TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CASE STUDY HỌC PHẦN CHÍNH SÁCH 1. TÓM TẮT .......................................................................................................................1 2. CÂU CHUYỆN CHI TIẾT............................................................................................2 3. TRẢ LỜI CÂU HỎI THẢO LUẬN..............................................................................5 3.1. Cơ sở lý thuyết về thuế nhập khẩu và cách tính thuế ô tô nhập khẩu vào Việt Nam 5 3.1.1. Việc áp thuế nhập khẩu ô tô Việt Nam thuộc nhóm công cụ quản lý nào? ................5 3.1.2. Thuế nhập khẩu tuyệt đối, tương đối và hỗn hợp là gì?.............................................5 3.1.3. Các phương pháp xác định trị giá tính thuế...............................................................6 3.1.4. Cách tính thuế đánh vào ô tô cũ nhập khẩu ...............................................................9 3.2. Tại sao Việt Nam đánh thuế cao vào ô tô nhập khẩu? .............................................10 3.2.1. Căn cứ nào để nói thuế nhập khẩu ô tô của Việt Nam là cao? ................................10 3.2.2. Mục tiêu của việc đánh thuế nhập khẩu ô tô cao là gì? Hiện nay, các mục tiêu chính phủ đặt ra có đúng đắn không? ..........................................................................................11 3.2.3. Mức độ hiệu quả của việc đánh thuế nhập khẩu ô tô cao trong việc thực hiện mục tiêu chính phủ đặt ra...........................................................................................................13 3.3. Xem xét chính sách đánh thuế này ở góc độ khu vực và quốc tế.............................17 3.3.1. So sánh chính sách thuế nhập khẩu ô tô này của Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực ASEAN.........................................................................................................17 3.3.2. Việc đánh thuế cao lên ô tô nhập khẩu có vi phạm điều khoản của WTO không? ..19 3.4. Ảnh hưởng của các chính sách về thuế nhập khẩu ô tô mới đây đối với các doanh nghiệp trong nước .............................................................................................................19 3.5. Nếu giảm thuế suất, chuyện gì sẽ xảy ra đối với hoạt động nhập khẩu, thị trường ô tô trong nước và tình hình kinh tế xã hội? ....................................................................21 3.6. Xem xét xu hướng tương lai của thuế nhập khẩu ô tô cũ........................................22 3.6.1. Xem xét những chính sách của nhà nước với nhập khẩu ô tô cũ .............................23 3.6.2. Xem xét nhu cầu xe ô tô nhập khẩu cũ ở Việt Nam ..................................................24 3.6.3. Tương lai của mảng nhập khẩu ô tô cũ ....................................................................24 4. KẾT LUẬN ...................................................................................................................26 5. PHỤ LỤC ......................................................................................................................34 Nhóm 17 TMA301(GD2HK22122).7 1 1. TÓM TẮT Ô tô, cụ thể là phương tiện bốn bánh dưới 9 chỗ ngồi, phục vụ mục đích chở người từ lâu đã là một mặt hàng có thuế nhập khẩu đặc biệt cao tại Việt Nam. Điều này đã dẫn đến một số hệ quả đối với đời sống kinh tế – xã hội của Việt Nam: Thứ nhất, giá xe ô tô trong nước luôn ở mức cao biến ô tô trở thành một loại hàng hóa xa xỉ với phần đông người dân Việt; Thứ hai, thuế nhập khẩu ô tô cao khiến cho thị trường ô tô trong nước kém đa dạng; Thứ ba, thuế nhập khẩu ô tô cao cũng góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô trong nước; Thứ tư, nhiều vụ việc lách thuế, trốn thuế từng xảy ra liên quan đến vấn đề thuế cao của ô tô nhập khẩu. Câu chuyện minh họa cho hệ quả thứ tư được nhắc đến trong bản báo cáo là câu chuyện về vấn đề lách thuế và sự lúng túng của Bộ Tài chính trong việc quyết định mức thuế đối với ô tô cũ nhập khẩu xảy ra vào năm 2006 kéo dài đến năm 2017. Cụ thể, từ năm 2006, Việt Nam bắt đầu cho phép nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng cùng với chính sách đánh thuế tuyệt đối lên mặt hàng này. Tuy nhiên, điều này khiến cho mức thuế nhập khẩu của xe cao cấp hạng sang đã qua sử dụng thấp hơn nhiều so với số thuế phải nộp của xe mới cùng loại, dẫn đến việc doanh nghiệp nhập khẩu xe hạng sang tìm cách đưa các loại xe hạng sang về Việt Nam theo con đường xe cũ một cách ồ ạt. Đến năm 2017, nhận thấy sự bất hợp lý trong chính sách của mình, Bộ Tài Chính đã ra quyết định đánh thuế hỗn hợp lên các dòng xe có dung tích xy – lanh trên 2,5 lít (thường là xe sang) khiến cho giá nhập khẩu xe cũ có thể cao hơn cả giá xe mới, và các doanh nghiệp lại trở về con đường nhập khẩu xe mới như thời kỳ trước năm 2006. Nội dung bản báo cáo gồm hai phần chính: phần câu chuyện và phần trả lời câu hỏi thảo luận mà nhóm đặt ra, bao gồm sáu câu hỏi chính về các vấn đề: cơ sở lý thuyết về thuế nhập khẩu, lý do Việt Nam đánh thuế cao vào ô tô nhập khẩu, xem xét chính sách thuế này ở góc độ khu vực và quốc tế, xem xét ảnh hưởng của chính sách lên doanh nghiệp, suy đoán ảnh hưởng của chính sách ngược và dự đoán xu hướng tương lai của mức thuế nhập khẩu ô tô cũ. Mặc dù đã cố gắng hết khả năng của mình nhưng do trình độ kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên bài báo cáo của chúng em không tránh khỏi những sơ sót. Nhóm chúng em rất mong nhận được sự nhận xét, đánh giá của thầy để bài tập này được hoàn thiện hơn.THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Đề tài VIỆT NAM ÁP THUẾ CAO ĐỐI VỚI Ô TÔ NHẬP KHẨU Nhóm thực hiện Nhóm 17 Lớp tín c.
