Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư hiệu quả tại các công ty bảo hiểm Việt Nam
Trang 1MỞ ĐẦU: GIỚI THIỆU
1 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mười lăm năm qua, nhất là những năm gần đây, ngành bảo hiểm đã cónhững đóng góp nhất định vào sự phát triển của hệ thống tài chính nói riêng và tăngtrưởng kinh tế Việt Nam nói chung Thị trường bảo hiểm Việt Nam là một kênhquan trọng trên thị trường vốn, thể hiện tất cả các vai trò trên thị trường tài chính
Đó là đảm bảo sự ổn định thông qua việc tập trung và phân tán rủi ro, tăng cường
ổn định tài chính trong hộ gia đình và doanh nghiệp, huy động vốn dài hạn và đầu
tư dài hạn… Vì vậy phát triển ngành bảo hiểm tương ứng với mức độ phát triển củanền kinh tế là một nhu cầu khách quan Do đặc thù của ngành, các doanh nghiệpbảo hiểm bao giờ cũng tiến hành đồng thời hai hoạt động đó là kinh doanh bảo hiểm
và đầu tư Nếu như hoạt động kinh doanh bảo hiểm của ngành thời gian qua có tốc
độ phát triển khá nhanh thì tổ chức hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểmcòn mờ nhạt chưa thể hiện tính chuyên nghiệp Một trong những nguyên nhân củathực trạng này là vấn đề quản lý danh mục đầu tư của các công ty bảo hiểm còn hạnchế Vì vậy, đề tài “Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư hiệu quả tại các công tybảo hiểm Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng, xác địnhnguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu
tư của các công ty bảo hiểm Việt Nam
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động đầu tư và quản lý danh mục đầu tưcủa các công ty bảo hiểm thương mại đang hoạt động trên thị trường tài chính: Baogồm các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, không đi vào phân tích hoạtđộng đầu tư của các công ty môi giới bảo hiểm cũng như các tổ chức bảo hiểm khácnhư bảo hiểm xã hội…
Thời gian được chọn nghiên cứu là 2004-2008
Trang 23 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn bắt đầu bằng các lý luận được tổng kết từ kinh nghiệm của của cácnước trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt là các lý thuyết hiện đại về quản lý danhmục đầu tư
Khi nghiên cứu luận văn, phương pháp nghiên cứu diễn dịch - quy nạp kếthợp giữa các dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp được vận dụng để đánh giá thựctrạng hoạt động đầu tư và quản lý danh mục đầu tư của của các công ty bảo hiểmViệt Nam và so sánh với các công ty bảo hiểm tại các nước phát triển khác
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, tức đưa rađịnh hướng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại cáccông ty bảo hiểm Việt Nam trên cơ sở đã phân tích thực trạng và những nguyênnhân tồn tại
4 Dữ liệu nghiên cứu:
Để minh hoạ, luận văn sử dụng số liệu được công bố chính thức từ cơ quanChính phủ như Vụ bảo hiểm - Bộ Tài chính, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các hãngtin uy tín trên thế giới như Reuters, BMI (Business Monitor International), SSRN(Social Science Research Network), … các tư liệu từ sách, báo, tạp chí chuyênngành
5 Nội dung luận văn:
Nội dung của luận văn thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư và quản lý danh mục đầu tư bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng về hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm Việt Nam giaiđoạn 2004-2008
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại cáccông ty bảo hiểm Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ
VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ BẢO HIỂM
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư:
1.1.1 Khái quát về đầu tư:
Đầu tư là hành động hy sinh một giá trị chắc chắn ở hiện tại để thu lại mộtgiá trị khác lớn hơn nhưng mang tính không chắc chắn ở tương lai
Hoạt động đầu tư luôn gắn liền với hai yếu tố là lợi nhuận và rủi ro Lợinhuận là thu nhập có được từ một khoản đầu tư, thường được biểu thị bằng tỷ lệphần trăm giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra Rủi ro được định nghĩa là sựsai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng Có một nguyên tắc tronghoạt động đầu tư là có sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Nếu khả năng sinh lời
từ hoạt động đầu tư càng lớn thì mức độ rủi ro sẽ càng cao và ngược lại
Có thể tạm chia hoạt động đầu tư làm 2 mảng lớn:
Đầu tư thực: Họat động đầu tư vào các tài sản thực như đất đai, nhà xưởng,máy móc thiết bị
Đầu tư tài chính: Hoạt động đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu,trái phiếu và các công cụ tài chính khác Nhà đầu tư tài chính thông thường chỉnhắm vào mục đích mua bán chứ ít làm tăng giá trị thực của công ty mà họ đầu tưvào
Trong nền kinh tế, hai hoạt động này quan hệ và hỗ trợ nhau cùng phát triển
1.1.2 Các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư:
Lợi nhuận có thể đạt được từ hoạt động đầu tư: Đây chính là mục tiêu củanhà đầu tư Vì vậy, nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định đầu tư nếu hoạt động đầu tư nàymang lại lợi nhuận càng nhiều càng tốt Để đo lường lợi nhuận (hoặc có thể sử dụngthuật ngữ tỷ suất sinh lợi) từ hoạt động đầu tư, có một số các chỉ tiêu được biết đến
Trang 4như NPV, IRR, PI, ROE, ROA, EPS Tuy nhiên cần cân nhắc với nhân tố đi liềnvới lợi nhuận là rủi ro.
Rủi ro: Là sự dao động của lợi nhuận từ hoạt động đầu tư làm cho lợinhuận đạt được không như dự kiến Lợi nhuận dao động càng lớn, rủi ro càng cao
Có một thực tế là nhà đầu tư có tính ưa thích lợi nhuận và có tính không ưa thích rủi
ro Lợi nhuận và rủi ro là hai thuộc tính không thể tách rời của bất kỳ một tài sảnđầu tư nào Từ đó lợi nhuận và rủi ro cấu thành nên các công thức xác định giá cảcủa một tài sản đầu tư Nội dung của rủi ro sẽ được đề cập chi tiết hơn trong mụctiếp theo:
Chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ: Hoạt động đầu tư của các
tổ chức cá nhân là động lực phát triển kinh tế Vì vậy, để phát triển kinh tế nóichung và phát triển kinh tế vùng hay địa phương nói riêng, tùy thuộc vào từng giaiđoạn, Chính phủ sẽ đưa ra những chính sách ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư vàovùng hay địa phương đó Đổi lại, nhà đầu tư sẽ được hưởng những ưu đãi miễngiảm chi phí sử dụng đất, thuế thu nhập…
Nhu cầu của thị trường hay thị hiếu của người tiêu dùng: Hoạt động đầu
tư, đặc biệt là đầu tư thực là nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Vì vậy,trước khi đưa ra quyết định đầu tư, nhà đầu tư cần tiến hành những nghiên cứunghiêm túc, khảo sát thị trường với chi phí không phải nhỏ Điều này là rất cần thiết
để qua đó nhà đầu tư biết được nhu cầu hiện tại và những xu hướng tiêu dùng trongtương lai để đáp ứng tốt hơn các nhu cầu này Có đáp ứng được nhu cầu của thịtrường thì nhà đầu tư mới đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình
1.1.3 Tỷ suất sinh lợi và rủi ro trong hoạt động đầu tư:
Tỷ suất sinh lợi:
Tỷ suất sinh lợi của một tài sản đầu tư là tổng các khoản thu nhập hoặc lỗ củanhà đầu tư trong một thời kỳ Nếu ký hiệu:
Pt - Po + Ct
r =
Po
Trang 5Po : Giá tài sản đầu tư ở kỳ 0
Pt : Giá tài sản đầu tư ở kỳ t
Ct : Lượng tiền mặt nhận được của tài sản đầu tư từ kỳ to đến tt
r : Tỷ suất sinh lợi trong suốt kỳ t
Rủi ro trong hoạt động dầu tư:
Như đã đề cập ở phần trên, sự dao động của lợi nhuận hay tỷ suất sinh lời củacác tài sản đầu tư là yếu tố gây ra rủi ro khi tiến hành các hoạt động đầu tư Rủi rotrong hoạt động đầu tư có thể chia ra làm:
Rủi ro hệ thống: Ảnh hưởng đến giá của tất cả chứng khoán Những thay đổi
về kinh tế, chính trị, xã hội là những yếu tố gây ra rủi ro hệ thống Rủi ro hệ thống
có thể chia ra làm ba loại:
- Rủi ro thị trường: Đây là rủi ro hệ thống chỉ xảy ra với cổ phiếu Rủi ro thị
trường chính là sự dao động của giá cổ phiếu, sự thay đổi của lãi suất đầu tư đối vớinhiều loại cổ phiếu trong một thời gian ngắn mặc đù thu nhập của công ty vẫnkhông thay đổi Rủi ro thị trường xuất hiện do những phản ứng của nhà đầu tư đốivới các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội mà chủ yếu là do yếu tố tâm lý của thịtrường tạo nên phản ứng dây chuyền làm giá cả chứng khoán dao động mạnh gây rarủi ro
- Rủi ro lãi suất: Sự dao động trong mức lãi suất chung tạo ra sự dao động
