Do sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về trình độ phát triển, tiêu thụ tổng sản phẩm quốc dân GDP cũng như điều kiện dịch vụ, cơ sở hạ tầng và cơ may trong cuộc sống, người di
Trang 1Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật Tôi xin cam đoan luận
văn Thạc sỹ kinh tế “Phân tích thống kê thực trạng và nhân tố ảnh hưởng đến
di cư nông thôn đô thị Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Đại Đồng
Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Tác giả xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NHÂM THỊ THU HÀ
Trang 2Để hoàn thành đề tài “Phân tích thống kê thực trạng và nhân tố ảnh
hưởng đến di cư nông thôn đô thị Việt Nam”, em xin chân thành gửi lời cảm ơn
đến toàn bộ thầy cô giáo trong Khoa Thống kê , trường Đa ̣i ho ̣c Kinh tế Quốc dân đã trang bi ̣ kiến thức , tạo môi trường thuận lợi trong suố t quá trình ho ̣c tâ ̣p và thực hiê ̣n luâ ̣n văn
Đặc biệt , em xin gử i lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Phạm Đại Đồng– Người trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiê ̣n nghiên cứu này
Em xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và toàn thể anh chị em của Vụ Thống
kê Thống kê Dân số và Lao động – Tổng cục Thống kê đã ta ̣o điều kiê ̣n cung cấp thông tin, cũng như các số liệu giúp em hoàn thành nội dung luận văn
Tôi gử i lời cảm ơn sâu sắc và kính chúc các Thầy , Cô giáo và toàn thể mo ̣i người sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Trân trọng cảm ơn!
Trang 3Lời cảm ơn
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình
Tóm tắt kết quả nghiên cứu luận văn
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DI CƯ NÔNG THÔN - ĐÔ THỊ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 4
1.1 Một số vấn đề chung về di cư, di cư nông thôn-đô thị 4
1.1.1 Khái niệm chung về di cư, di cư nông thôn - đô thị 4
1.1.2 Các tiêu chuẩn để xác định di cư, di cư nông thôn - đô thị 8
1.1.3 Phân loại di cư 11
1.2 Tác động của di cư, di cư nông thôn - đô thị đến phát triển kinh tế - xã hội và dân số 16
1.2.1 Tác động của di cư, di cư nông thôn – đô thị đến phát triển kinh tế - xã hội 16
1.2.2 Tác động của di cư, di cư nông thôn – đô thị đến dân số 18
1.3 Các chỉ tiêu đo lường di cư, di cư nông thôn - đô thị 19
1.3.1 Các chỉ tiêu tuyệt đối 19
1.3.2 Các chỉ tiêu tương đối 20
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị và một số lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố đến di cư nông thôn - đô thị 22
1.4.1 Nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội của cộng đồng 23
1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về cá nhân của người di cư 30
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ THỰC TRẠNG DI CƯ NÔNG THÔN ĐÔ THỊ VIỆT NAM THỜI KỲ 1999 ĐẾN 2014 34
Trang 42.1.1 Đặc trưng về tuổi 34
2.1.2 Đặc trưng về giới tính 36
2.1.3 Đặc trưng về trình độ học vấn 37
2.1.4 Đặc trưng về việc làm 41
2.2 Phân tích xu hướng biến động di cư nông thôn-đô thị ở Việt Nam 42
2.2.1 Phân tích thực trạng chung về di cư nông thôn - đô thị 42
2.2.2 Phân tích thực trạng di cư nông thôn - đô thị giữa các vùng lãnh thổ 44
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DI CƯ NÔNG THÔN - ĐÔ THỊ VIỆT NAM 51
3.1 Nguồn số liệu 51
3.2 Mô hình hồi quy 52
3.2.1 Xác định biến phụ thuộc 52
3.2.2 Xác định các biến độc lập 53
3.2.3 Mô hình hồi quy lý thuyết 53
3.3 Vận dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị 56
3.3.1 Xác định mô hình hồi quy phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến di cư nông thôn-đô thị năm 1999 56
3.3.2 Xác định mô hình hồi quy phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị năm 2009 60
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 72
Trang 5CMKT Chuyên môn kỹ thuật
ĐTDSNOGK Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ
Trang 6Bảng 2.1: Tuổi trung bình và tuổi trung vị của người di cư, di cư nông thôn -đô thị chia theo loại hình di cư, 1999 - 2014 35Bảng 2.2: Tuổi trung bình và tuổi trung vị của người di cư nông thôn-đô thị chia theo loại hình di cư và giới tính, 1999 - 2014 36Bảng 2.3: Cơ cấu giới tính của người di cư, người di cư nông thôn-đô thị và không
di cư theo loại hình di cư, 1999-2014 36Bảng 2.4: Tỷ lệ dân số di cư nông thôn đến đô thị từ 11-18 tuổi chia theo tìnhtrạng đi học, loại hình di cư và giới tính, năm 2009 và 2014 39Bảng 2.5: Tỷ lệ người di cư nông thôn-đô thị chia theo trình độhọc vấn đạt được
và giới tính, 1999-2014 40Bảng 2.6: Tỷ lệ lao động di cư nông thôn-đô thị từ 15 tuổi trở lên có việc làm chia theo nghề nghiệ và loại hình kinh tế, năm 2009 41Bảng 2.7: Số người di cư và tỷ lệ người di cư trong 5 năm trong tổng số người di
cư chia theo luồng di cư và loại hình di cư, 1999-2014 44Bảng 2.8: Tỷ suất di cư trong 5 năm trước thời điểm điều tra chia theo vùngkinh tế-xã hội, năm 1999, 2009 và 2014 46năm 1999, 2009 và 2014 47Bảng 2.8: Số lượng và cơ cấu các luồng di cư nông thôn – thành thịtrong 5 năm phân theo vùng, 2009-2014 49Bảng 3.1: 10 tỉnh/thành phố có Thu nhập bình quân đầu người cao và 10 tỉnh có Thu nhập bình quân đầu người thấp, năm 1999 59
Trang 7Hình 1.1: Nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra và loại hình
di cư 16Hình 2.1: Tỷ lệ dân số di cư nông thôn - đô thị từ 6-10 tuổi chia theo tình trạng đi học và giới tính, năm 2009 và 2014 38Hình 2.2: Tỷ suất di cư thuần chia theo vùng kinh tế - xã hội, năm 1999, 2009 và
2014 47
Trang 8TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Con người sinh ra có nhu cầu tồn tại và phát triển, để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của bản thân từ xưa con người đã phải di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác tìm những nơi thích hợp để sinh tồn Khi xã hội phát triển con người di
cư theo nhu cầu tăng lên không ngừng Di cư là một hiện tượng mang tính quy luật khách quan
Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, việc di cư luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bước vào thời kỳ “Đổi mơi” di cư trong nước và tác động của nó tới quá trình đô thị hóa trở thành một bộ phận quan trọng của quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở Việt Nam Di cư trong nước đã tăng lên nhanh với tốc độ chưa từng có qua hai thập kỷ qua Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2009 thì số lượng người di cư giữa các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên 3,4 triệu người năm 2009, trong đó nhóm di cư từ nông thôn ra thành thị là nhóm di cư có tốc độ tăng nhanh bởi sức hấp dẫn về điều kiện sống, việc làm, thu nhập, đây là những yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh về quy mô dân số ở khu vực thành thị Điều này đã có tác động to lớn tới quá trình phát triển của đất nước, có đóng góp tích cực cho bản thân người di
