Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói KB Zalo/Tele 0973 287 149 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM THỊ LAN ANH HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 VẤN ĐỀ LÝ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dưới đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Lan Anh
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 8
1.1 Khái quát chung về kết hôn, kết hôn trái pháp luật và vấn đề điều chỉnh pháp luật 8
1.1.1 Khái niệm kết hôn, điều kiện kết hôn 8
1.1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật 14
1.1.3 Khái niệm hủy việc kết hôn trái pháp luật 16
1.2 Điều chỉnh pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 18
1.2.1 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong cổ luật Việt Nam 18
1.2.2 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 20
1.2.3 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 22
1.2.4 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay 28
Chương 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 32
2.1 Nguyên tắc xử lý đối với hủy việc kết hôn trái pháp luật 32
2.2 Người có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật 34
2.2.1 Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn 36
2.2.2 Viện kiểm sát 37
2.2.3 Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ 37
2.2.4 Vợ, chồng, cha, mẹ, con cái của các bên kết hôn 39
2.3 Thẩm quyền của Tòa án và thủ tục huỷ việc kết hôn trái pháp luật 41
Trang 42.4 Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật và đường lối giải quyết đối với các
trường hợp kết hôn trái pháp luật 44
2.4.1 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn 44
2.4.2 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện 51
2.4.3 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm các trường hợp cấm kết hôn 55
2.5 Hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật 75
2.5.1 Quan hệ nhân thân 75
2.5.2 Quan hệ cha, mẹ và con 76
2.5.3 Quan hệ tài sản 77
Chương 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 80
3.1 Thực tiễn giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật trong 05 năm gần đây (2009 - 2013) 80
3.2 Phương hướng cơ bản để hoàn thiện pháp luật về hủy kết hôn trái pháp luật 85
3.2.1 Nhu cầu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật 85
3.2.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về huỷ việc kết hôn trái pháp luật 87
3.3 Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện quy định về hủy kết hôn trái pháp luật 98
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và giađình” [22, Khoản 2 Điều 36] Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tếbào của xã hội "Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càngtốt"[19] Từ ý nghĩa sâu sắc đó Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựngcác chuẩn mực để tạo nên gia đình văn hoá, tiến bộ mang đậm bản sắc vănhoá truyền thống dân tộc Mục tiêu này đã được luật hoá trong các văn bảnpháp luật nói chung, đặc biệt là trong pháp luật Hôn nhân và gia đình LuậtHôn nhân và gia đình đã tạo hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ hônnhân và gia đình phát triển theo đúng hướng mà Nhà nước đã đề ra Kết hôn
là bước khởi đầu để hình thành nên gia đình, vì vậy việc quy định các điềukiện kết hôn là yêu cầu tất yếu của xã hội Tuy nhiên, do tác động của nhiềuyếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, việc không tuân thủ các điều kiện kết hôn vẫnđang diễn ra hàng ngày trong đời sống gây nên hiện tượng kết hôn trái phápluật Các trường hợp kết hôn trái pháp luật đã có những tác động tiêu cực đếncác mặt của xã hội, ảnh hưởng tới đạo đức, nhân cách, lối sống của conngười, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, ảnh hưởng tới quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, ảnh hưởng tới sức khoẻ và việc duy trì nòi giống củadân tộc Vì vậy, Nhà nước ta đã điều chỉnh hiện tượng này bằng chế tài Huỷviệc kết hôn trái pháp luật Là chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình nên hậuquả của huỷ việc kết hôn trái pháp luật là rất nặng nề, ảnh hưởng tới cuộcsống của chủ thể kết hôn, tới quyền lợi cuả con cái họ, quyền lợi của mọingười và ảnh hưởng tới trật tự xã hội Do đó, nghiên cứu về vấn đề huỷ việckết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình là vô cùng cần thiết.Không chỉ nhằm giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật được hiệu quả, màquan trọng hơn đó là hoàn thiện hơn nữa chế tài này Có như vậy ý nghĩa của
Trang 6chế tài mới được phát huy, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đảmbảo trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, dù là chế tài đã được quy định rất có hệthống, nhưng thực tiễn xét xử cho thấy có rất ít trường hợp hủy việc kết hôntrái pháp luật Thực trạng này phản ánh tính đặc thù của thi hành và áp dụngpháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung, áp dụng các quy định về hủyviệc kết hôn trái pháp luật nói riêng Nhằm làm rõ hơn một số vấn đề lý luận
và thực tiễn của hủy việc việc kết hôn trái pháp luật, qua đó đề xuất nhữngluận cứ cho việc hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình mà cụ thể là
chế định hủy việc kết hôn trái pháp luật, tác giả lựa chọn đề tài “Hủy việc kết
hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm Vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2000-2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Huỷ việc kết hôn trái pháp luật là một vấn đề cần được quan tâm trongthực tiễn cuộc sống và trong hệ thống pháp luật Bởi ngoài việc xử lý kịp thờicác hành vi vi phạm thì đây còn là biện pháp răn đe, giáo dục, nâng cao ý thứcchấp hành pháp luật của mọi công dân, bảo đảm tính hiệu quả của pháp luật Dovậy, trong thời gian qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này
Đã có một số bài viết mang tính chất nghiên cứu một số nội dung của vấn đề huỷviệc kết hôn trái pháp luật được đăng tải trên tạp chí Luật học, Tạp chí Nhànước và pháp luật… kể cả một số luận văn thạc sĩ và luận văn tiến sĩ luật họcnghiên cứu liên quan Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu chủ yếu như:
Hủy kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Khóa
luận tốt nghiệp của Phạm Thị Thu, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002.
Khóa luận này chỉ trình bày vấn đề mang tính chất khái quát về hủy việc kết hôntrái pháp luật mà không đi sâu phân tích vấn đề lý luận và thực tiễn Hay như:
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật trong tình hình xã hội hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
năm 2012 của Nguyễn Huyền Trang Ở luận văn này, tác giả
Trang 7đánh giá thực trạng của việc kết hôn trái pháp luật nhưng chỉ đề cập mangtính sơ lược về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật Một số các bài báo, tạpchí chuyên ngành luật được đăng tải trên các Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạpchí Kiểm sát, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạpchí Luật học… cũng đã có đề cập tới vấn đề này, tuy nhiên chỉ dừng lại một
khía cạnh nào đó Ví dụ như "Bàn về huỷ kết hôn trái pháp luật" của tác giả Thái Công Khanh trên Tạp chí Toà án nhân dân số 4, tháng 2/2007; "Có thể
tuyên bố huỷ việc kết hôn trái pháp luật khi một bên kết hôn chết" của tác giả
Trần Thiện Hoàng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 14, tháng 7/2011; "Nên
cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi mấy đời?" của tác giả Ngô
Cường trên Tạp chí Toà án nhân dân số 7, tháng 4/2013; "Thẩm quyền giải
quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thuộc Toà án nào?" của tác giả
Nguyễn Thị Hương trên Tạp chí Toà án nhân dân số 20 tháng 10/2009; "Giải
quyết việc kết hôn trái pháp luật như thế nào trong vụ án thừa kế" của tác giả
Nguyễn Thị Hạnh trên Tạp chí Toà án nhân dân số 23 tháng 12/2011; "Kết hôn
- hậu quả pháp lý theo Luật Hôn nhân và gia đình" của tác giả Nguyễn Quang
Hiền trên Tạp chí Toà án nhân dân số 10, tháng 5/2013; "Hoàn thiện quy định
về các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000"
cuả tác giả TS Nguyễn Văn Cừ trên Tạp chí Toà án nhân dân số 24, tháng
12/2013…
Như vậy, có thể nhận thấy mỗi công trình nghiên cứu là sự khai tháckhác nhau, nhìn nhận vấn đề dưới các góc độ khác nhau Với công trình củamình, tác giả tiếp cận vấn đề một cách tổng quan và đi sâu phân tích về lýluận cũng như thực tiễn của huỷ việc kết hôn trái pháp luật Do đó, công trình
sẽ không phải là sự lặp lại của bất kỳ công trình nào trước đó
3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ khái niệm huỷ việckết hôn trái pháp luật, căn cứ và đường lối giải quyết huỷ việc kết hôn
Trang 8trái pháp luật Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cũng nhưcác quy định pháp lý về vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật Đồng thời,phân tích, đánh giá, nhìn nhận thực trạng và xu hướng phát triển các quy địnhcủa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp,kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật của Nhà nước về vấn
đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải giải quyếtđược những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về huỷ việc kết hôn trái pháp luậtnhư: Quan niệm kết hôn, điều kiện kết hôn, kết hôn trái pháp luật; huỷ việckết hôn trái pháp luật;
- Nghiên cứu vấn đề điều chỉnh pháp luật trong việc huỷ việc kết hôntrái pháp luật như: nguyên tắc huỷ việc kết hôn trái pháp luật; các quy định vềngười có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật; các căn cứ huỷ việckết hôn trái pháp luật; đường lối giải quyết; hậu quả pháp lý của huỷ việc kếthôn trái pháp luật
- Đánh giá chung thực tiễn giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật tronggiai đoạn hiện nay, trên cơ sở làm rõ nhu cầu và phương hướng hoàn thiệnpháp luật hôn nhân và gia đình về huỷ việc kết hôn trái pháp luật Qua đó kiếnnghị và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là các quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình 2000; văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam quacác thời kỳ; thực tiễn áp dụng pháp luật trong huỷ việc kết hôn trái pháp luật
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Trong pháp luật hôn nhân và gia đình,
vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ
khác nhau Tuy nhiên, với tên đề tài: Huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 - Vấn đề lý luận và thực tiễn, luận
Trang 9văn sẽ chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận xung quanh khái niệm huỷ việckết hôn trái pháp luật; những quy định về huỷ việc kết hôn trái pháp luật trongLuật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng như thực tiễn giải quyếthuỷ việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, từ đó tìm
ra những bất cập và đưa ra các phương hướng giải quyết