trong giá thị trường và thu thập trong tương lai của chứng khoán, đó là rủi ro lãisuất Nguyên nhân chính của rủi ro này là do sự thay đổi của lãi suất trái phiếuchính phủ, dẫn đến sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của những chứng khoánkhác (cổ phiếu, trái phiếu công ty) Nói cách khác, Chính phủ vay vốn đối vớichứng khoán không rủi ro, chứng khoán chính phủ thay đổi dẫn đến sự thay đổi vềchi phí vay vốn của các chứng khoán có rủi ro
- Rủi ro sức mua: Rủi ro sức mua liên quan đến giá trị của đồng tiền, sức
mua của đồng tiền thu được từ hoạt động đầu tư Rủi ro sức mua chính là tác động
Trang 6của lạm phát đối với khoản đầu tư Để bù đắp rủi ro sức mua, nhà đầu tư phải tính
cả lạm phát vào thu nhập kỳ vọng
Rủi ro không hệ thống: Do các yếu tố như khả năng quản lý, mức độ sử dụngđòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh hay những yếu tố khác gắn với những biếnđổi trong nội tại của công ty gây ra
Rủi ro hệ thống là rủi ro của nền kinh tế vĩ mô, với loại rủi ro này chỉ có thểphòng tránh phần nào bằng những dự đoán hợp lý Rủi ro không hệ thống có thểphòng tránh bằng sự đa dạng hoá đầu tư (hình 1.1) Có thể hiểu tác dụng của đadạng hoá một cách trực quan: Đa dạng hóa có thể làm giảm thiểu đáng kể các rủi roriêng của doanh nghiệp Nguyên nhân là do nguồn rủi ro của các doanh nghiệp khácnhau sẽ độc lập với nhau Do đó các rủi ro sẽ không đồng thời xảy ra
1.1.4 Đo lường rủi ro của từng tài sản đầu tư:
Đo lường rủi ro không hệ thống:
Một trong những chỉ tiêu thống kê để đo lường sự dao động hay đo lường rủi
ro không hệ thống của một tài sản đầu tư là phương sai và độ lệch chuẩn Phươngsai được định nghĩa như là bình phương khoảng cách chênh lệch giữa tỷ suất sinhlợi thực tế và tỷ suất sinh lợi mong đợi của nhà đầu tư Độ lệch chuẩn đơn giản chỉ
Trang 7là căn bậc hai của phương sai Độ lệch chuẩn thường được ký hiệu là σ và phươngsai ký hiệu là σ2 Công thức tổng quát tính độ lệch chuẩn như sau:
r: Là tỷ suất sinh lợi trong trường hợp thứ i
r : Là tỷ suất sinh lợi mong đợi, với r được xác định như sau:
r r
Đo lường rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường):
Để đo lường sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi từng tài sản đầu tư đối với sựthay đổi của thị trường, một chỉ tiêu thống kê được sử đụng là hệ số beta (β), được), đượctính toán qua công thức sau:
s
=
Trong đó:
( , )i m
suất sinh lợi thị trường
Các tài sản đầu tư có beta lớn hơn 1 có khuynh hướng khuếch đại các thayđổi tổng thể của thị trường Nếu beta nằm giữa 0 và 1, thì tỷ suất sinh lợi của tài sảnđầu tư này có khuynh hướng di chuyển cùng hướng với tỷ suất sinh lợi của thịtrường nhưng không lệch nhiều lắm
1.1.5 Mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi (mô hình CAPM):
Trang 8Tỷ suất sinh lợi của một tài sản có mối tương quan xác định với rủi ro của tàisản đó Nghĩa là nhà đầu tư nắm giữ một tài sản có rủi ro chỉ khi tỷ suất sinh lợi củatài sản này bù đắp đủ phần rủi ro được thể hiện qua công thức sau:
r : Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro
r : Tỷ suất sinh lợi tài sản đầu tư
β), được : Hệ số bêta của tài sản đầu tư
Công thức này được gọi là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) Do tỷ suấtsinh lợi trung bình trên thị trường cao hơn lãi suất phi rủi ro tình trung bình trongmột thời kì dài nên (r m- r f) xem như dương (>0) vì vậy, công thức trên ngụ ý rằng
tỷ suất sinh lợi của một tài sản đầu tư có mối tương quan xác định với bêta của tài
sản đầu tư đó
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý danh mục đầu tư:
1.2.1 Khái quát về danh mục đầu tư:
Danh mục đầu tư là tập hợp các tài sán thực và tài sản tài chính được nắmgiữ bởi một nhà đầu tư
Để đơn giản, từ đây chúng ta quy ước gọi một danh mục đầu tư là tập hợpcác chứng khoán, mặc dù danh mục có thể bao gồm các tài sản thực, cổ phiếu, tráiphiếu và cả các hợp đồng quyền chọn, các chứng từ có giá khác
Khi xây dựng một danh mục đầu tư, nhà đầu tư phải thực hiện hai loại quyếtđịnh: Quyết định phân bổ tài sản đầu tư là sự chọn lựa phân bổ vốn vào các loại tàisản tổng quát và quyết định chọn lọc chứng khoán cụ thể là sự chọn lựa loại chứngkhoán cá biệt sẽ được đầu tư trong số các tài sản đã chọn
Danh mục khả thi: Là danh mục các chứng khoán mà một nhà đầu tư có thể nắm
giữ thông qua hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán
Trang 9Danh mục đầu tư hiệu quả: Là một danh mục khả thi mà khi nắm giữ nó, nhà đầu
tư đạt được:
Hoặc là lãi suất kỳ vọng cao nhất với cùng một mức độ rủi ro so với cácdanh mục đầu tư khác
Hoặc là có cùng lãi suất kỳ vọng với độ rủi ro nhỏ nhất
1.2.2 Quy trình quản lý danh mục đầu tư:
Nhìn chung, một quy trình quản lý danh mục đầu tư sẽ đi theo các bước cụthể như sau:
Lựa chọn các tài sản đầu tư đưa vào danh mục
Xác định mức phân bổ vốn đầu tư vào từng tài sản
Xác định hiệu quả (mức sinh lợi) và mức độ rủi ro của danh mục từ các tài sản
và tỷ trọng vốn vào từng tài sản đã được lựa chọn
Điều chỉnh danh mục khi có những tác động bất lợi của thị trường
1.2.3 Các chiến lược quản lý danh mục đầu tư:
Các chiến lược quản lý có thể kể đến gồm có hai dạng chính: Quản lý thụđộng và quán lý chủ động
Quản lý thụ động: Gắn với việc mua và giữ chứng khoán trong một thờigian dài Chỉ điều chỉnh chút ít và hạn hữu trong suốt thời gian nắm giữ nó Việcquản lý danh mục đầu tư theo chiến lược thụ động phù hợp với hai điều kiện cầnthỏa mãn của thị trường chứng khoán là: Thị trường hiệu quả và tính đồng nhất củacác dự tính Nếu thị trường chứng khoán hiệu quả thì các chứng khoán sẽ luôn đượcđịnh giá một cách hợp lý Sẽ không có các chứng khoán bị đánh giá sai và vì vậykhông có động lực kích thích hình thức buôn bán chứng khoán chủ động Mặt khác,nếu trong thị trường chứng khoán, tất cả các nhà đầu tư đều có các dự tính thốngnhất về tỷ lệ rủi ro và thu nhập chứng khoán, dẫn đến việc nhất trí quan điểm vềdanh mục vốn đầu tư thị trường, về đường thị trường vốn, thị trường chứng khoán,thì lại một lần nữa không khuyến khích hình thức buôn bán chứng khoán chủ động
Và đầu tư kiểu này còn được gọi là đầu tư chứng khoán dài hạn
Trang 10 Quản lý chủ động: Gắn liền với những điều chỉnh thường xuyên và đôi khi
là cơ bản đối với danh mục đầu tư Những nhà đầu tư quản lý theo kiểu chủ độngtin rằng không thể tồn tại một danh mục đầu tư hiệu quả mãi và thị trường chứngkhoán cũng vậy Các chứng khoán trên thị trường có thể bị đánh giá sai Khi đó,việc mua vào các chứng khoán này sẽ tạo cho họ một lợi nhuận siêu ngạch Nóicách khác, người quản lý chủ động có những dự tính không đồng nhất về thu nhập
và rủi ro của các chứng khoán Họ tin rằng với biến động của thị trường, luôn luôn
có những chứng khoán tốt hơn chứng khoán mà họ đang giữ bởi họ có cách xácđịnh tốt hơn những người khác về thu nhập và rủi ro của các chứng khoán trongthực tế Việc sử dụng cách xác định tốt hơn để tạo ra lợi nhuận siêu ngạch cho mìnhgọi là kiểu đầu tư thiên về ngắn hạn (hay còn gọi là đầu cơ)
Như chúng ta đã biết, sự đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ giảm thiểu đượcrủi ro Vì vậy, nếu một người xây dựng một danh mục đầu tư có quá nhiều chứngkhoán sẽ làm cho anh ta cảm thấy rất khó khăn trong việc quản lý nó ngay cả đốivới một danh mục bị động Người ta phải chia danh mục tổng thể ra theo các loại tàisản thông thường như cổ phiếu, trái phiếu và sẽ được quản lý riêng theo mức độthích hợp với các chiến lược của từng loại Mỗi danh mục nhỏ chỉ bao gồm tráiphiếu chẳng hạn có thể được quản lý chủ động hoặc bị động Và sau khi kết hợp cácdanh mục nhỏ lại người ta sẽ có một danh mục tổng thể sao cho hàm hiệu dụng của
nó luôn đạt mức tối ưu
1.2.4 Lý thuyết danh mục đầu tư của Harry Markowitz:
1.2.4.1 Lý thuyết đa dạng hóa:
Những lý thuyết cổ điển về đa dạng hóa chứng khoán người ta cho đó là việcnắm giữ một số loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) của các ngành khác nhau(các ngành phục vụ công cộng, sản xuất, khai thác, chế biến…) Việc nắm giữ nhiềuloại chứng khoán như vậy sẽ làm phân tán và tối thiểu hóa rủi ro do các khác biệt vềbản chất của thành phần các cổ phiếu vốn, cộng với nhận thức cho rằng đầu tư vào
Trang 11các doanh nghiệp ở những ngành khác nhau mỗi ngành một cổ phiếu, sẽ có kết quảtốt hơn so với đầu tư tất cả vào các doanh nghiệp trong cùng một ngành.
