3 triệu ở TâyNguyên) Sinh kế và an ninh lương thực của hầu hết dân số nông thôn đượcgắn liền với hệ thống sông, với hơn 60% dân số tham gia các hoạt động kinh

tế có liên quan đến tài nguyên nước, mà rất dễ bị tổn thương trước các biến cố

và suy thoái liên quan đến tài nguyên nước [32]

Lưu vực sông Mê Kông ở Việt Nam có các sông sau:

Trang 34

Sông Nậm Rốm và Nậm Núa có diện tích lưu vực 1.650 km2 SôngNậm Rốm bắt nguồn từ Bắc huyện Điện Biên qua thành phố Điện Biên Phủ -

Pa Thơm (huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào Sông Nậm Núa bắt nguồn từMường Nhà chảy theo hướng Nam - Bắc sau đó chuyển sang hướng Đông -Tây và gặp sông Nậm Rốm ở lòng chảo Điện Biên rồi chảy sang Lào

Một số sông suối phía tây huyện Hương Hóa (tỉnh Quảng Trị) chảy vềhướng tây, đổ vào sông Xê Bang Hiêng (Lào)rồi hòa vào dòng Mê Kông Cácsông này có tổng diện tích lưu vực 738 km2 Lớn nhất là lưu vực sông Xê Pôn(310 km2 trên phần lãnh thổ Việt Nam); sông uốn khúc phức tạp, hướng chảychung là Đông - Tây, dọc theo biên giới Việt - Lào

Sông Sêkong bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn (vùng Aso), huyện ALưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế Ở đấy, nó được gọi là sông A Sáp Toàn bộ lưuvực Sêkong rộng 29.750 km² trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam là 750 km²(quanh sông A Sáp và một chi lưu nhỏ của Sêkong bắt nguồn từ Kon Tum)

Các sông ở Tây Nguyên có diện tích lưu vực khoảng 29,700 km2 Tâynguyên là thượng nguồn đối với Campuchia trong khi đồng bằng sông CửuLong là hạ nguồn cuối cùng của lưu vực sông Mê Kông

Ở Tây Nguyên, các sông Sê San, Srêpôk là 2 sông nhánh chính phía

bờ trái của sông Mê Kông Lưu vực của 2 sông này trên lãnh thổ Việt Namnằm trên địa phận của 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và LâmĐồng Sông Sê San bắt nguồn từ vùng núi phía bắc và đông hai tỉnh Gia Lai

và Kon Tum Diện tích lưu vực sông Sê San thuộc lãnh thổ Việt Nam là11.450 km2 với chiều dài dòng chính 252 km và mật độ lưới sông 0.38 km/km2

Từ phía bắc tỉnh Kon Tum, sông Sê San chảy theo hướng gần bắc nam đếntuyến công trình thủy điện Ialy rồi rẽ sang hướng gần tây nam chảy ra biên

Trang 35

mực nước biển, độ dốc bình quân khoảng 14,4% Sông Srêpôk bắt nguồn từcác tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng với diện tích lưu vực trong lãnh thổ Việt Namkhoảng 12.030 km2, chiều dài dòng chính 291 km và mật độ lưới sông0.55km/km2 Hai nhánh chính của sông Srêpôk làKrông Knô và Krông Ana.

Sông Mê Kông khi chảy xuống hạ lưu Phnôm Pênh vào Việt Namđược chia thành 2 nhánh chính là sông Mê Kông (sông Tiền) và sông Bát Sắc(sông Hậu) từ đó chia ra nhiều nhánh nhỏ đổ ra biển Đông, tạo nên đồng bằngsông Cửu Long [31]

Tuy nhiên, lưu vực sông Mê Kông trong thời gian gần đây trở nênngày càng sôi động với nhiều diễn biến phát triển nóng gây không ít tranh cãi.Dòng sông quốc tế này đang chứng kiến xu thế cạnh tranh với tâm điểm làviệc sử dụng nguồn nước của mỗi quốc gia phục vụ nhu cầu phát triển củariêng mình đi đôi với những hậu quả và thách thức tiềm tàng cho các quốc giakhác Sự sôi động của lưu vực sông Mê kông bắt đầu từ những năm cuối thế

kỷ 20 Các nền kinh tế mới nổi trong khu vực và một Trung Quốc đang trỗidậy đứng trước cơn khát năng lượng phục vụ nhu cầu tăng trưởng nóng Thủyđiện trở thành tâm điểm của các chiến lược đầu tư mới của cả chính phủ vàkhu vực tư nhân Bên cạnh đó, gia tăng dân số trong lưu vực và biến động giá

cả lương thực trong những năm gần đây đã thúc đẩy các quốc gia đầu tư mạnh

mẽ hơn cho cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển và mở rộng sản xuất nông nghiệp