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Cũng như mọi công trình khoa học khác phương pháp luận sử dụngtrong việc nghiên cứu đề tài là phương pháp biện chứng duy vật của chủnghĩa Mác - Lênin Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương pháp bổ trợnhư phương pháp so sánh, tổng hợp, đối chiếu, lịch sử để nhằm đánh giá vấn
đề một cách khách quan, toàn diện nhất Trên cơ sở phương pháp phân tích,tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh vấn
đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật, đặc biệt đánh giá, phân tích về thực trạngpháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này, để rút ra những ưu điểm, tồn tạitrong việc thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện pháp luật
6 Những điểm mới của luận văn
So với những công trình nghiên cứu về hủy việc kết hôn trái pháp luậttrước đây, luận văn có những điểm mới như sau:
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụngpháp luật của quy định hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000
- Luận văn nêu ra những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thựchiện áp dụng pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân
Trang 10Với tư cách là một công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề hủy việckết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000,kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mang lại những đóng góp về mặt khoa học
và thực tiễn
* Ý nghĩa khoa học
- Luận văn phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng phápluật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm2000
- Luận văn là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này
về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật
- Luận văn chỉ ra những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hướng hoànthiện về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 Những ý kiến này có thể được sử dụng tham khảo trong quá trình sửađổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình trong thời gian sắp tới
* Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn, luận văn đã chỉ
ra những vướng mắc, bất cập của vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật trongLuật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đồng thời luận văn còn chỉ rõ sự cầnthiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luậttrong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Những ý kiến về phương hướnghoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình trong luận văn có thể góp phần quantrọng trong thực tiễn thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về huỷ việc kết hôn trái pháp luật
theo pháp luật Việt Nam
Chương 2: Nội dung pháp luật Việt Nam hiện hành về huỷ việc kết
Trang 11hôn trái pháp luật.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết, phương hướng và giải pháp tăng
cường hiệu quả điều chỉnh pháp luật về huỷ việc kết hôn trái pháp luật ở ViệtNam hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI
PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN, KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
1.1.1 Khái niệm kết hôn, điều kiện kết hôn.
Sự kết hợp giữa người đàn ông và đàn bà là quy luật của tự nhiên.Trong lịch sử phát triển của loài người, từ thời kỳ sơ khai, khái niệm kết hônchưa hình thành, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là quan hệ tính giao bừa bãi,nhằm thỏa mãn nhu cầu bản năng và duy trì nòi giống Khi con người thoátkhỏi thời kỳ đồ đá, con người đã biết tổ chức cuộc sống dưới hình thức thịtộc, bộ lạc Mỗi thị tộc, bộ lạc tự đặt ra các quy tắc nhằm điều chỉnh các mốiquan hệ trong tổ chức của mình và phù hợp với tổ chức chung của cộng đồng.Khi đó, quan hệ giữa người đàn ông và đàn bà không chỉ mang tính bản năng
mà còn mang tính xã hội Quan hệ đó chịu sự điều chỉnh bởi các tục lệ của thịtộc, bộ lạc và hình thành trên cơ sở huyết thống Khái niệm kết hôn đơn giảnchỉ là sự kết hợp rất tự nhiên của hai chủ thể nam - nữ, được xác lập trên cơ
sở chung sống thực tế Việc kết hôn được coi là hợp pháp khi nó tuân thủ cácquy tắc đã đặt ra và được cả cộng đồng thừa nhận, cho phép
Cùng với sự phát triển của kinh tế và sự xuất hiện chế độ tư hữu dẫnđến sự ra đời của Nhà nước, pháp luật được ban hành và trở thành công cụcủa giai cấp thống trị để điều chỉnh các quan hệ xã hội Mỗi một giai đoạnlịch sử, giai cấp thống trị điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật kếthợp với phong tục tập quán, các quy định tôn giáo cho phù hợp với ý chí củagiai cấp mình nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp và nhằm ổn định trật tự
xã hội nói chung Các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh phát triểnthành các quan hệ pháp luật Các quy tắc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và
Trang 13gia đình do nhà nước ban hành hoặc thể chế hóa trở thành pháp luật hôn nhân
và gia đình Thông qua Nhà nước và pháp luật giai cấp thống trị tác động vàocác quan hệ hôn nhân gia đình làm cho những quan hệ này phát sinh, thay đổi
và chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó Khi đó sự kết hợp giữangười nam và người nữ được điều chỉnh bởi pháp luật và khái niệm kết hôndưới góc độ pháp lý được hình thành
Dưới góc độ pháp luật, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan
hệ vợ chồng và theo nghi thức được pháp luật quy định Việc nam nữ xác lậpquan hệ vợ chồng phải được Nhà nước thừa nhận mới được coi là kết hônhợp pháp Kết hôn là điểm khởi đầu, là cánh cửa mở ra cuộc sống hôn nhân.Kết hôn làm xác lập quan hệ hôn nhân, là cơ sở để hình thành gia đình Từ sựkiện kết hôn sẽ làm phát sinh quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ - chồng.Cũng từ sự kiện kết hôn giữa hai người khác giới sẽ hình thành một gia đìnhvới nhiệm vụ thực hiện đầy đủ các chức năng đối với xã hội, đó là chức năngsinh sản; chức năng giáo dục và chức năng kinh tế
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của sự kiện kết hôn, pháp luật nước ta
đã có những quy định chặt chẽ về điều kiện để việc kết hôn được coi là hợppháp và được Nhà nước công nhận, bảo hộ Điều 8 Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 quy định: “Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồngtheo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”[19].Như vậy, pháp luật nước ta quy định kết hôn hợp pháp phải thỏa mãn haiđiều kiện
Thứ nhất, chủ thể kết hôn phải thể hiện ý chí là mong muốn được kết
hôn với nhau Việc kết hôn, trước tiên phải là sự thể hiện ý chí tự nguyện củahai bên nam nữ mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng Sự mong muốn ấyxuất phát từ tình cảm, từ tình yêu thương của hai bên mà không phải bởi sựtác động của bất cứ ai, bất cứ động lực nào Hai bên mong muốn kết hôn vớinhau với mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và cùng nhau sinh
Trang 14con đẻ cái Và ý chí của hai bên phải thống nhất với sự thể hiện ý chí Sự thểhiện đó phải thông qua hành vi thực hiện các thủ tục nhất định do pháp luậtquy định Đó là việc cả hai bên cùng nhau thực hiện nghi thức đăng ký kếthôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai: Việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận Việc kết hôn
hay không là phụ thuộc vào ý muốn của mỗi người, không pháp luật hay Nhànước nào bắt buộc họ phải kết hôn Nhưng chủ thể khi kết hôn họ phải chịu
sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình Ngoài việc phải tuân thủđầy đủ điều kiện kết hôn họ còn phải thực hiện theo hình thức do pháp luậtquy định, đó là việc đăng ký kết hôn Việc đăng ký kết hôn chính là hình thứcthể hiện sự thừa nhận và bảo hộ của Nhà nước
Có hai nghi thức kết hôn thường được các nước quy định là nghi thứcdân sự và nghi thức tôn giáo Có những nước chỉ thừa nhận nghi thức dân sựnhư Pháp, Bỉ, Hà Lan Có những nước chỉ thừa nhận nghi thức tôn giáo như
các quốc gia Hồi giáo Có những nước chấp nhận cả hai nghi thức và ngườikết hôn có quyền lựa chọn một trong hai nghi thức khi kết hôn như Mỹ, Ý,Thuỵ Điển Có những nước buộc phải thực hiện lần lượt cả hai nghi thứctôn giáo và dân sự như Vương quốc Anh
Ở Việt Nam thời hiện đại, pháp luật chỉ thừa nhận nghi thức dân sự, đó
là việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Chỉkhi nào nam nữ đăng ký kết hôn và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnđăng ký kết hôn công nhận bằng hình thức cấp Giấy chứng nhận đăng ký kếthôn thì họ mới được coi là vợ chồng và khi đó quan hệ của họ mới được Nhànước thừa nhận và bảo hộ Việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn
có ý nghĩa rất quan trọng Đây là biện pháp để Nhà nước kiểm soát việc tuântheo pháp luật của công dân trong việc kết hôn, đồng thời ngăn chặn nhữnghiện tượng kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định của phápluật Đăng ký kết hôn còn là biện pháp bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho hai
Trang 15bên nam nữ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn có giá trị pháp lý quan trọng,
là chứng cứ viết xác nhận giữa hai bên nam nữ đã phát sinh và tồn tại quan hệ
vợ chồng, là cơ sở xác định thời điểm phát sinh quan hệ vợ chồng, là cơ sởgiải quyết khi phát sinh tranh chấp, là căn cứ để Nhà nước bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các chủ thể Mọi nghi thức khác như tổ chức lễ cưới tạigia đình hoặc kết hôn theo nghi thức tôn giáo được tiến hành tại nhà thờ màkhông có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấpthì không được công nhận là hợp pháp
Như vậy, kết hôn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợchồng Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác nhận chủ thể củaquan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con và xác định rõ thời điểm làmphát sinh các quan hệ đó Kết hôn phù hợp với các điều kiện luật định là căn
cứ để Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cácchủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình đó
Từ khái niệm kết hôn, có thể thấy kết hôn và điều kiện kết hôn có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Kết hôn chỉ được coi là hợp pháp khi nó thỏa mãnđiều kiện của kết hôn Điều kiện là những yêu cầu buộc phải thực hiện trướckhi tiến hành một việc nào đó Điều kiện kết hôn là tất cả những gì người kếthôn phải tuân thủ
Cùng với sự ra đời và phát triển của khái niệm kết hôn, các điều kiệnkết hôn cũng được hình thành Từ trước khi có Nhà nước, các điều kiện kếthôn chính là những quy tắc, tục lệ được đặt trong khuôn khổ của các tổ chức
xã hội như thị tộc, bộ lạc Khi chế độ tư hữu xuất hiện, Nhà nước ra đời vàpháp luật được đặt ra nhằm thiết lập một trật tự xã hội có lợi cho giai cấpthống trị Mỗi một kiểu nhà nước khác nhau quy định về điều kiện kết hônkhác nhau, pháp luật đã hướng việc kết hôn vào khuôn phép và các điều kiện
hà khắc nhằm duy trì chế độ hôn nhân cưỡng ép phụ thuộc vào cha mẹ hoặccác bậc thân trưởng trong gia đình; thừa nhận chế độ đa thê; duy trì sự bất
Trang 16bình đẳng giữa người đàn ông và người phụ nữ.