Đa dạng hóa giản đơn:
Đa dạng hóa giản đơn là việc kết hợp hóa một cách ngẫu nhiên một số chứngkhoán với quyền số bằng nhau nhằm giảm rủi ro có thể đa dạng hóa (theo một sốnghiên cứu thì số chứng khoán kết hợp ngẫu nhiên này chỉ từ 10-15 cổ phiếu làđược) Mặc dù đa dạng hóa được phân tích với các quá trình chọn lựa ngẫu nhiên vàquyền số bằng nhau là một kỹ thuật sơ đẳng, tuy vậy các kỹ thuật sơ đẳng nàykhông làm mất khả năng hạ thấp rủi ro trong một danh mục đa dạng hóa (trung bìnhkhoảng 15 tài sản thì giảm được ½ rủi ro)
Đa dạng hóa giữa các ngành:
Một số nhà đầu tư khuyên nên chọn các chứng khoán từ các ngành khácnhau để đạt được sự đa dạng hóa tốt nhất Tuy nhiên những nghiên cứu thực tế lạicho thấy việc đa dạng hóa giữa các ngành không tốt hơn nhiều so với việc lựa chọnngẫu nhiên do lợi nhuận từ chứng khoán ở các ngành đều có mối tương quan lớnvới nhau, cùng lên hoặc cùng xuống, do đó không thể triệt tiêu bằng đa dạng hóatheo các lựa chọn chứng khoán giữa các nhà đầu tư Để khẳng định hơn nữa Lorie
và Fisher đã thống kê và đưa ra bảng kết quả như sau:
Trang 12Số cổ phiếu
trong danh
mục
Kỹ thuật đadạng hóa sửdụng
Lợi nhuậntối thiểu(%)
Lợi nhuậntối đa (%)
Lợi nhuậntrung bình(%)
Độ lệchchuẩn củalợi nhuận
Từ nhiều ngànhNgẫu nhiên
Từ nhiều ngànhNgẫu nhiên
-47-47-37-37-31-29-29
164158121121989378
13131313131313
0.220.220.210.210.200.200.19
Bảng thống kê kết quả từ các kỹ thuật đa dạng hóa khác nhau nghiên cứutrên thị trường chứng khoán NewYork Hai ông cũng đưa ra nhận xét:
Đa dạng hóa bằng cách chọn chứng khoán từ nhiều ngành không tốt hơnnhiều so với chọn ngẫu nhiên
Việc tăng số lượng chứng khoán trong danh mục lên cao thực ra không làmgiảm đáng kể rủi ro của danh mục
Như vậy, không nên đa dạng hóa quá mức danh mục đầu tư, thông thường từ10-15 tài sản khác nhau cho một danh mục đã đảm bảo hạ thấp rủi ro theo các đadạng hóa giản đơn Nếu đa dạng hóa quá mức, đầu tư vào quá nhiều chứng khoán sẽdẫn đến những bất lợi sau:
Không có khả năng quản trị tốt danh mục: Nếu danh mục bao gồm quánhiều tài sản khác nhau thì người quản trị danh mục không thể đồng thời nắm bắthết tình hình của toàn bộ các tài sản đó
Mua phải những tài sản kém hiệu quả: Việc tìm kiếm để mua quá nhiều tàisản khác nhau sẽ dẫn đến việc mua phải những tài sản thiếu thông tin, do đó sẽkhông mang lại lợi nhuận tương xứng với rủi ro phải gánh chịu
Trang 13 Chi phí tìm kiếm cao: Khi số lượng chứng khoán dự trù của danh mục đầu
tư gia tăng, cổ phiếu cần thiết cho việc phân tích cũng tăng theo
Cổ phiếu giao dịch cao: Việc mua bán thay đổi thường xuyên những sốlượng nhỏ cổ phiếu sẽ tốn kém nhiều tiền hoa hồng cho người môi giới
Nói chung, việc đa dạng hóa quá mức một danh mục đầu tư không nhữngkhông tốt hơn mà còn làm tăng chi phí quản lý danh mục, đưa đến kết quả là sẽ hạthấp mức lợi nhuận cuối cùng của các chủ sở hữu
1.2.4.2 Lý thuyết Markowitz:
Giới thiệu:
Harry Markowitz được coi là người đi tiên phong nghiên cứu quản lý danhmục đầu tư hiện đại Chủ yếu ông đề cập đến việc đa dạng hóa và phân tán rủi rodanh mục đầu tư trên cơ sở lựa chọn một số chứng khoán không tương quan hoặctương quan yếu nhằm hạn chế rủi ro toàn cục của danh mục đầu tư Nhiều thế hệđộc giả sau đó đã phát triển thêm các lý thuyết bổ sung, nhưng về cơ bản đều lấynền tảng là lý thuyết do Markowitz khởi xướng
Kết quả của việc kết hợp những chứng khoán với nhau:
Mặc dù việc đầu tư vào hai loại chứng khoán chắc chắn ít rủi ro hơn với việcchỉ đầu tư vào một trong hai loại đó, liệu có thể giảm thiểu rủi ro của danh mục đầu
tư bằng cách kết hợp trong nó một chứng khoán mà rủi ro của nó lớn hơn rủi ro củabất kỳ khoản đầu tư ban đầu hay không? Thí dụ: Có hai loại cổ phiếu X và Y, và Yrủi ro hơn X rất nhiều Một danh mục đầu tư bao gồm một số cổ phiếu X và một số
cổ phiếu Y sẽ ít rủi ro hơn danh mục chỉ bao gồm cổ phiếu X là tài sản có tính rủi rokém hơn giả sử có các cổ phiếu dưới đây về cổ phiếu X và Y
Trang 14Cổ phiếu X Cổ phiếu Y
Lợi nhuận
Xác suất
Lợi nhuận dự kiến
Hệ số biến thiên (%)
13% hoặc 5%
50% mỗi mức lợi nhuận9% **
164
* Lợi nhuận dự kiến = 0,5 x 7% + 0,5 x 11% = 9%
** Lợi nhuận dự kiến = 0,5 x 13% + 0,5 x 5% = 9%
Mặc dù X và Y đều có lợi nhuận dự kiến là 9%, Y vẫn có tính rủi ro hơn X(độ lệch chuẩn là 4 so với 2) Giả sử khi lợi nhuận của X cao thì lợi nhuận của Ythấp, và ngược lại Nói cách khác, khi lợi nhuận của X là 7% Lợi nhuận của Y là13% Hỏi liệu danh mục bao gồm một số X và một số Y có ưu việt hơn chút nào đó
so với chỉ đầu tư vào X không? (X là cổ phiếu có tính rủi ro thấp hơn)
Chúng ta hãy xây dựng một danh mục bao gồm 2/3 là cổ phiếu X và 1/3 là
cổ phiếu Y Lợi nhuận bình quân của danh mục này chính là lợi nhuận bình quângia quyền của từng loại chứng khoán trong danh mục là:
n
i=1
Với: Wi là tỷ trọng của chứng khoán i trong tổng giá trị của danh mục, E(ri)
là lợi suất kỳ vọng của chứng khoán i, E(rp) thực chất là bình quân gia quyền củacác mức lợi suất của các chứng khoán trong danh mục
Vậy, trong thí dụ trên E(rp) là:
E(rp) = 2/3 x 9% + 1/3 x 9% = 9%
Nhưng phạm vi dao động của danh mục đầu tư là bao nhiêu? Trong các kỳ
mà X là kết quả tốt, chúng ta có E(rp) = 2/3 x 11% + 1/3 x 5% = 9%; tương tự, khi
Y đạt kết quả cao, E(rp) = 2/3 x 7% + 1/3 x 13% = 9% Vậy, bằng việc đầu tư mộtphần tiền và cổ phiếu có tính rủi ro hơn, Y, chúng ta có thể giảm đáng kể rủi ro so
Trang 15với khi chúng ta dồn toàn bộ vào cổ phiếu X, lợi nhuận dự kiến sẽ là 9%, lợi nhuận
dự kiến này thực ra là 7% ở những kỳ khó khăn và là 11% ở những kỳ thuận lợi Độlệch chuẩn là 2% Đầu tư theo tỷ lệ 2/3 cổ phiếu X là 1/3 cổ phiếu Y Lợi nhuận dựkiến và lợi nhuận thực hiện của chúng sẽ luôn luôn là 9%, với độ lệch chuẩn là 0.Chúng ta khó có thể mong chờ việc đạt được lợi nhuận dự kiến tương tự mà rủi rothấp hơn
Việc giảm rủi ro của một danh mục bằng cách pha lẫn vào danh mục mộtloại chứng khoán mà rủi ro của nó lớn hơn rủi ro của bất kỳ chứng khoán nào đượcđầu tư từ đầu hàm ý là: Quá trình làm giảm tính rủi ro của danh mục chỉ bằng cáchbiết được tính rủi ro của các chứng khoán cá thể là không thể được Điều quan trọng
là chúng ta cũng phải hiểu rõ tác động qua lại của rủi ro giữa các chứng khoán vớinhau
Làm thế nào để đạt đến các tỷ lệ thích hợp của cổ phiếu X và Y để làm giảmrủi ro xuống còn 0 Việc tìm ra hai chứng khoán mà thị trường kia có khuynh hướngxấu thì càng chắc chắn lợi nhuận hợp lý đối với danh mục nói chung, cho dù mộttrong các thành phần của nó thật sự có rủi ro
Nghiên cứu rủi ro của danh mục:
Rủi ro liên quan với các chứng khoán cá biệt có thể đo lường bằng độ lệchchuẩn hoặc hệ số biến thiên Khi kết hợp hai chứng khoán, chúng ta cần xem xét tácđộng qua lại giữa các rủi ro chung, gọi là hiệp phương sai (covariance) Nếu lợinhuận của hai chứng khoán vận động cùng chiều, hiệp phương sai của chúngdương Nếu lợi nhuận của chúng độc lập với nhau hiệp phương sai của chúng là 0
và vận động nghịch chiều sẽ có hiệp phương sai âm Biểu diễn bằng phương trình
toán học thì hiệp phương sai là:
COVxy : Hiệp phương sai giữa X và Y
Rx : Lợi nhuận của chứng khoán X
Trang 16Ry : Lợi nhuận của chứng khoán Y.
