1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sử dụng một số phương pháp thống kê để phân tích tình hình thu nhập của công nhân viên chức ngành may (luận văn thạc sỹ)

93 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng một số phương pháp thống kê để phân tích tình hình thu nhập của công nhân viên chức ngành may (luận văn thạc sỹ)
Tác giả Phạm Thị Liên
Người hướng dẫn PGS. PTS. Phạm Ngọc Kiểm, PTS. Nguyễn Cộng Nhự
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thống Kê
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 1996
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 26,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thông kêđề xuất để phân tích về thu nhập của CNVC trong Công ty may Chiến Thắngvà Công ty may20... Nếu hiểu thu nhập như trên các chỉ tiê

Trang 3

(Lây số liệu m ột số doanh nghiệp may tại H à Nội)

Hà Nội, năm 1996

Trang 4

MUC LUC

* Chương 1 - Những vân đề lý luận cơ bản

vê thu nhập và phân phối thu nhập.

1 Nhũng vấn đê lý luận cơ bản về thu nhập

2 Những vân đề lý luận cơ bản về phân phối thu nhập

2.2 Sự bất bình đẳng trong thu nhập

* Chuông 2 - Xác định hệ thống chỉ tiêu và phương pháp

thống kê thu nhập của CNVC

1 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập của CNVC

1.1 Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu

Trang 5

1.2 Những vấn đề có tính nguyên tắc để xây dựng

2 Hệ thống chí tiêu thống kê thu nhập của CNVC

3 Xác định một số phương pháp thống kê

để nghiên cứu thu nhập của CNVC

3.1 Các phương pháp phân tích mức độ

3.2 Các phương pháp đánh giá độ biến thiên

* Chương 3 Vận dụng hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thống kê đề xuất để tính và phân tích thu nhập của CNVC

1 Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của một sô doanh nghiệp may tại Hà nội (lấy ví dụ 2 công ty may : Công ty may

Trang 6

2 Vận dụng hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thông kê

đề xuất để phân tích về thu nhập của CNVC trong Công ty may Chiến Thắngvà Công ty may20

Trang 7

MỞ ĐẦU

l.Tính cấp thiết của đề tài

Mức sống của dân cư cao hay thấp phụ thuộc vào mức thu nhập của họ vì vậy phân tích thống kê về thu nhập là việc làm vô cùng quan trọng việc phân tích mức sống của dân cư Phân tích tinh hình thu nhập của người lao động không phải chỉ có ở Việt Nam mà còn là công việc được tiến hành khá thường xuyên của nhiều nước trên thế giới.

Hiện nay, ở nước ta ngành dệt may đang là một trong những ngành công nghiệp quan trọng,Lực lượng lao động trong những ngành này chiếm một tỷ lệ đáng kê và tạo ra lượng hàng b,o'<3/ xuất khẩu lớn.TÍnh đến 15.10.1996 kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may là 800 triệu đôla trên tong số 5526 triệu đôla(6) Vì vậy việc đi sâu phân tích thống

kê tình hình thu nhập của công nhân viên chức là cần thiết và mang tính cấp bách Bởi lẽ^trựớc đến nay ít co' cac đề tài đi sâu phân tích tình hình thu^nhập của người lao động trong ngành dệt may Mặt khác trong nền kinh tế thị trường càng can thiết phải phân tích thống kê tình hình thu nhập của công nhân viên chức để thấy rõ được thực trạng về thu nhập, về cơ cấu thu nhập, các nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp cụ thể

để nâng cao mức thu nhập, để hạn chế sự bất bình đẳng trong thu nhập.

2 Mục đích của đề tài

Trang 8

Nhằm hệ thống hoá và hoàn thiện các khái niệm về thu nhập và phân phối thu nhập làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và lựa chọn phương pháp phân tích thu nhập.Thu thập tài liệu về thu thập của CNVC ngành may tại Hà nội Cụ thể J thu thập tài liệu về tiền lương, tiền thưởng,bảo hiểm xã hội và các khoản thu khác của công ty may Chiến Thắng và Công ty may 20 Trên cơ sở số liệu này tiến hành so sánh, đánh giá cơ cấu thu nhập trong từng công

ty, so sánh đánh giá cơ cấu thu nhập bình quân giữa các công

ty, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quỹ lương của công

ty, đánh giá sự bất bình đẳng trong thu nhập của công nhân viên chức Từ sự phân tích này tìm ra nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng trong thu nhập, đưa ra các biện pháp để nâng cao mức thu nhập, nâng cao mức sống của CNVC ngành may nói chung, và thể hiện tính khả thi của luận án.

3 Phạm vi nghiên cứu

Về lý luận chỉ tập trung xây dựng các khái niệm thuộc

về thu nhập của CNVC Luận án đề xuất một hệ thống chỉ tiêu theo dõi và phân tích thu nhập nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh hiện nay.

Sử dụng một số phương pháp của thống kẽ để phân tích thu nhập của công nhân viên chức là đề tài rất phức tạp vì cần phải giải quyết nhiều vấn đề Song do điều kiện có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại hai công ty: May Chiến Thắng và may 2 0 .

7

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề nêu ra, đề tài đã sử dụng các phương pháp: duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử, một

số phương pháp thống kê truyền thống (số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, các chỉ tiêu đo độ biến thiên của thu nhập, chỉ số, dãy số thời gian, phân tổ ) và một số phương pháp của thống kê hiện đại và toán kinh tế như đường cong lorenz

và chỉ số Gini

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận , kết cấu của luận

án bao gồm các chương sau:

Trang 10

Chương 1.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN c ơ BẢN VÊ THƯ NHẬP VÀ PHÂN PHỐI THƯ NHẬP

1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thu nhập.