Trong xã hội đương đại, pháp luật thể hiện tính giai cấp nhưng đồngthời cũng theo xu hướng chung, tính xã hội, tính nhân loại ngày càng thể hiện
rõ nét hơn, pháp luật là sự kết tinh của các giá trị truyền thống, văn hóa, đạođức dân tộc và tinh hoa nhân loại Vì vậy, các điều kiện kết hôn cũng đượcquy định phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán
và tự nhiên của mỗi quốc gia Nội dung các điều kiện kết hôn cũng bị chi phốibởi bản chất Nhà nước và truyền thống dân tộc
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trên cơ sở kế thừa và phát triểncác quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân vàgia đình năm 1986 đã có những điều chỉnh và bổ sung đáng kể về điều kiệnkết hôn tại Điều 9 và Điều 10 như sau: Về tuổi kết hôn, nam từ 20 tuổi trởlên, nữ từ 18 tuổi trở lên; Việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết địnhkhông bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặccản trở; cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người khác; cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn;cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa nhữngngười có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa nhữngngười đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ vớicon rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; cấmkết hôn giữa những người cùng giới tính
So với các đạo luật trước, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thểhiện những điểm mới tiến bộ Như, đã bỏ trường hợp cấm kết hôn đối vớingười đang mắc bệnh hoa liễu Bởi sự phát triển của y học đã có phươngpháp chữa trị căn bệnh này, việc bỏ điều kiện cấm kết hôn của người mắcbệnh hoa liễu nhằm bảo vệ quyền kết hôn của công dân
Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thay cụm từ
“đang mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận thức hành vi của mình”
Trang 17cuả Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 bằng cụm từ “mất năng lực hành vidân sự” Sự thay đổi này để bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với các quan hệpháp luật khác như quan hệ dân sự, đất đai, hành chính, hình sự….
Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình bổ sung thêm việc cấm kết hôngiữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; cấm kết hôn giữa bốchồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kếvới con riêng của chồng Đây là sự bổ sung nhằm giữ ổn định các mối quan
hệ trong gia đình và củng cố hơn nền tảng đạo đức của dân tộc Việt Nam.Luật còn quy định: cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính Đây là quyđịnh mới, bởi trường hợp nam, nữ cùng giới tính chung sống với nhau như
vợ chồng đang diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến Việc quy định này thểhiện sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật đối với những quan hệ xã hội mớiphát sinh này
Về nghi thức kết hôn, ở các văn bản pháp luật trên đều quy định thủ tụcđăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân cấp
cơ sở nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ Trong trường hợp kết hôn có yếu
tố nước ngoài thì cơ quan đại diện, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoàithực hiện việc đăng ký kết hôn Khi yêu cầu đăng ký kết hôn hai bên nam nữphải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn nộp tờ khai đăng ký kết hôn vànhững giấy tờ cần thiết khác Trong trường hợp có lý do chính đáng, mộttrong hai bên không thể đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi đơn xinnộp hồ sơ tạm vắng mặt và phải có xác nhận của UBND cấp cơ sở nơi ngườivắng mặt cư trú Khi các bên toàn tất thủ tục xin đăng ký kết hôn, được cơquan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp cho Giấy chứng nhậnđăng ký kết hôn và ghi vào Sổ đăng ký kết hôn thì việc kết hôn mới có giá trịpháp lý Đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của ngườikết hôn
Như vậy, trải qua những bước thăng trầm của đất nước pháp luật về
Trang 18hôn nhân và gia đình cũng có những biến đổi đa dạng Xuyên suốt chiều dàilịch sử lập pháp Việt Nam có thể thấy vấn đề kết hôn và điều kiện kết hônluôn được đặt ra và có sự điều chỉnh cho phù hợp với mỗi kiểu Nhà nướcnhất định Điều kiện kết hôn là những quy định của pháp luật do Nhà nướcban hành buộc các chủ thể kết hôn phải tuân theo, đó là cơ sở xác định việckết hôn là hợp pháp hay trái pháp luật.
1.1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật.
Từ khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn có thể thấy khi việc kết hôn củahai bên nam nữ tuân thủ các điều kiện theo pháp luật quy định thì việc kết hôn đóđược coi là hợp pháp Các trường hợp kết hôn không thỏa mãn điều kiện kết hônthì được coi là kết hôn trái pháp luật Theo khoản 3 Điều 8 Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 quy định: "Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợchồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quyđịnh"[19] Như vậy, chỉ coi là kết hôn trái pháp luật khi mang hai dấu hiệu cần
và đủ, đó là, vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9
và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và có đăng ký kết hôn Dấuhiệu có đăng ký kết hôn là để phân biệt với trường hợp hai bên nam nữ chungsống như vợ chồng dù có tuân thủ các điều kiện kết hôn hay không nhưngkhông đăng ký kết hôn thì cũng không coi là kết hôn trái pháp luật Bởi, về mặtpháp lý trong quan hệ này các chủ thể chưa thực hiện hành vi kết hôn thì khôngthể coi sự vi phạm đó là kết hôn trái pháp luật được
Tại Bản dự luật về ly hôn, Các Mác khẳng định: "Không ai bị buộc phảikết hôn nhưng ai cũng buộc phải tuân theo Luật Hôn nhân một khi người đókết hôn Người kết hôn không sáng tạo ra hôn nhân, cũng như người bơi lộikhông sáng tạo, không phát minh ra tự nhiên và những quy luật về nước vàtrọng lực Vì thế, hôn nhân không thể phục tùng sự tuỳ tiện của người kết hôn
mà trái lại sự tuỳ tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hônnhân." [6] Quyền kết hôn là quyền của mỗi con người, nhưng khi kết hôn
Trang 19thì họ phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật, phải tuân thủ các điều kiện
mà Nhà nước quy định Nếu vi phạm thì việc kết hôn của họ là trái pháp luật.Việc kết hôn trái pháp luật gây ảnh hưởng tiêu cực tới sự ổn định của xã hội,tới sự quản lý của Nhà nước Về góc độ pháp lý, kết hôn trái pháp luật ảnhhưởng trực tiếp tới quyền lợi chính đáng của công dân, ảnh hưởng tới nhânquyền, tới sự nghiêm minh của pháp luật
Về mặt xã hội, một gia đình được xây dựng từ những "viên gạch" của
sự tự nguyện, của tình yêu thương của hai bên nam nữ, của sự bảo đảm về thểlực và trí lực, của các giá trị đạo đức xã hội, phù hợp với thuần phong mỹ tụccủa dân tộc Khi gia đình được xây dựng trên nền tảng đó mới bảo đảm được
sự bền vững, ổn định, hạnh phúc và có thể thực hiện tốt được các chức năngđối với xã hội Nếu thiếu một trong các điều kiện đó gia đình sẽ không thể làmột tế bào tốt cho xã hội, không bảo đảm được sự bền vững, hạnh phúc vàkhông thể thực hiện được các chức năng đối với xã hội Mặt khác, hành vi kếthôn trái pháp luật còn tác động tiêu cực tới các trật tự xã hội, là nguyên nhâncủa tình trạng ly hôn, tệ nạn xã hội, tội phạm gia tăng
Ngoài ra, điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật là kết tinhcủa truyền thống văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc Vìvậy, việc vi phạm điều kiện kết hôn sẽ làm ảnh hưởng tới những giá trị vănhoá tốt đẹp của con người Việt Nam, ảnh hưởng tới đạo đức, tư tưởng, lốisống của mỗi cá nhân
Kết hôn trái pháp luật là một hiện tượng xã hội và diễn ra ngày càngnhiều trong cuộc sống, nguyên nhân dẫn của hiện tượng đó xuất phát từ nhiềuyếu tố khác nhau như yếu tố kinh tế - xã hội, văn hoá, pháp luật và con người
Có thể thấy, kết hôn trái pháp luật là hành vi vi phạm quy định về điềukiện kết hôn, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong
xã hội, tới sự ổn định và bền vững của gia đình, xâm phạm trật tự kỷ cươngcủa Nhà nước và pháp luật, đến truyền thống đạo đức, phong tục, văn hoá của
Trang 20dân tộc.