R : Lợi nhuận dự kiến của chứng khoán Y
n : Số lượng quan sát
Chuẩn hóa hiệp phương sai bởi những độ lệch chuẩn riêng lẽ sẽ mang lại hệsố tương quan (rxy) Hệ số tương quan này chỉ có thể thay đổi trong khoản từ -1 đến+ 1 Giá trị +1 có thể nhấn mạnh mối quan hệ tuyến tính xác định giữa và Rx và Ry ,nghĩa là tỷ suất sinh lợi với hai cổ phiếu cùng thay đổi trong một kiểu tuyến tính xácđịnh hoàn toàn Giá trị -1 có thể nhấn mạnh mối quan hệ phủ định hoàn toàn giữahai chuỗi tỷ suất sinh lợi Như khi tỷ suất sinh lợi một cổ phiếu cao hơn mức trungbình, tỷ suất sinh lợi của những cổ phiếu khác sẽ thấp hơn mức trung bình bằng mộtsố lượng lớn Hệ số tương quan được tính toán như sau:
COV xy xy
xy
r
Với :
rxy: Hệ số tương quan của X và Y
COVxy : Tương quan biến thiên giữa X và Y
σx : Độ lệch chuẩn của X
σy :Độ lệch chuẩn của Y
Trong thí dụ nêu ở phần trên, hệ số tương quan là:
rxy = -8 / [2 x 4] = -1Vậy hai chứng khoán X và Y có tương quan phủ định hoàn toàn
Hiệu quả của danh mục đầu tư trong trường hợp 2 chứng khoán:
Chúng ta đã thấy hiệu quả của sự đa dạng hóa làm giảm rủi ro Điều cốt lõikhông phải là 2 cổ phiếu mang lại gấp hai lần hơn so với một mà là do đầu tư vàonhững chứng khoán có tương quan âm hay thấp, chúng ta có thể giảm bớt rủi ro Lýthuyết đa dạng hóa hiệu quả của Markowitz bao gồm sự kết hợp các chứng khoánvới tương quan âm nhằm giảm rủi ro của danh mục mà không phải hy sinh bất kỳ
Trang 17khoản lợi nhuận nào của danh mục Nói chung, tương quan giữa các chứng khoántrong danh mục càng thấp thì danh mục càng ít rủi ro Điều này đúng cho dù các cổphiếu của danh mục rất rủi ro khi đứng riêng biệt Vấn đề không phải đầu tư thậtnhiều chứng khoán mà là đầu tư vào những chứng khoán thích hợp.
Công thức tính độ lệch chuẩn giữa các chứng khoán (để đơn giản xin trìnhbày công thức tính phương sai _ bình phương của độ lệch chuẩn) của một danh mụcnhư sau:
s : Độ lệch chuẩn của danh mục
p
s : Độ lệch chuẩn của cổ phiếu i
wi : Tỷ trọng đầu tư vào cổ phiếu i trong danh mục đầu tư
Covij : Hiệp phương sai của hai cổ phiếu
Chúng ta có thể thấy rằng, rủi ro danh mục (sp) nhạy cảm với tỷ lệ đầu tưdành cho mỗi cổ phiếu, độ lệch chuẩn của từng loại cổ phiếu và tương quan biếnthiên giữa hai loại cổ phiếu trong danh mục Với công thức trên nếu chứng khoán i
và j độc lập nhau, tức rij = 0 thì COVij = 0 lúc đó 2 2 2
Trang 18Trường hợp danh mục bao gồm N chứng khoán với các tỷ trọng đầu tư nhưnhau vào từng chứng khoán Các chứng khoán này có phương sai như nhau kí hiệu
σ2, tất cả hiệp phương sai đều giống nhau, kí hiệu là COV, phương sai của danhmục sẽ là :
2 p
s = 1/N σ2 + (1- 1/N) COVNếu số lượng chứng khoán trong danh mục tăng lên (N -> ∞) thì phương saidanh mục chỉ còn lại s2p = COV
Điều này đưa đến một kết luận quan trọng là có thể loại trừ hoàn toàn các rủi
ro không hệ thống bằng cách nắm giữ một số lượng lớn chứng khoán, lúc này rủi rocủa danh mục chỉ còn lại là rủi ro thị trường
1.2.4.3 Xây dựng mô hình danh mục đầu tư theo Harry Markowitz:
Để giảm thiểu rủi ro cho khoản đầu tư vào thị trường chứng khoán, hoạtđộng đầu tiên và quan trọng nhất của việc quản lý danh mục đầu tư là phải xâydựng một danh mục đầu tư hiệu quả Chúng ta cần làm rõ một số giả định chungcủa lý thuyết danh mục của Harry Markowitz:
(1) Các nhà đầu tư xem mỗi khoản đầu tư khác nhau được đại diện cho một sự phânphối xác suất của tỷ suất sinh lợi mong đợi lên một vài thời kỳ nắm giữ
(2) Các nhà đầu tư luôn muốn tối đa hóa lợi ích mong đợi trong một thời kỳ nhấtđịnh và đường cong hữu dụng của họ chứng tỏ việc thu nhỏ mức hữu dụng biên tếcủa sự giàu có
(3) Các nhà đầu tư đánh giá rủi ro của danh mục đầu tư dựa trên cơ sở phương saicủa tỷ suất sinh lợi mong đợi
(4) Các nhà đầu tư căn cứ trên những quyết định độc lập của tỷ suất sinh lợi và rủi
ro mong đợi, vì vậy đường cong hữu dụng của họ là một phương trình của tỷ suấtsinh lợi và phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi
(5) Với một mức độ rủi ro cho trước, các nhà đầu tư ưa thích tỷ suất sinh lợi caohơn là một tỷ suất sinh lợi thấp Tương tự, với một mức độ tỷ suất sinh lợi mong đợicho trước, các nhà đầu tư thích ít rủi ro hơn là nhiều rủi ro
Trang 19Với những giả định này, một tài sản riêng lẻ hay danh mục của những tài sảnđược xem như có hiệu quả nếu không có tài sản nào khác hoặc danh mục của nhữngtài sản đem lại tỷ suất sinh lợi mong đợi cao hơn với cùng mức độ (hoặc ít) rủi ro,hoặc ít rủi ro hơn với cùng hoặc cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi Các giả thiếttrên của mô hình không đúng trong thực tế, chúng được đặt ra để đơn giản hóa lýthuyết xây dựng mô hình Mô hình được chấp nhận hay không tùy thuộc vào việc
áp dụng mô hình đó cho kết quả phù hợp với thực tế đến mức nào
Dựa trên các giả thiết đó, có thể lập mô hình để giải quyết việc xây dựngdanh mục đầu tư hiệu quả gồm một trong 2 bài toán sau:
Bài toán thuận: Với giá trị tỷ suất sinh lợi kỳ vọng xác định, tìm quyền số cácchứng khoán của danh mục đầu tư sao cho phương sai của nó s2p nhỏ nhất
Bài toán nghịch: Với giá trị s2p xác định, tìm quyền số các chứng khoán của danhmục đầu tư sao cho rp cực đại
Mô hình trên xem lãi suất kỳ vọng là thu nhập và phương sai của nó là thước
đo duy nhất rủi ro một danh mục đầu tư, nên còn được gọi là mô hình phân tíchphương sai – lãi suất kỳ vọng
1.3 Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư tại các công ty bảo hiểm:
1.3.1 Sự cần thiết của hoạt động đầu tư tại các công ty bảo hiểm:
Ngành kinh doanh bảo hiểm không giống như các ngành sản xuất kinh doanhkhác Khi một hợp đồng bảo hiểm được ký kết, nhà kinh doanh bảo hiểm tiến hànhthu phí trước của khách hàng Sau đó bằng sự cam kết của mình thông qua hợpđồng bảo hiểm – các công ty sẽ thực hiện trách nhiệm đối với khách hàng Chính vì
lẽ ấy người ta gọi kinh doanh bảo hiểm có “chu trình sản xuất ngược” Nói cáchkhác, cùng với hoạt động kinh doanh chính là bảo hiểm thì các công ty bảo hiểmluôn phải quản lý một nguồn vốn lớn và ổn định Đây là nguồn gốc hình thànhnguồn vốn nhàn rỗi hay còn gọi là các quỹ dự phòng nghiệp vụ trong các công tybảo hiểm Pháp luật cho phép công ty bảo hiểm sử dụng nguồn dự phòng này để
Trang 20đầu tư Việc đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp bảo hiểm vừa là quyềnlợi đồng thời là trách nhiệm của các công ty bảo hiểm.
Trong nền kinh tế thị trường, đầu tư nguồn vốn là sự cần thiết và có tầmquan trọng đặc biệt, không chỉ đối với sự tồn tại và phát triển của một công ty bảohiểm, bới nó không chỉ mang lại lợi ích cho chính các công ty bảo hiểm mà cònmang lại lợi ích cho sự phát triển của nền kinh tế
Đối với công ty bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT), mục đích của thiết lập cácquỹ dự phòng kỹ thuật (technical reserve) đối với công ty bảo hiểm không phảihoàn toàn nhằm vào việc đầu tư kiếm lời, mà để đảm bảo duy trì khả năng thanhtoán thường xuyên cho công ty bảo hiểm Tuy nhiên, quỹ dự phòng bản chất lànguồn vốn nhàn rỗi nên sẽ được công ty bảo hiểm thực hiện đầu tư vào các lĩnh vựckhác nhau để đạt mục tiêu sinh lợi mà công ty đã đề ra Thu nhập từ hoạt động đầu
tư quỹ dự phòng sẽ giúp công ty bảo hiểm tăng cường khả năng thanh toán và bảovệ tốt nhất quyền lợi của những người được bảo hiểm Mặt khác, cho phép công tybảo hiểm bù đắp được các khoản chi phí bồi thường, chi phí quản lý, và đảm bảo lợinhuận kinh doanh Từ đó tạo điều kiện cho công ty bảo hiểm tăng cường khả năngcạnh tranh của mình và tăng năng lực ký kết hợp đồng bảo hiểm
Đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ (BHNT), khi tính phí sản phẩm bảohiểm nhân thọ, công ty bảo hiểm đã cho khách hàng hưởng trước một mức lãi suấtnhất định, chính là lãi suất kỹ thuật Vì vậy, sau khi thu phí, công ty bảo hiểm phảithực hiện đầu tư ngay số phí bảo hiểm với tỷ suất sinh lời thực tế phải tối thiểu bằngvới lãi suất kỹ thuật thì các công ty BHNT mới đủ khả năng chi trả cho khách hàngtrong tương lai Vì vậy hoạt động đầu tư là hoạt động sống còn của các công tyBHNT và hoạt động này vừa phải đảm bảo tính an toàn đồng thời phải mang lạihiệu quả cao để có thể trang trãi cho các chi phí khá lớn của công ty Nếu kết quảđầu tư tốt, công ty BHNT sẽ có đủ điều kiện để đảm bảo thực hiện đầy đủ các camkết, đồng thời có thể chia lại cho người được bảo hiểm một phần kết quả phụ trộithông qua các điều khoản lãi chi thêm trên hợp đồng bảo hiểm Điều này sẽ gópphần làm tăng tính hấp dẫn cho các sản phẩm bảo hiểm của công ty
Trang 21Theo xu hướng, kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm không phải là lợinhuận hoạt động này mang lại, mà chủ yếu là do kết quả của hoạt động đầu tư tàichính Trong tình hình kinh doanh cạnh tranh ngày càng gay gắt, công ty nào sửdụng đồng vốn có hiệu quả và đạt được mức sinh lời cao nhất sẽ có ảnh hưởng tíchcực đến kết quả hoạt động kinh doanh của toàn công ty Kết quả này đảm bảo chocông ty có lợi nhuận để trích đủ các quỹ dự phòng nghiệp vụ, dự trữ tài chính theoquy định của pháp luật và đảm bảo cơ sở cho việc cho việc phát triển kinh doanhcủa công ty.