1.1 Vai trò của thu nhập

Để duy trì cuộc sống của mình, con người phải tham gia lao động để có thu nhập Thu nhập với tư cách là giá trị hay sản phẩm vật chất có vai trò vô cùng quan trọng đối với chủ doanh nghiệp, người lao động và các đối tượng khác Có thu nhập con người mới có cái ăn, cái mặc, nơi ở, học hành, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ Họ không những cần thu nhập để duy trì cuộc sống của chính mình mà còn để nuôi con cái của

họ Thu nhập có vai trò quyết định đối với mức sống của dân

cư, thu nhập cao sẽ làm cho mức sống cao và ngược lại Để đánh giá mức sống của người dân cao hay thấp, một trong

1.2 các chi tiêu về thu nhập

Trong nền kinh tế thị trường, theo nghĩa rộng , thu nhập bao gồm doanh thu của chủ doanh nghiệp và thu nhập của chủ sở hữu các yếu tố sản xuất Còn theo nghĩa hẹp, thu nhập

là tiền trả cho chủ sở hữu các yếu tố sản xuất như tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô (/5).

9

Trang 11

Nếu hiểu thu nhập như trên các chỉ tiêu phản ánh tình hình thu nhập bao gồm:

Với tư cách là người dân thì tổng thu nhập của nhân dân

là toàn bộ các khoản thu nhập bằng tiền của dân cư và giá tri các khoản thu nhập bằng hiện vật do kết quả lao động của chính họ đem lại, cộng với những khoản thu nhập nhận được ngoài thù lao lao động (không do kết quả lao động mang lại) trong một khoảng thời gian nhất định

Như vậy, tổng thu nhập của dân cư bao gồm:

- Các khoản thu nhập nhận được do kết quả của lao đông (thù lao lao động) như tiền lương, tiền công của từng người.

- Các khoản thu nhập bằng tiền và hiện vật trong kinh tế

hộ gia đình của CNVC, nông dân và các tầng lớp dân cư khác.

- Các khoản thu nhập nhận được ngoài thù lao lao động (không do kết quả lao động) Đây chính là thu nhập của nhân dân nhận được nhờ quĩ tiêu dùng xã hội như: tiền hưu trí, phụ cấp thương tật, ốm đau, thai sản, tiền an dưỡng, học bổng chuyển nhượng, trúng xổ số, lãi tiền gửi tiết kiệm

Với tư cách là CNVC đang làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước thì tổng thu nhập chính là tổng số tiền

Trang 12

lương, tiền thưởng, tiền BHXH, tiền phong bao hội nghị và

các khoản hiện vật mà họ nhận được do lao động hoặc không

do kêt quả lao động đem lại trong một khoảng thời gian nhat

định.

Trong nội dung của chỉ tiêu tổng thu nhập chưa đề cập

tới những khoản mà dân cư phải thanh toán với hệ thống tài

chinh tín dụng và ảnh hưởng biên đông của yêu tô giá cả

hàng hóa và dịch vụ đã chi phối đến mức sống của dân cư Vì

vậy, khi nghiên cứu về mức thu nhập của dân cư cần phải

nghiên cứu thêm các khái niệm về thu nhập cuối cùng và thu

nhập thực tế của dân cư

1.2.2 T h u n h ậ p c u ố i c ù n g c ủ a d â n c ư ( th u n h ậ p d a n h

n g h ĩa )

các khoản thanh toán với hệ thống tài chính, tín dụng như nộp

thuế, mua công, trái, mua xổ số kiến thiết, nộp các đoàn thể

phí, đóng góp tự nguyện Thu nhập cuối cùng của dân cư

phản ảnh kêt quả của qúa trình phân phối và phân phối lại

tổng sản phẩm trong nước (GDP) (2) Nó có thể tính chung

cho toàn bộ dân cư hoặc tính bình quân cho một lao động

một công dân.

CNVC là một bộ phận của dân cư Vì vậy thu nhập cuối

cùng của họ cũng là phần thu nhập cổn lại • sau khi đã trừ

đi các khoản phải thanh toán và nộp (nộp thuế, nộp các đoàn t h ỉ

phí, đóng góp tự nguyện)

1.2.3 T h u n h ậ p th ự c t ế c ủ a d â n c ư :

11

Trang 13

Thu nhập cuối cùng của dân cư không phản ánh chính xác mức sống của người dân nếu không tính đến biến động về giá cả hàng hóa trên thị trường, hay nói khác đi nếu không tính đến sức mua của đồng tiền.Vì vậy, để loại trừ ảnh hưởng của nhân tố giá cả hàng hóa và những công việc dịch vụ, cần phải tính chỉ tiêu thu nhập cuối cùng của dân cư theo giá so sánh Thu nhập cuối cùng của dân cư tính theo giá so sánh chính là thu nhập thực tế của dân cư.Công thức xác định chỉ tiêu như sau:

Thu nhập thực tế Thu nhập cuối cùng

của dân cư =

-Chỉ số giá tiêu dùng

của đồng tiền =

-Chi số giá tiêu dùng

Thu nhập thực tế của dân cư là một chỉ tiêu quan trọng fc>iều hiện bằng giá trị những của cải vật chất (kể cả những công việc và dịch vụ phải trả tiền) mà dân cư có thể mua sắm được trên cơ sở những thu nhập bằng tiền Chỉ tiêu này có thể tính chung cho toàn bộ dân cư, cho từng hộ gia đình hay tính bình quân cho một lao động.

