TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA KINH TẾ VÀ ĐÔ THỊ BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN THỰC PHẨM NƯỚC VÀ SỨC KHOẺ Nhóm Sinh viên Nhóm 06 Lê Thu Thuỳ Hoàng Phương Thảo Lê Đăng Quang Lớp Thực phẩm nước và sức khoẻ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA KINH TẾ VÀ ĐÔ THỊ
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: THỰC PHẨM NƯỚC VÀ SỨC KHOẺ
Lê Thu Thuỳ Hoàng Phương Thảo
Lê Đăng Quang
khoẻ (N01) Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Vân Anh
Hà Nội, tháng 11/2021
Trang 2MỤC LỤC
Câu 1: Tóm lược thực trạng nền nông nghiệp/thực phẩm của các nước Nam Á và đưa ra nhận xét
về một số nguy cơ mà các nước này đang phải đối mặt 1
1 Thực trạng nền nông nghiệp/thực phẩm của các nước Nam Á 1
- Thực trạng nghiên cứu khoa học công nghệ trong nông nghiệp 1
- Sự mất cân bằng giới tính 2
- Biến đổi khí hậu 2
- Thực trạng nền thực phẩm của Nam Á 3
2 Nhận xét về một số nguy cơ mà các nước Nam Á phải đối mặt 3
- Biến đổi khí hậu, và tình trạng mất an ninh lương thực ở Nam Á 3
- Ô nhiễm nguồn nước 5
- Tình trạng sử dụng quá mức nguồn năng lượng 6
Câu 2: Hãy thử xây dựng một nexus trong đó có thành phần là Thực phẩm (food) Phân tích các mối liên hệ giữa các yếu tố trong nexus này Từ đó, nhận xét xem những chính sách phát triển nông nghiệp của các nước Nam Á trong giai đoạn này có đảm bảo được sự phát triển bền vững hay không? Tại sao? (bạn có thể thu thập thêm những thông tin có liên quan để chứng mình quan điểm của mình) Hãy đề xuất một số ý kiến/giải pháp cho sự phát triển nông nghiệp của các nước Nam Á để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững (ít nhất 03 giải pháp) 7
1 Mô hình Nexus và phân tích các yếu tố 7
2 Những chính sách phát triển nông nghiệp của các nước Nam Á 10
3 Giải pháp cho sự phát triển nông nghiệp của nước Nam Á để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững 10
- Canh tác thủy canh 10
- Tăng sản xuất thực phẩm 11
- Trong thực phẩm 11
- Xử lý chất thải 11
3 Phương pháp xử lý khí thải hiện đại bằng sinh học như 12
- Giải pháp dài hạn 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3Câu 1: Tóm lược thực trạng nền nông nghiệp/thực phẩm của các nước Nam Á và đưa ra nhận xét về một số nguy cơ mà các nước này đang phải đối mặt
1 Thực trạng nền nông nghiệp/thực phẩm của các nước Nam Á
Nam Á, bao gồm Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Maldives, Nepal, Pakistan và Sri Lanka, là khu vực địa lý đông dân cư nhất trên thế giới và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số thế giới Nông nghiệp Nam Á chủ yếu phụ thuộc vào các hộ sản xuất nông nghiệp tư nhân hoặc các nhóm sản xuất nhỏ, tỷ lệ đất nông nghiệp trên dân số nông nghiệp khoảng 0,38 ha/người Tỉ lệ này ở các nước phát triển là khoảng hơn 11 ha/người Với 6% diện tích đất trên thế giới và 25% dân số, tỷ lệ đất sẵn có bình quân đầu người thấp hơn trung bình thế giới 4–6 lần Khoảng 57% diện tích Nam Á là đất canh tác hoặc đất nông nghiệp Gần 60% dân số Nam Á làm nông nghiệp
- Thực trạng nghiên cứu khoa học công nghệ trong nông nghiệp