1.3.2 Vai trò đầu tư quỹ bảo hiểm:
Ở các nước phát triển, quỹ bảo hiểm được dùng vào hoạt động đầu tư rất lớn,đóng một vai trò quan trọng, biểu hiện cho sự tích trữ của nền kinh tế quốc gia vàcác công ty bảo hiểm tham gia vào thị trường tài chính với tư cách là những cơ quanđầu tư chuyên nghiệp chi phối thị trường đầu tư một cách mạnh mẽ
Đầu tư bảo hiểm thể hiện được hai vai trò:
Thứ nhất, đảm bảo mang lại lợi nhuận cho các công ty bảo hiểm: Sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật đã kéo theo sự xuất hiện hàng loạt các rủi ro bảo hiểm vớimức độ tổn thất ngày càng gia tăng: Bảo hiểm hàng không, bảo hiểm thiết bị điện
tử, kĩ thuật dầu khí… bên cạnh đó sự cạnh tranh ngày càng gay gắt (giảm phí) củacác công ty bảo hiểm và chi phí quản lý tăng cao đã làm cho lợi nhuận thuần từ hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm sa sút dần Tuy nhiên nhờ vào lợi nhuận thu được từ đầu
tư mà tổng lợi nhuận của công ty bảo hiểm không bị giảm mà đôi khi có phần tăngtrưởng
Thứ hai, đảm bảo được lợi ích của người tham gia bảo hiểm: Lợi nhuậnthu được từ hoạt động đầu tư sẽ góp phần làm giảm phí bảo hiểm Đặc biệt đối vớiBHNT, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư sẽ được chia cho người tham gia bảo hiểm.Như vậy lợi nhuận của người được bảo hiểm sẽ gia tăng theo lợi nhuận đầu tư
1.3.3 Các nguyên tắc trong đầu tư quỹ bảo hiểm:
Trang 22Hoạt động đầu tư của bảo hiểm nói chung đều phải tuân theo những nguyêntắc cơ bản sau:
1.3.3.1 Nguyên tắc an toàn:
Nguyên tắc này được đặt ra nhằm hạn chế tối đa rủi ro trong đầu tư, bảotoàn, tăng trưởng nguồn vốn sử dụng Hoạt động đầu tư của nhà bảo hiểm cũnggiống như bất kỳ hoạt động đầu tư nào, luôn đứng trước những rủi ro đầu tư sau:
a Rủi ro lãi suất: Rủi ro này xuất phát từ chỗ giá trị của các khoản đầu tư
có lãi suất cố định chịu sự biến động khi lãi suất trên thị trường thay đổi và tỷ suấtthu hồi thực (tức là lãi suất đã điều chỉnh theo lạm phát) có thể biến đổi một cáchtương tự
b Rủi ro tín dụng: Rủi ro này xảy ra khi bên vay vốn của nhà bảo hiểm bị
phá sản hay tái cơ cấu tổ chức, khiến họ không thể trả lại tiền đầu tư cho nhà bảohiểm như đã cam kết
c Rủi ro thị trường: Rủi ro này xuất phát từ sự thay đổi của thị trường
thuộc lĩnh vực mà nhà bảo hiểm đầu tư
d Rủi ro tiền tệ: Tỷ giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ luôn thay đổi
làm cho giá trị của các khoản đầu tư thông qua đồng ngoại tệ sẽ thay đổi theo
Việc đảm bảo nguyên tắc đầu tư vốn an toàn là rất quan trọng đối với doanhnghiệp bảo hiểm (DNBH), nó đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện các cam kết vớikhách hàng trong các hợp đồng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Nguyên tắc an toàncủa các khoản mục đầu tư được pháp luật thể chế bằng việc quy định danh mục đầu
tư với những lĩnh vực có mức độ rủi ro đầu tư thấp Ngoài ra, nguyên tắc này yêucầu DNBH phải đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình Nguyên tắc phân tán rủi rokhông chỉ áp dụng đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm trực tiếp mà mỗi danhmục đều mang trong mình những yếu tố rủi ro riêng Do đó để phân tán rủi ro, cáchtốt nhất là đặt vốn vào nhiều danh mục khác nhau Các hạng mục đầu tư phải đượctiến hành với những công ty được quản lý tốt, hoặc tránh đi những lĩnh vực đầu tư
có tính chất đầu cơ cao hoặc những công việc kinh doanh mạo hiểm vì nếu thất bạithì hậu quả đối với DNBH là rất lớn
Trang 231.3.3.2 Nguyên tắc sinh lợi:
Hoạt động đầu tư phải đảm bảo tạo ra lợi nhuận Đây là yêu cầu tất yếu củahoạt động đầu tư và quyết định đến sự tồn vong của từng DNBH, bởi vì suy chocùng mọi sự đầu tư vốn cũng nhằm tối đa hóa lợi nhuận Với mức phí thu được củangười tham gia bảo hiểm, DNBH đã nắm giữ được một nguồn tài chính dồi dào Docòn phải thực hiện cam kết chia lãi cho người tham gia bảo hiểm, DNBH phải thựchiện hoạt động đầu tư trên nhiều lĩnh vực nhằm tối đa hóa lợi nhuận để tăng khảnăng đền bù, giảm phí đối với người tham gia làm cho sản phẩm bảo hiểm ngàycàng hấp dẫn hơn
Lợi nhuận rất cần thiết để đảm bảo cho nhà bảo hiểm tăng cường sức mạnhtài chính, thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp như mở rộng phạm vi kinhdoanh bảo hiểm, tăng tính cạnh tranh đảm bảo quyền lợi của khách hàng,… Do đó,nhà bảo hiểm cần đầu tư vào những lĩnh vực đem lại mức lợi nhuận hợp lý, đồngthời đảm bảo nguyên tắc an toàn Bởi vì theo nguyên lý đầu tư: Khi rủi ro càng cao,
tỷ suất sinh lợi cũng càng cao và ngược lại
1.3.3.3 Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, kịp thời:
Việc đầu tư của công ty bảo hiểm phải đảm bảo có tính thanh khoản hợp lý.Nhà bảo hiểm có thể phải thanh toán tiền cho người được bảo hiểm bất kỳ lúc nàokhi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Do đó, các lĩnh vực đầu tư phải phù hợp với từngloại quỹ – đầu tư dài hạn hay ngằn hạn Tính thanh khoản của các khoản mục đầu tưcủa nhà bảo hiểm được pháp luật thể chế bằng việc quy định danh mục đầu tư vớinhững tỷ lệ nhất định
Trong thực tế, việc đồng thời thực hiện các nguyên tắc trên đối với công tybảo hiểm là một vấn đề rất phức tạp và mâu thuẫn với nhau Khi công ty bảo hiểmthực hiện nguyên tắc an toàn, thì khả năng sinh lời của khoản đầu tư bị giảm xuống.Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến nguyên tắc sinh lời, rủi ro đầu tư sẽ tăng lên, ảnhhưởng đến khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm Ngoài ra, các nguyên tắc đầu
tư cần được áp dụng linh hoạt tùy thuộc vốn đầu tư được hình thành từ nguồn nào
So với hoạt động đầu tư từ các nguồn vốn nợ (như vốn điều lệ), hoạt động đầu tư từ
Trang 24các nguồn vốn có (như các quỹ dự phòng nghiệp vụ) phải tuân thủ các nguyên tắctrên là hết sức nghiêm ngặt Bởi vì đây không phải là tiền của nhà bảo hiểm mà làcác khoản nợ của doanh nghiệp đối với khách hàng.