Khi nghiên cứu tình tình thu nhập của dân cư ngoài việc

sử dụng chỉ tiêu tổng mức thu nhập tính bằng tiền còn phải

sử dụng các chỉ tiêu thu nhập bình quân cho một hộ, một lao động hoặc một đầu người trong một tháng hay trong một năm để phục vụ cho việc nghiên cứu tình hình biến động và

xu hướng phát triển mức thu nhập của dân cư Công thức xác dịnh các chỉ tiêu này như sau:

- Mức thu nhập bình quân Tổng thư nhập của dan cư

đầu người

Dân số bình quân

Trang 14

Thu nhập thực tế của dân cư

Số lao động bình quân của tập đoàn ấy

- M ức thu nhập thực tế

quân của một LĐ

Thu nhập thực tế của từng tập đoàn XH dân cư

Số LĐ bình quân của tập đoàn ấy

nghiệp

*

Trong các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất hoặc kinh

doanh dịch vụ, thu nhập của người lao động là tất cả các

khoản thu nhập trực tiếp hoặc gián tiếp của người lao động đã

tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm vật

chât và sản phâm dịch vu mà họ đươc bù đắp bằng tiền lương

tiền công, tiền thưởng, BHXH, tiền bồi dưỡng giữa ca, tiền ăn

trưa, tiền đi nghỉ mát, tiền đi du lịch, tiền phong bao hôi

họp

Trước đây, thu nhập của CNVC chỉ đơn thuần là tiền

lương và tiền thưởng (tiền thưởng tăng NSLĐ, tiết kiệiĩL

nguyên nhiên vật liệu, thưởng phát minh sáng kiến, cải tiến

kỹ thuật ) Hiện nay ngoài hai khoản trên, thu nhập của lao

13

Trang 15

động doanh nghiệp còn bao gồm tiền nhận đươc từ quĩ BHXH, tiền bồi dưỡng giữa ca,

Trong tổng thu nhập của CNVC tiền lương chiếm tỷ trọng lớn nhât Thu nhập từ tiền lương của người lao đông hàng tháng biểu hiện dưới hai chỉ tiêu: tiền lương danh nghía

và tiền lương thực tế.

cùng của dân cư (thu nhập danh nghĩa) Đó chính là phan tiền lưong con lại của CNVC sau khi đã trừ đi các khoản thanh toán với hệ thống tài chính tín dụng.

_ Tiền lương thực tế của CNVC chính là tiền lương danh nghía cua CNVC có tính đến sự biên động giá tiêu dùng thiết yếu Công thức xác định chỉ tiêu như sau:

Chỉ số giá tiêu dùng

Hoặc :

2 Những vấn đề lý luận cơ bản về phân phối thu nhập

2.1 Một số nguyên tắc về phân phối thu nhập :

Trong thời chiến, việc phân phối thu nhập không căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động mà sử dụng phương thức

Trang 16

phân phối theo nhu cầu cơ bản Phạm trù bình đẳng trong thu nhập trở thành phạm trù bình quân và cao bằng Phương thức phân phôi này có tác dụng làm cho mọi người đều có thu nhập đảm bảo đủ sống Không có cảnh đói rách, song cũng

có ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tê - xã hội VI theo phương thức phân phối này, người làm nhiêu ( năng suất cao), lao động giỏi cũng không hơn người khác là mấy Dù người lao động có tích cực như thế nào chăng nữa thì thu nhập của họ cũng không hơn người lười biếng một mức độ đáng kể Vì vậy nó đã hạn chế tính năng động trong nền kinh tế, làm cho nền kinh tế nước ta trong nhiều năm tăng trưởng quá chậm chạp.

Trong thời bình, nguyên tắc phân phối thu nhập là phân phối theo số lượng và chất lượng của lao động ( đối VỚI các doanh nghiệp sản xuất vật chất), hoặc căn cứ vào thời gian làm việc thực tế hay cấp bậc công việc mà họ đảm nhận (đối với các doanh nghiệp dịch vụ).

Trong nền kinh tế thị trường, phân phối thu nhập đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế Có thể xem xét vai trò của nó dưới các phương diện khác nhau:

Thứ nhất, phân phối thu nhập có ảnh hưởng to lớn đối với sản xuất - trên phương diện phân phối trực tiếp các yếu tố cho qúa trình sản xuất - nó nối liền sản xuất vơi sản xuất Điều này có nghĩa là nó đảm bảo các yếu tố đầu vào cho các doanh nghiệp, đảm bảo các nguồn lực phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh để cung cấp hàng hóa cho thị trường sản phẩm Sự phân phối các nguồn lực diễn ra thông suốt sẽ đảm bảo qúa trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục.

15

Trang 17

Thứ hai, phân phối thu nhập quyết định sự tiêu dùng của các chủ thể sở hữu các yếu tố sản xuất Thông qua phân phối thu nhập các chủ sở hữu các yếu tố sản xuất có được thu nhập

để mua hàng tiêu dùng và dịch vụ trên thị trường sản phẩm và dịch vụ Về cơ bản qui mô phân phối quyết định qui mô tiêu dùng Các chủ sở hữu nhận được thu nhập nhiều thì mức tiêu dùng cũngsẽ tăng về tuyệt đối.