1.1.3 Khái niệm hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Xuất phát từ hệ quả của việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu ngăn chặn,
xử lý và hạn chế kết hôn trái pháp luật là hết sức cần thiết và có ý nghĩa tolớn Pháp luật quy định các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật gồm: huỷviệc kết hôn trái pháp luật hoặc xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự Tuỳ từngtrường hợp cụ thể, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, chủ thểthực hiện mà áp dụng các biện pháp khác nhau Tuy nhiên trong phạm vi luậnvăn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000
Huỷ việc kết hôn trái pháp luật hay còn gọi là biện pháp tiêu hôn được
đề cập khá sớm trong lịch sử phát luật Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,tuy nhiên chưa có văn bản pháp luật nào giải nghĩa "huỷ việc kết hôn tráipháp luật"
Theo Từ điển Tiếng Việt, huỷ có nghĩa là làm cho không còn tồn tạihoặc không có giá trị nữa [30] Có thể hiểu huỷ việc kết hôn trái pháp luật làbiện pháp làm cho việc kết hôn trái pháp luật không còn tồn tại hoặc làm choviệc kết hôn trái pháp luật không có giá trị nữa Theo Từ điển giải thích thuậtngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội đã có sự giải thích khá đầyđủ: "Huỷ việc kết hôn trái pháp luật được hiểu là biện pháp chế tài của LuậtHôn nhân và gia đình đối với trường hợp nam nữ kết hôn nhưng không tuânthủ đầy đủ các điều kiện được Luật Hôn nhân và gia đình quy định" [26].Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định nào giải thích cụm từ
“hủy việc kết hôn trái pháp luật” nhưng tại Điều 16 Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 quy định: "Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quyđịnh tại Điều 15 của Luật này, Toà án xem xét và quyết định việc huỷ kết hôntrái pháp luật và gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng
ký kết hôn Căn cứ vào quyết định của Toà án, cơ quan đăng ký kết hôn xoá
Trang 21đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn"[19] Có thể thấy, hủy việc kết hôntrái pháp luật là việc Tòa án theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền tác động tới việc kết hôn trái pháp luật làm cho quan hệ đó khôngcòn tồn tại hoặc không có giá trị pháp lý nữa Đây là sự thể hiện thái độ khôngthừa nhận của Nhà nước đối với việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồngnhưng không tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn Là biện pháp chế tàinên các bên phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi vi phạm
đó, giữa các bên không phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng
Như vậy, hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của LuậtHôn nhân và gia đình, áp dụng cho các chủ thể có đăng ký kết hôn nhưngkhông tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong Luật Hôn nhân vàgia đình, thể hiện thái độ phủ nhận của Nhà nước đối với quan hệ đó, các bêntrong quan hệ không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng
Từ định nghĩa trên, cho thấy, hủy việc kết hôn trái pháp luật mangnhững đặc điểm cơ bản Đó là, hủy việc kết hôn trái pháp luật thể hiện thái độcủa Nhà nước đối với quan hệ kết hôn trái pháp luật Nhà nước ta là nhànước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả các chínhsách, pháp luật của Nhà nước đều được xây dựng và thực hiện xuất phát từlợi ích của con người, cho con người, vì con người Ngoài mục đích bảo vệquyền con người, pháp luật còn bảo đảm trật tự xã hội, lợi ích chung của cả
xã hội Để đạt được mục đích đó thì mỗi công dân phải có ý thức tuân thủpháp luật Việc tuân thủ của mỗi cá thể trong xã hội sẽ được Nhà nước thừanhận và bảo hộ Còn các hành vi vi phạm quy định pháp luật đều phải xử lý.Hành vi không tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong Luật Hônnhân và gia đình cũng sẽ bị xử lý “Hủy” chính là sự thể hiện thái độ khôngđồng tình của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật
Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân
và gia đình áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn
Trang 22được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Đây là loại chế tài phủ định
pháp luật Chế tài phủ định pháp luật là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nướcđối với việc thực hiện không đúng các quy định pháp luật Chế tài này thểhiện sự không thừa nhận tính chất pháp lý của quan hệ mới phát sinh Nhưvậy, các chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đối với hành vi vi phạmcủa mình
Hủy việc kết hôn trái pháp luật mang tính chất linh hoạt và mềm dẻo
Sự linh hoạt, mềm dẻo thể hiện trong nguyên tắc xử lý của Tòa án Khôngphải tất cả các trường hợp kết hôn trái pháp luật Tòa án đều hủy, mà khi giảiquyết Tòa án phải căn cứ vào hoàn cảnh, mức độ vi phạm, hậu quả để quyếtđịnh hủy hay không quan hệ đó
Hủy việc kết hôn trái pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng Với tư cách
là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội đặc biệt quan trọng, do Nhà nướcban hành, xuất phát từ thực tiễn xã hội, pháp luật nước ta tất yếu phải đượcbảo đảm thực hiện bằng các biện pháp chế tài Biện pháp chế tài được ápdụng đối với những người vi phạm pháp luật trên cơ sở kết hợp giáo dục,thuyết phục, thu hút sự tham gia của xã hội vào cuộc đấu tranh phòng, chốngcác vi phạm Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài với mục đích
xử lý những người có hành vi vi phạm thể hiện tính nghiêm minh của phápluật, tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào việc xây dựng chế độ hônnhân gia đình tự nguyện, tiến bộ, xây dựng gia đình mới xã hội chủ nghĩa, bảođảm thuần phong mỹ tục Việt Nam, đem lại hiệu quả điều chỉnh của pháp luậttrong đời sống xã hội Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp để loại bỏnhững mặt trái của pháp luật hôn nhân gia đình đồng thời có tác dụng ngănchặn hành vi vi phạm các quy định điều kiện kết hôn
1.2 ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁIPHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
1.2.1 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong cổ
Trang 23luật Việt Nam.