Nghiên cứu nông nghiệp ở Nam Á đã được tăng cường mạnh mẽ trong 40 năm qua thông qua việc tổ chức lại Hệ thống Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia (NARS); với việc thành lập các cơ quan điều phối trung ương, phân cấp thành các trung tâm nghiên cứu cấp vùng, tăng cường nhân lực và tăng cường đầu tư Các NARS trong khu vực đã được hưởng lợi rất nhiều từ các mối liên kết và mạng lưới chặt chẽ mà họ đã thiết lập với các Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (IARC), chẳng hạn như IRRI, CIMMYT và ICRISAT, dựa trên sự tham gia của họ trong việc phát triển công nghệ cách mạng xanh Gần đây, nhiều NARS đã chuyển trọng tâm sang việc đáp ứng những thách thức sau cách mạng xanh về năng suất và quản lý tài nguyên trì trệ, bằng cách phát triển các công nghệ cho nông dân nghèo tài nguyên và nông dân trong môi trường cây trồng không tối ưu
Lúa gạo theo truyền thống là cây trồng quan trọng nhất ở Nam Á và nó đã tăng mạnh trong 30 năm qua - chủ yếu là do kết quả của cuộc cách mạng xanh - với năng suất tăng trung bình gần hai phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 1970 đến năm 2000 Diện tích lúa cũng tăng nhưng chậm hơn, dẫn đến sản lượng 2,5% trong 30 năm qua, đạt 184 triệu tấn Sản lượng được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong giai đoạn đến năm 2030 Cho đến nay, sản lượng lúa mì đã cho thấy mức tăng trưởng mạnh nhất trong số các
Trang 4loại ngũ cốc trong những thập kỷ gần đây với sự gia tăng cả về sản lượng (gần ba phần trăm mỗi năm) và diện tích đất (1,4 phần trăm mỗi năm) để đạt được tổng sản lượng tăng hơn 250 phần trăm lên gần 100 triệu tấn vào năm 2000 Sự tăng trưởng này dự kiến sẽ tiếp tục trong giai đoạn đến năm 2030
Trái cây và rau quả đã cân bằng xu hướng sản xuất lúa mì trong những năm gần đây, cho thấy việc đa dạng hóa các mô hình canh tác truyền thống đang được tiến hành tốt Số lượng gia súc chỉ tăng trưởng vừa phải từ khoảng 230 triệu con năm 1970 lên
277 triệu con năm 2000, tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 0,6% trong cả giai đoạn Đối với thịt, sữa và trứng, sản lượng tăng nhanh hơn so với quần thể vật nuôi, cho thấy hiệu quả sản xuất đã được cải thiện trong những thập kỷ gần đây
- Sự mất cân bằng giới tính
Các nền kinh tế Nam Á đã phát triển đáng kể, nhưng nông nghiệp vẫn chưa theo kịp Vì cả nam giới và phụ nữ đều đóng góp vào lĩnh vực nông nghiệp nên quan hệ giới ảnh hưởng đến cách thức hoạt động của cơ chế nông học Theo dữ liệu của Tổ chức Nông lương, ở Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nepal, Sri Lanka và Bhutan, hơn 60% phụ nữ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) 5 của Liên hợp quốc cho thấy bình đẳng giới là chìa khóa để không còn nạn đói vì phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất lương thực SDG 5 tập trung vào việc tăng cường khả năng tiếp cận đất đai và tài nguyên thiên nhiên của phụ nữ Nếu nông dân nữ có quyền sở hữu hợp lý đối với đất đai và tài nguyên thiên nhiên, họ sẽ tạo ra năng suất cao hơn trong sản xuất lương thực Thêm vào đó, dinh dưỡng hộ gia đình cũng sẽ tăng lên
- Biến đổi khí hậu
Nam Á là một trong những khu vực dễ bị ảnh hưởng nhất bởi tác động của biến đổi khí hậu Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Maldives, Nepal, Pakistan và Sri Lanka cùng là một trong những khu vực đông dân cư nhất thế giới và tất cả đều phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp như một ngành kinh tế Khoảng 57% diện tích đất của Nam Á được dành cho nông nghiệp, trong khi gần 60% dân số của Nam Á tham gia vào sản xuất nông nghiệp dưới hình thức này hay hình thức khác Dân số ngày càng