Như vậy, tùy theo từng thời kỳ có những cách thức phân phối thu nhập khác nhau Hiện nay nền kinh tế của nước ta "

là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường "(15) Do vậy phải đi sâu nghiên cứu về phân phối tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô cho các chủ sở hữu các yếu tố sản xuất.

* Trong kinh tế thị trường, nguồn gốc của thu nhập có sự khác nhau Tiền lương, tiền công được phân phối theo lao động của người lao động Còn lợi nhuận, lợi tức, địa tô được phân phối theo quyền sở hữu tài sản Sự phân phối này đem lại thu nhập khác nhau cho hai loại người là chủ và thợ; người quản lý và bị quản lý dẫn đến sự phân hóa giữa giàu và nghèo Chính vì vậy, bất bình đẳng trong thu nhập là nguyên nhân của những cuộc xung đột chính trị - xã hội; của các cuộc cách mạng dân tộc kéo dài nhiều thê kỷ Các sô liệu sau đây minh chứng cho những thu nhập khác nhau đó :

- Năm 1980 ở Mỹ có 400 người giàu nhất chiếm một tài sản là 20 tỷ USD Mỗi năm số tài sản này mang lại cho họ một khoản thu nhập là 50 triệu USD Trong khi đó thu nhập của một gia đình nghèo khổ năm 1980 chỉ là 4000 USD Chỉ

Trang 18

tính thu nhập của người quản lý và người bị quản lý ( người lao động) cũng có sự khác biệt rất lớn (2 0).

- Tinh hình lương bổng của một số đối tượng năm 1987

- Sự khác nhau về năng lực lao động do di truyền sinh học, môi trường xã hội, hoặc môi trường kinh tê.

17

Trang 19

- Sự khác nhau về nghề nghiệp giữa lao động được đào tạo và lao động không được đào tạo trong cùng một ngành.

- Sự khác nhau về thời gian và điều kiện lao động

Ví dụ , ở Mỹ có rất nhiều thang lương và bậc lương chẳng hạn năm 1987, lương bình quân của công nhân sản xuất hàng tuần trong công nghiệp là 400 USD; dịch vụ là 275 USD và thương nghiệp ba"n lẻ là 178 USD Lương ngày giữa những công nhân sản xuất cũng có sự khác biệt rất nhiều Năm 1988 công nhân mỏ than nhận được 673 USD; gang thép 616 USD; ôtô 602 USD; điện thoại, điện báo 555 USD; xây dựng 456 USD; in sách 400 USD; may mặc 226 USD.

Ở nước ta, nếu xét thuần túy thu nhập theo lao động , sự bình đẳng cần phải hiểu trên hai giác độ : bình đẳng theo chiều dọc và bình đẳng theo chiều ngang.

21 B ì n h đ ẳ n g th e o c h i ề u d ọ c :

ở mỗi doanh nghiệp, mỗi thôn xóm hay trên phạm vi toàn xã hội, bao giờ cũng có các loại lao động khác nhau về tuổi nghề, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn, khả năng chuyên môn Quan niệm bình đẳng theo chiều dọc có nghĩa

là với trình độ chuyên môn khác nhau phải có mức thu nhập khác nhau Giám đốc doanh nghiệp đương nhiên phái có lương cao hơn nhân viên Kỹ sư phải có lương khởi điểm cao hơn cán bộ trung, sơ cấp cùng ra trường một năm, cùng làm việc tại một doanh nghiệp Nếu trong doanh nghiệp người ta trả lương cho giám đốc bằng lương của các phó giám đốc hoặc trưởng, phó các phòng ban thì vô tình không đảm bảo tính bình đẳng theo chiều dọc, không khuyến khích được sự

Trang 20

nỗ lực trong công tác Mác đã nói : "Lao động phức tạp là bội

số của lao động giản đơn"(18).

Như vậy, bình đẳng theo chiều dọc đòi hỏi sự khác nhau

về thu nhập đối với các cấp bậc công việc hay chức năng trong một hệ thống quản lý Nó sẽ có tác dụng tích cực : khuyến khích mọi người học tập để nâng cao trình độ chuyên môn.

Như vậy, thu nhập luôn có sự khác nhau về "khung",

"bậc" Mức độ chênh iẹcn giữa các loại trình độ chuyên môn

động Sự chênh lệch này là động lực nhằm khuyến khích sản xúat phát triển Chẳng hạn ở nông thôn, những hộ nông dân nào dám đầu tư, dám nghĩ, dám làm chắc hẳn sẽ là người có thu nhập cao hơn những người không chịu đầu tư gì cả Song xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế thì trong bình dẳng theo chiều dọc có tồn tại sự bất bình đẳng Ví dụ mức lương khởi điểm của giáo viên cấp tiểu học và giáo viên mầm non là

242 nghìn đồng (2) trong khi đó lương thưởng bình quân tháng của lao động không được đào tạo gì ở lĩnh vực xăng dầu lại có thu nhập trên 500 nghìn đồng một tháng.