Trang 1VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
CASE STUDY HỌC PHẦN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài:
VIỆT NAM ÁP THUẾ CAO ĐỐI VỚI Ô TÔ NHẬP KHẨU
Nhóm thực hiện: Nhóm 17 Lớp tín chỉ: TMA301(GD2-HK2-2122).7 Giảng viên hướng dẫn: ThS Vũ Hoàng Việt
Hà Nội, tháng 6 năm 2022
Trang 3
1 TÓM TẮT 1
2 CÂU CHUYỆN CHI TIẾT 2
3 TRẢ LỜI CÂU HỎI THẢO LUẬN 5
3.1 Cơ sở lý thuyết về thuế nhập khẩu và cách tính thuế ô tô nhập khẩu vào Việt Nam 5 3.1.1 Việc áp thuế nhập khẩu ô tô Việt Nam thuộc nhóm công cụ quản lý nào? 5
3.1.2 Thuế nhập khẩu tuyệt đối, tương đối và hỗn hợp là gì? 5
3.1.3 Các phương pháp xác định trị giá tính thuế 6
3.1.4 Cách tính thuế đánh vào ô tô cũ nhập khẩu 9
3.2 Tại sao Việt Nam đánh thuế cao vào ô tô nhập khẩu? 10
3.2.1 Căn cứ nào để nói thuế nhập khẩu ô tô của Việt Nam là cao? 10
3.2.2 Mục tiêu của việc đánh thuế nhập khẩu ô tô cao là gì? Hiện nay, các mục tiêu chính phủ đặt ra có đúng đắn không? 11
3.2.3 Mức độ hiệu quả của việc đánh thuế nhập khẩu ô tô cao trong việc thực hiện mục tiêu chính phủ đặt ra 13
3.3 Xem xét chính sách đánh thuế này ở góc độ khu vực và quốc tế 17
3.3.1 So sánh chính sách thuế nhập khẩu ô tô này của Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực ASEAN 17
3.3.2 Việc đánh thuế cao lên ô tô nhập khẩu có vi phạm điều khoản của WTO không? 19
3.4 Ảnh hưởng của các chính sách về thuế nhập khẩu ô tô mới đây đối với các doanh nghiệp trong nước 19
3.5 Nếu giảm thuế suất, chuyện gì sẽ xảy ra đối với hoạt động nhập khẩu, thị trường ô tô trong nước và tình hình kinh tế - xã hội? 21
3.6 Xem xét xu hướng tương lai của thuế nhập khẩu ô tô cũ 22
3.6.1 Xem xét những chính sách của nhà nước với nhập khẩu ô tô cũ 23
3.6.2 Xem xét nhu cầu xe ô tô nhập khẩu cũ ở Việt Nam 24
3.6.3 Tương lai của mảng nhập khẩu ô tô cũ 24
4 KẾT LUẬN 26
5 PHỤ LỤC 34
Trang 41 TÓM TẮT
Ô tô, cụ thể là phương tiện bốn bánh dưới 9 chỗ ngồi, phục vụ mục đích chở người từ lâu đã là một mặt hàng có thuế nhập khẩu đặc biệt cao tại Việt Nam Điều này
đã dẫn đến một số hệ quả đối với đời sống kinh tế – xã hội của Việt Nam: Thứ nhất, giá
xe ô tô trong nước luôn ở mức cao biến ô tô trở thành một loại hàng hóa xa xỉ với phần đông người dân Việt; Thứ hai, thuế nhập khẩu ô tô cao khiến cho thị trường ô tô trong nước kém đa dạng; Thứ ba, thuế nhập khẩu ô tô cao cũng góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô trong nước; Thứ tư, nhiều vụ việc lách thuế, trốn thuế từng xảy ra liên quan đến vấn đề thuế cao của ô tô nhập khẩu
Câu chuyện minh họa cho hệ quả thứ tư được nhắc đến trong bản báo cáo là câu chuyện về vấn đề lách thuế và sự lúng túng của Bộ Tài chính trong việc quyết định mức thuế đối với ô tô cũ nhập khẩu xảy ra vào năm 2006 kéo dài đến năm 2017 Cụ thể, từ năm 2006, Việt Nam bắt đầu cho phép nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng cùng với chính sách đánh thuế tuyệt đối lên mặt hàng này Tuy nhiên, điều này khiến cho mức thuế nhập khẩu của xe cao cấp hạng sang đã qua sử dụng thấp hơn nhiều so với số thuế phải nộp của xe mới cùng loại, dẫn đến việc doanh nghiệp nhập khẩu xe hạng sang tìm cách đưa các loại xe hạng sang về Việt Nam theo con đường xe cũ một cách ồ ạt Đến năm
2017, nhận thấy sự bất hợp lý trong chính sách của mình, Bộ Tài Chính đã ra quyết định đánh thuế hỗn hợp lên các dòng xe có dung tích xy – lanh trên 2,5 lít (thường là xe sang) khiến cho giá nhập khẩu xe cũ có thể cao hơn cả giá xe mới, và các doanh nghiệp lại trở
về con đường nhập khẩu xe mới như thời kỳ trước năm 2006
Nội dung bản báo cáo gồm hai phần chính: phần câu chuyện và phần trả lời câu
hỏi thảo luận mà nhóm đặt ra, bao gồm sáu câu hỏi chính về các vấn đề: cơ sở lý thuyết
về thuế nhập khẩu, lý do Việt Nam đánh thuế cao vào ô tô nhập khẩu, xem xét chính sách thuế này ở góc độ khu vực và quốc tế, xem xét ảnh hưởng của chính sách lên doanh nghiệp, suy đoán ảnh hưởng của chính sách ngược và dự đoán xu hướng tương lai của mức thuế nhập khẩu ô tô cũ Mặc dù đã cố gắng hết khả năng của mình nhưng do trình
độ kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên bài báo cáo của chúng em không tránh khỏi những sơ sót Nhóm chúng em rất mong nhận được sự nhận xét, đánh giá của thầy
để bài tập này được hoàn thiện hơn
Trang 52 CÂU CHUYỆN CHI TIẾT
VIỆT NAM ÁP THUẾ CAO ĐỐI VỚI Ô TÔ NHẬP KHẨU