Nhà nước Việt Nam thời kỳ phong kiến với chế độ quân chủ, mọiquyền lực tập trung vào tay Vua, pháp luật ban hành là để bảo vệ vị trí đặcquyền của vua và các tầng lớp quan lại, gia trưởng Các đạo luật đều do vuaban hành Di sản pháp luật thời kỳ này không còn được lưu giữ nhiều, tiêubiểu cho pháp luật thời kỳ nà là hai bộ luật Bộ luật Hồng Đức (Quốc triềuhình luật) được ban hành dưới triều Lê (1428 – 1788) và Bộ luật Gia Long(Hoàng Việt luật lệ) được ban hành năm 1815 dưới thời Nguyễn Đây là hai
bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều Lê và triều Nguyễn, ban hànhnhằm điều chỉnh những mối quan hệ hình sự và dân sự phát sinh trong đờisống xã hội phong kiến Hai bộ luật này có giá trị đặc biệt trong lịch sử phápluật Việt Nam, thể hiện sự tiến bộ và tinh hoa trong kỹ thuật lập pháp của ôngcha ta
Bộ luật Hồng Đức gồm 13 chương, ghi chép trong 6 quyển, 722 điều,quy định các vấn đề như Danh lệ, cấm vệ, quân lính, điều sản, hôn nhân vàgia đình Bộ luật Gia Long gồm 398 điều, chia thành 22 quyển; 01 quyểnphụ lục với những nội dung chính như Biểu kê các luật lệ, Danh lệ, Lại luật,
Hộ luật, Hình luật Trong cả hai bộ luật đều có quy định về các trường hợptiêu hôn Tiêu hôn là biện pháp xử lý trường hợp vi phạm các điều kiện vềcấm kết hôn Tuy nhiên hôn nhân là một quan hệ có ý nghĩa quan trọng trongđời sống xã hội, đặc biệt đối với vợ chồng, các con và gia đình Do vậy, mà cảhai bộ luật trên đều có những điều kiện nhằm giới hạn những trường hợp cóthể tiêu hủy hôn nhân Pháp luật có sự phân biệt trường hợp vi phạm điềukiện thường và trường hợp vi phạm các điều kiện chủ yếu để có những biệnpháp xử lý tương ứng Đối với trường hợp điều kiện thiết yếu thì pháp luậtkhông công nhận tính hợp pháp và bị tiêu hủy Còn đối với trường hợp viphạm điều kiện thường thì có thể chỉ bị phạt mà hôn nhân vẫn tồn tại, không
bị tiêu hủy Ví dụ, Điều 316 Bộ luật Hồng Đức quy định: Đối với những
Trang 24trường hợp khi các bên kết hôn đã vi phạm nghiêm trọng các điều kiện cấmkết hôn, tức là đã vi phạm vào các điều kiện thiết yếu thì pháp luật khôngcông nhận tính hợp pháp của việc kết hôn đó và cần phải tiêu hủy [32] Điều
317 và Điều 323 quy định: các bên sẽ phải chia lìa hoặc phải ly dị khi vi phạmvào các điều kiện quan trọng của việc xác lập hôn nhân [32] Theo quy địnhcủa hai bộ luật này, việc tiêu hủy chỉ có hiệu lực trong tương lai mà không cógiá trị trở về trước, tức là kể từ thời điểm kết hôn đến khi bị tiêu hủy thì hônnhân vẫn được coi là có giá trị pháp lý Đây là điểm khác với pháp luật hiệnhành, pháp luật hiện hành không công nhận quan hệ vợ chồng kể từ thời điểmkết hôn Hậu quả pháp lý của việc tiêu hôn là các bên phải chia lìa hoặc ly dị,tức là hậu quả pháp lý của việc tiêu hôn được giải quyết như trường hợp lyhôn trong pháp luật hiện hành
Như vậy, có thể thấy trong cổ luật kết hôn bị coi là vô hiệu khi vi phạmmột trong các điều kiện cấm kết hôn Tuy nhiên, không phải tất cả các trườnghợp kết hôn vô hiệu đều bị tiêu hủy, chỉ những trường hợp vi phạm nghiêmtrọng các điều kiện kết hôn mới bị tiêu hủy, còn những trường hợp vi phạmnhững điều kiện thường thì không bị tiêu hủy mà đương sự có thể phải chịunhững hình phạt nhất định Hậu quả của việc tiêu hủy hôn nhân là buộc cácbên phải chấm dứt quan hệ chung sống Hai bộ luật này thể hiện sự tiến bộtrong việc bảo vệ quyền lợi của gia đình và sự ổn định của xã hội, thể hiệnnhững nét đặc thù mang đậm phong tục, tập quán của người Việt Nam Phápluật hiện hành cũng là sự kế thừa có chặt lọc những tinh hoa đó
1.2.2 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật thời kỳ Pháp thuộc.
Thời kỳ Pháp thuộc là thời kỳ Việt Nam chịu sự cai trị của thực dânPháp, thực hiện chính sách "chia để trị" nên thực dân Pháp bắt tay với triềuđình nhà Nguyễn ký kết bản "Hiệp ước hoà bình" ngày 25/8/1883, theo đónước ta được chia làm ba miền: Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và
Trang 25Trung Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp Dựa theo Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp(1804), thực dân Pháp đã ban hành ba Bộ luật dân sự Trong đó, tại Bắc Kỳ là BộDân luật năm 1931; tại Trung Kỳ là Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936; tại Nam
Kỳ là Bộ Dân luật Giản yếu năm 1883 Ba bộ luật đều có những quy định khácnhau về điều kiện kết hôn song cùng chung đặc điểm là tập trung vào các vấn đềliên quan trực tiếp đến lợi ích của người kết hôn, con cái, gia đình và xã hội Nếu
vi phạm các điều kiện kết hôn thì việc kết hôn là vô hiệu và có thể bị tiêu hủy
Ba bộ luật trên phân biệt hôn nhân vô hiệu thành hai loại là vô hiệu tương đối và
vô hiệu tuyệt đối Vô hiệu tương đối chỉ do một số người nhất định mà pháp luậtquy định mới có quyền yêu cầu tiêu hủy hôn nhân đó và sự vô hiệu ấy có thể bịmất đi do một sự kiện nào đó xuất hiện Vô hiệu tuyệt đối thì có thể bất cứ ngườinào cũng có quyền yêu cầu tiêu hủy và sự vô hiệu ấy không bị mất đi do một thờihiệu hoặc một sự kiện nào Thẩm quyền tuyên bố tiêu hủy hôn nhân vô hiệuthuộc về Tòa án Hậu quả của việc tiêu hủy có sự quy định khác nhau trong ba
Bộ Dân luật này Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ đều dựa trênnguyên tắc giảm bớt hậu quả đối với các chủ thể kết hôn cũng như đối với concái họ Vì vậy, quy định về hậu quả cũng không quá nghiêm ngặt, như khi việckết hôn bị tiêu hủy thì việc tiêu hủy đó chỉ có hiệu lực trong tương lai, có nghĩa
là trước khi bị tiêu hủy quan hệ hôn nhân giữa họ vẫn phát sinh hiệu lực pháp lý,quan hệ vợ chồng, cha, mẹ - con cũng được công nhận, con sinh ra vẫn là controng giá thú (con chính thức) Điều 89 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định: Phàm cógiá thú mà sinh con dẫu sau có sự tiêu hôn, không cớ vì duyên cớ gì, những đứacon ấy vẫn là con chính thức, thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ của cha mẹ, nhữngđứa con ấy thì cũng theo một lệ định như khi ly hôn Các bên chỉ chấm dứt quan
hệ vợ chồng kể từ khi kết hôn bị tiêu hủy Tức là, hậu quả pháp lý của tiêu hủyviệc kết hôn trái pháp luật cũng giống như giải quyết trường hợp ly hôn Tráilại, trong Bộ Dân luật giản yếu lại quy định rất khắt khe, nghiêm khắc
Trang 26hơn rất nhiều so với hai bộ luật trên: Khi việc kết hôn bị tiêu hủy thì nó không
có hiệu lực gì, không những trong tương lai mà cả trong quá khứ nữa Đối vớihai vợ chồng thì kể từ ngày họ kết hôn cho đến khi việc kết hôn đó bị tiêu hủy
họ không phải là vợ chồng của nhau, có nghĩa là hai bên chưa hề xác lập quan
hệ hôn nhân với nhau Như vậy, về quan hệ nhân thân, giữa họ không tồn tạiquan hệ vợ chồng, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng Vềquan hệ cha, mẹ - con, cũng không phát sinh quan hệ cha, mẹ - con trong giáthú mà chỉ coi là con ngoài giá thú Đối với tài sản, nếu họ có tài sản chung làtài sản đó được thanh toán như trong trường hợp hai người góp sức, gópcông làm ra Như vậy, ở Bộ Dân luật Nam Kỳ là sự phủ nhận hoàn toàn cácquan hệ phát sinh từ việc kết hôn trái pháp luật
Có thể thấy, pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về hôn nhân vàgia đình nói riêng trong thời kỳ Pháp thuộc phản ánh những đặc điểm riêngbiệt của lịch sử Pháp luật khi đó chịu tác động bởi hai luồng tư tưởng là tưtưởng phong kiến và tư tưởng thực dân Ở khu vực Trung Kỳ và Bắc Kỳ,ngoài những quy định bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị thì còn cónhững quy định mang đậm màu sắc phong kiến, phong tục tập quán của ViệtNam; Riêng khu vực Nam Kỳ, do chịu tác động của quy chế thuộc địa Pháp,chế độ cai trị thể hiện sự áp đặt hoàn toàn pháp luật thực dân Những quy địnhcủa pháp luật thời kỳ này đã làm phong phú thêm kho tàng pháp lý của nướcta
1.2.3 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đánh dấu sự ra đời của nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ độc lập đầu tiên của nước ta.Nhà nước mới non trẻ và đầy những thách thức, đòi hỏi một hệ thống phápluật mới Vào thời kỳ này, quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn tồn tại, việcxóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu không phải dễ dàng,
Trang 27nhanh chóng và không thể thực hiện bằng các văn bản pháp luật mang tínhmệnh lệnh Việc thay đổi đòi hỏi phải kiên trì, bởi những tư tưởng, phongtục, tập quán lạc hậu tồn tại từ lâu đã ăn sâu vào trong tiềm thức của nhân dân
