1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khóa luận thực tiễn giải quyết ly hôn tại tòa án nhân dân quận hai bà trưng, thành phố hà nội theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Giải Quyết Ly Hôn Tại Tòa Án Nhân Dân Quận Hai Bà Trưng, Thành Phố Hà Nội Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000
Tác giả Nguyễn Thanh Tệ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Cừ
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói KB Zalo/Tele 0973 287 149 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THANH TÖ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO LU[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH TÖ

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN

DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

Chuyên ngành : Luật dân sự

Mã số :603830

Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Cừ

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012

Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung

tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN VÀ HẬU QUẢ 7

PHÁP LÝ CỦA LY HÔN

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về ly hôn 11

1.2.1 Quyền yêu cầu ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ, 14

chồng (quyền dân sự)

1.2.2 Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 16

năm 2000

1.3.1 Hậu quả pháp lý của ly hôn dưới góc độ pháp luật 30

1.3.2 Ảnh hưởng của việc ly hôn đối với gia đình và xã hội 43

Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÕA 47

ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI NHỮNG NĂM QUA THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000

2.1 Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quận Hai 47

Bà Trưng thành phố Hà Nội tác động đến quan hệ hôn

nhân và gia đình nói chung và ly hôn nói riêng

2.2 Thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành 52

phố Hà Nội

2.2.2 Tình hình ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành 53

phố Hà Nội được nghiên cứu trên một số phương diện

2.3 Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận 60

Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

2.4 Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 88

giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

2.4.1 Các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà 88

Trưng, thành phố Hà Nội

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP 99

LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC LY HÔN TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI

BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1 Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và 99

gia đình năm 2000 để giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa

án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

3.3.1 Giải pháp trong lĩnh vực pháp luật 109

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau

Trong đó, gia đình được coi là sản phẩm của xã hội gắn liền với quá trình phát

sinh, phát triển của xã hội, ở bất kỳ chế độ xã hội nào thì gia đình đều thực hiện

những chức năng xã hội cơ bản của nó với vai trò là tế bào của xã hội

Sớm nhìn thấy vai trò nền tảng của gia đình và mối liên hệ hữu cơ giữa

gia đình và xã hội, sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã chỉ rõ: Quan tâm đến

gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì

gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Điều đó nói lên rằng phát

triển xã hội cùng với việc xây dựng xã hội mới phải quan tâm thường xuyên

đến việc củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) Tuy nhiên, trong

những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự

bùng nổ của thời đại công nghệ thông tin và cùng với sự du nhập của nhiều

luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống phương Tây đã làm thay đổi rất nhiều quan

điểm, lối sống và lý tưởng ở mỗi người, đặc biệt là trong quan hệ gia đình

biểu hiện rõ nhất là số vụ ly hôn ngày càng gia tăng

Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà nước ta có hiệu lực thi hành từ ngày

01 tháng 01 năm 2001 đến nay đã được hơn 10 năm Quá trình thi hành và

áp dụng Luật đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần xây dựng và củng

cố chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa, xây dựng chuẩn mực pháp

lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, xây dựng gia đình dân

chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp

pháp cho các đương sự Thực tế cho thấy, các tranh chấp từ quan hệ

HN&GĐ xảy ra rất nhiều, trong đó các vụ việc ly hôn chiếm trên 90%

Tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

trong những năm qua cũng đã áp dụng Luật HN&GĐ giải quyết nhiều vụ

việc ly hôn Nhìn chung các vụ việc được TAND quận Hai Bà Trưng giải

quyết theo quy định của pháp luật đạt hiệu quả cao với phương châm "đạt lý,

thấu tình" đảm bảo quyền lợi của các đương sự, nhất là quyền lợi của người

vợ và các con chưa thành niên Tuy nhiên, vẫn còn một số vụ việc được giải

quyết theo quan điểm "khiên cưỡng", máy móc dẫn đến việc khiếu kiện kéo dài

qua nhiều cấp xét xử Nguyên nhân thì có rất nhiều, trong đó có nguyên nhân

xuất phát từ các quy định của Luật HN&GĐ về chế định ly hôn (căn cứ cho

ly hôn, các trường hợp ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn) chưa được cụ

thể, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa đầy đủ dẫn đến cách hiểu khi áp dụng Luật tại các cấp TAND