Ô tô, cụ thể là phương tiện bốn bánh dưới 9 chỗ ngồi, phục vụ mục đích chở người, từ lâu đã là một mặt hàng có thuế nhập khẩu vào loại đặc biệt cao ở Việt Nam Thuế nhập khẩu ô tô ở Việt Nam rơi vào mức 60 - 80%, trừ một số thị trường có quan
hệ kinh tế đặc biệt thông qua các hiệp ước, hiệp định thương mại quốc tế
Trước năm 2018, thuế nhập khẩu ô tô đối với các dòng xe du lịch từ 9 chỗ trở xuống thì mức phí 30% đối với khu vực ASEAN và 70 - 80% đối với các khu vực khác
Từ 01/01/2018, dựa vào nội dung Hiệp định thương mại hàng hóa các nước ASEAN (ATIGA), những mẫu xe có tỷ lệ nội địa hóa trong khối ASEAN từ 40% trở lên thì mức thuế nhập khẩu sẽ là 0% khi nhà sản xuất đáp ứng đủ một số điều kiện nhất định
Từ ngày 01/01/2021, các dòng xe xuất xứ từ EU sẽ được áp dụng mức thuế nhập khẩu mới từ 60.5% - 63.8% tùy theo dung tích xy lanh, giảm từ 6.7% - 7.4% so với trước đây Sau khi Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) được thông qua thì mức thuế áp dụng cho xe ô tô nhập khẩu từ châu Âu (từ 09 chỗ chở xuống) vào Việt Nam sẽ là 0% trong vòng 7-10 năm nữa Mức thuế sẽ giảm theo lộ trình theo năm hoặc theo chu kỳ
Vậy thuế nhập khẩu ô tô cao đã dẫn đến những hệ quả gì đối với đời sống kinh
tế, xã hội của Việt Nam Rõ ràng nhất, thuế nhập khẩu là một trong những nguyên nhân chính khiến giá ô tô trong nước luôn ở mức cao Ô tô trở thành một loại hàng hóa xa xỉ đối với phần đông dân số Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới, thậm chí trong nếp nghĩ của nhiều người, nó còn là thước đo về sự giàu sang, thành đạt của một cá nhân, gia đình Mặc dù là phương tiện đi lại phổ biến trên thế giới nhưng ở Việt Nam, ô tô lại không phải phương tiện được sử dụng nhiều nhất bởi để một chiếc ô tô đặc biệt là ô tô nhập khẩu có thể lăn bánh, phải trả các loại chi phí như sau: Giá lăn bánh của xe nhập
khẩu = Giá bán + Thuế nhập khẩu + Thuế tiêu thụ đặc biệt + Thuế GTGT + Phí trước
bạ + Phí đường bộ + Phí cấp biển số xe + Phí BH bắt buộc Điều đó khiến cho ở Việt
Nam ô tô cá nhân cơ bản vẫn là thứ phương tiện xa xỉ bởi thu nhập thấp còn giá ô tô và chi phí cho chiếc ô tô lại quá cao
Một hệ quả khác của thuế nhập khẩu cao, là khiến thị trường ô tô ở Việt Nam kém đa dạng Phần lớn người dân Việt Nam biết đến và gặp qua những nhãn hiệu quen
Trang 6thuộc như Toyota, Hyundai, Điều này phần nào thể hiện việc chỉ những ông lớn trên thế giới, mới chịu được sức nặng của rào cản về thuế để tiến vào thị trường Việt Nam Ngoài ra, sự kém đa dạng này còn thể hiện ở nguồn gốc xuất xứ, khi Việt Nam có nhiều chính sách ưu tiên về thuế với các thị trường ở Đông Nam Á, Liên minh Châu Âu, Theo Tổng cục Hải quan, lượng xe nhập về Việt Nam có mã số HS phần lớn từ các thị trường miễn giảm thuế, chủng loại chủ yếu là xe du lịch dưới 9 chỗ ngồi giá rẻ từ Indonesia, Thái Lan Hai thị trường này chiếm đến 80% tổng lượng xe con nguyên chiếc nhập khẩu
Thuế nhập khẩu cao cũng khiến những doanh nghiệp trong nước thêm “dễ thở” Khi ngành công nghiệp nặng này còn đang ở buổi đầu ở nước ta, việc hạn chế sự cạnh tranh của những tên tuổi lâu năm trên thế giới là vô cùng cần thiết Những doanh nghiệp
có đủ tiềm lực, như VinGroup, khi gia nhập thị trường, đã nhận được nhiều sự ủng hộ
và trợ giúp từ phía Nhà nước cũng như người dân VinFast nhanh chóng trở thành cái tên nổi bật và được nhiều người tiêu dùng trong nước ưa chuộng
Câu chuyện về việc lách thuế của các doanh nghiệp trên thị trường xe cũ đã xảy
ra từ năm 2006 kéo dài gần 10 năm sau cũng là một hệ quả từ việc chịu thuế cao của ô
tô nhập khẩu Theo quyết định số 46/2001/QĐ-TTg, Việt Nam cấm nhập khẩu ô tô cũ,
là những ô tô đã qua sử dụng, các phương tiện vận chở khách đã qua sử dụng Tuy nhiên, theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, Việt Nam chuyển sang cho phép nhập khẩu đối với
ô tô và phương tiện vận tải hành khách đã qua sử dụng do điều kiện để gia nhập WTO
Từ trước đến giờ, Việt Nam chỉ áp dụng mức thuế tương đối cho ô tô mới nhập khẩu Đối với thuế nhập khẩu xe cũ, Bộ Tài Chính có hai phương án: Tính thuế tương đối trên trị giá tính thuế hoặc tính thuế tuyệt đối Tuy nhiên, việc tính trị giá tính thuế của ô tô là công việc không dễ dàng và có thể xảy ra tình trạng các doanh nghiệp gian lận thuế bằng cách khai thấp trị giá tính thuế Do đó, theo quy định tại Thông tư liên tịch