Ở vị thế là một quốc gia cuối nguồn, Việt Nam đang đứng trước nguy

cơ phải gánh chịu nhiều tác động to lớn chưa thể lường trước từ các chươngtrình, dự án phát triển trên dòng chính ở phía thượng nguồn Với viễn cảnhcác kịch bản phát triển của các quốc gia láng giềng, Việt Nam rất cần có cácgiải pháp ứng phó và hạn chế tối đa nguy cơ trở thành nạn nhân của nhữngtính toán, sắp đặt trái với tinh thần hợp tác phát triển trong lưu vực

Trang 36

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược thủy điện dòng chính MêKông do Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế (ICEM) thực hiện cho Ủyhội sông Mê Kông năm 2010 đánh giá Việt Nam "có khả năng tổn thất lớnnhất về kinh tế" do tác động tiềm tàng nếu hệ thống đập dòng chính được xâydựng Những tổn thất Việt Nam có thể gánh chịu chưa thể tính toán hết Tuynhiên, một số tác động có thể dự đoán được bao gồm: (i) giảm dòng chảytrong mùa khô, kết hợp với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biểndâng sẽ làm gia tăng nhập mặn, ảnh hưởng đến nông nghiệp và nuôi trồngthủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long; (ii) suy giảm lượng phù sa bồi đắp chođồng bằng từ 26 triệu tấn/năm hiện nay xuống 7 triệu tấn/năm; (iii) thủy sảnbiển, nước ngọt và nuôi trồng đều sẽ bị ảnh hưởng với ước tính tổn thất ít nhất

từ 500 triệu đến 1 tỉ USD mỗi năm

Việt Nam có hơn 20 triệu người dân sống trong lưu vực sông MêKông (hơn 17 triệu ở đồng bằng sông Cửu Long và 3 triệu ở Tây Nguyên).Phần lớn dân số phụ thuộc vào nguồn sinh kế nông nghiệp và thủy sản - liênquan mật thiết đến nguồn tài nguyên nước Nguồn lợi từ sông Mê Kông vàcác dòng nhánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người nghèo, 75%trong số họ sống phụ thuộc vào sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản

Đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động mạnh mẽ từ nguồn nướcsông Mê Kông, trong đó lũ là yếu tố quan trọng nhất Mỗi năm, khu vực này

có từ 1,3-1,5 triệu hecta bị ngập lũ Dưới tác động của dòng chảy và chế độ

lũ, các hoạt động kinh tế - xã hội bị ảnh hưởng, đất nông nghiệp bị xâm nhậpmặn và chua phèn, các hoạt động sản xuất nông nghiệp bị cản trở Bên cạnh

đó, lũ cũng có nhiều mặt tích cực đối với sự hình thành và phát triển của đồngbằng sông Cửu Long Con sông Mê Kông mang về cho đồng bằng nguồn phù

sa màu mỡ và nguồn thủy sản tự nhiên giàu có

Trang 37

Tại khu vực Tây Nguyên, nguồn nước của lưu vực sông Sê San vàSrêpok đã được khai thác khá triệt để phục vụ cấp nước cho sản xuất nôngnghiệp, sinh hoạt và phát triển thủy điện Trong trường hợp lưu vực sông SêSan và Srêpok, Việt Nam ở vị thế thượng nguồn Các hoạt động khai thác, sửdụng nguồn nước ở các lưu vực sông này có thể gây tác động xuyên biên giớiđến quốc gia hạ nguồn là Campuchia.

Dòng chảy của con sông Mê Kông có ý nghĩa sống còn đối với sựphát triển của khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nóichung Do sự liên quan mật thiết giữ các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hộicủa các tiểu vùng và tổng thể lưu vực sông Mê Kông, những động thái pháttriển thượng nguồn và thay đổi dòng chảy sẽ dẫn đến nhiều tác động về môitrường và xã hội ở phía hạ nguồn Mặc dù còn cần rất nhiều đánh giá, nghiêncứu thấu đáo về tác động tổng thể của kịch bản phát triển này, với những hiểubiết ở thời điểm hiện tại, có thể khẳng định rằng Việt Nam gặp rất nhiều bấtlợi trong bài toán phát triển sông Mê Kông Trong bối cảnh đó, Việt Nam cầnsẵn sàng cho mọi kịch bản phát triển lưu vực khi mà chúng ta không có nhiềulựa chọn do ở vị trí cuối nguồn [20]