Bình đẳng theo chiều dọc là đòi hỏi tất yếu khách quan Đặc biệt trong điều kiện của cơ chế thị trường cần phải giải quyết thỏa đáng sự bình đẳng này Chẳng hạn trong doanh nghiệp nhà nước, nếu giải quyết nâng lương không thỏa đáng

sẽ tạo ra không khí buồn chán trong sản xuất Mặt khác trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất phần lớn áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm đối với công nhân trực tiếp sản xuất Vậy đối với bộ phân lao động gián tiếp sẽ tính như thế nào cho hợp lý?

19

Trang 21

B ì n h đ ẳ n g t h e o c h i ề u n g a n g:

Binh đẳng theo chiều ngang được hiểu là những người

có trình độ tay nghé như nhau, cùng bỏ ra cường độ lao động như nhau, cùng làm việc như nhau sẽ có thu nhập như nhau

Việc phấn đấu đảm bảo binh đẳng theo chiều ngang là

sự cần thiết tất yếu Nếu đảm bảo bình đẳng theo chiều ngang

sẽ tạo ra sự ổn định trong việc sử dụng lao động Sở dĩ hiện ngay người ta thích thuyên chuyển công tác, chọn ngành , chọn nghề vì không đảm bảo được sự bình đẳng này Chẳng hạn theo qui định của Nhà nước, mức lương tối thiểu

là 120.000 đồng một tháng đối với lao động giản đơn, không

có tay nghề Tuy vậy, ở nước ta hiện nay, lao động tạp vụ ở

cơ quan hành chính sự nghiệp thường có thu nhập thấp nhưng

ở các doanh nghiệp lao động tạp vụ lại có mức thu nhập cao hơn, chẳng hạn ở Liên hiệp xi măng Việt nam mức lương tối thiểu của loại lao động này là 300.000 đồng một tháng Như vậy, trong bình đẳng theo chiều ngang cũng tồn tại sự bất bình đẳng Bất bình đẳng theo chiều ngang cũng là một vấn

đề bức bách cần được giải quyết.

Do sự không bình đẳng trong thu nhập nên có dòng người từ nông thôn ra thành thị để kiếm việc làm Hơn nữa cung không it trường hợp lao động ở nông thôn chuyển về thành thị bằng các con đường khác nhau như nghỉ mất sức,

nông thôn tham gia vào thị trường lao động ở khu vực thị thành chủ yếu là do thu nhập ở thành thị lớn hơn ở nông thôn, không tương xứng giữa công hiến với hưởng thụ.

Như vậy trong phân phối thu nhập phải đảm bảo sự bình đẳng cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang Có như vậy người lao động mới yên tâm làm việc tại nơi họ được Nhà nước phân công.

Trang 22

CHUƠNG 2

XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CHỈ T Ê U VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN

TÍCH THỐNG KÊ THƯ NHẬP CỦA CÔNG NHÂN VIÊN CHÚC.

1 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập của

CNVC

thống kê thu nhập của CNVC

Khi nói về thu nhập của CNVC trong các doanh nghiệp

sản xuất vật chất có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh về thu nhập

Ví như thu nhập có thể là tiền lương, tiền thưởng, tiền nhận

được từ quĩ BHXH, tiền phong bao hội họp, tiền an dưỡng

Tuy nhiên từng chỉ tiêu chỉ phản ánh một mặt nào đó của thu

nhập Vì vậy, muón đi sâu nghiên cứu về thu nhập tất yếu

phải xây dựng được một hệ thống chỉ tiêu thống kê Hơn nữa

trên thực tế, ít có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu và xây dựng

một hệ thống chỉ tiêu thống kê hoàn chỉnh về thu nhập Vì

vậy với các ly do nêu trên để giải quyết được các vấn đề mà

đề tài đã đặt ra, đòi hỏi trước hết phải xây dựng được một hệ

thống chỉ tiêu thống kê để phản ánh các mặt của thu nhập

phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng về thu nhập

củaCNVC.

thống chỉ tiêu thống kê về thu nhập của CNVC

21

Trang 23

1 2 1 K h á i n iệ m v ề h ệ t h ố n g c h ỉ tiê u th ố n g k ê th u n h ậ p

c ủ a C N V C

Trước tiên để đề ra được các nguyên tắc cho việc xây

dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập của CNVC ta phải

hiểu được thế nào là chỉ tiêu thu nhập cũng như hệ thống chỉ

tiêu thống kê về thu nhập của CNVC.

- Chỉ tiêu thống kê thu nhập phản ánh lượng gắn với

chất của các mặt và tính chất cơ bản về thu nhập của CNVC

trong những điều kiện về thời gian địa điểm cụ thể.

Chỉ tiêu thống kê thu nhập của CNVC, tùy thuộc vào

nội dung của nó, có thể chia ra thành chỉ tiêu thống kê chất

lượng và chỉ tiêu thống kê khối lượng.

+ Chỉ tiêu thống kê chất lượng biểu hiện trình độ phổ

biến, mối quan hệ của thu nhập.

chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của

thu nhập và mối liên hệ của thu nhập với các hiện tượng liên

quan tới nó.

Trong hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập, tuỳ thuộc

vào việc hĩnh thành hệ thống chỉ tiêu có thể có các chỉ tiêu

chất lượng như các chỉ tiêu về thu nhập bình quân, tiền lương

bình quân tiền thưởng bình quân và có các chỉ tiêu số

lượng như tổng thu nhập, thu nhập theo thang bậc lương

Trang 24

Vì thu nhập chỉ là một vấn đề trong vô vàn các vấn

đề mà thống kê đi sâu nghiên cứu, giải quyết Do đó, khái

niệm của hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập của CNVC

cũng phải xuất phát từ khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê

nói chung Nghĩa là, trong hệ thống chỉ tiêu thống kê này

phải gồm có các chỉ tiêu phản ánh mọi vấn đề ma một hẹ

thống chỉ tiêu cần phải có Chỉ có khác ở chỗ, vì nghiên cứu

một vấn đề cụ thể, đó là thu nhập, nên các chỉ tiêu thống kê

hình thành nên hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập phải phản

ánh được mọi vấn đề của thu nhập.