Trang 5tăng, tài nguyên thiên nhiên suy thoái và tác động của tỷ lệ đói nghèo cao có nghĩa là khu vực này đang phải đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực Điều này chắc chắn sẽ được khuếch đại để đạt đến mức cực hạn với những tác động dự kiến của biến đổi khí hậu Sự gia tăng nhiệt độ, các tác động gián tiếp bao gồm thiếu nước, do lượng mưa hàng năm giảm và nguồn nước đầu vào không đủ, tình trạng độ ẩm của đất thay đổi và tỷ lệ sâu bệnh do thiếu phân bón đã ảnh hưởng đáng kể đến các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, những người chiếm đa số nông dân ở khu vực này và có năng lực tài chính
và kỹ thuật thấp để thích ứng với sự biến động và thay đổi của khí hậu
- Thực trạng nền thực phẩm của Nam Á
Vì nền nông nghiệp Nám Á là nền nông nghiêp nhiệt đới nên thực phẩm dồi dào Thực phẩm Nam Á còn xuất khẩu đi các nước trên thế giới , nhưng chất lượng của thực phẩm không cao , còn mất vệ sinh Tuy nhiên ngày càng mở rộng đất sản xuất nông nghiêp sẽ gây phá hoại rừng , khiến nguồn nước bị đe dọa Thói quen sử dụng chất hóa học trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu thuốc cỏ sẽ gây ô nhiễm nguồn nước Việc sử dụng quá nhiều phân bón và hóa chất BVTV không đúng quy trình gây ô nhiễm môi trường nước Nước thải chăn nuôi cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với môi trường nước Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản, nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy,các chất tồn dư của vật tư sử dụng như hóa chất, vôi, khoáng chất, lưu huỳnh lắng đọng dẫn đến ô nhiễm môi trường nước
2 Nhận xét về một số nguy cơ mà các nước Nam Á phải đối mặt
- Biến đổi khí hậu, và tình trạng mất an ninh lương thực ở Nam Á
Mối đe dọa và cơ hội tiềm ẩn mà các nước Nam Á phải đối mặt trong mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước và an ninh lương thực Càng ngày, ba vấn
đề này càng có có mối liên hệ chặt chẽ và tác động tới nhau
Không giống như ở Đông Á và Đông Nam Á, tăng trưởng kinh tế không tương xứng với cải thiện các chỉ số xã hội ở Nam Á (trừ Sri Lanka) Năm 2005, Nam Á là nơi sinh sống của 44% trong gần 1,4 tỷ người nghèo nhất thế giới (theo World Bank, 2008)
và chứa số lượng lớn nhất thế giới về nạn đói - gần 350 triệu
Trang 6Các cuộc khủng hoảng lương thực và tài chính năm 2007 và 2008 đã khiến con số này tăng chóng mặt Ngoài ra, không giống như trong cuộc Cách mạng Xanh vào những năm 1970, nông nghiệp không còn đóng góp nhiều vào thu nhập Nông nghiệp hiện chỉ chiếm chưa đến ⅕ GDP ở các nước Nam Á, nhưng nó vẫn chứa nhiều hơn một nửa lực lượng lao động của họ
Bên cạnh đó, khu vực Nam Á còn phải đối mặt với áp lực về dân số trên đất liền lớn nhất thế giới Điều này dẫn đến căng thẳng chưa từng có đối với tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái Có thể đề cập tới suy thoái rừng, đất, đất ngập nước, tác động xấu tới sông, hồ… Là một khu vực thuộc Châu Á, nơi đây cũng rất dễ bị ảnh hưởng bởi động đất, lũ lụt hay các biến đổi khí hậu khắc nghiệt khác Theo như World Bank, các thảm họa liên quan đến nước đang gia tăng, thậm chí tăng gấp 5 lần chỉ tính riêng trong năm 2010 Điều này gây ra thiệt hại nặng nề tới con người, sinh kế và tài sản