Ngoài ra, Sông Ka Long (còn được gọi là sông Bắc Luân) bắt nguồn

từ Trung Quốc chảy theo hướng Đông Nam đổ vào vịnh Bắc bộ tại cửa BắcLuân; Là con sông tại khu vực biên giới giữa thành phố Móng Cái (tỉnhQuảng Ninh, Việt Nam) và thành phố Đông Hưng (Phòng Thành, khu tự trịdân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc); sông có tổng chiều dài 109km,trong đó đoạn tạo thành biên giới Việt Nam - Trung Quốc là 60km Đây làmột cửa khẩu đường sông sầm uất và quan trọng trong quan hệ giao thươnggiữa Việt Nam và Trung Quốc

Trang 38

Kỳ Cùng là con sông chính ở tỉnh Lạng Sơn Bắt nguồn từ vùng núiBắc Xa cao 1.166m thuộc huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, sông chảy theohướng Đông Nam - Tây Bắc qua thành phố Lạng Sơn Khi cách thành phốnày khoảng 22km, sông bất ngờ đổi hướng để chảy gần như theo hướng Nam -Bắc tới thị trấn Văn Lãng rồi lại đổi hướng thành Đông Nam - Tây Bắc trướckhi rẽ sang hướng Đông ở gần thị trấn Thất Khê Từ Thất Khê, sông chảy gầnnhư theo đường vòng cung, cho tới khi nó vượt biên giới sang Trung Quốc đểhợp lưu với sông Bằng Giang tại thị trấn Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc.Sông Kỳ Cùng đoạn chảy trên đất Việt Nam dài khoảng 243 km; diện tích lưuvực 6.660km2 Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy ngược [24].

Như vậy, Việt Nam có khá nhiều sông nằm trên lãnh thổ của hai haynhiều quốc gia khác nhau Tầm ảnh hưởng của các con sông này ngày càngtrở nên cấp thiết cả về kinh tế lẫn chính trị Do đó, Việt Nam cần phải nhậnthức đúng đắn và đưa ra các giải pháp chiến lược cho sự phát triển lâu dài từcác con sông này

1.1.3 Vấn đề sử dụng các nguồn sông quốc tế

Các nguồn sông là nơi hứng nước và hệ sinh thái thủy sinh có vai trò

và vị trí vô cùng quan trọng đối với con người, có thể ví như một cỗ xe sinhhọc của hành tinh cung cấp nguồn sống và nuôi dưỡng sự sống của con người

và các cộng đồng sinh học trên lưu vực sông Dựa vào các tiêu chí khác nhau

mà các nguồn sông có thể đưa ra các hình thức sử dụng cho các nguồn sôngquốc tế:

Căn cứ vào nhu cầu sử dụng của con người, các nguồn sông quốc tếđược sử dụng dưới các hình thức sau: cho sinh hoạt và đô thị; cho côngnghiệp; cho nông nghiệp; cho thể thao, giải trí, du lịch [8]

Trang 39

Căn cứ vào mức độ suy giảm về số lượng nước, người ta đã xếp cáchình thức sử dụng các nguồn sông quốc tế thành hai loại: Sử dụng tiêu haovào sử dụng không tiêu hao.

Sử dụng tiêu hao là trong quá trình sử dụng làm mất đi số lượng nước

nhất định như: sử dụng nước phục vụ sinh hoạt, đô thị, nông nghiệp, chănnuôi, cải tạo đất, sử dụng nước cho công nghiệp;

Sử dụng không tiêu hao là trong quá trình sử dụng không làm mất đi

số lượng nước như: sử dụng cho thủy điện, giao thông thủy, thể thao, du lịch

và giải trí [37]

Hiện nay trong những hiệp ước lưu vực sông quốc tế song phương và đaphương đã chia thành hai hình thức sử dụng căn cứ vào mục đích sử dụng, đó là:

Sử dụng cho mục đích giao thông thủy;

Sử dụng nước cho mục đích phi giao thông thủy như: sử dụng nướccho sinh hoạt, đô thị, tưới tiêu, nuôi thủy sản, thủy điện, thể thao, du lịch,…

Sở dĩ có sự phân chia như trên, là vì việc sử dụng sông quốc tế chomục đích đã được điều chỉnh bằng quy chế pháp lý tự do giao thông thủy docác quốc gia áp dụng từ những thế kỷ trước Việc sử dụng này sẽ không làmảnh hưởng đến các quốc gia ven sông khác nếu các quốc gia tuân thủ theođúng quy chế tự do giao thông thủy còn được áp dụng cho cả những quốc giakhông phải là quốc gia ven sông quốc tế

Đối với hình thức sử dụng cho những mục đích phi giao thông thủychỉ áp dụng cho những quốc gia thuộc lưu vực sông quốc tế và trong quá trình

sử dụng có thể sẽ làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng của các quốc gia cùnglưu vực khác Do đó, đối với hình thức sử dụng này, các quốc gia cùng lưuvực sẽ phải quy định những quy chế pháp lý để đảm bảo cho việc sử dụng tàinguyên nước được công bằng Chính lý do này mà Đại hội đồng Liên hợpquốc đã giao nhiệm vụ cho Ủy ban Luật quốc tế nghiên cứu và soạn thảo một

Trang 40

công ước điều chỉnh việc sử dụng tài nguyên nước cho mục đích phi giaothông thủy.