1.3.4 Quy định về danh mục đầu tư của công ty bảo hiểm:
Công ty bảo hiểm sẽ đầu tư các quỹ dự phòng kỹ thuật vào các tài sản khácnhau Nói chung, các tài sản được công ty bảo hiểm đầu tư là những tài sản manglại thu nhập bằng tiền Tuy nhiên, không phải công ty bảo hiểm có thể đầu tư vàomọi loại tài sản mà chỉ những tài sản đầu tư nào có đặc tính sinh lợi đáp ứng đượcnhững nguyên tắc theo luật định, cho phép công ty bảo hiểm thực hiện tốt nhất cáccam kết của mình với người được bảo hiểm
Để đảm bảo các công ty bảo hiểm thực hiện tốt nhất các nghĩa vụ với ngườiđược bảo hiểm, nhìn chung luật pháp ở các nước đã giới hạn danh mục tài sản đầu
tư vốn từ các quỹ dự phòng kỹ thuật của công ty bảo hiểm, bao gồm:
Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng để thanh toán thường xuyên cho khách hàng
Các loại chứng khoán và những giấy tờ có nguồn gốc chứng khoán Đây là hìnhthức đầu tư chủ yếu của các công ty bảo hiểm Ở nhiều nước tỷ lệ này có thể lênđến 80% trong tổng vốn đầu tư công ty bảo hiểm Tuy nhiên, chứng khoán chỉ lànhững giấy tờ có giá chứ không phải là các tài sản thực, quá trình lưu thông của nóđược vận hành đặc biệt, để đảm bảo an toàn công ty bảo hiểm chỉ được đầu tư vàonhững chứng khoán đã được đăng ký trên thị trường chứng khoán
Trái phiếu là hình thức đầu tư chủ yếu, trong đó trái phiếu chính phủ(TPCP) phải được ưu tiên hàng đầu, vì tính an toàn cao và lại có lãi Vì vậy không
có giới hạn trong hình thức đầu tư này Tại nhiều nước, do cần khuyến khích ưu tiêntài trợ cho khu vực nhà nước, họ đã áp dụng miễn thuế lợi tức cho khoản thu nhập
từ đầu tư trái phiếu Trái phiếu công ty, do tính an toàn tương đối cao nên cũngđược các công ty bảo hiểm quan tâm Tuy nhiên phải khống chế tối đa khi đầu tưvào trái phiếu của công ty để đảm bảo an toàn
Cổ phiếu là hình thức đầu tư lớn thứ hai sau trái phiếu chính phủ, đượccông ty quan tâm bởi tính sinh lợi của nó Tuy nhiên, để tiếp cận đến thị trường này
Trang 25đòi hỏi phải có nhiều biện pháp ở tầm vĩ mô, đồng thời phải thực hiện đầu tư nhiềuloại cổ phiếu khác nhau nhằm phân tán rủi ro, đạt được sự an toàn trong đầu tư.
Đầu tư kinh doanh bất động sản: Đầu tư loại hình này là hướng tới lợi ích trongtương lai, gắn liền với chính sách quy hoạch phát triển, ổn định mới có thể giảmthiểu được những rủi ro của nó Tuy nhiên, ở nước ta do chính sách quản lý đất, tàinguyên và cơ chế quản lý chưa phù hợp, việc đầu tư vào thị trường này chưa đượcđịnh hướng rõ ràng
Cho vay: Công ty bảo hiểm có thể cho các chủ thể vay, nhưng các khoản vay nàyđược đảm bảo chắc chắn bằng tài sản thế chấp hay cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnhcủa ngân hàng hoặc là những công ty này phải có vốn tự có lớn
1.3.5 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm:
Mọi hoạt động đầu tư của các DNBH đều có mục đích lớn nhất là tối đa hóalợi nhuận của doanh nghiệp và các cổ đông vì vậy để đánh giá hiệu quả đầu tưthường thông qua các nhóm chỉ số chính gồm:
Nhóm chỉ số về tính thanh khoản:
Chỉ tiêu thanh khoản được xác định bằng cách so sánh tổng cộng nợ với tàisản có tính thanh khoản (Tiền mặt và các tài sản Có có thể huy động, có thể quy đổingay thành tiền)
Chỉ tiêu tỷ lệ đầu tư vào các công ty liên kết:
Chỉ tiêu tỷ lệ đầu tư vào các công ty liên kết tính tỷ lệ % của giá trị tài sảnđầu tư vào công ty liên kết (bao gồm vốn đầu tư và các khoản phải thu từ công tyliên kết) so với nguồn vốn, quỹ của DNBH Công ty liên kết là một đơn vị trong hệthống tổng công ty hay là một bộ phận, trực tiếp hay gián tiếp, thông qua một haynhiều tổ chức trung gian, kiểm soát, bị kiểm soát, hay nằm dưới sự kiểm soát thôngthường với công ty lập báo cáo Công ty liên kết có thể bao gồm công ty mẹ, công
Tổng cộng nợTài sản có tính thanh khoảnChỉ tiêu thanh khoản =
Trang 26ty con, công ty thành viên, công ty liên doanh và công ty trách nhiệm hữu hạn Tỷlệ đầu tư vào các công ty liên kết càng lớn thì tính thanh khoản của DNBH cànggiảm.
Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán:
Chỉ số thanh toán được tính bằng tỷ lệ giữa nguồn vốn, quỹ xác định biênkhả năng thanh toán cuả DNBH và biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy địnhhiện hành
Nguồn vốn quỹ để xác định biên khả năng thanh toán là nguồn vốn, quỹ trừ
đi số vốn góp vào DNBH khác và nợ không có khả năng thu hồi
Biên khả năng thanh toán tối thiểu bằng số lớn hơn giữa 25% phí bảo hiểmthực giữa lại tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán và 12.5% của tổng phí bảohiểm gốc và phí nhận tái bảo hiểm tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán
Chỉ tiêu nguồn vốn, quỹ điều chỉnh trên tổng công nợ:
Chỉ tiêu nguồn vốn, quỹ điều chỉnh trên tổng công nợ là một trong những chỉtiêu đánh giá khả năng tài chính của DNBH Nguồn vốn, quỹ điều chỉnh là giá trịnguồn vốn, quỹ của DNBH sau khi điều chỉnh giảm đối với các tài sản không cótính thanh khoản
Nhóm chỉ số lợi nhuận:
Các khoản đầu tư + các khoản phải thu từ công ty liên kết
Nguồn vốn, quỹ
Chỉ tiêu tỷ lệ đầu tư vào
Nguồn vốn quỹ xác định biên khả năng thanh toánBiên khả năng thanh toán tối thiểu
Chỉ tiêu khả năng
Nguồn vốn quỹ điều chỉnhTổng công nợChỉ tiêu nguồn vốn, quỹ điều
Trang 27Chỉ số lợi nhuận là chỉ tiêu tổng quát nhất cho biết kết quả hoạt động củaDNBH (bao gồm cả kết quả hoạt động đầu tư tài chính).
Nhóm chỉ số về khả năng sinh lãi:
Tỷ số chủ yếu hay tỷ số thường được dùng nhất là tỷ số lợi nhuận trên vốn đã
sử dụng (ROCE) Tỷ số này tính bằng công thức:
Những tỷ số lợi nhuận phổ biến khác gồm:
Lợi nhuận (bao gồm lợi nhuận từ đầu tư)Doanh thu phí BH thuần + doanh thu hoạt động tài chínhChỉ số lợi nhuận =
Tỷ số lợi nhuận trên vốn đã
Tỷ lệ lãi gộp
=
Trang 28Cũng sẽ hữu ích nếu so sánh khuynh hướng của hai tỷ số đo lường này vớinhau vì nó sẽ giúp cho chúng ta biết các chi phí được kiểm soát như thế nào.
Nhóm chỉ số về Nợ và tỷ lệ nợ:
Tỷ số nợ thường được tính theo công thức sau :
Ý nghĩa quan trọng của tỷ số nợ là mức độ mà những người nắm giữ các cổphiếu phải chịu sự biến động lợi nhuận Tỷ số nợ càng cao thì mức độ ảnh hưởngđến giá trị của các cổ đông khi mức lợi nhuận thay đổi sẽ càng lớn Ngoài ra, mức
nợ cao cũng làm cho việc vay tương lai khó khăn hơn
1.4 Kinh nghiệm đầu tư và quản lý danh mục đầu tư của các công ty bảo hiểm
ở một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển:
1.4.l Các quy định pháp lý:
Những quy định pháp lý về đầu tư tài chính ở các nước không hoàn toàngiống nhau Nhưng xét về tổng thể, các quy định này có những đặc điểm chung sau:
Thứ nhất: Bắt buộc các công ty bảo hiểm phải thiết lập đầy đủ các quỹ dự
phòng kỹ thuật để đảm bảo tôn trọng cam kết của công ty bảo hiểm đối với ngườiđược bảo hiểm Quy định này được coi như một chỉ tiêu để đánh giá khả năng thanhtoán của các công ty bảo hiểm
Lợi nhuận ròng Doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận sau thuế Vốn cổ đông
Hệ số hoàn vốn đầu tư
Trang 29Thứ hai: Bắt buộc các công ty bảo hiểm phải thể hiện rõ các quỹ dự phòng
kỹ thuật trên báo cáo tài chính là một khoản mục riêng bên Nguồn vốn của bảngTổng kết tài sản Nguồn vốn này phải được tương thích bằng một đanh mục tài sảnđầu tư bên Tài sản Có của bảng Tổng kết tài sản
Thứ ba: Thể chế hóa các nguyên tắc đầu tư tài chính các quỹ dự phòng kỹ
thuật là: an toàn, sinh lợi mang tính thanh khoản và đa dạng hóa
Thứ tư: Quy định tỷ lệ tối đa và tối thiểu cho từng loại tài sản đầu tư đối với
việc phân bổ các quỹ dự phòng của các công ty bảo hiểm
Tùy vào đặc điểm kinh tế, tài chính và xã hội, mỗi nước có quy định vềnguyên tắc phân bổ tài sản đầu tư theo các tỷ lệ khác nhau Chúng ta có thể đẫn ra 2nước đại diện cho các nước trong khối EU là Pháp và ĐỨC
Theo Luật Bảo hiểm của Cộng hòa Pháp:
Theo Luật Bảo hiểm của Công hòa Pháp, có 5 nhóm quy định về đầu tư cácquỹ dự phòng kỹ thuật của công ty bảo hiểm:
Thứ nhất: Nguyên tắc đầu tư được quy định rõ là việc đầu tư của các công tybảo hiểm phải đảm bảo các nguyên tắc: An toàn, sinh lợi và khả năng thanh toánthường xuyên
Thứ hai: Danh mục các tài sản đầu tư mà các công ty bảo hiểm được phépđầu tư từ quỹ dự phòng kỹ thuật do Bộ Luật Bảo hiểm ấn định, bao gồm danh sáchcác giá trị động sản và các tài sản Có khác bảo đảm cho các cam kết của hợp đồngbảo hiểm Danh mục này bao gồm 5 loại chủ yếu là trái phiếu, cổ phiếu, bất độngsản, cho vay và tiền gửi Những tài sản nào không thuộc 5 loại này và không thỏamãn các nguyên tắc trên 1à những tài sản chỉ được đầu tư bằng nguồn vốn chủ sởhữu của công ty bảo hiểm
Thứ ba: Phân chia giá trị tài sản đầu tư
Giá trị kế toán của mỗi loại tài sản đầu tư được chấp nhận để bảo đảm cho cáccam kết bảo hiểm không được vượt quá tỷ lệ giá trị quỹ dự phòng kỹ thuật: 65% đối
Trang 30với cổ phiếu, 40% đối với bất động sản và 10% đối với cho vay, đầu tư vào tráiphiếu và chỉ có tiền gửi vào các tổ chức nhận tiền gửi là không hạn chế về tỷ lệ bỏvốn.