số 03/2006/TTLT-BTM-BGTVT-BTC-BCA ngày 31/03/2006, theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 quy định về những loại thuế phải đóng khi nhập khẩu
xe ô tô: Xe ô tô cũ khi nhập khẩu vào Việt Nam phải nộp 03 loại thuế: Thuế nhập khẩu tuyệt đối; thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt
Ông Lưu Mạnh Tưởng- Phó Cục trưởng Cục thuế xuất nhập khẩu cho biết với
xu hướng nhập khẩu và sử dụng ô tô hạng sang của những người có thu thập cao đang
có chiều hướng tăng lên nhanh chóng thì việc áp dụng mức thuế tuyệt đối theo quy định
Trang 7tại Quyết định số 23/2008/QĐ-BTC cho các dòng xe cao cấp nêu trên không còn phù hợp, bởi hiện đang có sự chênh lệch lớn giữa số thuế phải nộp của xe đã qua sử dụng (thực chất là xe mới nhưng người nhập khẩu đã quay đồng hồ để đạt số km đã chạy là 10.000km) và xe mới cùng loại nhập khẩu Với mức thuế nhập khẩu tuyệt đối quy định tại Quyết định số 23/2008/QĐ-BTC cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt theo mức thuế suất 30%; 45%; 50% và 60 % (áp dụng cho từng loại dung tích xilanh: 2.000cc trở xuống , trên 2.000cc đến 3.000cc…) và thuế giá trị gia tăng 10% thì số thuế phải nộp của của xe cao cấp đã qua sử dụng thấp hơn nhiều so với số thuế phải nộp của xe mới cùng loại
Đối chiếu mức thuế tuyệt đối hiện hành tại Quyết định số 69 kể cả khi đã điều chỉnh hết biên độ 20% như quy định tại Quyết định số 23/2008/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, thì có nhiều loại hiện đang có mức thuế tuyệt đối thấp hơn công thức trên, nhất
là loại xe hạng sang, có xu hướng NK tăng mạnh cả về số lượng và trị giá trong những tháng gần đây lại có mức thuế phải nộp quá thấp nên không thực hiện được mục tiêu ngăn chặn NK loại xe này nhằm kiềm chế lạm phát, hạn chế nhập siêu
Nhận thấy sự bất hợp lý trong chính sách của mình, tháng 11 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định 125/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2016/NĐ-CP về biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi, danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp Theo đó, Nghị định 125/2017 nêu rõ: Các xe dùng động cơ có dung tích xi lanh từ 2.5L trở lên, mức thuế nhập khẩu sẽ được tính theo giá tính thuế ôtô qua sử dụng nhân với thuế suất 150% đến 200%, cộng thêm số tiền 15.000 USD/xe Trong khi đó, mặt hàng được người tiêu dùng quan tâm nhất là những chiếc xe nhập lướt có dung tích xy-lanh trên 2.5 lít, thường là xe sang, mức thuế mới có thể khiến giá xe cũ cao hơn cả xe mới do thuế hỗn hợp đối với xe cũ được tính bằng thuế tuyệt đối cộng thuế tương đối với mức thuế suất tương ứng với thuế suất nhập khẩu mẫu xe mới tương tự Hệ quả là các doanh nghiệp nhập khẩu xe hạng sang đã quay trở lại con đường nhập khẩu xe mới Điều này phần nào cho thấy Bộ Tài Chính vẫn còn lúng túng trong việc ban hành chính sách thuế của mình
Trang 83 TRẢ LỜI CÂU HỎI THẢO LUẬN
3.1 Cơ sở lý thuyết về thuế nhập khẩu và cách tính thuế ô tô nhập khẩu vào Việt Nam
3.1.1 Việc áp thuế nhập khẩu ô tô Việt Nam thuộc nhóm công cụ quản lý nào?
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật vàthông qua hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, trên cơ sở sử dụng cóhiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước
Nhà nước không chỉ có vai trò quan trọng trong việc đứng đầu và nắm quyền điều tiết các chủ thể nội sinh trong một đất nước mà còn có vai trò đề ra những chính sách, giải pháp; đưa ra những công cụ điều chỉnh để mang lại lợi ích cho quốc gia
Việc áp thuế nhập khẩu đối với ô tô thuộc nhóm công cụ chính sách tài khóa, cụ thể hơn ở đây là chính sách thuế, trong đó nó vừa đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của
ngân sách và đồng thời cũng là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế và cả những quan hệ ngoài kinh tế khác
Với thực tiễn rằng Việt Nam là một nước còn đang phát triển, cơ sở hạ tầng và
hệ thống giao thông còn yếu kém cộng với vấn đề quy hoạch trước giờ luôn là một bài toán hóc búa đòi hỏi Nhà nước phải đề ra những giải pháp để giảm thiểu việc nhập và
sử dụng quá nhiều ô tô nhập khẩu khi điều kiện về cơ sở hạ tầng còn chưa đáp ứng được tại thời điểm hiện tại Chính bởi lẽ đó, việc áp thuế nhập khẩu đối với ô tô chính là việc
sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh hành vi của người dân, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước
3.1.2 Thuế nhập khẩu tuyệt đối, tương đối và hỗn hợp là gì?
Có 3 phương pháp để xác định căn cứ tính thuế của hàng xuất, nhập khẩu cụ thể
là phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm, phương pháp tính thuế tuyệt đối và phương pháp tính thuế hỗn hợp (kết hợp 2 phương pháp đầu tiên), trong đó căn cứ tính thuế nhập khẩu Phương pháp tính thuế tương đối (tính thuế theo tỷ lệ phần trăm):
Thuế phải nộp = Lượng hàng xuất/nhập khẩu * Trị giá tính thuế * Thuế suất (%)
Công thức: T = Q * Pt * t (%)
Phương pháp tính thuế tuyệt đối:
Trang 9Thuế phải nộp = Lượng hàng xuất/nhập khẩu * Mức thuế tuyệt đối
Công thức : T = Q * t
Phương pháp tính thuế hỗn hợp:
Thuế phải nộp = Tiền thuế tương đối + Tiền thuế tuyệt đối
3.1.3 Các phương pháp xác định trị giá tính thuế
Theo điều 35, Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính Quy định về Thủ tục hải quan, kiểm tra, Giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, thì:
Tỷ giá tính thuế nhập khẩu được tính tại thời điểm tính thuế nhập khẩu Thời điểm tính thuế nhập khẩu là ngày đăng ký tờ khai hải quan
Tỷ giá tính thuế nhập khẩu là tỷ giá ngoại tệ mua vào theo hình thức chuyển khoản của Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tại thời điểm cuối ngày của ngày thứ 5 tuần trước liền kề hoặc là tỷ giá cuối ngày của ngày làm việc liền trước ngày thứ năm trong trường hợp ngày thứ năm là ngày lễ, ngày nghỉ Tỷ giá này được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan và cập nhật vào Hệ thống dữ liệu hải quan điện tử để áp dụng xác định tỷ giá tính thuế cho các tờ khai hải quan đăng ký trong tuần sau liền kề
Trong đó, có 6 phương pháp xác định trị giá thuế là: phương pháp trị giá giao dịch, phương pháp trị giá giao dịch của lô hàng giống hệt, phương pháp trị giá giao dịch của lô hàng tương tự, phương pháp tính toán, phương pháp khấu trừ và phương pháp dự phòng
Phương pháp trị giá giao dịch là phương pháp mà trị giá giao dịch là giá thực tế
đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu sau khi đã được điều chỉnh Điều kiện áp dụng của phương pháp này là khi: (*) Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hóa sau khi nhập khẩu Trừ các hạn chế dưới đây: (1) Hạn chế do pháp luật Việt Nam quy định (2) Hạn chế về nơi tiêu thụ hàng hóa (3) Hạn chế khác không ảnh hưởng đến trị giá của hàng hóa Những hạn chế này là một hoặc nhiều yếu tố có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hàng hóa nhập khẩu Nhưng không làm tăng hoặc giảm giá thực thanh toán cho hàng hóa đó (**) Giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện hay các khoản thanh toán mà vì chúng không xác định được trị giá của hàng hóa cần xác định trị giá hải quan Trường hợp việc mua bán
Trang 10hàng hóa hay giá cả của hàng hóa phụ thuộc vào một hay một số điều kiện Nhưng người mua có tài liệu khách quan để xác định mức độ ảnh hưởng bằng tiền của sự phụ thuộc
đó Thì vẫn được xem là đã đáp ứng điều kiện này Khi xác định trị giá hải quan phải cộng khoản tiền được giảm do ảnh hưởng của sự phụ thuộc đó vào trị giá giao dịch (***) Sau khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu Người mua không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt hàng hóa nhập khẩu mang lại Trừ các khoản tiền mà người nhập khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi bán lại, định đoạt, sử dụng hàng hóa nhập khẩu được chuyển trực tiếp hay gián tiếp cho người bán dưới mọi hình thức (****) Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt Hoặc nếu có thì mối quan hệ đặc biệt đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch
Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt sẽ được áp dụng cho trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp nếu không xác định được trị giá hải quan theo phương pháp trị giá giao dịch quy định tại Điều 6 Thông tư này Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt được thực hiện như phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự
Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự được áp dụng
trong trường hợp: Nếu không xác định được trị giá hải quan theo 2 phương pháp nêu trên Thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự Với điều kiện hàng hóa nhập khẩu tương
tự đã được cơ quan hải quan chấp nhận xác định trị giá hải quan theo phương pháp trị giá giao dịch Và có cùng các điều kiện mua bán, điều kiện về thời gian xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu đang xác định trị giá hải quan Trường hợp không tìm được lô hàng nhập khẩu tương tự có cùng điều kiện mua bán với lô hàng nhập khẩu đang được xác định trị giá hải quan Thì lựa chọn lô hàng nhập khẩu tương tự khác về điều kiện mua bán Nhưng phải được điều chỉnh về cùng điều kiện mua bán Hàng tương tự là hàng dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng có các đặc điểm giống nhau, được làm từ các nguyên liệu giống nhau và điều đó đã làm cho chúng có chức năng giống nhau và
có thể thay thế được nhau về mặt thương mại Tính chất tương tự này được thể hiện ở chỗ: (i) Chúng có cùng kích cỡ, kiểu dáng, mức độ công dụng, phương pháp chế tạo;
Trang 11(ii) Cùng chức năng và cách sử dụng: (iii) Cùng vật liệu cấu thành; (iv) Các tiêu chí khác như kỹ thuật triển khai, mẫu mã, cùng sản xuất ở một nước
Phương pháp trị giá khấu trừ được áp dụng trong trường hợp: Nếu không xác