cư và sự phát triển của nơi đến của người di cư Bên cạnh đó, luồng di cư từ nông thôn ra thành thị cũng góp phần làm gia tăng khoảng cách kinh tế - xã hội giữa thành thị và nông thôn Các khu vực nông thôn và vùng xuất cư chịu nhiều thiệt thòi hơn trong khi khu vực thành thị đặc biệt là các thành phố lớn, vùng nhập cư lại được hưởng lợi từ những người di cư trẻ tuổi, thường có vốn xã hội tốt hơn Nguyên nhân của di cư nông thôn ra thành thị có nhiều nguyên nhân khác nhau và di cư nông thôn – thành thị được coi là một trong những yếu tố quan trọng làm tăng tỷ lệ
đô thị hóa ở Việt Nam
Đây chính là một phần của quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn cần giải quyết trong quá trình phát triển kinh
tế Chính vì vậy cần có sự quan tâm lớn hơn của Nhà nước và chính quyền đối với
Trang 9vấn đề di cư nông thôn ra thành thị hay nói khác đi là vấn đề di cư nông thôn - đô
thị Xuất phát từ những điều nêu trên tác giả chọn đề tài “Phân tích thống kê thực
trạng và nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn đô thị Việt Nam” Đề tài đi sâu
vào phân tích thống kê thực trạng về di cư nông thôn - đô thị Việt Nam qua số liệu hai kỳ Tổng điều tra dân số và Nhà ở (TĐTDSNO) năm 1999, năm 2009 và Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (ĐTDSNOGK) năm 2014 Phân tích các nhân tố có ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị theo phương pháp định tính và định lượng Luận văn tập trung vào nghiên cứu và phân tích thực trạng và các yếu tố có ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị của Việt Nam như yếu tố dân số, kinh tế, văn hóa – xã hội … theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1999, 2009 và Điều tra dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2014
Phân tích thực trạng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên đến di cư nông thôn-đô thị của 63 tỉnh/thành phố nhằm đưa ra giải pháp và kiến nghị chính sách về quản lý và định hướng vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị cho các tỉnh/thành phố lớn, trọng điểm
Luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về di cư nông thôn - đô thị và các nhân tố ảnh hưởng
Chương 2: Phân tích thống kê thực trạng của di cư nông thôn-đô thị Việt Nam thời kỳ 1999 đến 2014
Chương 3: Phân tích thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn-đô thị Việt Nam
Chương 1: Chương 1 tác giả trình bày khái niệm, định nghĩa về di cư nói
chung và từ đó đưa ra được khái niệm di cư nông thôn - đô thị
Di cư nông thôn - đô thị là sự di chuyển của con người từ một đơn vị hành chính là xã đến một đơn vị hành chính khác là phường/thị trấn, đó là sự chuyển đến một phường/thị trấn khác trong cùng hoặc ngoài huyện khác, thành phố hoặc một tỉnh khác trong một khoảng thời gian nhất định
Luận văn trình bày những tác động của di cư nông thôn - đô thị đến phát triển
Trang 10kinh tế xã hội và các vấn đề về dân số Người di cư di chuyển từ nông thôn ra thành thị được tiếp cận với sự phát triển của khoa học công nghệ, tiếp cận với các điều kiện sồng tốt hơn, nhằm tạo ra nguồn thu nhập cho bản thân tốt hơn và cải thiện mức sống của gia đình mình Đồng thời quá trình di cư này cũng tác động vào sự phát triển kinh tế xã hội, hình thành nhiều loại hình dịch vụ đa dạng hơn, tạo nên tính năng động của nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó, di cư nông thôn - đô thị cũng tạo ra sức ép cho các khu đô thị về các vấn đề cơ sở hạ tầng, vấn đề nhà ở, an ninh, cũng như nhiều vấn đề về xã hôi khác
Tỷ lệ dân số thành thị tăng lên, quy mô dân số tăng lên ở khu vực thành thị, các vấn đề về sinh, chết, hôn nhân cũng chịu tác động của luồng di cư nông thôn -
đô thị này
Mục đích của luận văn cũng nhằm tìm ra các nhân tố kinh tế, xã hội mang tính cộng đồng hay cá nhân người di cư có ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị, mà ở đây xét đến mối quan hệ giữa tỷ suất nhập cư nông thôn - đô thị và các nhân tố ảnh hưởng đến nó Có thể là các nhân tố định tính hoặc định lượng tác động đến luồng
di cư này Có nhiều nhân tố được đưa ra, tuy nhiên luận văn cũng tìm ra được những nhân tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến luồng di cư nông thôn - đô thị như: thu nhập, việc làm, trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT), vốn đầu tư, mật độ dân số, là các nhân tố quan trọng tác động đến luồng di cư nông thôn - đô thị
Một sô lý thuyết giải thích cho các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn -
đô thị cũng được đề xuất trong luận văn như: Lý thuyết lực hút, lực đẩy, Lý thuyết lợi ích và chi phí của Ravestein
Chương 2: Chương 2 trình bày một số phân tích về thực trạng của di cư nông
thôn - đô thị Việt Nam qua các kỳ TĐTDSNO ở các năm 1999, 2009 và ĐTDSNOGK năm 2014
Nhìn chung người di cư nông thôn ra thành thị có tuổi trung bình và tuổi trung
vị trẻ hơn người di cư nói chung Kết quả ĐTDSNOGK năm 2014 cho thấy một nửa số người di cư từ nông thôn ra thành thị có độ tuổi từ 25 trở xuống, cao hơn 2 độ
Trang 11tuổi so với kết quả của TĐTDSNO năm 2009 (tuổi trung vị là 23 tuổi)
Đáng chú ý là trong nhóm dân số di cư nông thôn ra thành thị, phụ nữ ít tuổi hơn nam giới
98,5% người di cư từ nông thôn ra thành thị đã từng đi học (Kết quả
ĐTDSNOGK năm 2014) Nam giới có trình độ học vấn cao hơn nữ giới, ở trình độ
càng cao thì nhận định này cho thấy càng đúng
Hơn 50% người di cư nông thôn ra thành thị làm trong khu vực công nghiệp
và xây dựng (chiếm 53,0%) Nam giới tham gia vào các nghề đòi hỏi trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao hơn nữ giới (Kết quả TĐTDSNO năm 2009)
Di cư từ nông thôn ra thành thị ở nước ta ngày càng có xu hướng gia tăng và
có tính phổ biến rộng khắp trên các vùng nông thôn trong cả nước trong giai đoạn 1999-2009
Đông Nam Bộ tiếp tục là nơi thu hút dân cư, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh
là đầu tầu kinh tế vẫn là nơi đến hấp dẫn của lao động cả nước Lý do chủ yếu làm cho người di cư lựa chọn vùng chuyển đến là việc làm và thu nhập
Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có luồng di cư từ thành thị đến
thành thị chiếm tỷ trọng cao nhất là 32,7 phần trăm và 37,7 phần trăm (Kết quả
ĐTDSNOGK 2014)
Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị Việt
Nam Để đo lường di cư nông thôn-đô thị, tác giả chọn chỉ tiêu đánh giá mức độ nhập cư là: tỷ suất nhập cư nông thôn - đô thị của dân số trong thời kỳ nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp hồi quy tương quan tuyến tính bội, với dữ liệu không gian Các bước để kiểm định các khuyết tật của mô hình đã được tiến hành
để đưa ra được kết quả tốt nhất cho mô hình, đó là mối tương quan tuyến tính của các biến độc lập tới biến phụ thuộc của luận văn lựa chọn Qua đó, tác giả đã đưa ra được một số khuyến nghị và chính sách về những ảnh hưởng của di cư nông thôn -
đô thị
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Ngày nay, khi đô thị hóa là một sự phát triển tất yếu gắn liền với phát triển, tăng trưởng kinh tế và di chuyển dân số là nét đặc trưng cơ bản của quá trình tăng trưởng này Do đó, nhiều chính phủ trên thế giới luôn dành sự chú ý đặc biệt đến nhịp độ và xu hướng di cư, khiến cho chủ đề di cư và đô thị hóa được giới nghiên cứu và những nhà hoạch định chính sách quan tâm như những nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước
Trong suốt những thập kỷ vừa qua, các nước đang phát triển rất quan tâm chú ý đến việc phân bố dân cư (UN, 1993) Nhiều quốc gia đang phát triển xem quá trình di cư và đô thị hóa là những vấn đề cấp bách nhất, thậm chí còn cấp bách hơn đòi hỏi kiểm soát di cư và mức độ tăng trưởng tự nhiên của dân số (UN, 1985;1999) Thậm chí, di cư được coi là vấn đề đáng báo động và là nguyên nhân của hàng loạt những trở ngại mà các nước đang phát triển gặp phải Nhiều nhà quản
lý chương trình còn coi di cư nông thôn-thành thị là nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ “bùng nổ dân số đô thị” Nhận định chung cho rằng tình trạng thất nghiệp gia tăng, vấn đề nhà ở, vệ sinh, ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, cấp thoát nước hiện đang làm giảm sút chất lượng sống ở các đô thị đều do sự nhập cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố gây ra Quan điểm này cho rằng tăng trưởng dân số ở các siêu đô thị và các thành phố lớn là vấn đề không thể quản lý được
Di cư ở các nước khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam, đã gia tăng
cả về quy mô và độ phức tạp với sự tham gia của rất nhiều nhóm dân số xã hội khác nhau Do sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về trình độ phát triển, tiêu thụ tổng sản phẩm quốc dân (GDP) cũng như điều kiện dịch vụ, cơ sở hạ tầng và cơ may trong cuộc sống, người di cư ra thành thị tìm việc với mong muốn tăng thu nhập và có một cuộc sống tốt đẹp hơn (UN,1995)
Đô thị hoá là tất yếu của phát triển kinh tế, song sự gia tăng đột biến dân số
đô thị đôi khi bị xem là trở ngại cho công tác kế hoạch hóa phát triển nên sự kiểm
Trang 13soát và hạn chế di cư đến đô thị đã được thực hiện trong nhiều thập niên vừa qua Trong bối cảnh đó, các luồng di cư dẫn đến sự thay đổi nơi cư trú, đặc biệt là đến những thành phố lớn được quản lý chặt chẽ thông qua chính sách và hệ thông đăng
ký hộ tịch, hộ khẩu
Kể từ sau năm 1986, chính sách đổi mới đã đem lại những biến đổi lớn lao cho đất nước Chính sách Đổi mới đã thúc đẩy sự hình thành, phát triển và đa dạng hóa các luồng di cư Điểm khởi đầu của quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam được đánh dấu bởi quá trình di chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt đến những thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
Trước thực tế trên, một vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu nguyên do của di cư, những nhân tố nào quyết định việc di cư và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó đối với những luồng di cư điển hình Việc phát hiện và phân tích này sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam hiểu được bản chất của vấn đề di cư nông thôn – đô thị trong nước và tìm ra định hướng phù hợp cho chính sách di cư góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội cả nước
Do vậy luận văn “Phân tích thống kê thực trạng và nhân tố ảnh hưởng
đến di cư nông thôn - đô thị Việt Nam” được nghiên cứu nhằm góp phần giải
quyết yêu cầu quản lý nói trên
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu thực trạng di cư nông thôn – đô thị Việt Nam qua số liệu các kỳ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, 2009 và Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2014 Qua đó, luận văn đưa ra bức tranh tổng thể về xu hướng
di cư, quy mô di cư nông thôn – đô thị của Việt Nam
Luận văn tập trung vào nghiên cứu và phân tích các nhân tố có ảnh hưởng đến di cư nông thôn-đô thị của Việt Nam như yếu tố dân số, kinh tế, văn hóa – xã hội … theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1999, 2009 và Điều tra dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2014 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên đến di cư nông thôn - đô thị của các tỉnh/thành phố trong cả nước nhằm đưa ra giải pháp và
Trang 14kiến nghị chính sách về quản lý và định hướng vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị cho các tỉnh/thành phố lớn, trọng điểm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Theo không gian: Theo địa không gian: 61 tỉnh/thành phố năm 1999 và 63 tỉnh/thành phố năm 2009 và năm 2014
Theo thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị Việt Nam qua các kỳ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, 2009 và Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê: phân tổ thống kê, sử dụng bảng biểu thống kê, số tương đối, số tuyệt đối, tổng hợp số liệu sẵn có và sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu như phương pháp hồi quy tương quan bội, …
5 Những đóng góp của luận văn
Làm rõ những đặc trưng nhân khẩu học và xu hướng di cư nông thôn - đô thị
ở Việt Nam theo số liệu của Tổng điều tra
Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tương quan bội nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến di cư nông thôn - đô thị ở Việt Nam