Dẫn chứng chỉ rõ nhất là lũ lụt năm 2007 dọc theo sông Hằng và sông Brahmaputra
đã khiến hơn 13 triệu người bị ảnh hưởng ở Bangladesh, tiền thiệt hại trong trận lũ lụt này vượt qua con số 1 tỷ Đô la Mỹ Hàng triệu tấn lương thực bị mất mùa và thiệt hại
về nhà cửa đất đai đã làm gia tăng thêm con số về người thiệt mạng liên quan đến anh ninh lương thực lên đến hàng nghìn người Lũ lụt và hậu quả của lũ lụt (bao gồm dịch bệnh) đã nâng mức đau khổ của con người lên cao
Không chỉ lũ lụt, hạn hạn thường xuyên kéo dài sau lũ lụt cũng khiến sản xuất lương thực của các nước Nam Á tụt dốc tạo ra cuộc khủng hoảng lương thực Năm
2017 hạn hán nghiêm trọng làm giảm hơn 40% việc sản xuất gạo và lương thực chính của đất nước Sri Lanka
Nhiệt độ tăng làm gia tăng yêu cầu tưới tiêu cho cây trồng và sự thay đổi lượng mưa ngày càng tăng khiến nền nông nghiệp trồng trọt có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng Một số nhà phân tích đã dự báo rằng GDP của Nam Á có thể bị thiệt hại 2% vì biến đổi khí hậu
Những rủi ro đang ngày càng gia tăng trong khu vực do biến đổi khí hậu, các hiện tượng khắc nghiệt của thời tiết và tỷ lệ mắc bệnh do nhiệt độ tăng cao Chính vì vậy, không nơi nào mà tài nguyên đất và tài nguyên nước cần được quản lý gấp hơn ở Nam
Trang 7Á Trong số những thách thức chính là đạt được an ninh lương thực và nước ở khu vực Nam Á có tỷ lệ trẻ em và người lớn thiếu dinh dưỡng lớn nhất trên thế giới
Cuối cùng, Nam Á sẽ cầng đối mặt với toàn bộ hệ lụy của mối liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa mất an ninh nguồn nước, mất an ninh lương thực và biến đổi khí hậu Dòng viện trợ quốc tế cho khu vu Nam Á giảm do tỷ trọng GDP và đầu tư Do đó, các nhà hoạch định chính sách của khu vực sẽ phải gồng mình để đối mặt với thách thức gấp ba này
- Ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm nguồn nước do sản suất nông nghiệp đe dọa đến sức khỏe con người Thói quen sử dụng chất hóa học trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu thuốc cỏ sẽ gây ô nhiễm nguồn nước Việc sử dụng quá nhiều phân bón và hóa chất BVTV không đúng quy trình gây ô nhiễm môi trường nước Nước thải chăn nuôi cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với môi trường nước Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản, nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của vật tư sử dụng như hóa chất, vôi, khoáng chất, lưu huỳnh lắng đọng dẫn đến ô nhiễm môi trường nước
Nguồn nước sử dụng trong nông nghiệp bị ô nhiễm dẫn đến việc tồn dư các chất độc hại trong nông sản Nguồn nước chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản bị đe dọa Ảnh hưởng trực tiếp đến sự đa dạng nguồn vi sinh vật trong đất và nước.Chất thải chăn nuôi
là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp Ô nhiễm môi trường trong ngành chăn nuôi đang ngày càng nghiêm trọng khi người dân thì đua nhau chăn nuôi gia súc vì lợi nhuận ngày càng tăng của nó mà không có ý thức đầu tư xây dựng một hệ thống xử lý chất thải hợp lý Các chất thải từ chăn nuôi chủ yếu là phân của các động vật, gia súc có tác động trực tiếp đến sức khỏe cộng động, làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, cho năng suất thấp, sức đề kháng của gia súc bị giảm sút nguy cơ phát dịch bệnh cao Đến cuối cùng đó là giảm sút về kinh