ta Vì vậy, sau cách mạng tháng 8/1945 Nhà nước ta chưa ban hành ngay mộtđạo luật cụ thể nào để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình mà tiếnhành phong trào “vận động đời sống mới”, nhằm vận động quần chúng nhândân tự nguyện xóa bỏ những hủ tục phong kiến lạc hậu trong đời sống hônnhân và gia đình
Vì vậy, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắclệnh số 90/SL cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọnlọc quy lệ và chế định trong các bộ dân luật cũ, theo nguyên tắc không trái vớilợi ích của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lợi ích của nhân dân laođộng
Năm 1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam ban hành, đánhdấu một bước ngoặt mới trong lịch sử lập pháp của nước ta Với tính chất làđạo luật nguồn, Hiến pháp năm 1946 là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhànước ta ban hành các văn bản pháp luật khác, trong đó có Luật Hôn nhân vàgia đình Đó cũng là cơ sở pháp lý để đấu tranh xóa bỏ những hủ tục của chế
độ hôn nhân và gia đình phong kiến, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đìnhmới dân chủ và tiến bộ Tình hình phát triển của xã hội về mọi mặt kinh tế,chính trị, quân sự trong quá trình đấu tranh cách mạng chống đế quốc vàphong kiến, cùng với sự phát triển của phong trào giải phóng phụ nữ, đòi hỏiphải xóa bỏ một số chế định trong các bộ dân luật cũ về các quan hệ hôn nhân
và gia đình đang cản trở bước tiến của xã hội, đồng thời Nhà nước ta cầnphải quy định những nguyên tắc mới về hôn nhân và gia đình cho phù hợp vớithực tế Năm 1950 Nhà nước ta đã ban hành hai Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnhcác quan hệ hôn nhân và gia đình, đó là Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159-SL ngày
Trang 2817/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Hai Sắc lệnh này đã góp phần vào việcxóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, thể hiện tính dân chủ
và tiến bộ của nền pháp chế mới Tuy nhiên, cả hai Sắc lệnh này đều không
có quy định về hủy việc việc kết hôn trái pháp luật
Từ năm 1954, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nướctạm chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt Miền Bắc đượcgiải phóng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếptục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất đất nước
Ở miền Bắc, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được Quốc hội khóa
I kỳ họp thứ 11 thông qua vào này 29/12/1959 Đây là đạo luật đầu tiên củaNhà nước ta về hôn nhân và gia đình, khẳng định bản chất của pháp luật xãhội chủ nghĩa, là công cụ của Nhà nước ta, phục vụ lợi ích của nhân dân laođộng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân lao động, nhằm thực hiện hainhiệm vụ chính là xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đìnhphong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủnghĩa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định cụ thể những điều kiệnkết hôn và trường hợp cấm kết hôn để bảo đảm hôn nhân thực sự an toàn,lành mạnh và tiến bộ Như vậy, những trường hợp vi phạm điều kiện kết hônchính là vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa cần phải
xử lý Tuy nhiên, trong văn bản pháp luật này không có quy định về hủy việckết hôn trái pháp luật Biện pháp xử lý đối với việc kết hôn trái pháp luậtđược ghi nhận tại văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1959 Tại công văn số 1264 ngày 01/11/1966, Tòa án nhân dân Tối cao
đã gửi các Tòa án địa phương dự thảo thông tư hướng dẫn việc xử lý về dân
sự những hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn do luật định Dự thảo này có tácdụng bước đầu hướng dẫn về đường lối và thủ tục xét xử Qua kinh nghiệmthực tiễn xét xử và đóng góp ý kiến của Tòa án nhân dân địa phương, Tòa ánnhân dân Tối cao đã có hướng dẫn đầy đủ hơn việc xử lý về dân sự những
Trang 29hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn tại Thông tư số 112-NCPL ngày19/8/1972 Theo hướng dẫn này thì đường lối chung là khi xử lý về dân sựđối với những vi phạm điều kiện kết hôn xảy ra sau khi Luật Hôn nhân và giađình năm 1959 ban hành cần căn cứ vào tình hình thực tế mà có sự phân biệtkhác nhau như:
Cần xử tiêu hôn những vi phạm điều kiện kết hôn đang tiếp diễn vàtính chất nghiêm trọng như tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, đang có vợ, có chồng
mà lấy vợ hoặc chồng khác, lấy người trong họ hàng mà Luật tuyệt đối cấmkết hôn; người đang mắc một trong những bệnh tật mà Luật cấm kết hôn
Với những hôn nhân trước đây vi phạm điều kiện kết hôn nhưng nay
đã chấm dứt hoặc vi phạm không có tính chất nghiêm trọng và có thể sửachữa dễ dàng như: kết hôn không đăng ký thì xử lý theo đường lối ly hônnhằm chiếu cố đến quyền lợi của đương sự nhất là phụ nữ và con cái của họ,cũng như chiếu cố đến phong tục tập quán của địa phương
Những trường hợp kết hôn do vi phạm điều kiện kết hôn theo luật định thìhôn nhân đó cần phải xử tiêu hôn “Xử tiêu hôn là quyết định chấm dứt nhữnghôn nhân bất hợp pháp” [16] Điều đó có nghĩa là hôn nhân vi phạm điều kiệnkết hôn là hôn nhân bất hợp pháp cần phải xử tiêu hôn Đó là biện pháp nhằmđấu tranh chống việc vi phạm pháp luật, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nướckhông thừa nhận quan hệ vợ chống đối với nam nữ kết hôn không tuân thủ quyđịnh về điều kiện kết hôn Việc tiêu hôn sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối vớichủ thể kết hôn về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Về nguyên tắc, khi hônnhân bị Tòa án tiêu hủy thì có hiệu lực cả trong quá khứ và tương lai, tức là giữa
họ không phát sinh quan hệ vợ chồng kể từ khi chung sống với nhau Khi Tòa ánhủy hôn nhân, họ phải chấm dứt quan hệ chung sống bất hợp pháp, mọi quyền vànghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng không phát sinh Quan hệ cấp dưỡng giữa haibên không được đặt ra Về quan hệ tài sản, tài sản riêng của ai thuộc về ngườiđấy, tài sản chung được chia
Trang 30theo công sức đóng góp, những khoản chi tiêu riêng của ai thì người đó phảitrả Bởi tính khắt khe đó nên Tòa án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn cụ thểđối với một số trường hợp, mặc dù có vi phạm điều kiện kết hôn nhưngkhông nghiêm trọng thì không tiêu hôn mà chỉ xử theo thủ tục ly hôn nếu cácđương sự yêu cầu nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự, nhất là quyền lợicủa phụ nữ và trẻ em.
Ở miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, chế độ Ngụy quyền Sài Gònban hành một hệ thống pháp luật riêng Pháp luật về hôn nhân và gia đình tậptrung trong ba văn bản pháp luật là Luật Gia đình ngày 02/1/1959 dưới chế độNgô Đình Diệm, Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sảncộng đồng và Bộ dân luật ngày 20/12/1972 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu
Trong thời kỳ này việc kết hôn của hai bên nam nữ phải tuân theo các quyđịnh về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn nếu một trong hai bên vi phạm thìhôn thú sẽ vô hiệu và sẽ bị tiêu hủy Hôn thú vô hiệu khi vi phạm độ tuổi; sự
tự nguyện của các bên kết hôn, không có sự ưng thuận của cha mẹ, ông bà,người giám hộ; vi phạm điều cấm kết hôn; vi phạm hình thức kết hôn: Hôn lễ
cử hành không công khai hay do một hộ lại vô thẩm quyền, với điều kiện cửhành hôn lễ trái phép có tính cách gian lận Khi hôn thú vô hiệu thì vợ chồng,cha, mẹ, ông bà, người giám hộ, công tố viên có quyền yêu cầu tiêu hôn Hônthú sẽ không bị tiêu hủy đối với trường hợp người kết lập hôn thú đã đến tuổitrưởng thành, hơặc nếu người đàn bà đã thụ thai hoặc có con hoặc trườnghợp hôn thú đã được thừa nhận một cách công nhiên, hoặc mặc nhiên, hoặcbiết việc lập hôn thú mà để yên một năm không khiếu nại Hậu quả của việctiêu hủy hôn thú, tại Bộ dân luật năm 1972 quy định: Mặc dù hôn thú bị tiêuhủy, các con, nếu có, vẫn được coi là con chính thức Về quan hệ vợ chồng,phát luật vẫn thừa nhận quan hệ vợ chồng từ khi kết hôn đến khi bị tuyên hủy,
sự tiêu hủy không có hiệu lực hồi tố đối với vợ chồng Về quan hệ tài sản, giảiquyết như đối với trường hợp ly hôn, sự thanh toán tài sản sau khi tiêu hôn sẽ
Trang 31làm như trong trường hợp ly hôn.