Dựa vào kết quả của mô hình hồi quy, đề xuất một số giải pháp cụ thể trong việc hoàn thiện chính sách về di cư nông thôn - đô thị cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội của các tỉnh/thành phố lớn trọng điểm
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời “Mở đầu” và “Kết luận”, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về di cư nông thôn - đô thị và các nhân tố ảnh hưởng
Chương 2: Phân tích thống kê thực trạng của di cư nông thôn - đô thị Việt Nam thời
kỳ 1999 đến 2014
Chương 3:Phân tích thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DI CƯ NÔNG THÔN - ĐÔ THỊ
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 1.1 Một số vấn đề chung về di cư, di cư nông thôn-đô thị
1.1.1 Khái niệm chung về di cư, di cư nông thôn - đô thị
Theo từ điển Bách khoa toàn thư năm 2017
Di cư (Sự di cư của người) là sự thay đổi chỗ ở của các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc
Di cư ra nước ngoài (Di cư quốc tế): “Là sự di chuyển ra ngoài biên giới của một quốc gia Người di cư di dời từ nước này sang nước khác để lao động, học tập,
cư trú, tái định cư hoặc nhằm tránh sự trừng phạt, ép buộc hoặc cưỡng bức di cư”
Di cư trong nước (Di cư nội địa): “Là sự di chuyển bên trong biên giới của một quốc gia với thời gian lâu dài hoặc tạm thời, bao gồm 4 hình thức di cư: Nông thôn - Nông thôn (NT-NT); Thành thị - Thành thị (TT-TT); Nông thôn - Thành thị (NT-TT); Thành thị - Nông thôn (TT-NT)”
Như vậy, di cư là sự di chuyển dân số về không gian, từ một đơn vị hành chính này, đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo những thay đổi nơi cư trú tại đơn vị hành chính mới Di cư đòi hỏi có sự thay đổi nơi cư trú trong một thời gian nhất định và sự di chuyển đó phải vượt qua ranh giới hành chính đã được xác định
về mặt pháp lý Có thể tóm tắt khái niệm di cư:
Theo nghĩa rộng, di cư là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một
không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự di động dân cư
Theo nghĩa hẹp, di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến
một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không gian,
Trang 16thời gian nhất định Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới
Di cư là sự chuyển dịch của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác trong thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Nói cách khác, di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định Di cư có thể liên quan đến sự di chuyển của một hay cá nhân, một gia đình, thậm chí cả một cộng đồng
Như vậy, có khá nhiều khái niệm về di cư được đưa ra ở cả trong và ngoài nước, tuy nhiên trong giới hạn của Luận văn này tác giả đưa ra khái niệm
di cư đã được sử dụng rộng rãi trong các cuộc Tổng điều tra Dân số ở Việt Nam
từ năm 1999 đến nay như sau:
Khái niệm di cư sử dụng trong luận văn
Di cư là sự thay nơi đổi cư trú của con người, từ đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác trong một khoảng thời gian nhất định Hay nói cách khác là thay đổi nơi cư trú trong một khoảng thời gian nào đó
Một người được xác định là di cư phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: Thứ nhất có sự di chuyển thay đổi nơi cư trú thường xuyên từ đơn vị lãnh thổ này tới lãnh thổ khác Thứ hai, quy định về khoảng thời gian xảy ra sự di chuyển
Thay đổi nơi cư trú: Một người được thay đổi nơi cư trú, nếu nơi thực tế thường trú tại thời điểm điều tra và nơi thực tế thường trú 5 năm trước thời điểm điều tra không cùng một đơn vị hành chính cấp xã1
(gọi là xã)
1
Đơn vị hành chính cấp xã gồm: xã, phường và thị trấn
Trang 17Lưu ý rằng, tại thời điểm điều tra một người vẫn thực tế thường trú trong phạm vi của một đơn vị hành chính cấp xã, có thay đổi tên gọi (từ xã thành phường hoặc thị trấn, và ngược lại) so với 5 năm trước, không được coi là người di cư Tổng điều tra không thể thu thập được số liệu di cư thực tế mà chỉ là số liệu
di cư qua các đường ranh giới hành chính quy định
Khoảng thời gian: Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, 2009 và Điều tra Dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014 thu thập các thông tin về di cư thông qua câu hỏi về nơi thực tế thường trú 5 năm trước thời điểm điều tra đối với những người từ 5 tuổi trở lên Mục tiêu chính là thu thập thông tin về di cư trong nước
“(Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương, Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 Các kết quả chủ yếu)”
Khái niệm đô thị
Đô thị là khu tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn (luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12)
Đô thị hóa là quá trình tăng tỷ lệ dân số thành thị so với quy mô dân số các thành phố và sự lan tỏa lối sống thành thị về nông thôn Theo khái niệm của ngành địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian
Các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm:
(i) Do quá trình tăng tự nhiên của dân số hiện có Thông thường quá trình này không phải là tác nhân vì tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên của vùng đô thị thường thấp hơn so với nông thôn;
Trang 18(ii) Do mở rộng địa giới khu vực đô thị, các đô thị mới được thiết lập theo các chính sách của Nhà nước;
(iii) Do sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị;
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng, một khu vực hoặc quốc gia Đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, hoặc mật độ dân
cư, hoặc hoạt động thương mại, hoặc các hoạt động khác trong một khu vực nhất định theo thời gian Quá trình đô thị hóa có thể diễn ra thông qua sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc sự phát triển tự nhiên của dân cư hiện có Tuy nhiên, trong thực tế quá trình đô thị hóa tại các quốc gia đang phát triển chủ yếu là thông qua quá trình chuyển dịch dân cư vì quá trình phát triển dân cư tự nhiên thường không mạnh, do mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thấp hơn nông thôn
Có thể nói rằng quá trình di cư từ nông thôn vào thành thị là tiền đề, đồng thời cũng là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa Nếu không có sự di cư , quá trình đô
thị hóa sẽ diễn ra rất chậm chạp
Khái niệm di cư nông thôn – đô thị của luận văn:
Di cư nông thôn - đô thị là sự di chuyển của con người từ một đơn vị hành chính là xã đến một đơn vị hành chính khác là phường/thị trấn trong một khoảng thời gian nhất định