Thứ tư: Thực hiện phân tán trong từng loại tài sản đầu tư
Luật Bảo hiểm quy định các công ty bảo hiểm phải phân chia rủi ro đầu tư:Không được đầu tư quá 5% dự phòng kỹ thuật vào một tài sản đầu tư của một chủthể nào đó Chẳng hạn, không được mua quá 5% cổ phần của một công ty pháthành Công ty bảo hiểm không được đầu tư quá 10% quỹ dự phòng kỹ thuật vàomột bất động sản Đối với cổ phiếu không được niêm yết, công ty bảo hiểm chỉđược đầu tư tối đa 0.5% quỹ dự phòng
Thứ năm: Sự tương thích về đồng tiền sử dụng
Các cam kết bảo hiểm bằng một loại tiền tệ phải được bảo đảm bằng các tàisản đầu tư được ghi nhận hoặc có thể quy đổi bằng chính loại tiền tệ đó Trongtrường hợp có sự mềm dẻo trong nguyên tắc này phải được thông báo chơ co quanquản lý nhà nước về bảo hiểm
Theo Luật Giám sát các công ty bảo hiểm của CHLB Đức:
Những khía cạnh chính của các quy định về đầu tư quỹ dự phòng kỹ thuậttrong công ty bảo hiểm là:
Thứ nhất: Các quỹ dự phòng kỹ thuật của một công ty bảo hiểm phải đượcđầu tư theo cách thức bảo đảm an toàn và lợi nhuận tối đa, trong khi vẫn phải luônduy trì được tính thanh khoản thông qua việc đa dạng hóa và phân tán đầy đủ danhmục đầu tư có tính đến loại hình nghiệp vụ và cơ cấu công ty bảo hiểm
Thứ hai: Danh mục tài sản đầu tư được phép của công ty bảo hiểm bao gồm:
- Các công cụ nợ được bảo đảm bằng thế chấp bất động sản hoặc các quyền
về bất động sản
- Các công cụ nợ được thế chấp bằng tàu biển hoặc tàu đang đóng
Trang 31- Các trái phiếu vô danh đang phát hành tại một số nước thành viên EU đượcchấp nhận trao đổi chính thức trên thị trường chứng khoán.
- Các trái phiếu thế chấp, các trái phiếu địa phương
- Các trái phiếu phát hành tại một nước không phải là thành viên EU đượcchấp nhận trao đổi trên thị trường chứng khoán tại các nước EU
- Chứng chỉ nợ của Nhà nước Liên bang và các Bang
- Cổ phiếu
- Cho vay, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng
- Bất động sản, các khoản trả trước hoặc cho vay theo đơn bảo hiểm của công
ty bảo hiểm đối với chủ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
- Đầu tư khác
Thứ ba: Sự tương thích: Tương tự nguyên tắc tương thích về đồng tiền củaLuật Bảo hiểm Pháp
Thứ tư: Phân bổ vốn đầu tư:
Tỷ lệ đầu tư vốn vào danh mục đầu tư như sau:
- Tỷ lệ của các khoản đầu tư vào cổ phiếu và các quỹ chứng khoán đặc biệtkhông vượt quá 30% quỹ dự phòng kỹ thuật
- Tỷ lệ đầu tư vào bất động sản không quá 25% giá trị dự phòng kỹ thuật
- Tỷ lệ trái phiếu vô danh, trái phiếu thế chấp, trái phiếu địa phương khôngvượt quá 2.5% quỹ dự phòng kỹ thuật Nếu đầu tư kết hợp trái phiếu và cổ phiếu, tỷlệ các khoản đầu tư khống vượt quá 10% giá trị của mỗi loại quỹ dự phòng kỹ thuật
Thứ năm: Phân tán rủi ro
Toàn bộ các khoản đầu tư do cùng một người phát hành (con nợ) không vượtquá 2% giá trị quỹ dự phòng và 25% giá trị nguồn vốn chủ sở hữu của công ty bảo
Trang 32hiểm đối với một bất động sản hoặc quyền về bất động sản tương tự hoặc các quyềnlợi dự phần trong một công ty.
Những giới hạn pháp lý mà luật pháp các nước đưa ra là tối quan trọng trongviệc quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm nhằm giántiếp bảo vệ người tham gia bảo hiểm Các công ty bảo hiểm chỉ được phép đầu tưcác quỹ dự phòng kỹ thuật trong phạm vi các giới hạn pháp lý này
1.4.2 Cấu trúc đầu tư trên thị trường bảo hiểm:
Đối với các công ty bảo hiểm phi nhân thọ: Theo khảo sát thị trường bảohiểm các nước do Assurance Francaises thực hiện từ năm 1995-2003 Có thể thấy,những lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các công ty BHPNṬ ở các nước kể trên chủ yếuđược đầu tư vào các tài sản chính là cổ phiếu và trái phiếu
Trong cấu trúc đầu tư của các công ty BHPNT Châu Âu thì giá trị các khoảnvốn đầu tư vào chứng khoán chiếm trên 80% ở các năm quan sát Trong đó, Đức vàPháp là 2 quốc gia mà các công ty bảo hiểm đầu tư vốn nhiều nhất vào chứngkhoán cụ thể: CHLB Đức 95% và Pháp là 93% Trong lĩnh vực chứng khoán thì tráiphiếu là loại tài sản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn đầu tư, ngoạitrừ các công ty bảo hiểm của Anh (chỉ đầu tư khoảng 35% quỹ dự phòng kỹ thuậtvào trái phiếu)
Lượng vốn đầu tư vào tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng và các khoản đầu tưkhác chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ - từ khoảng 1% đến 3.6% giá trị vốn đầu tư củacác công ty bảo hiểm Đối với bất động sản, các công ty bảo hiểm cũng đầu tư vàomột lượng vốn bình quân khoảng 7.8%, trong đó những nước thấp là Đan Mạch, Bỉ,Đức, Hà Lan, Anh Trừ hai nước là Italia và Thụy Sỹ giá trị khoản đầu tư này củacác công ty bảo hiểm vượt quá 10%
Xét riêng cấu trúc đầu tư của các công ty bảo hiểm Pháp từ năm 1995 đến
2004 (bảng 1.2) ta thấy tỷ lệ vốn đầu tư vào cổ phiếu tăng dần từ 12.4% (năm 1995)đến 23.6% (năm 2004) Và tỷ lệ đầu tư vào bất động sản và tiền gửi ngân hàng giảmđáng kể
Trang 33Trở lại cấu trúc đầu tư của các công ty bảo hiểm Nhật Bản, cũng giống nhưcác công ty bảo hiểm Châu Âu, các lĩnh vực đầu tư ít bỏ vốn nhất của các công tybảo hiểm Nhật Bản là các bất động sản và các đầu tư khác Các lĩnh vực chủ yếucủa họ là chứng khoán, cho vay và gửi tiền tiết kiệm Tỷ trọng vốn đầu tư vào cáclĩnh vực tương đối đồng đều, cao nhất là trái phiếu (trên 50%) và thấp nhất là tiềngửi cũng đến 17% Sở dĩ đầu tư và trái phiếu ở Nhật Bản không lớn như các công tybảo hiểm ở Châu Âu vì nguồn vốn đầu tư của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ lànguồn vốn ngắn hạn, loại đầu tư thích hợp nhất là đầu tư ngắn hạn như cho vay, gửitiền, mua và bán chứng khoán Điều này lý giải cho việc các công ty bảo hiểm phinhân thọ Nhật Bản đầu tư và cho vay và gửi tiền với những tỷ lệ vốn đầu tư khá lớn.