Luật Gia đình năm 1959 quy định hôn thú có thể bị vô hiệu trongnhững trường hợp sau: khi không có sự ưng thuận của một hoặc hai bên, nếumột bên đã ưng thuận vì bị nhầm lẫn về người hoặc về căn cước thì bên bịnhầm lẫn có thể kiện xin tiêu hôn Tương tự, trường hợp bị cưỡng bức kếthôn cũng có thể xin tiêu hôn Nếu người bị nhầm lẫn hoặc bị cưỡng bức còn
vị thành niên thì cha mẹ của người đó có quyền khởi tố xin tiêu hôn Quyềnkiện xin tiêu hôn chỉ có giá trị trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày phát hiện
sự nhầm lẫn, hoặc hết sự cưỡng bức Hôn thú có thể bị kiện xin xử tiêu hôn vì
sự bất lực vĩnh viễn đã có trước khi lập hôn thú của một trong hai bên Quyềnkiện tiêu hôn trong trường hợp này chỉ có giá trị trong thời hạn một năm, kể
từ khi khám phá ra sự bất lực Nếu nam chưa đủ 18 tuổi, nữ chưa đủ 15 tuổi
đã kết hôn mà không được đặc cách cho miễn tuổi thì cũng bị xử tiêu hôn.Tuy nhiên, đến thời điểm bị phát giác mà hai bên đã đủ tuổi kết hôn, hoặcngười vợ đã thụ thai thì sẽ không bị tiêu hôn Những người bị cấm kết hôn
mà kết hôn thì hôn thú đó bị vô hiệu Hôn thú cũng có thể bị tiêu hôn nếu saukhi ly hôn lần trước mà người vợ đã tái hôn trước mười tháng, kể từ ngàybản án có hiệu lực; hoặc khi quả phụ tái giá trước mười tháng, kể từ ngàychồng chết Con sinh trong các cuộc hôn thú bị tuyên là vô hiệu bị coi nhưcon ngoại hôn Nếu hôn thú bị vô hiệu do lỗi của một bên có gian ý thì người
có gian ý có thể bị phạt giam từ ba tháng đến một năm và có thể bị phạt tiền
từ một ngàn đến 100 ngàn đồng Bên ngay tình có thể được tòa án tuyên bên
có gian ý bồi thường thiệt hại một khoản tiền
Như vậy, hủy việc kết hôn trái pháp luật hay còn gọi là tiêu hôn thời kỳnày có nhiều nét tương đồng với các bộ dân luật thời Pháp thuộc nhưng có phatrộn những nét phong tục tập quán của người Việt Nam Mặc dù pháp luật củachế độ Ngụy quyền Sài Gòn là pháp luật của chính quyền bù nhìn tay sai do Mỹdựng lên nhưng không chịu ảnh hưởng của pháp luật Mỹ, đây là đặc
Trang 32điểm khác biệt so với thời kỳ Pháp thuộc.
1.2.4 Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay.
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm
1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất Năm 1980 Hiếnpháp mới được ban hành thay thế cho Hiến pháp năm 1959 Tình hình kinh tế
xã hội có nhiều thay đổi, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 bắt đầu thểhiện những bất cập cần phải sửa đổi cho phù hợp với các quan hệ hôn nhân vàgia đình trong tình hình mới Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời thaythế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 bao gồm 10 chương 57 điều,được xây dựng và thực hiện trên các nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiếnbộ; hôn nhân một vợ một chồng; vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi củacha mẹ và con; bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trong đó có các quy định cụ thể vềcác điều kiện kết hôn, kết hôn trái pháp luật, hình thức xử lý đối với kết hôntrái pháp luật Các quy định về điều kiện kết hôn về cơ bản vẫn giống nhưLuật Hôn nhân và gia đình năm 1959 như độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện nhưng có những sửa đổi phù hợp hơn Diện cấm kết hôn được quy định theohướng thu hẹp hơn nhưng vẫn trên nguyên tắc gìn giữ thuần phong mỹ tụccủa dân tộc Có thể khẳng định Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 là vănbản đầu tiên đề cập đến khái niệm “hủy việc kết hôn trái pháp luật” Tại Điều
Trang 33yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giảiquyết theo nguyên tắc: tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sởhữu của người ấy; tài sản chung được chia căn cứ vào công sứcđóng góp của mỗi bên; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dốihoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ Quyền lợi của con đượcgiải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn” [17]
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã có những quy địnhchi tiết hơn rất nhiều so với các văn bản trước đây về hủy việc kết hôn tráipháp luật Trường hợp kết hôn vi phạm một trong các điều 5, điều 6, điều 7của Luật này là trái pháp luật Đó là một số những trường hợp như: kết hôngiữa những người đang có vợ hoặc có chồng; đang mắc bệnh tâm thần không
có khả năng nhận thức hành vi của mình; đang mắc bệnh hoa liễu; giữa nhữngngười cùng dòng máu về trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng chakhác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người có họ trong phạm vi bađời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi Pháp luật quy định người có quyền yêucầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm có hai nhóm, cá nhân và cơquan, tổ chức Cá nhân gồm: Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ,chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác
Cơ quan, tổ chức gồm Viện kiểm sát nhân dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam [17].Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã có quy định khá cụ thể đối với cácchủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, bảo đảm thuận lợi
và cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền yêu cầu Tuy nhiên phạm vi chủ thể
có quyền yêu cầu còn hẹp, không bảo đảm được hết quyền lợi của nhữngngười có liên quan đến việc kết hôn trái pháp luật Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 còn quy định về hậu quả cuả hủy việc kết hôn trái pháp luật Về tàisản, theo nguyên tắc: tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của
Trang 34người ấy; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗibên Như vậy, quan hệ tài sản phát sinh được xác định là tài sản chung theophần, không phải là tài sản chung hợp nhất như đối với vợ chồng Về con cái,giải quyết như đối với trường hợp ly hôn Tức là việc kết hôn trái pháp luậtkhông ảnh hưởng tới quan hệ cha, mẹ - con.
Như vậy, những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong LuậtHôn nhân và gia đình năm 1986 đã tạo nền tảng cho những quy định chi tiếtcủa Luật Hôn nhân và gia đình giai đoạn kế tiếp Tuy nhiên, những quy địnhnày còn nhiều hạn chế, mang tính khái quát, định khung, chưa cụ thể gây khókhăn trong việc áp dụng
Qua 10 năm thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bộc lộnhững hạn chế, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự vận động củacác quan hệ hôn nhân và gia đình trong cơ chế thị trường Vì vậy, Luật Hônnhân và gia đình năm 2000 đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 thông quavào ngày 09/6/2000, có hiệu lực ngày 01/01/2001 Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 được cấu thành bởi 13 chương, 110 điều là bước tiến đáng kể đạt tầmvóc của một bộ luật Bên cạnh sự hoàn chỉnh về quy mô, hình thức, những nộidung của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng được quy định hoàn chỉnh
và chặt chẽ hơn, trong đó phải kể đến quy định về hủy việc kết hôn trái phápluật Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, vấn đề hủy việc kết hôntrái pháp luật được quy định gói gọn tại một điều (Điều 9) của Luật thì tại LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 đã được quy định chi tiết tại ba điều (Điều 15,Điều 16, Điều 17) Nội dung các quy định cũng có sự chi tiết, cụ thể hơn Phạm
vi chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng mở rộng hơn,bảo đảm quyền lợi cho người liên quan, bảo đảm cho việc phát hiện hành vi viphạm các điều kiện kết hôn kịp thời, hiệu quả Việc quy định đường lối giảiquyết và hậu quả pháp lý thể hiện sự chi tiết và dễ áp dụng trong thực tiễn Tuynhiên, qua hơn mười năm thi hành, áp dụng cho
Trang 35đến thời điểm hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã thểhiện những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến hiệu quả điều chỉnh của phápluật về hủy việc kết hôn trái pháp luật Vì lẽ đó, cần phải có những nghiên cứu
để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống
Như vậy, nhìn lại quá trình lập pháp Việt Nam từ cổ luật cho đến hiệnđại, trải qua những biến động của lịch sử vấn đề hủy việc kết hôn trái phápluật cũng có những nét thăng trầm riêng Vấn đề điều kiện kết hôn luôn đượcquan tâm trong tất cả các quy định pháp luật từ cổ đến kim nhưng không phải
ở bất cứ văn bản pháp luật nào hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng được đặt
ra Trong thời kỳ phong kiến, thực dân, để củng cố địa vị của giai cấp thốngtrị nên việc xử lý các hành vi vi phạm về điều kiện kết hôn bằng biện pháptiêu hôn cũng rất được quan tâm Đến thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủcộng hòa được thành lập, đất nước vừa bắt đầu chuyển sang một chế độ mớivừa là nhà nước non trẻ vừa phải tập trung thực hiện nhiệm vụ quan trọngchống giặc và xây dựng đất nước nên vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về điềukiện kết hôn không được mấy chú trọng Khi đất nước thống nhất, mọi quan
hệ kinh tế xã hội, chính trị dần ổn định, vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luậtđược quan tâm hơn Và đến giai đoạn hiện nay, đất nước đang vươn lên, kinh
tế phát triển với nhiều quan hệ xã hội cũ và mới đan xen, các vi phạm về điềukiện kết hôn diễn ra phổ biến và có những biến thể đa dạng Vì vậy, việc ngănngừa và xử lý các vi phạm đó là điều được cả Nhà nước và xã hội quan tâm.Cùng với sự phát triển chung của hệ thống pháp luật, những văn bản quy định
về hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 và các văn bản dưới luật đã thể hiện sự phù hợp, linh hoạt vàtiến bộ khẳng định được bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trang 36CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
2.1 NGUYÊN TẮC XỬ LÝ ĐỐI VỚI HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁIPHÁP LUẬT
Mọi trường hợp kết hôn không tuân thủ một trong các điều kiện kếthôn do pháp luật quy định đều bị coi là kết hôn trái pháp luật Về nguyên tắc,mối quan hệ đó không được Nhà nước công nhận và bảo vệ Ngoài ra, mốiquan hệ này còn bị điều chỉnh bởi các biện pháp chế tài do Nhà nước quyđịnh Biện pháp chế tài đối với việc kết hôn trái pháp luật là hủy việc việc kếthôn trái pháp luật đó Thẩm quyền huỷ chỉ thuộc về một cơ quan Nhà nướcduy nhất có chức năng xét xử là Tòa án nhân dân
Có thể nói, hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của LuậtHôn nhân và gia đình thể hiện thái độ phủ định của Nhà nước đối với cáctrường hợp kết hôn trái pháp luật Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 quy định: “Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tạiĐiều 15 của Luật này, tòa án xem xét và quyết định hủy việc kết hôn trái phápluật ” [19] Về nguyên tắc, việc kết hôn vi phạm một trong các điều kiện kếthôn được quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình là tráipháp luật, khi có yêu cầu, Tòa án có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật đó
Tuy nhiên, hủy việc kết hôn trái pháp luật không những ảnh hưởng trựctiếp tới cuộc sống của chủ thể đã thực hiện hành vi kết hôn trái pháp luật màcòn ảnh hưởng tới gia đình, xã hội và đặc biệt là con cái họ Bởi vậy, nhiệm
vụ của cơ quan Tòa án rất nặng nề, đằng sau mỗi quyết định của Tòa án làbước ngoặt cuộc đời của bao nhiêu con người, mỗi quyết định là một minhchứng cho tính hiệu quả của cả hệ thống pháp luật Vì vậy, khi xử lý cáctrường hợp này, Tòa án phải có trách nhiệm làm rõ từng hành vi, chỉ ra từnghoàn cảnh vi phạm, phân tích mọi chi tiết, tính chất, mức độ vi phạm, tìm
Trang 37hiểu sâu sắc tâm lý chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, đặc biệt, cần phải xemxét, đánh giá thực tế cuộc sống chung đó Trên cơ sở đó áp dụng một cáchlinh hoạt các chế tài tương ứng để có sự định đoạt thấu tình đạt lý nhằm đạtđược mục tiêu chung.