- Khoảng thời gian nhất định: 5 năm trước thời điểm Tổng điều tra dân số
Ví dụ: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, khoảng thời gian xác định người di cư nông thôn – đô thị là cách thời điểm 1/4/2009 là 5 năm, tức là thời điểm 1/4/2004
- Ở nước ta, việc phân định thành thị, nông thôn được dựa vào đơn vị hành chính cơ sở với “phường” và “thị trấn” thuộc thành thị, còn “xã” thuộc nông thôn
Trang 19“Phường”, “thị trấn” hay “xã” phải được xác định tại thời điểm cách thời điểm điều tra 5 năm Những nơi tại thời điểm cách thời điểm điều tra 5 năm là “xã”, đến thời điểm điều tra nơi này được công nhận là “phường” hay “thị trấn” thì phải xác định nơi này là “xã” Việc phân định này ảnh hưởng đến luồng di cư nông thôn – thành thị (nông thôn - đô thị)
1.1.2 Các tiêu chuẩn để xác định di cư, di cư nông thôn - đô thị
Người di cư di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh sống Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính (khoảng cách giữa hai địa điểm là độ dài di chuyển) Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện mục đích đó
Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí quan trọng
để xác định di cư
Khoảng thời gian có thể là 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 5 năm hoặc thậm chí 10 năm tùy thuộc quy định của từng quốc gia Tương tự ranh giới hành chính để xác định di cư nông thôn-đô thị có thể là xã/phường, huyện/quận, tỉnh/thành phố hoặc vùng Như vậy, di cư bao gồm ít nhất hai điều kiện:
+ Sự di chuyển phải vượt qua ranh giới hành chính đã được xác định
+ Thay đổi nơi cư trú thường xuyên trong một thời gian nhất định
Trong Luận văn này, tác giả sử dụng bộ số liệu di cư của TĐTDSNO năm
1999, 2009 và ĐTDSNOGK năm 2014, người di cư nông thôn – đô thị thỏa mãn:
- Sự di chuyển vượt qua ranh giới từ “xã” này đến “phường/thị trấn”trong cùng huyện, hoặc khác huyện, hoặc khác tỉnh
- Thời gian thay đổi cư trú thường xuyên là 5 năm trước thời điểm điều tra
Để hiểu rõ khái niệm di cư chúng ta cần xem xét khái niệm này dưới nhiều cách tiếp cận, đánh giá bằng nhiều tiêu chuẩn:
Trang 20- Tiêu chuẩn không gian
Trước tiên, di cư phải là sự di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác, vượt qua một ranh giới hành chính nào đó Thông thường người ta coi địa điểm đó
- Tiêu chuẩn thời gian cư trú
Tiêu chuẩn này muốn nói đến thời gian cư trú của người di cư Thay đổi nơi
cư trú là một điều kiện quan trọng để xem xét một người có di cư hay không Trong nghiên cứu dân số, người được tính là di cư khi có sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên của họ Để xác định nơi cư trú thường xuyên người ta đưa ra quy định về thời gian thực tế thường trú của một người tại một địa điểm cư trú Hiện nay, trong các
cuộc điều tra dân số ở Việt Nam sử dụng khái niệm “nhân khẩu thực tế thường trú
tại hộ” để xác định nơi cư trú của người dân Khái niệm này chủ yếu dựa vào thời
gian cư trú: tính đến thời điểm điều tra, người được hỏi phải đảm bảo thường xuyên
ăn hoặc ở tại hộ được điều tra từ 6 tháng trở lên sẽ được tính là nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ Như vậy, cư trú thường xuyên từ 6 tháng trở lên là mốc thời gian
để xác định người dân thường trú của từng đơn vị hành chính Do đó, nếu một người thay đổi nơi thường trú và trở thành người dân thường trú của đơn vị hành chính khác thì sẽ được tính là người di cư Tiêu chuẩn này giới hạn người di cư phải
là người di chuyển hẳn khỏi nơi ở cũ hoặc ở nơi mới trong thời gian từ 6 tháng trở lên nên đã loại trừ những người di chuyển trong thời gian dưới 6 tháng
- Tiêu chuẩn thời khoảng di cư
Trong việc điều tra và thu thập số liệu di cư, các cuộc điều tra dân số thường đặt câu hỏi: “Cách đây 5 năm, [TÊN] thực tế thường trú ở đâu?” Câu hỏi cho phép
Trang 21tìm ra người di cư là những người có sự thay đổi nơi thường trú giữa thời điểm điều tra và thời điểm cách đó 5 năm hoặc khoảng thời gian cụ thể tùy vào từng cuộc điều tra dân số
Trong hai cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, 2009 và Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2014 mà luận văn sử dụng số liệu đều thu thập các thông tin về di cư thông qua câu hỏi về nơi thực tế thường trú 5 năm trước thời điểm điều tra đối với những người từ 5 tuổi trở lên
Như vậy một người được coi là người di cư, nếu nơi thường trú tại thời điểm Tổng điều tra và nơi thường trú 5 năm trước thời điểm Tổng điều tra là không cùng một đơn vị hành chính cấp xã
- Tiêu chuẩn trạng thái hoạt động
Khi định nghĩa di cư cần tính đến sự thay đổi trạng thái hoạt động của người
di chuyển Nói chung, khi di cư người dân thường thay đổi nơi làm việc cũng như trạng thái hoạt động kinh tế - xã hội Trong trường hợp người di chuyển chỉ thay đổi nơi làm việc (qua ranh giới hành chính xác định) nhưng không thay đổi chỗ ở và ngược lại, thì họ có được coi là di cư hay không? Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh
cụ thể mà có lý giải trong nghiên cứu Theo hành vi và mục đích cũng như tính liên tục của sự di chuyển mà có thể xác định các đối tượng này thuộc loại di cư con lắc,
di cư tạm thời, v.v và cũng có thể coi họ là dân di cư hoặc không phải di cư
Đô thị hóa luôn đồng hành cùng quá trình di cư từ nông thôn vào thành thị
Di cư nông thôn - đô thị diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng, với những nguyên nhân và mục đích khác nhau Chính dòng di cư này đã tạo ra sự thịnh vượng cho các đô thị, song bản thân nó cũng đẻ ra vô số hệ lụy cho đô thị như là nạn thất nghiệp gia tăng, ách tắc giao thông ngày càng thêm trầm trọng, thiếu nhà ở, vệ sinh môi trường kém, thiếu trường học, thiếu dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, tệ nạn xã hội gia tăng…
Trang 221.1.3 Phân loại di cư
Việc phân loại di cư có ý nghĩa quan trọng vì tính không thuần nhất của các dòng di cư Có những dòng di cư khác nhau cùng hướng đến một địa phương song ngược lại có thể có nhiều loại hình di cư xuất phát từ địa phương đó đến những địa phương khác, theo khoảng cách khác nhau Tùy theo mục đích mà có nhiều cách phân loại di cư khác nhau Cách phân loại dưới đây chỉ mang tính chất tương đối và không hoàn toàn tách bạch với nhau về loại hình
Theo độ dài thời gian cư trú