tế Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2014 đàn lợn có khoản 26,76 triệu con, đàn trâu bò khoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69 triệu con Trong đó chăn nuôi nông hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 65-70% về số lượng và sản lượng Từ
Trang 8số đầu gia súc, gia cầm đó có thể quy đổi được lượng chất thải rắn (phân chất độn chuồng, các loại thức ăn thừa hoặc rơi vãi) đàn gia súc, gia cầm của thải ra khoảng trên
76 triệu tấn, và khoảng trên 30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận động, bãi chăn) Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa nitơ, phốt pho, kẽm, đồng, chì, Asen , Niken (kim loại nặng)… và các vi sinh vật gây hại khác không những gây ô nhiễm không khí mà còn làm ô nhiễm đất, làm rối loạn độ phì đất, mặt nước mà cả nguồn nước ngầm
Quá trình sinh sống của gia súc, gia cầm ngoài thải ra chất thải như nói trên thì còn bài thải các loại khi hình thành từ quá trình hô hấp của vật nuôi và thải ra các loại mầm bệnh, ký sinh trùng, các vi sinh vật có thể gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người và môi trường sinh thái như: E.Coli, Salmonella, Streptococcus fecalis, Enterobacteriae,… Chăn nuôi phát triển cũng tạo ra những rủi ro cho môi trường sinh thái và là một trong những nguyên nhân làm trái đất nóng lên nếu việc xử lý các chất thải từ chăn nuôi không được xử lý hiệu quả Nếu các chất thải chăn nuôi đặc biệt phân chuồng không được xử lý hiệu quả sẽ là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trường, ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khoẻ của cộng đồng dân cư trước mắt cũng như lâu dài Vấn đề đặt ra là phát triển chăn nuôi nhưng phải bền vững để hạn chế tối đa mức độ gây ô nhiễm và bảo vệ được môi trường sinh thái
- Tình trạng sử dụng quá mức nguồn năng lượng
Tình trạng lạm dụng và sử dụng quá mức nguyên liệu hóa thạch trong nền nông nghiệp gây ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường và đặc biệt là môi trường nước Đây cũng chính là nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng nhà kính và nóng lên toàn cầu Những giải pháp khuyến nông của Nam Á chỉ đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm tạm thời nhưng để duy trì lâu dài thì phải trả giá quá đắt cho sức khỏe và ô nhiễm môi trường Xây dựng nhiều đập thủy điện và khai thác tối đa nguồn nước ngầm về hiện tại có thể đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực nhưng càng về lâu sẽ gây mất cân bằng an ninh nước Cụ thể, dân số Nam Á đang và sẽ phải đối mặt với nguy cơ khan hiến nước trầm trọng và ô nhiễm nguồn nước do tình trạng lạm dụng nguyên liệu hóa thạch
Trang 9Câu 2: Hãy thử xây dựng một nexus trong đó có thành phần là Thực phẩm (food) Phân tích các mối liên hệ giữa các yếu tố trong nexus này Từ đó, nhận xét xem những chính sách phát triển nông nghiệp của các nước Nam Á trong giai đoạn này
có đảm bảo được sự phát triển bền vững hay không? Tại sao? (bạn có thể thu thập thêm những thông tin có liên quan để chứng mình quan điểm của mình) Hãy đề xuất một số ý kiến/giải pháp cho sự phát triển nông nghiệp của các nước Nam Á