Trang 34Bảng 1.1 Cấu trúc đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm PNT ở một số nước:
Trang 35 Đối với các công ty BHNT: Xu hướng đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ tạicác nước được thể hiện qua bảng l.3 Ta thấy:
- Chứng khoán bao gồm cổ phiếu và trái phiếu là loại tài sản mà các công tyBHNT tại các nước đầu tư nhiều nhất Tuy nhiên có sự khác nhau ở đây là nếu cáccông ty BHNT của Pháp và Nhật Bản tập trung đầu tư vào trái phiếu nhiều hơn so với
cổ phiếu thì các công ty BHNT ở Anh lại làm ngược lại tức là đầu tư vào cổ phiếunhiều hơn
- Mặc dù các công ty BHNT Nhật Bản vẫn đầu tư mạnh vào chứng khoán(chiếm hơn 70% vốn đầu tư) nhưng vẫn dành phần còn lại khoảng 30% đầu tư vào cáclĩnh vực khác như bất động sản, tiền gởi ngân hàng và các khoản đầu tư khác với cơcấu mỗi loại chiếm từ 6% đến 15% Tỷ trọng vốn đầu tư như vậy thể hiện sự phân bổđầu tư mang tính đồng đều hơn
- Các công ty BHNT ở Anh và Pháp thể hiện xu hướng thiên về chứng khoán rõrệt (hơn 80% vốn đầu tư) trong khi các khoản đầu tư cho tiền gởi ngân hàng và đầu tưkhác chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ mà biểu hiện rõ rệt nhất là các công ty BHNT Pháp,chiếm khoảng 2% đến 3%
Bảng 1.2 Cấu trúc đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm PNT ở Pháp năm 1995-2004
Năm Trái phiếu Cổ phiếu Bất động sản cho vay Tiền gửi Đầu tư khác Tổng cộng
Trang 36Như vậy, theo khảo sát chứng khoán vẫn là lựa chọn số một trong đầu tư đối với
các công ty BHNT ở các nước phát triển bởi hiệu quả sinh lợi của nó Nhưng tùy theo
tình hình biến động về kinh tế, chính trị, xã hội và các chính sách về quản lý đầu tư
trong từng thời kỳ mà các công ty BHNT có sự phân bố tỷ lệ nhiều hay ít đối với các
danh mục đầu tư còn lại như bất động sản, tiền gởi ngân hàng, đầu tư khác
Quan sát tổng thể về cấu trúc đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở các nước
phát triển, có thể nhận thấy các xu hướng chính là:
Bảng l.3 Cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ tại một số nước
- Thứ nhất, vốn đầu tư bất động sản và tiền gửi vào các tổ chức tín dụng của các công
ty bảo hiểm của các nước phát triển có xu hướng giảm mạnh, trong cấu trúc đầu tư của
các công ty bảo hiểm có thể thấy danh mục này ngày càng chiếm một tỷ trọng nhỏ
- Thứ hai, vốn đầu tư cổ phiếu và trái phiếu công ty đang có xu hướng tăng lên ở tất cả
các nước Trong mọi giai đoạn, vốn đầu tư vào trái phiếu chiếm tỷ trọng cao nhất trong
cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm ở đa số các nước
KẾT LUẬN CHƯƠNG l:
Chương 1 đã nêu một cách khá đầy đủ cách thức làm giảm thiểu rủi ro của một
danh mục đầu tư mà vẫn đảm bảo đạt được mức sinh lợi mong đợi Nếu các công ty
bảo hiểm vận dụng một cách hiệu quả lý thuyết này vào quản lý danh mục đầu tư thì có
thể làm gia tăng hiệu quả của danh mục với mức độ rủi ro có thể kiểm soát được
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004 - 2008
2.1 Thực trạng hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2008:
2004-2.1.1 Khái quát sự ra đời và phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Lịch sử ra đời và phát triển bảo hiểm ở Việt Nam có thể khái quát qua ba giaiđoạn chính:
Giai đoạn trước năm 1975:
- Tình hình hoạt động bảo hiểm ở Miền Nam:
Trước 1975, hoạt động kinh doanh bảo hiểm khá phát triển có thể thấy qua mộtsố mặt như sau: Trên 52 công ty bảo hiểm trong nước và nước ngoài Hầu hết các công
ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn, trung tâm kinh tế của Miền Nam lúc bấy giờ Cáccông ty bảo hiểm có Hiệp hội nghề nghiệp của mình nhằm thực hiện các chức năngvốn có như thông tin tư vấn, đào tạo, tạo môi trường hợp tác Bộ Tài chính quản lý cáchoạt động bảo hiểm, kiểm tra việc tuân thủ các văn bản pháp lý (Luật Bảo hiểm 1965)
- Tình hình hoạt động bảo hiểm ở Miền Bắc:
Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) ra đời theo quyết định của Thủtướng chính phủ ngày 17/12/1964, chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965 BảoViệt là công ty bảo hiểm nhà nước duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam
Do hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở Miền Bắc chưa phát triển Với haichi nhánh ở Hà Nội và Hải Phòng, Bảo Việt thực hiện chủ yếu nghiệp vụ bảo hiểmhàng hóa vận chuyển, tuy nhiên tái bảo hiểm lại cho Trung Quốc, Bắc Tiều Tiên và BaLan với tỷ lệ khá cao
Trang 38 Giai đoạn từ sau 30/04/1975 đến trước 18/12/1993:
Sau khi giải phóng Miền Nam, việc quốc hữu hóa các Công ty bảo hiểm cũ ởMiền Nam đã dẫn đến thành lập Công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam(BAVINA) Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước về mặt nhà nước, BAVINA đượcchuyển thành chi nhánh của Công ty bảo hiểm Việt Nam tại TP.HCM Như vậy, kể từnăm 1976 đến 1993, Bảo Việt là công ty bảo hiểm duy nhất của Nhà nước hoạt độngkinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kinh tế thống nhất toàn ngành.Bảo Việt trực thuộc Bộ Tài chính có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lýcông tác bảo hiểm nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước.Trong thời gian này, Bảo Việt đã nghiên cứu triển khai nhiều loại hình nghiệp vụ mớiđối nội lẫn đối ngoại tiến tới tự cân đối thu chi ngoại tệ và được nâng cấp lên thànhTổng Công ty có chi nhánh ở khắp các địa phương trên cả nước
Giai đoạn sau 18/12/1993 đến nay:
Ngày 18/12/1993, trước nhu cầu cần thiết phải đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầucủa một nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh 100/CP quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm Với quy định này, thế độcquyền nhà nước của Bảo Việt đã bị phá vỡ, các tổ chức bảo hiểm theo nhiều hình thứcpháp lý khác nhau thuộc nhiều thành phần kinh tế có thể tham gia thực hiện các nghiệp
vụ bảo hiểm ở Việt Nam Một số doanh nghiệp bảo hiểm mới đã ra đời như: Vinare,Bảo Minh, Bảo Long, PJICO, các liên doanh bảo hiểm VIA, Samsung Vina, UIC… ,các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài như Prudential, Manulife, Bảo Minh -CMG, AIA và các văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài Tuynhiên, thị trường bảo hiểm hoạt động thật sự mang tính chuyên nghiệp từ khi LuậtKinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thông qua vào 12/2000 và có hiệu lực từ01/04/2001 Sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã tạo động lực cạnh tranh,
Trang 39tạo điều kiện cho các mạng lưới trung gian bảo hiểm ra đời góp phần khai thác thịtrường bảo hiểm Việt Nam một cách toàn diện.
2.1.2 Thực trạng hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam 2004-2008:
Sau hơn 15 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại ViệtNam đã đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng, đóng góp đáng kể choviệc giảm rủi ro trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội; cải thiện môi trường đầu
tư, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, góp phần tăng trưởng, phát triển kinh
tế xã hội
Năm 2004-2007 thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục phát triển ổn định, antoàn, tăng trưởng về hầu hết các chỉ tiêu Đến năm 2008 kinh tế xã hội nước ta diễn ratrong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp khó lường.Giá dầu thô, lương thực, thực phẩm nguyên liệu, hàng hóa khác trên thị trường thế giớităng mạnh trong những tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết cácmặt hàng trong nước; lạm phát gia tăng Trước tình hình trên, Chính phủ đã đề ra 8nhóm giải pháp trong đó có thắt chặt tiền tệ, kiềm chế tăng giá, tiết giảm đầu tư và tiếtkiệm Cuối năm, khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suythoái, kinh tế thế giới suy giảm ảnh hưởng tới nền kinh tế nước ta, tăng trưởng chậmlại, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 là 6.23%, Nguồn vốn FDI trực tiếp vào Việtnam trên 64 tỷ USD Đầu tư toàn xã hội trên 673 ngàn tỷ đồng, chỉ số giá tiêu dùngtăng 22.97%, giá rét, mưa lũ, ngập úng, dịch bệnh xảy ra liên tiếp, thị trường chứngkhoán, bất động sản suy giảm nghiêm trọng Những yếu tố trên đã ảnh hưởng lớn tớingành bảo hiểm, khai thác bảo hiểm nhân thọ khó khăn hơn do lãi suất ngân hàng tăngcao Tuy nhiên, do lãi suất ngân hàng tăng mạnh nên nhiều doanh nghiệp bảo hiểmhưởng lợi từ việc đầu tư vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ vào tiền gửi ngân hàng
bù đắp được nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm
Về cơ cấu trị trường:
Trang 40Quy mô thị trường ngày càng được mở rộng: Từ chỗ chỉ có một DNBH là BảoViệt đến nay đã có 28 DNBH Phi nhân thọ, 11 DNBH Nhân thọ, 10 DN môi giới BHhoạt động cùng nhau cung cấp sản phẩm bảo hiểm để khách hàng có quyền lựa chọnmột cách tích cực Trong số đó, BH PNT có 7 DN 100% vốn nước ngoài, 4 DN liêndoanh, BHNT có 10 DN 100% vốn nước ngoài, môi giới BH có 4 DN 100% vốn nướcngoài Mạng lưới hoạt động của ngành BH được mở rộng bằng các chi nhánh, công tythành viên, văn phòng giao dịch của các DNBH đến tận các tỉnh, thành, quận huyện,các vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo Đối tượng khách hàng ngày càng đa dạng,phong phú
Bảng 2.1 Số lượng DNBH theo khối doanh nghiệp đến 31/12/2008
Từ năm 2004-2008 các công ty bảo hiểm nhà nước đã tiến hành cổ phần hóa vàniêm yết trên thị trường chứng khoán là Bảo Minh, Vinare và PVI nhằm nâng cao khảnăng cạnh tranh khi hội nhập kinh tế quốc tế Bảo hiểm Bảo Việt đã tiến hành cổ phầnhóa và thực hiện IPO vào tháng 06/2007 và đã chính thức nộp hồ sơ đăng ký niêm yếttại sở giao dịch chứng khoán TP HCM vào tháng 05/2009 Các chủ đầu tư trong nướcmua lại phần vốn góp của đối tác nước ngoài trong liên doanh và tiếp nhận hoạt độngcủa doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Công ty bảo hiểm Ngân Hàng Đầu Tư
và Phát Triển – BIC ), đồng thời đảm bảo được quyền lợi của khách hàng, nhà nước vàngười lao động, đã góp phần nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh và sức cạnh tranhcủa các công ty bảo hiểm trong nước
(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, thị trường bảo hiểm 2008)