Theo độ dài thời gian cư trú, di cư được chia thành 3 loại: di cư lâu dài; tạm thời và chuyển tiếp Di cư lâu dài, hay còn được gọi là di cư suốt đời, bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác, thanh niên tìm cơ hội việc làm mới lập nghiệp và tách gia đình Những người này thường không quay trở về quê hương cũ sinh sống Di cư tạm thời là sự thay đổi nơi ở gốc không lâu dài và khả năng quay trở lại là tương đối chắc chắn Kiểu di cư này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo thời vụ, đi công tác biệt phái, lao động và học tập có thời hạn Di cư chuyển tiếp, là hình thức di cư mà không thay đổi cơ quan công tác, nhưng do tính chất công việc họ phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, như những người làm việc ở các công ty xây dựng cầu đường, các công trình năng lượng điện, thăm dò địa chất Hình thức di cư này gợi ý cho các nghiên cứu điều tiết thị trường lao động, ổn định cuộc sống vật chất và tinh thần cho những lao động này, không chỉ cho bản thân người làm mà còn cho gia đình của họ, đặc biệt về cơ sở hạ tầng như điện nước, thông tin liên lạc, y tế, trường học, nơi vui chơi giải trí
Theo khoảng cách di cư
Người ta phân biệt di cư xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến Di cư giữa các
quốc gia được gọi là hình thức di cư quốc tế; giữa các vùng, các đơn vị hành
Trang 23chính trong một quốc gia gọi là di cư nội địa Trong nhiều trường hợp, người ta tách di cư quốc tế và di cư nông thôn - đô thị thành các nội dung nghiên cứu riêng, trong mỗi nội dung lại đề cập đến các hình thức di cư khác nhau
Trong nghiên cứu dân số thế giới hoặc một châu lục nào đó, di cư quốc tế là
một nội dung quan trọng Lịch sử di cư ghi nhận những thay đổi bước ngoặt trong việc phân bố và phân bố lại dân cư giữa các châu lục, đặc biệt từ thế kỷ 15, 16 là các cuộc chuyển cư với cường độ ngày càng lớn từ các nước châu Âu sang châu
Mỹ, từ châu Âu tới châu Đại dương, châu Phi và từ châu Phi tới châu Mỹ Như đã biết, quá trình này gắn với việc xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ Trong giai đoạn hiện nay di cư quốc tế thường gắn với quá trình di chuyển lao động (hoặc là có thời hạn hoặc là lâu dài) từ các nước đang phát triển đến các nước phát triển, từ các nước đông dân nghèo tài nguyên đến các nước giầu tài nguyên và thưa dân Số lao động này bao gồm không chỉ những nhân công làm việc giản đơn, mà
có cả những lao động "chất xám", những chuyên gia, tạo nên hiện tượng "chảy máu chất xám" từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển Chẳng hạn các chuyên gia công nghệ tin học của Ấn Độ xuất ngoại làm việc ở Anh, Mỹ, Canađa
Di cư quốc tế theo hướng trên thường gắn với việc hoạch định chính sách xuất khẩu lao động của mỗi quốc gia Việt Nam cũng là một trong những nước đang phát triển
có định hướng chiến lược xuất khẩu lao động Trong các thập kỷ cuối của thế kỷ 20, Việt Nam đã đưa hàng trăm nghìn lao động có thời hạn sang các nước Đông Âu Khi đó người ta nói về "hợp tác lao động" thay vì "thị trường lao động" theo tính chất của liên kết kinh tế và chính trị Hiện nay xuất khẩu lao động được xem là quốc sách ở nước ta Trong xu thế hội nhập, tìm kiếm thị trường để xuất khẩu lao động đang là nhiệm vụ quan trọng Khi các "thị trường truyền thống" trước đây bị thu hẹp hoặc bị mất đi, các thị trường mới như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nước Trung Đông đang là một hướng mới đã làm thay đổi cả về tính chất và nội dung của di cư Ngoài ra, gần đây các cuộc nội chiến kéo dài ở Ai Cập, cũng đang đẩy hàng vạn người phải tìm đường đến các nước Châu Âu để tránh chiến tranh
Trang 24+ Theo tính pháp lý
Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của chính quyền trung ương hay địa phương
mà người ta phân chia di cư thành các loại: di cư hợp pháp hay bất hợp pháp, di cư
tự do hay có tổ chức, di cư tự nguyện hay bắt buộc
Di cư phù hợp với luật pháp của một quốc gia được gọi là di cư hợp pháp và ngược lại Hình thức di cư bất hợp pháp đôi khi mang tính chất chính trị, mà người
ta thường gọi là "tỵ nạn" hay "cư trú chính trị" Sau các cuộc chiến tranh có thể có hiện tượng "di tản", "vượt biên trái phép" từ các nước không ổn định về chính trị hoặc nghèo về kinh tế đến các nước ổn định hơn và kinh tế phát triển hơn
Trong di cư có tổ chức, nhà nước và chính quyền các cấp, cơ quan chuyên trách về di cư, đóng vai trò quyết định và chủ động tổ chức việc di chuyển dân cư theo kế hoạch thống nhất Để thực hiện di cư có tổ chức, thông thường, nhà nước đề
ra và thực thi các chính sách điều động dân cư đi xây dựng các khu kinh tế mới hay giãn dân để thực hiện một dự án lớn nhằm mục tiêu phát triển, chẳng hạn như di chuyển dân cư ở vùng lòng hồ Sông Đà để xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La ở nước ta thời gian qua Trong nhiều trường hợp, di cư có tổ chức tạo thành những dòng di chuyển rất lớn Khi đó, nó có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là những vùng có dân di chuyển đến, như việc tổ chức di cư đi khai hoang phát triển kinh tế văn hóa các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta trong thập niên 60 của thế kỷ XX Ngược lại, việc di cư do bản thân người dân tự tổ chức, tự di chuyển được gọi là di cư tự do Trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, di cư tự do phát triển khá mạnh Các kết quả điều tra cho thấy cường độ di
cư tự do ngày càng cao, hướng di chuyển đa dạng, quản lý phức tạp Di cư tự do được coi là một trong những phương tiện điều tiết thị trường lao động Nhưng ở nước ta, trong những năm cuối của thế kỷ XX, di cư tự do cũng được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn phá rừng
Trang 25Các hình thức di cư khác
Nếu căn cứ vào số lượng người di cư và hướng di cư từ nơi xuất phát đến nơi dừng có thể phân biệt di cư cá nhân hay hộ gia đình, di cư tản mạn nhiều hướng hay thành dòng di cư Hình thức di cư khá quan trọng là di cư giữa hai khu vực thành thị
