Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nam nữ bình quyền được thể hiện và ghi nhận tại Điều 9 Hiên pháp đầu tiên cùa nước ta năm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Quan điểm chỉ đạo về công tác bình đẳng giới được thể hiện xuyên suôt từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cho đến các kỳ Đại hội Đảng sau này. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng một lần nừa nhấn mạnh: ‘Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng, khám, chữa bệnh, bình đẳng giới. Thực hiện tốt chiến lược dân số, gia đình, chương trình hành động vì trẻ em..., đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người, bảo đảm tổng tỷ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh...”. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 20NQTW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới và Nghị quyết số 21NQTW về công tác dân số trong tình hình mới, trong đó có những quan điểm chì đạo và mục tiêu cụ thể để đạt được các mục tiêu liên quan đến bình đẳng giới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định trong định hướng và chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 20212030 về sự cần thiết phải tiếp tục nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội như thực hiện đồng bộ và toàn diện các giải pháp phát triển thanh niên, bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. giảm dần khoản cách giới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Hiến pháp năm 2013 quy định công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Nhằm cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới với mục tiêu “Giảm khoảng cách giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công chiến lược quốc gia về bình đẳng giới. Qua học tập, nghiên cứu em quyết định chọn chủ đề “Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý và thực tiễn ở huyện C L, tỉnh Đ TT ” để viết bài thu hoạch kết thúc môn Giới trong lãnh đạo, quản lý. Trong quá trình làm bài rất mong được sự góp ý từ quý thầy, cô để bài thu hoạch được hoàn thiện hơn.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II
BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNGLỚP: K7x.Axx
TÊN MÔN HỌC:
GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ
TÊN BÀI THU HOẠCH:
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
1 LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 3
1.1 Khái niệm về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý 3
1.2 Cơ sở chính trị của việc thực hiện bình đẳng giới 4
1.3 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới 5
1.4 Những vấn đề đặt ra đối với bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị Việt Nam 6
2 THỰC TIỄN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở HUYỆN C L, TỈNH Đ TT 7
2.1 Khái quát về huyện C L, tỉnh Đ TT ……… 7
2.2 Cơ sở chính trị của việc thực hiện bình đẳng giới 8
2.3 Kết quả thực hiện các mục tiêu của Chiến lược bình đẳng giới
3 MỘT SỐ KHÓ KHĂN TRONG THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở HUYỆN C L, TỈNH Đ TT
9 14 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ HUYỆN C L, TỈNH Đ TT
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
15 17 18
Trang 3MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềnam nữ bình quyền được thể hiện và ghi nhận tại Điều 9 Hiên pháp đầu tiêncùa nước ta năm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phươngdiện” Quan điểm chỉ đạo về công tác bình đẳng giới được thể hiện xuyênsuôt từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cho đến các kỳ Đại hội Đảngsau này Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng một lần nừa nhấn mạnh:
‘Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, chế
độ thai sản, nghỉ dưỡng, khám, chữa bệnh, bình đẳng giới Thực hiện tốt chiếnlược dân số, gia đình, chương trình hành động vì trẻ em , đầu tư nâng caochất lượng dân số, chỉ số phát triển con người, bảo đảm tổng tỷ suất sinh thaythế, giảm dần sự mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh ” Hội nghị lần thứ sáuBan Chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 20-NQTW
về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dântrong tình hình mới và Nghị quyết số 21-NQTW về công tác dân số trong tìnhhình mới, trong đó có những quan điểm chì đạo và mục tiêu cụ thể để đạtđược các mục tiêu liên quan đến bình đẳng giới Tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định trong định hướng và chiến lược pháttriển đất nước giai đoạn 2021-2030 về sự cần thiết phải tiếp tục nắm vững vàgiải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa phát triểnkinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội như thực hiện đồng bộ và toàndiện các giải pháp phát triển thanh niên, bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ
nữ giảm dần khoản cách giới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội và gia đình Hiến pháp năm 2013 quy định công dân nam, nữ bình đẳng
về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện,phát huy vai trò của mình trong xã hội Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới,tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và pháttriển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết
Trang 4lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội và gia đình Nhằm cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Chương trìnhhành động quốc gia về bình đẳng giới với mục tiêu “Giảm khoảng cách giới
và nâng cao vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương
có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thựchiện thành công chiến lược quốc gia về bình đẳng giới Qua học tập, nghiên
cứu em quyết định chọn chủ đề “Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý và
thực tiễn ở huyện C L, tỉnh Đ TT ” để viết bài thu hoạch kết thúc môn Giới
trong lãnh đạo, quản lý Trong quá trình làm bài rất mong được sự góp ý từquý thầy, cô để bài thu hoạch được hoàn thiện hơn
Trang 5NỘI DUNG
1 LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN
LÝ
1.1 Khái niệm về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý
- Bình đẳng giới là tình trạng không có sự phân biệt, đối xử trên cơ sởgiới tính (về quyền, trách nhiệm, cơ hội) Nhờ vậy, Phụ nữ và nam giới đượctôn trọng ngang nhau, được tiếp cận các nguồn lực như nhau, được thụ hưởngthành quả như nhau, có cơ hội và điều kiện như nhau để nhận biết được cácquyền con người của mình và khả năng đóng góp của bản thân vào sự pháttriển kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của đất nước
- Có nhiều cách hiểu khác nhau về lãnh đạo, quản lý, tuy nhiên, lãnhđạo và quản lý được hiểu theo nghĩa là những vị trí lãnh đạo, những vị tríquản lý chính thức hay chức vụ chính thức trong hệ thống chính trị ở ViệtNam Những vị trí chức vụ lãnh đạo, quản lý và hệ số, phụ cấp lãnh đạo đượcquy định cụ thể trong các văn bản của nhà nước Theo hệ thống dọc thì hệthống chức vụ có các chức vụ lãnh đạo đạo trong Đảng, Nhà nước và Mặt trận
Tổ quốc Các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Nhà nước gồm các chức vụlãnh đạo, quản lý ở Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân và Viện kiểm sátnhân dân Theo cấp thì chúng ta có các chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp trungương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Như vậy, hệ thống chức vụ lãnh đạo,quản lý tương đương với cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị và hệ thốngchính quyền trung ương và địa phương Đảng và Nhà nước Việt Nam cũngđưa ra các chỉ tiêu về tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp ủy Đảng, trong Quốc hội,Hội đồng Nhân dân các cấp, tỷ lệ cán bộ nữ chủ chốt trong các tổ chức của
Trang 6Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội để đo tình hình thực hiện bìnhđẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam Như vậy, bình đẳng giới tronglãnh đạo quản lý được giới hạn trong việc xem xét bình đẳng trong các vị trí,chức vụ lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ thống chính trị Theo phạm vịnày thì bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý có nghĩa là nam giới, nữ giới có
vị trí, vai trò ngang nhau trong công tác lãnh đạo, quản lý, được tạo điều kiện
và cơ hội phát huy năng lực của mình để được bổ nhiệm vào những vị trí lãnhđạo, quản lỷ chính thức trong hệ thống chỉnh trị ngang nhau và được thụhưởng như nhau về thành quả của hoạt động lãnh đạo, quản lý
1.2 Cơ sở chính trị của việc thực hiện bình đẳng giới
- Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc giải phóng phụ nữ làmột trong những mục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp cách mạng Không
ai biết chính xác Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đâu nghĩ đến cuộc đấu tranh giảiphóng phụ nữ từ khi nào, song những bút tích mà Người để lại cho thấy,Người viết về đề tài này từ rất sớm Thân phận của người phụ nữ An Namdưới ách đô hộ của thực dân Pháp và chế độ phong kiến cũ đã xuat hiện tư rấttsớm trong những bài viết của Người Năm 1922, Người có bài viết với nhan
đề Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp đăng trên báo Le Paria, số 5 ngày 8-1922 Bài báo đã bóc trần thực tế đối xử tàn bạo của chế độ thực dân đốivới phụ nữ nước ta dưới vỏ bọc “văn minh”, “tự do”, “công lý”
1 Nhằm thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới trong hệthống chính trị ở Việt Nam phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách vàpháp luật của Nhà nước Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện cam kết chính trịmạnh mẽ đối với công tác thúc đẩy Bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội thông qua việc phê duyệt nhiều công ước quốc tế liên quan đến
Trang 7Bình đẳng giới Cam kết chính trị của Đảng và Nhà nước về Bình đẳng giớitrong lãnh đạo, quản lý cũng được thể hiện trong các văn bản pháp luật caonhất như Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013,Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hộiđồng nhân dân các cấp năm 2013, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, Chính phủ ban hành Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giớigiai đoạn 2011 – 2020 Như vậy, công tác bình đẳng giới nói chung và côngtác bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài của
cả hệ thống chính trị Việt Nam
1.3 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo, quản lý của
nữ giới
Để sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới trong hệ thống chính trị
có tầm quan trọng to lớn bởi vì một số lý do căn bản sau đây
- Một là, sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ có vai trò quan trọng