Để có được một hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập

của CNVc một cách đầy đủ và khoa học thì phải đảm bẩo

được những nguyên tắc trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu.

nào trong đó mà còn đảm bảo được việc thu thập thông tin để

tính toán được trị số của chúng hay không Vì vậy, phẩi có

những căn cứ nhất định khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống

kê thu nhập.

Thứ nhất, phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu Mục

đích nghiên cứu quyết định nhu cầu thông tin về những mặt

nào đó của đối tượng nghiên cứu Do vậy, phải dựa vào mục

đích nghiên cứu để lựa chọn các chỉ tiêu phù hợp.

23

Trang 25

Thứ hai, phải căn cứ vào tính chất, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Hiện tượng phức tạp thì số lượng chỉ tiêu phải nhiều và ngược lại Hiện tượng thuộc dạng ý thức phải dùng nhiều chỉ tiêu để biểu hiện hơn là hiện tượng thuộc dạng vật chất.

Thứ ba, phải căn cứ vào khả năng nhân, tài, vật lực cho phép để có thể tiến hành thu thập, tổng hợp được các chỉ tiêu trong sự tiết kiệm nghiêm ngặt.

Từ những căn cứ này đòi hỏi khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phải cân nhắc thật kỹ lưỡng, xác định những chỉ tiêu cơ bản nhất, quan trọng nhất làm cho số íượng chỉ tiêu không nhiêu mà vân đáp ứng được muc đích nghiên cứu.

- Những yêu cầu của việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê:

+ Một hệ thống chỉ tiêu thống kê phải có khả năng nêu lên được mối liên hệ giữa các bộ phận cũng như giữa các mặt của đối tượng nghiên cứu với các hiện tượng liên quan trong khuôn khổ của việc đáp ứng mục đích nghiên cứu Bởi vậy khi xâỵ dựng hệ thống chỉ tiêu phải trên cơ sở phân tích ly luận để hiểu bản chất chung của đối tượng nghiên cứu và các mối liên hệ của nó.

+ Trong hệ thống chỉ tiêu phải có chỉ tiêu mang tính chất chung, các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận của tổng thể

và các chỉ tiêu phản ánh các nhân tốđể thể hiện đầy đủ tổng thể nghiên cứu.

Trang 26

+ Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phưcng pháp

và phạm vi tính toán cùa các chỉ tiêu cùng loại.

+ Trong hệ thống chi tiêu thống kê phải đảm bảo tính so sánh được của một vài chỉ tiêu.

2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập của CNVC

Bao gồm các chỉ tiêu sau:

2.1 Tổng thu nhập của CNVC

Nếu xét chung về thu nhập của CNVC: tổng thu nhâp là toàn bộ số tiền mà CNVC đã nhận được trong một khoang thời gian nhất định thường là một năm.

Bản luận án này chỉ nghiên cứu thu nhập của CNVC từ doanh nghiệp Vì vậy, từ đây trở đi chúng tôi chỉ giới han phạm trù thu nhập từ doanh nghiệp mà không đề cập tới cẩc khoản thu nhập khác ngoài doanh nghiệp

Nếu chỉ xét trong giới hạn thu nhập của CNVC từ doanh nghiệp thì tổng thu nhập của CNVC ià toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động trong môt khoang thời gian nhất định.

Chỉ tiêu tổng thu nhập là chỉ tiêu tổng hợp bao hàm nhiều yếu tố hợp thành, chỉ tiêu này là cơ sở để tính toán cac chỉ tiêu khác như chỉ tiêu thu nhập bình quân của CNVC v ĩ vậy nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phân tích thong ke tinh hình thu nhập của CNV Và cũng từ.đó nêu ra được sự bất bình đẳng về thu nhập trong phạm vi một doanh

25

Trang 27

ỉlg|hi; p1 ^ ° chiều dọc) và ê iữa các doanh nghiệp với nhau ( theo chiều ngang).

Ỵ ỷ i kỉlái ni?m trên đây, tổng thu nhập của CNVC bao

độc hạữ phụ cấp làm đêm và một so khoản khác Vi vay công thức đê xác định tổng thu nhập của CNVC như sau •

Là thu nhập còn lại sau khi đã đóng bảo hiểm xã hôi và các khoản đóng góp tự nguyện khác.

Thu nhập cuối cùng = Tổng thu nhập -(bóng BHXH + Các khoản đ o n g ọ ó p k h á c j

2.3 Tổng quĩ tiền lương của CNVC

2.3.1 K h á i n i ệ m :

Trang 28

Tổng quĩ tiền lương (quĩ lương) của CNVC là tổng số

tiền mà CNVC nhận được từ lương san phẩm, lương chức vụ

lương thời gian trong một thời kỳ nhất định ( thương là môt

năm).

chỉ tiêu thống kê thu nhập của CNVC Trong tổng thu nhập

của CNVC tổng quĩ lương chiếm một tỷ trọng rất lớn Tổng

TU1 lương la cơ sơ cho việc tính chỉ tiêu tổng thu nhâp và các

chỉ tiêu khác như tiền lượng bình quân của CNVC

Theo các văn bản qui định chế độ tiền lương mới (tập 3).(2)

Quĩ lương của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

bao gồm các loại sau :

- Quĩ lương tính theo đơn giá và kết quả sản xuất kinh

doanh.