(trong đó có TAND quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội) chưa có sự nhất

quán Nhiều vụ việc ly hôn có những tình tiết, nội dung giống nhau nhưng khi áp dụng Luật giải quyết lại có những phán quyết khác nhau ở các cấp Tòa án, nhất là việc chấp nhận quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng và giải

quyết hậu quả pháp lý của ly hôn (chia tài sản giữa vợ chồng, giải quyết quyền lợi của con chưa thành niên…) còn có nhiều bất cập và vướng mắc.

Tình hình đó đòi hỏi việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật giải quyết các

vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là rất cần thiết và có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn cũng như các nguyên nhân, lý do ly hôn và các vấn đề liên quan đã được khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học quan tâm

- Nhóm các luận văn, luận án:

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này gồm có: "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000" (Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ Luật học, 2005); "Xác định chế độ tài sản của vợ chồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn Hồng Hải, Luận văn Thạc sĩ, 2002); "Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam" (Vũ Thị hằng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2006); "Căn cứ pháp lý và thủ tục giải quyết các vụ kiện ly hôn tại Tòa án Việt Nam" (Nguyễn Thị Túy Hoa, Luận văn Thạc sĩ Luật học); "Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000" (Nguyễn Thị Lan, Luận văn

Thạc sĩ Luật học, 2012)… Các công trình này có nghiên cứu liên quan đến

Trang 4

vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn mà chưa nghiên cứu tổng thể về

vấn đề ly hôn nói chung

- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo:

Có một số công trình tiêu biểu như: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" (Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị

Hường, 2002, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); "Bình luận khoa học Luật

Hôn nhân và gia đình Việt Nam" (Nguyễn Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, thành

phố Hồ Chí Minh); "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt

Nam" (Đinh Thị Mai Phương - Chủ biên, 2004, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội); "Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" (Trường Đại học

Luật Hà Nội, 2008)… Những công trình khoa học này thường thiên về bình

luận, giải thích Luật HN&GÐ mà chưa nghiên cứu sâu về tình hình ly hôn,

hậu quả pháp lý của ly hôn và thực tiễn áp dụng Luật HN&GÐ giải quyết

các vụ án ly hôn cũng như chưa đề cập đến các giải pháp nhằm hạn chế ly

hôn ở một địa phương cụ thể

- Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí:

Một số bài viết tiêu biểu phải kể đến như: "Căn cứ ly hôn trong Cổ luật

Việt Nam" (Nguyễn Thị Thu Vân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số

8/2005); "Áp dụng quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 để giải quyết" (Nguyễn Văn Chung, Tạp chí Tòa án nhân dân, số

21/2008); "Bắt buộc hòa giải cụ án ly hôn ở cơ sở là không phù hợp với

pháp luật hiện hành" (Lê Thu Hà, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007);

"Cần có hướng dẫn thống nhất về thụ lý yêu cầu ly hôn hay không công

nhận vợ chồng và thủ tục giải quyết" (Đoàn Đức Lương, Tạp chí Kiểm sát,

số 9/2005)… Các bài viết này đều nghiên cứu phản ánh một số nội dung liên

quan đến vấn đề ly hôn, tuy nhiên cũng chưa phản ánh được một cách toàn

diện và đầy đủ về thực trạng ly hôn tại một địa phương cụ thể

Đề tài: "Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà

Trưng, thành phố Hà Nội theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" là

công trình khoa học nghiên cứu cụ thể về vấn đề ly hôn, áp dụng pháp luật

giải quyết ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn ở một địa phương cụ thể