vì thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý là vấn đề của quyền bìnhđẳng và công bằng về sự đại diện chính trị
- Hai là, thúc đẩy nữ giới tham gia lãnh đạo, quản lý trong khu vực
hành chính công đảm bảo luật pháp, chính sách công có chất lượng tốt hơn,đảm bảo được nhu cầu, và lợi ích của nữ giới
- Ba là, sự tham gia lãnh đạo, quản lý nhiều hơn của phụ nữ lĩnh vựcchính trị và hành chính công có đóng góp cho sự phát triển bền vững của cácquốc gia vì nữ lãnh đạo trong khu vực công có xu hướng ủng hộ các chính
Trang 8sách về giáo dục, y tế, môi trường hơn và đây là những chính sách quan ảnhhưởng đến sự phát triển bền vững của một quốc gia
- Bốn là, nữ giới tham gia lãnh đạo, quản lý góp phần truyền cảm hứng,
xây dựng hình mẫu (role model) nữ lãnh đạo cho các phụ nữ trẻ và trẻ em gáitrong xã hội Sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới còn có ý nghĩa về biểutượng vì việc này có ý nghĩa truyền khát vọng, hy vọng và sự tự tin cho phụ
nữ và trẻ em gái vươn lên trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý trong tươnglai
- Năm là, nữ giới tham gia lãnh đạo, quản lý góp phần từng bước xoá
bỏ định kiến giới về vai trò giới trong gia đình và ngoài xã hội, dần dần xoá
bỏ định kiến về nữ giới chỉ làm công việc gia đình, nội trợ và phục vụ Nhiềuphụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trên thực tế góp phần xây dựng nhận thức
về vị trí và vai trò của phụ nữ ngoài xã hội với tư cách là những nhà lãnh đạo,quản lý Nhờ vậy, việc thúc đẩy phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong xãhội góp phần nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong xã hội, cộng đồng
và trong gia đình
- Sáu là, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý góp phần thựchiện tốt hơn đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bìnhđẳng giới và công tác cán bộ nữ trong tình hình mới
1.4 Những vấn đề đặt ra đối với bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lýtrong hệ thống chính trị Việt Nam
Đến nay việc thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý trong
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, một số vấn đề đặt ra đối với bình đẳnggiới trong lãnh đạo, quản lý như Số liệu thực tiễn về tình hình nữ giới thamgia lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan của Đảng, các cơ quan dân cử, hệthống bộ máy hành chính nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt
Trang 9Nam cuối năm 2017 chỉ ra một số những vấn đề chung nổi bật sau Chưa cóchỉ tiêu nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị mà Đảng và Nhà nướcđặt ra đạt được cho đến sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và bầu cử Đạibiểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp năm 2016 Hiện tại chưa có chếtài xử lý đối với những đơn vị không tuân thủ nghiêm quy định của Luật,Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới trong lĩnh
vực chính trị Việt Nam đang thiếu hệ thống số liệu cập nhật về tình hình nữ
giới tham gia lãnh đạo, quản lý trong bộ máy hành chính Nhà nước và trongcác cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội Điều này đã thể hiện rõViệt Nam chưa đo được chỉ tiêu 3: “Phấn đấu đạt 100% cơ quan Đảng, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu cơ quan, tổchức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên người lao động” Đây là
hệ thống số liệu rất quan trọng phản ánh thực trạng tham gia của nữ giới vàocác vị trí lãnh đạo quản lý Hệ thống chỉ tiêu về bình đẳnh giới trong lĩnh vựcchính trị ở Việt Nam chưa toàn diện, chưa cụ thể các văn bản quy định hệthống chỉ tiêu lại dùng những cụm từ rất mềm, không mang tính bắt buộc, quyđịnh khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam giới và nữ giới mang tính bảo
vệ nhưng gây ra bất lợi cho phụ nữ Một số luật và chính sách liên quan đếncông tác cán bộ chưa nhạy cảm giới, đang gây ra những khó khăn, bất lợi cho
nữ giới trong tiếp cận các cơ hội lãnh đạo, quản lý như về quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, về luân chuyển, đi thực tế, biệt phái đối với cán bộ nữ, vềđánh giá cán bộ, về bổ nhiệm Liên quan đến văn hoá, nhận thức về bình đẳnggiới đối với nữ Những khó khăn liên quan đến năng lực và việc thực hiện vaitrò của các cấp uỷ đảng, cấp chính quyền, các cơ quan, tổ chức hoạt động vì
sự tiến bộ của phụ nữ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị Từ
đó, Đảng và Nhà nước đề ra một số giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới tronglãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay như
Giải pháp đối với những vấn đề chung về thực hiện bình đẳng giớitrong lĩnh vực chính trị; hệ thống các nhóm giải pháp tháo gỡ những khó đối
Trang 10với sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới trong hệ thống chính trị (nhómcác giải pháp liên quan đến khung pháp luật, chính sách thúc đẩy bình đẳnggiới trong lãnh đạo và quản lý trong Đảng ở Việt Nam hiện nay, nhóm cácgiải pháp liên quan đến văn hoá, nhận thức về bình đẳng giới trong chính trị,nhóm các giải pháp liên quan đến việc nâng cao vai trò và năng lực của cáccấp uỷ đảng, các cấp chính quyền, các cơ quan hoạt động thúc đẩy bình đẳnggiới, nhóm kiến nghị tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác của hội liên hiệpphụ nữ Tỉnh về công tác cán bộ nữ.