- Quĩ lương của các phó giám đốc và nhân viên.

- Quĩ lương bổ xung cho thời gian không tham gia sản

xuất theo chế độ của nhà nước qui định (nếu có)

d o a n h n g h i ệ p n h ư s a u :

- Đối với quĩ lương xác định theo đơn giá tiền lương :

trường hợp này có thể tính theo đơn vị sản phim, theo doanh

thu hoặc theo lợi nhuận Cụ thể :

2 7

Trang 29

2.3.2.1 Theo đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, quĩ lương được xác định bang công thức

Qũi lương thực' Đơn giá 1 Tổng sản phẩm| Quĩ lương

hiện theo đơn = / tiền 1 X hàng hóa bổ

vị sản phẩm J L lương J - thực hiện J sung _

Quĩ lương bổ sung là quĩ lương trả cho thời gian khônơ

tham gia sản xuất theo chế độ được hưởng lương cho cônơ

nhân ( chính và phụ trợ) gồm : nghỉ phép năm, nghỉ việc

riêng, nghỉ lễ, nghỉ theo chế độ lao động nữ, hội họp, học tập

và làm công tác xã hội

2-3.2.2 Theơ lợi nhuận, quĩ lương được xác định :

2.3.2.2.I T h e o lợ i n h u ậ n g ộ p , c ô n g th ứ c x á c đ in h q u ĩ

lư ơ n g c ủ a d o a n h n g h iệ p n h ư s a u :

Trong các chi tiêu tổng doanh thu thực hiện và tổng chi

phí thực hiện đã loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khách

quan mà nhà nước cho phép.

2 3 2 2 2 T h e o lợ i n h u ậ n th ự c h iệ n , q u ĩ lư ơ n g c ủ a

d o a n h n g h iệ p đ ư ợ c x á c đ ịn h h ằ n g c ô n g th ự c s a u

X tổng chi phí thực hiện ( chưa có tiền lương) _ Tổng doanh thu

thực hiện trừ

Trang 30

Quĩ lương thực

_ hiện theo lợi nhuận

đơn giá tiền lương

lợi nhuận 1

I thực hiện I

Trong đó, lợi nhuận thực hiện được xác định như sau:

2.3.2.3 Theo doanh thu, quĩ lương được xác định bằng công thức

_ doanh thu

]

Để tính được quĩ lương theo các phương pháp trên ta

'phải có chỉ tiêu về đơn giá tiền lương Đơn giá tiền lương

được tính bằng các công thức tương ứng sau đây:

PHUƠNG PHÁ P XÁC Đ ỊNH ĐƠN GIÁ T IE N LUƠNG

- Đ cm g iá ti ề n lư ơ n g tín h tr ê n đ ơ n v ị s ả n p h ẩ m (h o ặ c

s ả n p h ẩ m q u ỵ đ ổ i )

Đơn giá tiền lương tính trên một đơn vị sản phẩm được

xác định bằng tổng các số thống kê sau đây:

* Tiền lương theo các đơn vị sản phẩm ở các nguyên

công, công đoạn trong qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm

(cá nhân hay tổ đội) bao gồm:

29

Trang 31

- Hệ số và mức lương theo cấp bậc công việc;

- Định mức lao động (định mức sản lượng, định mức thời gian);

- Hệ số và mức phụ cấp lương các loại theo qui định của Nhà nước (nếu có) gồm: phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại, nguy hiểm phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm đêm, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ và phụ cấp lưu động.

* Tiền lương trả theo thời gian cho công nhân và phụ trợ ở những khâu còn lại trong dây truyền công nghệ sản xuất nhưng không được phân bổ cho đơn vị sản phẩm, bao gồm:

- Hệ số và mức lương theo cấp bậc công việc được xác định ở mỗi khâu công việc;

- Hệ số và mức phụ cấp lương các loại theo quy định của Nhà nước ( như trên ).

* Tiền lương của viên chức chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ Tiền lương chức vụ và phụ cấp chức vụ của lao động quản lý được phân bổ cho đơn vị sản phẩm, bao gồm:

- Hệ số và mức lương bình quân của viên chức chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ, tiền lương chức vụ;

- Định mức lao động của viên chức chuyên môn, nghiệp

vụ , thừa hành, phục vụ;

- Hệ số và mức phụ cấp lương các loại (kể cả phụ cấp chức vụ nếu có)

Trang 32

- Đ ơ ỉĩ g iá tiề n lư ơ n g đ ư ợ c tín h tr ê n lợ i n h u ậ n

-V- Đơn giá tiền lương được tính trên lợi nhuận gộp, công thức xác định:

tiền lương = -r _

tiền lương)

Quĩ tiền lương kế hoạch tính theo chế độ của doanh nghiệp (không bao gồm tiền lương của giám đốc và kế toán trưởng) được tính bằng tổng số lao động định biên hợp lý nhân với (x) tiền lương bình quân theo che độ , kể cả hệ so và mức phụ cấp lương các loại

Tổng doanh thu kế hoạch là tổng số tiền dự kiến thu được trong năm tới về tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chính và phụ

Tổng chi phí kế hoạch bao gồm toàn bộ các khoản chi phí hợp lệ dự kiến trong giá thành sản phẩm tiêu thụ (chưa có tiền lương), bao gồm cả phí lưu thông và các khoản phải nộp ngân sách theo qui định hiện hành của nhà nước (trừ thuế lợi tức).