để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững (ít nhất 03 giải pháp)
1 Mô hình Nexus và phân tích các yếu tố
Nam Á là nơi có số dân đói và suy dinh dưỡng lớn nhất thế giới Khoảng 277 triệu người đang bị suy dinh dưỡng ở Nam Á và con số này dự kiến sẽ chỉ giảm nhẹ xuống còn 230 triệu người vào năm 2030 Khu vực này là nơi sinh sống của 1,5 tỷ người chủ yếu dựa vào nông nghiệp là nguồn sinh kế chính của họ Ngành nông nghiệp chịu trách nhiệm về 90% tổng lượng nước ngọt rút và 15–20% sử dụng năng lượng và đóng góp đáng kể vào việc phát thải khí nhà kính Trong số 204 triệu ha đất canh tác, gần một nửa (93 triệu ha) được tưới, 34 triệu ha (37%) từ nước mặt, 51 triệu ha (55%) từ nước ngầm và 8 triệu ha (9%) từ sự kết hợp giữa nước mặt và nước ngầm Nông nghiệp thủy
Trang 10lợi không chỉ cung cấp lương thực cho hàng triệu người, nó còn sử dụng hàng triệu người, cung cấp sinh kế và an ninh lương thực cho họ
Sản xuất lương thực ở Nam Á ngày càng trở nên sử dụng nhiều nước và năng lượng Hiện hơn 60 triệu ha đất nông nghiệp được sử dụng để trồng lúa, loại lương thực quan trọng nhất Gạo là loại cây cần nhiều nước, cần lượng nước nhiều hơn lúa mì và các loại ngũ cốc khác từ hai đến ba lần Diện tích được sử dụng để trồng lúa mì, một loại lương thực quan trọng khác, đã tăng gần 2 lần lên 50 triệu ha từ năm 1960 đến năm
2018 do sự phát triển của hệ thống tưới nước ngầm Nhìn chung, năng suất cây trồng trong khu vực đã tăng mạnh Ví dụ, ở Ấn Độ, sản lượng lương thực ngũ cốc đã tăng từ
108 triệu tấn trong những năm 1960 lên 265 triệu tấn vào năm 2015 Sự gia tăng này
đã được thực hiện thông qua việc mở rộng nông nghiệp có tưới, cơ giới hóa và sử dụng hóa chất nông nghiệp, tất cả đều có ý nghĩa đối với việc sử dụng nước và năng lượng Diện tích đất bình quân đầu người đã giảm mạnh cho đến ngày nay, giá trị là 0,12
ha / đầu người so với mức bình quân toàn cầu là 0,20 ha / đầu người Điều này đã buộc nông dân phải tăng cường sử dụng các nguyên liệu đầu vào nông nghiệp như nước, phân bón và thuốc trừ sâu để tăng năng suất Đồng thời, tỷ lệ bao phủ tưới mặt giảm từ
49 triệu ha năm 1999 xuống 37 triệu ha năm 2009 - trong khi tưới nước ngầm, đòi hỏi nhiều năng lượng hơn để bơm, tăng từ 36 triệu ha lên 51 triệu ha Năng lượng cũng cần thiết để vận hành máy móc nông nghiệp được sử dụng trong các hoạt động làm đất, thu hoạch, đập lúa và sau thu hoạch như sấy khô, xay xát, đóng gói, lưu trữ và chế biến, cũng như để vận chuyển đầu vào và sản phẩm nông nghiệp và sản xuất phân bón và thuốc trừ sâu Ở Ấn Độ, nông nghiệp chiếm gần 20% tổng lượng điện tiêu thụ trong năm 2009, với tỷ lệ cao là 40% ở Haryana, và gần 30% ở các bang Gujrat và Punjab Nhiên liệu hóa thạch được sử dụng rộng rãi như một nguồn năng lượng trong nông nghiệp, và việc thâm canh nông nghiệp đã làm tăng lượng phát thải khí nhà kính gấp 3,5 lần trong 40 năm qua, từ 1 triệu kt năm 1970 lên 3,6 triệu kt (tương đương CO2) vào năm 2012
Vì vậy, nông nghiệp là thành phần cốt lõi trong mối liên kết nước-đất-năng lượng
ở Nam Á Để nuôi sống dân số ngày càng tăng của họ, các nước Nam Á đã theo đuổi các chính sách nhằm đạt được khả năng tự cung tự cấp về gạo và lúa mì dựa trên việc