2 THỰC TIỄN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN
LÝ Ở HUYỆN C L, TỈNH Đ TT
2.1 Khái quát về huyện C L, tỉnh Đ TT
- Đối với thực trạng thì Huyện C L có diện tích tự nhiên là 491 km²,dân số khoảng 202.466 người với 17 xã và 01 thị trấn với 92 ấp, khóm Đảng
bộ Huyện có hơn 5.000 đảng viên với 35 cấp ủy trực thuộc Ban Chấp hànhĐảng bộ Huyện có 41 đồng chí, trong có 07 đồng chí nữ, Ban Thường vụ 11đồng chí, trong đó có 02 đồng chí nữ Huyện có Ban vì sự tiến bộ phụ nữ dođồng chí Phó Chủ tịch UBND Huyện làm Trưởng ban, toàn huyện có 57 câulạc bộ, đội, nhóm hoạt động trên lĩnh vực bình đẳng giới và phòng chống bạolực gia đình
- Công tác vì sự tiếp bộ của phụ nữ được triển khai thực hiện rộng khắptrong Huyện; lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội đượcquan tâm, nhất là lĩnh vực lao động việc làm, xóa đói giảm nghèo, giáo dụcđào tạo; vị trí, vai trò của phụ nữ ngày càng được khẳng định, tôn trọng vàbình đẳng hơn trong gia đình và xã hội Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng caonăng lực được chú trọng, tạo điều kiện tích cực tham gia trên các lĩnh vực đời
Trang 11sống xã hội, từng bước đẩy lùi những định kiến về giới, góp phần quan trọngvào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và giảm dần sự bất bìnhđẳng giữa nam và nữ giới Tổ chức thực hiện Chiến lược bình đẳng giới đạtcác mục tiêu.
2.2 Cơ sở chính trị của việc thực hiện bình đẳng giới
Đối với việc lãnh chỉ đạo trong công tác thực hiện bình đẳng giới luônđược các cấp lãnh đạo Huyện quan tâm Cụ thể đã ban hành nhiều văn bản chỉđạo thực hiện như, Kế hoạch số 114/KH-UBND, ngày 19/6/2021 về tổ chứccác hoạt động tuyên truyền hưởng ứng Tháng hành động quốc gia về phòng,chống bạo lực gia đình và Ngày Gia đình Việt Nam 28/6/2018 Kế hoạch số156/KH-UBND, ngày 10/9/2021 về thực hiện Đề án “Tuyên truyền, giáo dục,vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết mộ số vấn đề xã hội liên quanđến phụ nữ” giai đoạn 2017-2027 trên địa bàn Kế hoạch số 157/KH-UBND,ngày 10/9/2018 về thực hiện Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn2017-2025” Kế hoạch số 186/KH-UBND, ngày 16/11/2021 về triển khai
“Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giớihàng năm Kế hoạch số 173/KH- BVSTBPN, ngày 16/10/2021 về tập huấncông tác bình đẳng giới năm 2021 Kế hoạch số 174/KH- BVSTBPN, ngày16/10/2021 về tập huấn nâng cao kiến thức về giới, công tác bình đẳng giới vàhướng dẫn kỹ năng sinh hoạt Câu lạc bộ Bình đằng giới năm 2021 Kế hoạch
số 175/KH- BVSTBPN, ngày 16/10/2021 về tập huấn kiến thức về giới vàcông tác bình đẳng giới cho cán bộ nữ năm 2021
2.3 Kết quả thực hiện các mục tiêu của Chiến lược bình đẳng giới