định được trị giá hải quan theo các phương pháp trên Thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá khấu trừ Hàng tương tự là hàng dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng có các đặc điểm giống nhau, được làm từ các nguyên liệu giống nhau và điều đó đã làm cho chúng có chức năng giống nhau và
có thể thay thế được nhau về mặt thương mại Tính chất tương tự này được thể hiện ở chỗ: (i) Chúng có cùng kích cỡ, kiểu dáng, mức độ công dụng, phương pháp chế tạo; (ii) Cùng chức năng và cách sử dụng: (iii) Cùng vật liệu cấu thành; (iv) Các tiêu chí khác như kỹ thuật triển khai, mẫu mã, cùng sản xuất ở một nước Không áp dụng phương pháp này nếu hàng hóa được lựa chọn để xác định đơn giá bán thuộc một trong các trường hợp sau: (i)Chưa được bán trên thị trường nội địa Việt Nam Hoặc việc bán hàng hóa chưa được hạch toán trên chứng từ, sổ sách kế toán Theo quy định của pháp luật về
kế toán Việt Nam (ii) Có liên quan đến khoản trợ giúp do bất kỳ người nào cung cấp
Phương pháp trị giá tính toán được áp dụng trong trường hợp: Nếu không xác
định được trị giá hải quan theo các phương pháp trên Thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá tính toán Trị giá tính toán của hàng hóa nhập khẩu bao gồm: (1) Chi phí trực tiếp để sản xuất ra hàng hóa nhập khẩu (2) Chi phí chung và lợi nhuận phát sinh trong hoạt động bán hàng hóa cùng phẩm cấp hoặc cùng chủng loại với hàng hóa nhập khẩu đang xác định trị giá, được sản xuất ở nước xuất khẩu để bán hàng đến Việt Nam Khoản lợi nhuận và chi phí chung phải được xem xét một cách tổng thể khi xác định trị giá tính toán (3) Chi phí chung bao gồm tất cả các chi phí trực tiếp hay gián tiếp của quá trình sản xuất và bán để xuất khẩu hàng hóa, nhưng chưa được tính toán theo quy định nêu tại điểm a khoản này (4) Các chi phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí có liên quan đến việc vận tải hàng hóa nhập khẩu khác
Phương pháp suy luận được áp dụng trong trường hợp: Nếu không xác định được
trị giá hải quan theo tất cả các phương pháp trên Thì trị giá hải quan được xác định theo phương pháp suy luận Trị giá hải quan theo phương pháp suy luận được xác định bằng cách áp dụng tuần tự và linh hoạt từng phương pháp xác định trị giá hải quan Và dừng
Trang 12ngay tại phương pháp xác định được trị giá hải quan Những trị giá không được sử dụng
để xác định trị giá hải quan là: (1) Giá bán trên thị trường nội địa của mặt hàng cùng loại được sản xuất tại Việt Nam; (2) Giá bán hàng hóa ở thị trường nội địa nước xuất khẩu; (3) Giá bán hàng hóa để xuất khẩu đến nước khác; (4) Chi phí sản xuất hàng hóa, trừ các chi phí sản xuất hàng hóa được sử dụng trong phương pháp tính toán; (5) Trị giá tính thuế tối thiểu; (6) Trị giá do cơ quan hải quan xác định không tuân theo nguyên tắc
và các phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Thông tư này hoặc trị giá do người khai hải quan khai báo khi chưa có hoạt động mua bán hàng hóa để nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam; (7) Sử dụng trị giá cao hơn trong hai trị giá thay thế để làm trị giá hải quan
3.1.4 Cách tính thuế đánh vào ô tô cũ nhập khẩu
Xe ô tô cũ khi nhập khẩu vào Việt Nam phải nộp 03 loại thuế: Thuế nhập khẩu
tuyệt đối; thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt Cụ thể các loại thuế được tính
như sau:
Thuế nhập khẩu:
Theo Nghị định 125/2017, ôtô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe)
có dung tích xi lanh không quá 1.0L sẽ được áp dụng mức thuế tuyệt đối ở mức 10.000 USD/xe
Thuế nhập khẩu = Giá tính thuế xe ô tô đã qua sử dụng x Thuế xuất (%) thuế nhập
khẩu ô tô + 10.000 USD
Còn đối với ôtô chở người có dung tích xi lanh từ 1.0L trở lên và các loại xe ô
tô chở người từ 10 - 15 chỗ ngồi kể cả lái xe thuộc nhóm hàng 87.02 áp dụng mức thuế hỗn hợp
Cụ thể, ôtô trang bị động cơ có dung tích xi lanh từ 1.5L đến dưới 2.5L, mức tính thuế hỗn hợp sẽ bao gồm giá tính thuế của ô tô đã qua sử dụng nhân mức áp thuế
từ 150% đến 200% và cộng thêm 10.000 USD/xe
Thuế nhập khẩu = Giá tính thuế xe ô tô đã qua sử dụng x Thuế xuất (%) thuế nhập
khẩu ô tô x Mức thuế từ 150% ~ 200% + 10.000 USD
Các xe dùng động cơ có dung tích xi lanh từ 2.5L trở lên, mức thuế nhập khẩu
sẽ được tính theo giá tính thuế ôtô qua sử dụng nhân với thuế suất 150% đến 200%, cộng thêm số tiền 15.000 USD/xe
Trang 13Thuế nhập khẩu = Giá tính thuế xe ô tô đã qua sử dụng x Thuế xuất (%) thuế nhập
khẩu ô tô x Mức thuế từ 150% ~ 200% + 15.000 USD
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Theo quy định Điều 7 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số
27/2008/QH12 của Quốc hội Nước CHXHCNVN ngày 14/11/2008 có hiệu lực ngày 1/4/2009 thì thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ô tô dung tích xi lanh từ 2.000 cm3 trở xuống có thuế suất 45%, loại có dung tích xi lanh trên 2.000 cm3 đến 3.000 cm3 có thuế suất 50%
Thuế tiêu thụ đặc biệt = Lượng hàng nhập khẩu * (Trị giá tính thuế + Thuế nhập
khẩu) * Thuế suất tiêu thụ đặc biệt (%)
Công thức: T TTĐB = Q NK * (P t + T NK ) * t TTĐB (%)
Thuế giá trị gia tăng: Theo quy định tại Điều 8 Luật thuế Giá trị gia tăng số
13/2008/QH12 của Quốc hội Nước CHXHCNVN ngày 03/06/2008 thì thuế suất giá trị gia tăng đối với xe ô tô đã qua sử dụng là 10%
Thuế giá trị gia tăng = Lượng hàng nhập khẩu * (Trị giá tính thuế + Thuế nhập
khẩu + Thuế tiêu thụ đặc biệt) * Thuế suất giá trị gia tăng (%)
Công thức: T GTGT = Q NK * (P t + T NK + T TTĐB ) * t GTGT (%)
Như vậy tổng thuế người tiêu dùng phải chi trả để có thể lăn bánh được một
chiếc ô tô nhập khẩu là Thuế nhập khẩu + Thuế tiêu thụ đặc biệt + Thuế giá trị gia tăng