Xuất phát từ tính chất đặc thù của đối tượng điều chỉnh trong quan hệhôn nhân và gia đình, khi giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật Tòa áncần phải áp dụng nguyên tắc sau:
Chỉ hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với những trường hợp vi phạmđiều kiện kết hôn đang tiếp diễn và có tính nghiêm trọng Tức là, tại thời điểm
có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì các chủ thể vẫn đang tiếp tục viphạm các điều kiện kết hôn Tính nghiêm trọng được thể hiện ở việc kết hôntrái pháp luật đã và sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của người kết hôn,ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục của dân tộc, tới trật tự xã hội, hậu quả củahành vi vi phạm là không thể ngăn chặn và khắc phục được Vì vậy, đối vớitrường hợp này Tòa án cần hủy để bảo vệ cá nhân, gia đình và xã hội
Đối với các trường hợp trước đây vi phạm điều kiện kết hôn nhưngnay đã chấm dứt hoặc vi phạm không có tính nghiêm trọng và có thể khắcphục được các hậu quả phát sinh thì không nhất thiết phải hủy Tại Nghịquyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn, việc miễn hủy kết hôn trái pháp luật được
áp dụng trong trường hợp tại thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái phápluật mà đương sự đã đạt độ tuổi kết hôn, với điều kiện là “trong thời gian đãqua, họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung” [29] thì không
bị hủy việc kết hôn trái pháp luật đó
Như vậy, nguyên tắc để Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật rất mềmdẻo, khi giải quyết cơ quan xét xử cần phải có sự áp dụng linh hoạt nhưng vẫnbảo đảm đúng nguyên tắc để việc giải quyết được hiệu quả, đạt được mục tiêu làbảo vệ lợi ích của cá nhân, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam văn hóa,
Trang 38tiến bộ và gìn giữ sự ổn định xã hội.
2.2 NGƯỜI CÓ QUYỀN YÊU CẦU TÕA ÁN HỦY VIỆC KẾT HÔNTRÁI PHÁP LUẬT
Để hạn chế được tình trạng kết hôn trái pháp luật đang diễn ra ngàycàng nhiều thì việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạmđiều kiện kết hôn có ý nghĩa rất quan trọng Nhà nước đã quy định cụ thểnhững chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan Tòa án hủy việc kết hôn trái phápluật Trong tố tụng dân sự, về nguyên tắc, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi
có đơn khởi kiện hoặc yêu cầu của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức Trong hủyviệc kết hôn trái pháp luật, Luật Hôn nhân và gia đình quy định các cá nhân,
cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật Tại Điều
15 Luật này quy định những chủ thể sau có quyền yêu cầu hủy việc kết hôntrái pháp luật:
1 Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định củapháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đềnghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật doviệc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này
2 Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụngdân sự có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do
vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này
3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định củapháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc
đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái phápluật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luậtnày:
a Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn;
b Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
c Hội Liên hiệp Phụ nữ
Trang 394 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Việnkiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật[19].
Như vậy, theo điều luật trên chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôntrái pháp luật rất rộng, gồm có bốn nhóm: bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn;
Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn; Viện kiểm sát; và Ủy ban bảo
vệ và chăm sóc trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việc kết hôn trái pháp luậtkhông những vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính những ngườikết hôn mà còn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác như
vợ, chồng, con của họ và ảnh hưởng tới lợi ích xã hội Vì vậy, để bảo vệquyền lợi của các cá nhân, bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội, pháp luật cầnquy định rộng rãi những người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái phápluật
Ngoài ra, pháp luật quy định rõ quyền yêu cầu hủy việc kết hôn tráipháp luật của chủ thể trong từng trường hợp cụ thể nhằm bảo đảm quyền địnhđoạt của các chủ thể, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả trong việc xử lý nhữnghành vi vi phạm điều kiện kết hôn ở mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức Có ý kiếncho rằng để bảo đảm tính khả thi của quyền yêu cầu hủy việc kết hôn tráipháp luật nên hạn chế phạm vi các chủ thể Vì thực tế, chủ yếu người khởikiện yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là các cá nhân Các cơ quan, tổchức có quyền yêu cầu chưa thực sự chủ động trong việc thực hiện vai trò yêucầu của mình Tuy nhiên, cần có cái nhìn thực tế và toàn diện, vì nhiềunguyên nhân khác nhau, trong nhiều trường hợp người kết hôn không muốnthay đổi cuộc sống nên không chủ động thực hiện quyền yêu cầu của mình
Do đó, pháp luật quy định ngoài cá nhân thì các cơ quan, tổ chức với chứcnăng, nhiệm vụ bảo vệ phụ nữ, trẻ em và gia đình có quyền yêu cầu Đó làmột trong những phương pháp để Nhà nước thể hiện sự kiên quyết trong việcđấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật về kết hôn, góp phần bảo đảm
Trang 40pháp luật của Nhà nước và sự ổn định của xã hội.
Để làm rõ hơn vai trò, ý nghĩa của quyền yêu cầu hủy việc kết hôn tráipháp luật, chúng ta sẽ nghiên cứu từng loại chủ thể cụ thể
2.2.1 Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn
Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn là nạn nhân trực tiếp của việc kếthôn trái pháp luật Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định cho họquyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi quyền kết hôn bịxâm phạm thì họ tự bảo vệ mình bằng cách trực tiếp yêu cầu Tòa án hoặc đềnghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật đó Quyềnchủ động này còn thể hiện tính thực tế và mềm dẻo của pháp luật Bởi, chỉ cóngười bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn mới ý thức được yêu cầu hủy việc kếthôn trái pháp luật đó là cần thiết cho cuộc sống gia đình họ hay không Nhất
là đối với trường hợp cuộc sống chung đã ổn định, hai bên đã thực sự thôngcảm, yêu thương nhau, giữa họ đã có con cái chung, tài sản chung thì việcyêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật nên để cho họ tự quyết định
Tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn các hành vi vi phạm khoản 2điều 9 gồm các hành vi sau: hành vi ép buộc, hành vi lừa dối, hành vi cưỡng
ép và hành vi cản trở Trong khi đó khoản 1 Điều 15 quy định chủ thể cóquyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là bên bị cưỡng ép, bị lừa dối.Đối với người bị ép buộc kết hôn luật không quy định họ có quyền yêu cầuhủy việc kết hôn trái pháp luật Như vậy, là đã thiếu cơ sở pháp lý để chủ thểnày tự bảo vệ quyền lợi của mình
Ngoài ra, người bị cưỡng ép, lừa dối có quyền yêu cầu nhưng bản thânngười cưỡng ép, lừa dối, ép buộc thì có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn tráipháp luật của mình hay không Khi họ thực hiện hành vi cưỡng ép, ép buộc, lừadối người khác kết hôn với mình là để mong muốn đạt được mục đích kết hônvới người đó nhưng trong qúa trình chung sống gia đình không hạnh phúc