7

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

- Về mục đích:

Luận văn nghiên cứu về tình hình ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng

- Về nhiệm vụ của luận văn:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ly hôn và căn cứ cho ly hôn, cơ

sở và ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000

+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

+ Đánh giá những ưu điểm và tích cực khi giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

+ Đánh giá chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000 trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng từ đó tìm hiểu một số những vướng mắc, hạn chế, nguyên dẫn đến ly hôn

+ Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc ly hôn hiện nay tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử mácxít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực

8

Trang 5

tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra

còn sử dụng các phương pháp của bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh

5 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn phân tích khái niệm, căn cứ ly hôn trong pháp Luật HN&GĐ

Việt Nam qua các thời kỳ và có sự so sánh để đưa ra những nhận định và

đánh giá về căn cứ ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn

- Đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm

2000 trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng,

thành phố Hà Nội trong những năm qua

- Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất

lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 của TAND quận Hai Bà

Trưng, thành phố Hà Nội trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn

6 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận

phục vụ yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng nâng cao chất lượng áp

dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 trong hoạt động xét xử nói chung

và trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng nói

riêng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay Kết quả nghiên cứu của

luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu,

giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh tư pháp nói

riêng Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề

nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với

các Thẩm phán dân sự tại TAND quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội

trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Lý luận chung về ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn.

Chương 2: Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà

Trưng, thành phố Hà Nội những năm qua theo Luật Hôn nhân và gia đình

Việt Nam năm 2000

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao

chất lượng giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà

Trưng, thành phố Hà Nội.

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN

VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA LY HÔN 1.1 Khái niệm ly hôn

Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của

vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc một bên chồng và có giá trị pháp lý khi được Tòa án có thẩm quyền công nhận Đây có thể coi là biện pháp cuối cùng để chấm dứt tình trạng hôn nhân không thể cứu vãn được Theo quy

định của Luật HN&GĐ năm 2000 "Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng" (khoản 8 Điều 8) Theo đó, ly hôn là hành vi có ý chí và có lý

trí của vợ chồng, trong quan hệ ly hôn không có chủ thể nào khác có quyền yêu cầu ly hôn ngoài hai vợ chồng

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về ly hôn

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân nói chung, ly hôn nói riêng là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) thừa nhận quan hệ hôn nhân xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, tự do và tự nguyện của đôi nam nữ, điều này được thể hiện trong việc kết hôn cũng như ly hôn Có thể nói, quyền tự do ly hôn xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội Ở chế độ XHCN là chế độ duy nhất xây dựng một nền dân chủ thực sự mà trong đó quyền lợi của tất cả mọi người thuộc các tầng lớp khác nhau đều được đảm bảo Ly hôn chính là sự giải phóng cho vợ chồng khi bản chất cuộc hôn nhân không tồn tại trên thực tế và Nhà nước cho phép họ ly hôn Điều này không những đem lại lợi ích cho cả vợ chồng

mà còn bảo vệ được lợi ích của Nhà nước và xã hội

Trang 6

1.2.1 Quyền yêu cầu ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ, chồng

(quyền dân sự)