và nông thôn Khi đó, người di cư được phân thành 4 dòng: nông thôn - nông thôn; nông thôn - thành thị; thành thị - thành thị và thành thị - nông thôn Theo cách phân chia này, dễ dàng thấy rằng trong mọi xã hội, đều luôn tồn tại 4 dòng di cư này đan xen nhau Nhưng tùy trình độ phát triển của đất nước mà dòng di cư nào đó phát triển mạnh hơn các dòng khác Chẳng hạn, dòng di cư nông thôn – nông thôn sẽ phổ biến hơn, phát triển mạnh hơn trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp, đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu Do yêu cầu phát triển nông nghiệp, người nông dân ở các vùng đồng bằng đông dân di chuyển đến các vùng đồi núi, hải đảo dân cư thưa thớt hơn, đất đai nhiều hơn, dễ phát triển nông nghiệp hơn Như ở nước ta, với chính sách “lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu” trong phát triển kinh tế - xã hội kéo dài mấy chục năm cuối thế kỷ XX dòng di cư này phát triển rất mạnh và luôn là dòng di cư lớn nhất Nhưng khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa mạnh
mẽ, nhu cầu lao động của các khu công nghiệp lại thu hút người nông dân từ bỏ ruộng đồng chuyển đến sinh sống, làm việc ở các khu công nghiệp, khu đô thị mới
Khi đó, luồng di cư nông thôn – thành thị lại diễn ra mạnh mẽ hơn…
Các cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, năm 2009 và Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2014 do Tổng cục Thống kê thực hiện có các câu hỏi
để cho phân biệt di cư theo các cấp hành chính và di cư giữa thành thị và nông thôn Sự phân biệt này cho phép xác định được qui mô của các luồng di cư khác nhau là cơ sở cho việc hoạch định các kế hoạch, chính sách di cư cụ thể Các số liệu
về qui mô của các luồng di cư còn là cơ sở không thể thiếu đối với công tác dự báo dân số Phân loại loại hình di cư theo các cấp hành chính bao gồm các loại như sau:
Di cư quốc tế: trong cuộc điều tra này chỉ có thể ước lượng được số nhập cư quốc tế của dân số từ 5 tuổi trở lên
Trang 26 Di cư giữa các vùng: bao gồm những người 5 tuổi trở lên đang sống ở Việt Nam và cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống ở vùng khác với vùng hiện đang cư trú
Di cư giữa các tỉnh: bao gồm những người 5 tuổi trở lên đang sống ở Việt Nam và cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống ở tỉnh khác với tỉnh hiện đang
cư trú
Di cư giữa các huyện: bao gồm những người 5 tuổi trở lên, cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống trong cùng một tỉnh nhưng ở huyện khác với huyện hiện đang cư trú
Di cư trong huyện: bao gồm những người 5 tuổi trở lên, cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống trong cùng một huyện nhưng ở xã/phường khác với xã/phường hiện đang cư trú
Không di cư bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên và 5 năm trước thời điểm điều tra sống trong cùng xã với nơi thực tế thường trú hiện tại (không di cư giữa các xã)
Hình 1, tóm tắt định nghĩa các nhóm dân số di cư và không di cư Dân số di
cư vào một n ăm cụ thể được hiểu là dân số di cư đến (hay nhập cư) trong vòng 5 năm trước thời điểm đó
Trang 27Nước ngoài Việt Nam
Di cư giữa các huyện
Di cư trong huyện
Không di cư
giữa các xã/
Không di cư Không di cư giữa các huyện
Không di cư giữa các tỉnh Không nhập cư quốc tế
Hình 1.1: Nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm đi ều tra
Trang 28giới hạn ảnh hưởng trong gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cộng đồng
Quá trình di cư từ nông thôn ra đô thị đã tạo điều kiện cho người di cư có thêm
cơ hội được tiếp xúc với công nghiệp hóa-đô thị hóa hiện đại Người lao động tiếp thu nhiều kiến thức mới từ thực tiễn lao động, các thành quả tiến bộ về khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất có ý nghĩa không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn nâng cao trình độ kỹ năng cho người nông dân, giúp họ giảm bớt thời gian lao động và có điều kiện nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe Mặt khác di cư nông thôn - đô thị còn góp phần giảm sức ép về ruộng đất, lao động dư thừa, đồng thời phát triển
và hình thành các loại hình dịch vụ đa dạng, năng động đáp ứng nhu cầu sức lao động của nền kinh tế thị trường Ngoài việc nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống gia đình, học hỏi được nghề mới, những kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh nó còn có vai trò truyền tải các thang giá trị mới về nông thôn Như vậy, di cư trên thực
tế đã thúc đẩy quá trình luân chuyển giữa nông thôn-đô thị tạo ra những nhu cầu và lối sông mới ở làng quê, đồng thời góp phần tăng thu nhập, tạo nền tảng để phát triển kinh tế và thúc đẩy sự nghiệp đổi mới nông thôn Đây được xem là một giải pháp hữu hiệu trong việc giải quyết bài toán kinh tế cho gia đình ở nông thôn trong giai đoạn hiện nay
Các ảnh hưởng tích cực :
- Đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất
- Góp phần vào sự phát triển đồng đều ra các vùng của một quốc gia
- Tập trung nguồn lực phát triển tại một số vùng nhất định
- Phát triển khai sáng nhiều vấn đề văn hoá xã hội
- Góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, xoá đói giảm nghèo
Trang 29Các ảnh hưởng tiêu cực:
Di cư nông thôn - đô thị có thể dẫn tới việc bỏ hoang đồng ruộng, bỏ phí nhiều tiềm năng nông nghiệp, thiếu vắng lực lượng sản xuất Lực lượng lao động trẻ, khoẻ, trong độ tuổi xung mãn nhất đã thoát ly khỏi quê hương, để lại đằng sau người già, trẻ em Trong khi đó, dòng di cư này lại góp phần tạo nên sự đô thị hoá quá mức cho phép dẫn tới sức ép cơ sở hạ tầng, vấn đề nhà ở, an ninh, tệ nạn xã hội, kinh tế, giáo dục và y tế
1.2.2 Tác động của di cư, di cư nông thôn – đô thị đến dân số
Trên phạm vi toàn thế giới, di cư không làm ảnh hưởng đến số lượng dân số nói chung Tuy nhiên, đối với từng địa bàn, từng nước, từng khu vực di cư có ý nghĩa hết sức quan trọng Di cư có tác động trực tiếp đến quy mô dân số Sự ra đi của một bộ phận dân cư sẽ làm cho quy mô và sức ép dân số tại nơi đó giảm đi và ngược lại, số người nhập cư nhiều làm cho quy mô dân số nơi tiếp nhận họ tăng nhanh
Cơ cấu tuổi và giới tính của dân số cũng chịu ảnh hưởng của di cư Tỷ số giới tính có thể được biến đổi với sự có mặt của dân số nhập cư Do tính chọn lọc của di cư nên trong nhiều trường hợp cơ cấu tuổi và giới tính có những thay đổi đáng kể do di cư
Bên cạnh việc làm thay đổi quy mô và cơ cấu dân số, di cư còn gián tiếp tác động đến các quá trình sinh, chết và hôn nhân Di cư từ nông thôn ra thành thị nói chung làm giảm mức sinh ở khu vực đầu đi Vì mức độ và trình độ phát triển về các mặt kinh tế - xã hội của các vùng là khác nhau, nhất là giữa nông thôn và đô thị, nên tác động của các luồng di cư khác nhau tới mức sinh là không như nhau Theo lý thuyết về xã hội hoá vàthích nghi môi trường xã hội mới, khi người di cư