Có nhiều hình thức sử dụng nước khác nhau, vấn đề xuất hiện là liệuhình thức sử dụng nước nào sẽ được ưu tiên hơn Trước thế kỷ 20, giao thôngthủy được ưu tiên hơn các hình thức sử dụng nước khác vì vào thời điểm đógiao thông thủy là hình thức phổ biến Nhưng kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay, sửdụng nước đã được mở rộng ra với nhiều hình thức khác nhau, cho nên giaothông thủy và các hình thức sử dụng khác đều không được coi là ưu tiên

Điều chỉnh vấn đề này, Quy tắc Helsinki 1966 quy định như sau:

"Không một việc sử dụng hoặc hình thức sử dụng nước nào được đươngnhiên ưu đãi hơn việc sử dụng hoặc hình thức sử dụng nước khác"

Điều 10 Công ước New York năm 1997 của Liên hợp quốc về luật sửdụng các nguồn nước quốc tế vào mục đích phi giao thông.cũng quy định:

"Nếu hiệp định hay tập quán quốc tế không có quy định, thì không một hìnhthức sử dụng nước của một dòng nước quốc tế nào được đương nhiên ưu tiênhơn các loại hình sử dụng khác"

Như vậy, hiện nay chưa có quy định nào về trật tự ưu tiên trong cáchình thức sử dụng nước, tùy thuộc vào tình hình và đặc điểm cụ thể của quốcgia và từng lưu vực sông, các quốc gia cùng lưu vực sông quốc tế có thể quyếtđịnh hình thức sử dụng nào được coi là ưu tiên Điều cần lưu ý là khi quyếtđịnh trật tự ưu tiên của các loại hình sử dụng tài nguyên nước quốc tế, cácquốc gia lưu vực cần phải xem xét tất cả các yếu tố để đảm bảo nguyên tắc sửdụng công bằng

1.2 Pháp luật sử dụng các nguồn sông quốc tế

1.2.1 Sự cần thiết của việc hình thành các quy định về sử dụng các nguồn sông quốc tế

Ngày đăng: 22/02/2023, 00:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Văn Bảy (2017), "Pháp luật tài nguyên nước - Công cụ hữu hiệu để bảo vệ, quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước", Bản tin Tài nguyên nước, (33) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tài nguyên nước - Công cụ hữu hiệuđể bảo vệ, quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước
Tác giả: Hoàng Văn Bảy
Năm: 2017
2. Tuyết Chinh (2016), "Hoàn thiện văn bản pháp luật quốc tế về quản lý nguồn nước sông Mê Kông", http://www.baotainguyenmoitruong.vn,ngày 17/10/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện văn bản pháp luật quốc tế về quản lýnguồn nước sông Mê Kông
Tác giả: Tuyết Chinh
Năm: 2016
3. Claudia Sadoff, Thomas Greiber, Mark Smith và Ger Bergkamp (2017), "Chia sẻ - Quản lý nước xuyên biên giới", http://www.waterandnature.org, truy cập ngày 15/9/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia sẻ - Quản lý nước xuyên biên giới
Tác giả: Claudia Sadoff, Thomas Greiber, Mark Smith và Ger Bergkamp
Năm: 2017
4. Cục Quản lý tài nguyên nước (2014), "Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy có hiệu lực kể từ ngày 17/8/2014", http://dwrm.gov.vn, ngày 06/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về Luật sử dụng cácnguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy có hiệulực kể từ ngày 17/8/2014
Tác giả: Cục Quản lý tài nguyên nước
Năm: 2014
5. Cục quản lý tài nguyên nước (2014), "Đánh giá mức độ tương thích giữa quy định của Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy với quy định của pháp luật Việt Nam", http://dwrm.gov.vn, ngày 24/4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ tương thíchgiữa quy định của Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốcgia cho các mục đích phi giao thông thủy với quy định của pháp luậtViệt Nam
Tác giả: Cục quản lý tài nguyên nước
Năm: 2014

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w