Khi nói đến tự do hôn nhân tức là nói đến hai mặt: Tự do kết hôn và tự do

ly hôn nhưng thực ra kết hôn là mặt chủ yếu, còn ly hôn chỉ là mặt trái không

phổ biến Tuy vậy, ly hôn vẫn là một mặt không thể thiếu được của hôn nhân tự

do, Nhà nước chủ trương hôn nhân tự do cũng như đã công nhận quyền ly hôn

chính đáng của vợ chồng, việc ly hôn chỉ được pháp luật công nhân khi đáp ứng

một điều kiện luật định, Điều đó không ngoài mục đích để xây dựng và củng cố

gia đình hạnh phúc, trong đó vợ chồng yêu thương nhau, kính trọng nhau, giúp

đỡ nhau cùng lao động sản xuất và nuôi dạy con cái Tự do kết hôn chính là đảm

bảo cho hai bên nam nữ yêu nhau có quyền xây dựng gia đình hạnh phúc trên cơ

sở tình yêu chân chính Nhưng vì nguyên nhân nào đó mà giữa vợ chồng không

thể điều hòa được, nẩy sinh những mâu thuẫn trầm trọng thì ly hôn cũng là một

điều không thể thiếu trong xã hội

1.2.2 Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000

1.2.2.1 Khái niệm căn cứ ly hôn

Nhà nước XHCN, giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất của quan hệ vợ

chồng để từ đó đánh giá một cách khách quan thực trạng quan hệ hôn nhân

Nhà nước XHCN Việt Nam quy định căn cứ ly hôn mang tính khoa học,

phản ánh thực chất mối quan hệ vợ chồng đã bị phá vỡ không thể tồn tại

được nữa Việc Tòa án giải quyết cho ly hôn chính là công nhận một thực tế

trong mối quan hệ vợ chồng là không thể cải thiện được

Mặc dù có quy định khác nhau nhưng pháp luật của mỗi nhà nước trong

từng thời kỳ quy định về căn cứ ly hôn đều thể hiện ý chí của Nhà nước cho

phép chấm dứt quan hệ vợ chồng trong những điều kiện nào để Nhà nước có

thể kiểm soát việc ly hôn, qua đó có thể đảm bảo lợi ích của gia đình và con

cái, cũng như sự ổn định trong xã hội

1.2.2.2 Nội dung căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định: "1 Tòa án xem xét yêu

cầu ly hôn, nhưng xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể

kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly

11

hôn; 2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn".

Như vậy, theo quy định trên có hai căn cứ cho ly hôn: Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Pháp luật quy định căn cứ ly hôn hết sức khái quát Điều đó có nghĩa là Tòa án chỉ cho phép vợ chồng ly hôn khi tình trạng vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được

1.3 Hậu quả pháp lý của ly hôn

1.3.1 Hậu quả pháp lý của ly hôn dưới góc độ pháp luật

1.3.1.1 Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng

Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt Người vợ, chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn, dù vợ chồng có thỏa thuận hay không thỏa thuận được Tòa án cũng sẽ quyết định Nghĩa là những quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu kính trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau… sẽ đương nhiên chấm dứt Một số quyền nhân thân khác mà vợ chồng với tư cách là công dân thì không ảnh hưởng, không thay đổi

dù vợ chồng ly hôn (như họ tên, nghề nghiệp…)

1.3.1.2 Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Trước hết, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ do vợ chồng tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được, vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

Đối với tài sản riêng của mỗi bên: Trước hết theo nguyên tắc được quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 thì việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải

quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó (khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000) Nếu vợ chồng không thỏa thuận được với

nhau thì sẽ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Trang 7

Đối với tài sản chung của vợ chồng: Theo quy định tại Điều 95 Luật

HN&GĐ năm 2000 thì việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn do

các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải

quyết Về nguyên tắc, phần của vợ, chồng trong khối tài sản chung là ngang

bằng nhau, do đó khi vợ chồng ly hôn thì tài sản chung sẽ được chia đôi Tuy

nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên và lợi ích khác, trong từng

trường hợp cụ thể tài sản chung của vợ chồng không thể chia đôi mà còn

phải tuân thủ theo các nguyên tắc khác

1.3.1.3 Giải quyết cấp dưỡng giữa hai vợ chồng khi ly hôn

Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng phát sinh từ mối quan hệ

hôn nhân hợp pháp được xuất phát từ thời điểm kết hôn Quyền và nghĩa vụ

cấp dưỡng là một trong những quyền và nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân

thân của vợ chồng Pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo đảm thực hiện

quan hệ cấp dưỡng giữa vợ chồng kể cả trong trường hợp vợ chồng ly hôn

Điều 60 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: "khi ly hôn, nếu bên khó

khăn túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có

nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình".