Đ ơ n g iá t i ề n lư ơ n g tín h tr ê n lợ i n h u ậ n th ự c h iệ n , đ ư ợ c

x á c đ ị n h th e o c ô n g th ứ c :

31

Trang 33

Đơn giá Quĩ lương kế hoạch

tiền lương = - - 1

Lợi nhuận kế hoạch

- Lợi nhuận kế hoạch xác định theo qui định hiên hành của Nhà nước.

- Đ ơn g iá tiên lương tính trên doan h thu

Phương pháp này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuât kinh doanh không ổn định và không thể tính được đơn giá tiền lương theo một trong ba phương pháp nói trên.

Theo phương pháp này đơn giá tiền lương được xác định như sau:

tiền lương = -

1 -Tổng doanh thu kế hoạch

- Quĩ tiền lương của giám đốc, kế toán trưởng là toàn bộ

số tiền được trả theo lương chức vụ của hạng doanh nghiệp (qui định tại nghị định sô 26/CP ngày 23-5-1993) mức trả cu thể như sau:

+ Đối với doanh nghiệp có lãi, doanh nghiệp không lỗ

và doanh nghiệp bị lỗ khi thực hiện chính sách kinh tế xã hội

do Nhà nước qui định, tiền lương của các chức danh nói trên được trả bằng 100% tiền lương chức vụ.

+ Doanh nghiệp bị lỗ thì tiền lương của các chức danh nói trên được trả theo mức độ thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước

Khi nghiên cứu chỉ tiêu tổng quĩ tiền lương có thể xem xét ở các góc độ khác nhau.

Trang 34

2.3.3 Phân loại tổng quĩ lương của doanh nghiệp

* Nếu căc cứ vào mức độ tham gia trong quá trình sản xuất thì quĩ tiền lương của doanh nghiệp bao gồm: quĩ lương sản xuất và quĩ lương không sản xuất.

Quĩ lương sản xuất là quĩ lương của những người trực tiếp tham gia vào qúa trình sản xuất Quĩ lương sản xuất được xác định bằng cách lấy đơn giá tiền lương nhân với (x) doanh thu hoặc là theo 3 phương pháp còn lại như đã trình bày ở trên.

Chú ý rằng trong đơn giá tiền lương nêu trên chỉ tính tiền lương theo đơn vị sản phẩm ở các nguyên công, công đoạn trong quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm và tiền lương trả theo thời gian cho công nhân chính và phụ trợ ở những khâu còn lại trong dây truyền công nghệ sản xuất không có điều kiện trả lương theo sản phẩm phân bổ cho đơn

vị sản phẩm.

Quĩ lương không sản xuất bao gồm quĩ lương của cán

bộ lãnh đạo (giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng) và quĩ lương của nhân viên

+ Quĩ lương của giám đốc và kế toán trưởng được xác định như ở trên

+ Quĩ lương của các phó giám đốc và nhân viên: là toàn

bộ số tiền trả cho nhân viên theo chức vụ, tháng lương, bảng lương và thời gian làm việc thực t ế

* Nếu căn cứ vào thời gian của việc tính quĩ tiền lương thì quĩ lương của công nhân sản xuất của doanh nghiệp bao gồm:

- Quĩ lương giờ (Fg): là toàn bộ số tiền trả cho số giờ làm việc thực tế trong và ngoài chế độ , kể cả tiền lương chức

33

Trang 35

vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước qui định Quĩ lương giơ không dung đê chi trả cho những giờ mà người lao động không làm việc bất kể do nguyên nhân gì.

Quĩ lương giờ là chỉ tiêu phản ánh chính xác về tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất Nó là cơ sở cho việc tính chỉ tiêu tiền lương bình quân giờ của người lao động

- Quĩ tiền lương ngày (Fn): là toàn bộ số tiền trả cho người lao động theo số ngày làm việc thực tế trong và ngoài chế độ kể các khoản phụ cấp lương ngày và các khoản tiền tra cho thời gian đi muộn về sớm theo chế độ, tiền trả cho n h ữ n ơ

giờ ngừng việc trong nội bộ ca Quĩ lương ngày không dùng

đê chi trả cho những ngày không làm việc

Quĩ tiền lương ngày lớn hơn quĩ tiền lương giờ ở các khoản tiền phải trả cho người lao động không tính trong quĩ tiền lương giờ.

Từ hai chỉ tiêu quĩ tiền lương giờ và quĩ tiền lương ngày

sẽ xác định được chỉ tiêu hệ số phụ cấp lương ngày.

Fn

Hpcln -

-Fg

Quĩ lương ngày là chỉ tiêu để tính tiền lương bình quân ngày của người lao động Giữa quĩ lương ngày và quĩ lương giờ có mối quan hệ với nhau như sau:

Trang 39

2.6 Các chỉ tiêu khác

Trang 40

la o đ ộ n g t r o n g c h ế đ ộ

H g : h ệ s ố là m t h ê m g i ờ

39

Ngày đăng: 21/02/2023, 17:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w