T = T NK + T TTĐB + T GTGT
3.2 Tại sao Việt Nam đánh thuế cao vào ô tô nhập khẩu?
3.2.1 Căn cứ nào để nói thuế nhập khẩu ô tô của Việt Nam là cao?
Theo quy định hiện hành, một chiếc xe ô tô nhập khẩu nguyên chiếc tại Việt Nam đang phải chịu 8 loại thuế và phí khác nhau Cụ thể, một chiếc xe ô tô muốn lăn bánh trên đường sẽ phải chịu các khoản thuế sau:
Thuế nhập khẩu (Áp dụng cho xe ô tô nhập khẩu, không áp dụng xe lắp ráp trong nước): Các dòng xe đến từ Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc đều đang phải chịu mức thuế nhập khẩu rất cao từ 56% đến 74% giá trị xe
Trang 14 Thuế tiêu thụ đặc biệt: Đây là loại thuế có mục đích điều chỉnh hành vi người tiêu dùng, hạn chế tiêu dùng, tăng ngân sách Nhà nước và hạn chế nhập siêu Tất cả các mẫu xe dù được sản xuất trong nước hay nhập khẩu đều phải nộp thuế này Tùy từng chủng loại, dung tích xi lanh và công nghệ sử dụng, mỗi loại xe có mức thuế tiêu thụ đặc biệt khác nhau Trong đó mức thuế thấp nhất dành cho ô
tô dưới 9 chỗ chạy bằng điện là 15% giá trị xe, ngược lại, mức thuế cao nhất mà
xe ô tô dưới 9 chỗ phải chịu lên tới 130% giá trị xe đối với động cơ dung tích từ 5.000 đến 6.000 phân khối
Thuế giá trị gia tăng là 10% giá trị xe cho tất cả các dòng xe Đây là loại thuế áp dụng cho tất cả các loại hàng hoá tại Việt Nam, không chỉ riêng ô tô
Bên cạnh các loại thuế kể trên, để một chiếc xe ô tô được lăn bánh trên đường, ô
tô nhập khẩu vào Việt Nam phải đóng số chi phí khác như phí trước bạ, phí cấp biển số
xe, phí đăng kiểm, phí sử dụng đường bộ, phí cấp giấy chứng nhận bảo đảm an toàn kỹ thuật cho xe,
3.2.2 Mục tiêu của việc đánh thuế nhập khẩu ô tô cao là gì? Hiện nay, các mục tiêu chính phủ đặt ra có đúng đắn không?
Hạn chế nhập siêu
Với nền công nghiệp ôtô của Việt Nam thì hầu như chưa có gì ngoài lắp ráp và gia công vỏ ôtô Điều này đồng nghĩa với việc hầu như ôtô của Việt Nam hiện tại đang phải nhập khẩu, không chỉ nhập nguyên chiếc mà còn nhập máy móc linh kiện Nhập khẩu nhiều đồng nghĩa với nhập siêu và lạm phát Với bối cảnh kinh tế của nước ta đang thiếu vốn và tình hình kinh tế thế giới đang có những diễn tiến bất lợi đối với Việt Nam, theo đó giá nguyên liệu, năng lượng, lương thực liên tục tăng cao, thì việc nhập khẩu
ồ ạt ô tô cũng góp phần làm tăng những khó khăn mà Việt Nam đang phải đối mặt, đó
là vấn đề nhập siêu Theo số liệu Tổng cục Hải quan mới công bố, chỉ trong tháng 12/2021, cả nước nhập khẩu 15.196 ô tô nguyên chiếc, tổng kim ngạch 432,65 triệu USD Đáng chú ý, dù trong năm dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nhưng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu cao kỷ lục từ trước đến nay, vượt xa so với năm 2020 (105.000 xe) và năm có lượng nhập kỷ lục trước đó là năm 2019 (139.427 xe) Chính vì thế nên phải đánh thuế và phí cao để hạn chế là hoàn toàn đúng
Trang 15 Phát triển công nghiệp sản xuất xe trong nước
Chính phủ đánh thuế cao ô tô nhập khẩu vào Việt Nam để bảo hộ phát triển ngành sản xuất xe trong nước Việc đánh thuế cao các loại xe nhập khẩu sẽ tạo điều kiện cho
xe nội địa phát triển Qua đó giúp đất nước đổi mới, kinh tế phát triển và tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân hơn Có thể nói, trong suốt một thời gian dài, để bảo hộ cho ngành công nghiệp ô tô còn non trẻ trong nước Chính phủ đã áp nhiều loại thuế đánh trên đối tượng ô tô nhập khẩu, trong đó có thuế nhập khẩu với mức thuế suất rất cao Điều này đã làm cho giá thành ô tô trên thị trường Việt Nam thuộc vào hàng cao nhất trên thế giới, mặc cho GDP bình quân đầu người của nước ta còn rất thấp Tuy nhiên, ngành công nghiệp ô tô sau thời gian dài được bảo trợ còn tồn tại rất nhiều hạn chế về năng lực cạnh tranh
Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông và giảm ùn tắc giao thông
Hiện nay cơ sở hạ tầng về giao thông của nước ta đang ngày càng xuống cấp rất nhiều con đường xuất hiện ổ voi, ổ gà do có nhiều xe ô tô trọng lượng lớn qua lại Điều này gây ảnh hưởng lớn đến những người tham gia giao thông khác Dù đã có nâng cấp đổi mới, tuy nhiên vẫn cần phải có thời gian Việc tăng thuế xe ô tô cao sẽ giúp giảm được phần lớn xe cũng như việc làm hư hại hạ tầng Bên cạnh đó, ùn tắc giao thông đã trở nên ngày càng trầm trọng do lượng xe tham gia giao thông tăng nhanh chóng Ðiều đáng chú ý là lượng xe nhập khẩu về chủ yếu được lưu hành ở hai trung tâm kinh tế - xã hội lớn nhất cả nước là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, làm cho vấn đề giao thông ở hai thành phố này trở nên trầm trọng, gây thiệt hại nhiều mặt đối với sự phát triển đất nước Trước tình hình đó, việc tăng thuế nhập khẩu ô tô là biện pháp ứng phó cấp bách, không những làm giảm nhập siêu, hạn chế ùn tắc giao thông, mà còn góp phần bảo đảm cân đối vĩ mô của Nhà nước