1.3.1.4 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Luật HN&GÐ năm 2000 quy định vợ, chồng thỏa thuận về người trực

tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu

không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp

nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở

lên thì phải xem xét nguyện vọng của con Và về nguyên tắc, con dưới ba

tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác

Ngoài ra, để bảo vệ quyền và lợi ích của con đặc biệt là con chưa thành

niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả

năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, pháp luật quy định sau

khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi

dưỡng

1.3.2 Ảnh hưởng của việc ly hôn đối với gia đình và xã hội

1.3.2.1 Ảnh hưởng tích cực của ly hôn

Ly hôn giúp giải phóng chính bản thân vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình và đặc biệt là con cái của họ thoát khỏi cuộc sống chung của

họ đầy mâu thuẫn và bế tắc

Ly hôn sẽ giúp một trong hai bên hoặc cả hai bên vợ chồng thoát khỏi

sự trói buộc của chính bản thân, thoát ra khỏi mối quan hệ giả dối, hình thức

mà trong đó cá nhân mỗi thành viên đang phải sống và "chịu đựng" lẫn nhau,

không niềm vui, không hạnh phúc thậm chí còn bị bóp méo những tư tưởng

về cuộc sống gia đình, mất dần đi những niềm tin, niềm say mê, yêu thích cuộc sống, niềm hy vọng vào một tương lai tươi đẹp đang chờ phía trước

1.3.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của ly hôn

Họ đã làm tiêu hao đáng kể công quỹ của nhà nước

Nhưng nghiêm trọng hơn là họ đã và đang gieo rắc căn bệnh tâm lý cho con cái mình đó là bệnh trầm uất, bệnh nghi kỵ, mất niềm tin vào cuộc sống lứa đôi…

Ly hôn không chỉ ảnh hưởng đến vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình

Với những phân tích như trên, rõ ràng ly hôn là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi khi tiếp cận phải chú ý ở nhiều phương diện mới mong có cái nhìn toàn diện hiểu được bản chất của ly hôn

Chương 2

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI NHỮNG NĂM QUA THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 2.1 Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tác động đến quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và ly hôn nói riêng

Nhìn chung, trong giai đoạn hiện nay dưới sự tác động của nền kinh tế, văn hóa, xã hội thì các giá trị tiên tiến và hiện đại được tiếp nhận có chọn

Trang 8

lọc, các giá trị truyền thống mặc dù đang được phục hồi và bảo lưu thông qua sự

truyền bảo của thế hệ trước cho thế hệ sau và được bổ sung những yếu tố mới

cho phù hợp với xã hội nói chung và thời đại nói riêng nhưng bên cạnh đó cũng

còn nhiều mặt trái mà xã hội cần phải quan tâm đó là vấn đề ly hôn của thanh

niên quận Hai Bà Trưng có vẻ: "Đơn giản và nhẹ nhàng" hơn khi một bên hoặc

cả hai bên vợ chồng đưa ra lý do ly hôn như quan điểm, lối sống khác biệt nhau,

vợ chồng không tìm được tiếng nói chung hoặc một bên vợ hoặc chồng cho rằng

bên kia không chung thủy, "bồ bịch" hoặc do bạo lực gia đình từ người vợ hoặc

chồng… Trước thực trạng trên, một yêu cầu lớn được đặt ra cho quận Hai Bà

Trưng đó chính là cần có một sự quan tâm thỏa đáng bên cạnh việc chú trọng

phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch cũng cần phải quan tâm đến việc giữ gìn và

phát huy truyền thống gia đình, giáo dục tầng lớp trẻ sống có trách nhiệm với

chính bản thân, với gia đình và xã hội

2.2 Thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

2.2.1 Nhận xét chung

Quận Hai Bà Trưng là một quận nội thành của thành phố Hà Nội với địa

bàn rộng, dân cư đông lại trong quá trình đô thị hóa nhanh, tình hình kinh tế

phát triển năng động và đa dạng Bên cạnh những thuận lợi để phát triển kinh

tế, trên địa bàn quận vẫn còn tồn tại nhiều các tệ nạn xã hội, các vụ án về

HN&GĐ mà TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết nhiều hơn so

với một số đơn vị quận, huyện khác trong địa bàn thành phố Hà Nội

Trong những năm gần đây, số lượng các vụ việc về ly hôn được TAND

quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết tương đối lớn và ngày càng có chiều

hướng gia tăng với các nguyên nhân mà các đương sự đưa ra ngày càng đa

dạng hơn Có thể thấy được điều này qua số liệu sau:

Bảng 2.1: Thống kê các vụ việc về ly hôn được TAND

quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết từ năm 2008 đến năm 2011

Nguồn: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết ngành

Tòa án từ năm 2008 đến năm 2011, Hà Nội

15

2.2.2 Tình hình ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố

Hà Nội được nghiên cứu trên một số phương diện

2.2.2.1 Về chủ thể 2.2.2.2 Về độ tuổi ly hôn

Bảng 2.3: Thống kê độ tuổi ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

từ năm 2008 đến năm 2011

Năm

Độ tuổi

18 30 tuổi 37,5 % 38,1 % 35,3 % 34,5 %

30 50 tuổi 52,9 % 50,1 % 56 % 54 %

50 tuổi trở lên 9,6 % 11,8 % 8,7 % 11,5 %

Nguồn: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết ngành Tòa án từ năm 2008 đến năm 2011, Hà Nội

2.2.2.3 Về thành phần xã hội

Trong các báo cáo thống kê số liệu của TAND quận Hai Bà Trưng cũng cho thấy trong tình hình ly hôn về thành phần xã hội, việc ly hôn diễn ra ở mọi đối tượng, thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội như: Cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, hưu trí, buôn bán dịch vụ, nội trợ… Qua một cuộc điều tra xã hội nhỏ và cuộc phỏng vấn tự do tại 3 phường Bạch Mai, Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm, kết quả như sau:

Bảng 2.4: Số lượng người được phỏng vấn tự do của tác giả luận văn thực hiện tại 3 phường Bạch Mai, Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm quận

Hai Bà trưng

Phường Phường Phường Phỏng Nghề nghiệp Bạch Mai Phạm Ngô Thị vấn tự do Tổng số

Đình Hổ Nhậm

Nguồn: Tác giả luận văn.

Trang 9

16

Trang 10

2.3 Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận Hai

Bà Trưng, thành phố Hà Nội

2.3.1 Một số nguyên nhân khách quan

2.3.1.1 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Quận Hai Bà Trưng làm một trong số những quận nội thành của Hà Nội

có địa bàn rộng, dân cư tập trung đông đúc lại là quận đang trong quá trình

đô thị hóa nhanh, năng động và đa dạng

Có thể nói, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo đó là sự

phát triển của công nghệ thông tin cũng như nhiều vấn đề khác, đã làm việc

tìm hiểu, yêu đương và kết hôn có thể thực hiện một cách dễ dàng, nhưng

chính do việc không tìm hiểu kỹ thông tin về người bạn đời đã làm cho nhiều

người rơi vào tình cảnh khóc dở mếu dở, tình trạng kết hôn chưa bao lâu đã

ly hôn luôn diễn ra

2.3.1.2 Tác động của cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường cũng làm thay đổi quan niệm về HN&GĐ Họ có