Giảm lượng khí thải ra môi trường
Lượng ô tô nhiều đồng nghĩa với nhiều khí thải, giao thông chật chội hơn, tốn nhiều thời gian đi trên đường Bên cạnh đó, lượng khí thải sẽ tăng cao do nhu cầu sử dụng nhiên liệu nhiều, làm tăng gánh nặng cho chi phí môi trường và nếu không xử lý được sẽ gây hậu quả nghiêm trọng Cách áp đặt thuế nhập khẩu của Việt Nam của nhằm giảm phát thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính; áp dụng các công cụ kinh tế nhằm buộc
Trang 16các nhà sản xuất chuyển chi phí bảo vệ môi trường vào giá thành sản phẩm; khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư bảo vệ môi trường Như vậy, việc giảm thiểu lượng xe ô
tô cũng giúp giảm lượng khí thải ra môi trường, góp phần bảo vệ môi trường sống của chúng ta
3.2.3 Mức độ hiệu quả của việc đánh thuế nhập khẩu ô tô cao trong việc thực hiện mục tiêu chính phủ đặt ra
Sau gần 25 năm được bảo hộ, dù đã có nhiều sự nỗ lực và can thiệp của nhà nước nhưng ngành công nghiệp ôtô nước ta vẫn chưa đạt được nhiều thành tựu nổi bật, còn tồn đọng nhiều điểm yếu kém cần khắc phục như tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chất lượng và giá thành chưa tương xứng Nhìn chung, chính sách đánh thuế nhập khẩu ô tô cao chưa tạo nên hiệu quả rõ rệt cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Số lượng xe lắp ráp trong nước còn thấp:
Ngành công nghiệp ô tô hiện nay vẫn chỉ đóng góp rất ít vào nền kinh tế quốc dân Mục tiêu của chúng ta là ngành công nghiệp ô tô sẽ đóng góp 10% GDP toàn ngành nhưng con số thực tế chỉ dừng lại ở 3% Sản lượng ô tô được sản xuất ra thị trường chỉ bằng 1/3 số lượng đã đề ra
Cụ thể vào năm 2005, khi con số đề ra là 120.000 chiếc thì thực tế chúng ta chỉ sản xuất được chưa đầy một nửa là 59.200 chiếc Vào 2010, mục tiêu cần thực hiện là 239.000 chiếc nhưng cũng chỉ sản xuất được 112.300 chiếc Và đến năm 2015, mục tiêu
đề ra là 398.000 chiếc nhưng tổng sản lượng cũng chỉ có 198.000 chiếc, tức là vẫn chưa hoàn thành được kế hoạch đã đề ra từ 10 năm trước Theo số liệu của Tổng cục thống
Hình 1: Số lượng ô tô sản xuất theo kế hoạch và thực tế 2005-2015
Trang 17kê, năm 2016, số lượng xe lắp ráp trong nước là 283.300 chiếc Con số này không thay đổi quá nhiều khi đến năm 2021, lượng xe lắp ráp là 299.800 chiếc.
Khi chúng ta so sánh sản lượng với những quốc gia phát triển, ta càng nhận thấy
sự tụt hậu của sản xuất ô tô Việt Nam so với thế giới Năm 2010, sản lượng xe của Thái Lan gần gấp 7 lần Việt Nam thì năm 2015, con số này đã lên đến hơn 10 lần Nếu so sánh với các cường quốc trên thế giới, khoảng cách này càng được nới ra rõ rệt Năm
2015, nếu nước ta sản xuất được 100.000 ô tô chở khách thì Trung Quốc sản xuất được 24.5 triệu chiếc; Mỹ 12.1 triệu chiếc; Nhật Bản là khoảng 9.2 triệu chiếc (OICA, 2015)
Giá thành quá cao không đáp ứng được nhu cầu của đa số người Việt:
Thực tiễn trong thời gian qua đã cho thấy, hàng rào bảo hộ cao của chính phủ đã ngăn cản sự cạnh tranh từ ô tô nhập khẩu cùng với sự yếu kém cố hữu của chế độ độc quyền trong nước ở những quốc gia đang phát triển đã dần hình thành một thị trường gần như độc quyền cấu kết về giá Giá của các dòng xe cùng hạng giữa các nhà sản xuất không có quá nhiều điểm khác biệt, chủ yếu sẽ xoay quanh một mức giá vừa đủ để người tiêu dùng không chuyển sang mua xe nhập khẩu Các nhà sản xuất cũng không có động thái gia tăng sản xuất dù công suất dư thừa Cùng với sự phát triển trì trệ, yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ, thiếu thốn công nghệ đã dẫn đến tình trạng giá xe ô tô Việt Nam cao nhất nhì trong khu vực gấp 1,5 - 2 lần so với Thái Lan; 2,5 lần so với xe được sản xuất chính hãng Giá thành cao dẫn đến nhu cầu thanh toán thấp, thị trường nhỏ hẹp, sản xuất vẫn tiếp tục trì trệ và không có sự thay đổi đáng kể về số lượng qua các năm
Dưới đây là bảng so sánh về giá của hai mẫu xe quen thuộc là Toyota Camry và Toyota Fortuner ở những nước có nền kinh tế đứng đầu trong ASEAN