những suy nghĩ thoáng hơn về kết hôn cũng như ly hôn khi cuộc sống hôn

nhân không còn hạnh phúc Do không còn tình cảm với nhau nữa nên giữa

vợ hoặc chồng lại có chiều hướng đem chồng (vợ) của mình để so sánh chê

bai không bằng vợ (chồng) của người khác, không biết cách làm giàu, làm ra

kinh tế để nuôi sống gia đình… dẫn đến những mâu thuẫn và rạn nứt trong

quan hệ vợ chồng như những cuộc bất đồng về quan điểm sống, về tính cách

không hợp nhau dẫn đến những va chạm như chồng đánh đập ngược đãi vợ,

vợ thiếu sự quan tâm chăm sóc chồng con hoặc thiếu sự chung thủy của một

hoặc hai bên vợ chồng

2.3.1.3 Về tình yêu thực dụng

Đây cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp làm tan vỡ hạnh

phúc HN&GÐ… Tình yêu thực dụng ở đây được hiểu là hai bên nam và nữ

đến với nhau không xuất phát từ tình yêu chân chính với đúng nghĩa của nó

là tình cảm thực sự của trái tim về thương yêu, tôn trọng lẫn nhau và cùng

nhau hướng tới một mái ấm gia đình hạnh phúc Hai bên nam nữ nếu không

xuất phát từ tình cảm trên thì tình yêu đôi lứa ở đây được hiểu không đúng

17

nghĩa với bản chất của nó mà là hành vi có tính chất vụ lợi được núp dưới hình thức tình cảm hôn nhân để đạt được mục đích tầm thường và thấp hèn

2.3.1.4 Về tình yêu cảm tính

Tình yêu cảm tính là một nguyên nhân gián tiếp của tình trạng ly hôn Thực

tế cho thấy không chỉ có ở thanh niên quận Hai Bà Trưng nói riêng mà ngay cả thanh niên ở Hà Nội nói chung cho thấy họ đến với nhau, tìm hiểu một thời gian không nhiều chỉ một, hai tháng đã đi đến kết hôn Điều đó xuất phát từ tình yêu hời hợt, nông cạn nhất thời của hai bên Họ chỉ thiên về hình thức bên ngoài và yêu theo cảm tính như người đó đẹp trai, xinh gái hay có duyên, vui tính… Hay một số nam thanh niên đến với tình yêu như một sự thách thức có người yêu để bằng bạn bằng bè, coi nó như một món ăn tinh thần

2.3.1.5 Các nguyên nhân khách quan khác

Ngoài những tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, ảnh hưởng của cơ chế thị trường, tình yêu thực dụng hay tình yêu cảm tính thì tình trạng ly hôn diễn ra ngày càng nhiều còn xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác, đó có thể là do sự khác biệt về tôn giáo, nguồn gốc gia đình, về lối sống hay một số gia đình vẫn còn mang tư tưởng phong kiến, tập quán lạc hậu, mâu thuẫn giữa mẹ chồng, nàng dâu, hay giữa anh, chị, em chồng với chị em dâu, hay giữa những chị em dâu với nhau, thậm chí do điều kiện hoàn cảnh của chiến tranh, lịch sử để lại… cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tình trạng ly hôn hiện nay trên địa bàn Quận

2.3.2 Một số nguyên nhân chủ quan

Theo báo cáo tổng kết của TAND quận Hai Bà Trưng năm 2010 -2011 thì ly hôn trên địa bàn quận tập trung trên các nguyên nhân chủ quan sau: mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập, ngược đãi; ngoại tình; bệnh tật, không có con; do nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; mâu thuẫn kinh tế…

Như vậy, các hình thức biểu hiện của mâu thuẫn trong gia đình rất đa dạng, phức tạp, từ nặng đến nhẹ, từ thái độ khó chịu, im lặng, giận dỗi đến phản ứng ra mặt, sử dụng bạo lực tinh thần, lời nói mắng chửi, cãi nhau đến bạo lực thân thể, đánh đập nhau Các hình thức này biểu hiện cũng tùy thuộc vào trình độ học vấn, tầng lớp xã hội, môi trường sinh sống của những người có liên quan

18

Ngày đăng: 21/02/2023, 20:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w