di chuyển đến khu vực có mức sinh tương đương hoặc cao hơn so với quê hương nơi họ ra đi, mức sinh của người di cư thường không giảm và không thấp hơn so với người không di cư nơi quê cũ của họ Ví dụ, đối với các phụ nữ di cư từ các khu vực nông thôn của Trung du miền núi phía Bắc đến các khu vực nông thôn ở
Trang 30Tây Nguyên, mức sinh của họ nhiều khả năng là không giảm Luồng di cư nông thôn - nông thôn trong trường hợp này có lẽ ít tác động làm giảm mức sinh Trái lại, khi người di cư di chuyển từ các vùng nông thôn có mức sinh cao hơn tới các khu vực đô thị có mức sinh thấp hơn, theo lý thuyết nêu trên, luồng di cư nông thôn - đô thị có thể có tác động đáng kể làm giảm mức sinh.Điều này có thể giải thích rằng di cư có thể tác động tới mức sinh qua việc người phụ nữ kết hôn muộn hơn, do đó, sinh con đầu lòng muộn hơn hoặc người phụ nữ đã kết hôn trước khi di
cư, đã có con hoặc chưa có con, họ phải trì hoãn việc sinh con đầu lòng hoặc sinh đứa con tiếp theo muộn hơn vì lý do phải ổn định cuộc sống ở nơi ở mới hoặc do tác động của môi trường xã hội tiên tiến hơn ở vùng đô thị
1.3 Các chỉ tiêu đo lường di cư, di cư nông thôn - đô thị
1.3.1 Các chỉ tiêu tuyệt đối
Để đo lường di cư của một nước, một vùng, người ta thường sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau, bên cạnh các chỉ tiêu được thống kê trực tiếp là số người nhập cư (số người chuyển đến: I) và số người chuyển đi (số người xuất cư: O), còn tính các chỉ tiêu sau:
1.3.1.1 Số di cư thuần (Số dư biến động cơ học: NM)
Đây là chỉ tiêu Bảngthị chênh lệch giữa số di cư đến (số người nhập cư: I) và số di cư đi (số người xuất cư: O) Công thức tính:
NM = I – O Chỉ tiêu này có thể được tính cho từng thời kỳ (một tháng, một quý hay một năm) Trong các cuộc Tổng điều tra dân số, nó tính cho thời kỳ 5 năm liền trước cuộc điều tra NM cho biết tổng số dân của địa phương, vùng tăng lên hay giảm đi trong kỳ do ảnh hưởng của quá trình di cư (nếu O lớn hơn I, NM mang dấu âm) Đây cũng là một trong những căn cứ quan trọng để phân tích đánh giá ảnh hưởng của di
cư đến phát triển kinh tế - xã hôi của vùng, địa phương Trong phạm vi toàn quốc, nếu coi số người ra nước ngoài và ở nước ngoài vào không đáng kể (dân số đóng), thì số di cư thuần sẽ bằng 0
Trang 311.3.1.2 Tổng lượng di cư (TM)
Tổng lượng di cư cho biết trong kỳ nghiên cứu (thường là 1 năm), trong tổng
thể dân cư được xem xét, có bao nhiêu người di cư, gồm cả đến và đi khỏi địa phương Công thức tính:
TM không cho biết số dân tăng lên hay giảm đi do tác động của di cư, mà cho ta thấy rõ sự “năng động xã hội” của tổng thể dân cư thông qua quá trình di cư Đồng thời cũng cho thấy sự “thiếu ổn định” của dân số được nghiên cứu, gánh nặng của sự quản lý dân số, lao động và xã hội cần giải quyết Tổng lượng di cư có nhiều tác động đến tình hình kinh tế - xã hội do việc di chuyển của người dân thường kèm theo việc thay đổi nơi ở, nghề nghiệp, tập quán sinh hoạt Những địa phương có tổng số người di cư lớn sẽ kém ổn định và chủ động hơn về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội vì số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số người lao động của địa phương đó sẽ bị thay đổi thường xuyên
1.3.2 Các chỉ tiêu tương đối
1.3.2.1 Tỷ suất nhập cư (IMR)
P
I IMR
Trong đó P là số dân bình quân trong kỳ
Như vậy, chỉ tiêu này Bảngthị cường độ của quá trình nhập cư trong kỳ Nó cho biết trong kỳ nghiên cứu, thường là 1 năm, cứ bình quân trong 1.000 người dân thì có bao nhiêu người mới nhập cư trong kỳ Những người mới nhập cư thường là chưa được thực sự ổn định về chỗ ở, về công ăn việc làm, về các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng dân cư mới… Vì vậy, đây cũng là một trong những căn cứ để phân tích đánh giá ảnh hưởng của di cư đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương
Trang 32Để tính được chỉ tiêu này, cần phải thống kê được số người nhập cư trong năm
và số dân bình quân năm
1.3.2.2 Tỷ suất xuất cư (OMR)
P
O OMR
Chỉ tiêu này Bảngthị cường độ của quá trình xuất cư trong kỳ Nó cho biết trong kỳ nghiên cứu, thường là 1 năm, cứ bình quân trong 1000 người dân thì có bao nhiêu người xuất cư khỏi địa phương trong kỳ Người xuất cư nhiều gây ra sự thiếu hụt về lao động, sự xáo trộn về cơ cấu dân cư theo độ tuổi, giới tính Vì vậy,
nó cũng có ảnh hưởng nhất định đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương có người xuất cư
Để tính được chỉ tiêu này, cần phải thống kê được số người xuất cư trong năm và số dân bình quân năm
1.2.2.3 Tỷ suất di cư thuần (NMR)
P
O I
Nếu như NM cho biết tổng số người tăng lên (hay giảm đi) của địa phương trong kỳ do ảnh hưởng của quá trình di cư, thì NMR cho biết nhịp độ tăng (giảm) dân số trong kỳ do nguyên nhân này NMR cho biết, cứ bình quân 1.000 người dân trong kỳ (thường là 1 năm), thì quá trình di cư làm cho số dân của địa phương tăng thêm hoặc giảm bớt bao nhiêu người Do đó, có thể dùng chỉ tiêu này để so sánh, đánh giá tác động của di cư đến nhịp độ tăng (giảm) dân số giữa các vùng, các địa phương không có cùng quy mô dân số Đây là một trong hai yếu tố hình thành tỷ suất tăng chung dân số của các vùng, các địa phương và cũng là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá tác động đến phát triển kinh tế xã hội của các địa phương Tỷ suất di
cư thuần là chỉ tiêu tổng hợp cho phép nghiên cứu xu hướng di cư của một địa phương, đồng thời cho phép so sánh mức độ di cư giữa các địa phương với nhau
Trang 331.3.2.4 Tổng tỷ suất di cư (TMR)
P
O I
do tác động của di cư Cả nhập cư và xuất cư đều có tác động tích cực và tiêu cực nhất định cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, nhất là cho việc quản lý xã hội, quản lý dân số Vì vậy, độ lớn của chỉ tiêu này cho phép đánh giá tác động chung của di cư đến các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội của tổng thể dân cư được nghiên cứu
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nông thôn - đô thị và một số lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố đến di cư nông thôn - đô thị
Việt Nam đang trong tiến trình đô thị hóa và phát triển kinh tế Có 34,3 %
dân số Việt Nam hiện sống ở khu vực thành thị (Kết quả điều tra Biến động dân số
năm 2016) Dân số đô thị tăng lên chỉ hơn 3% mỗi năm, nghĩa là sẽ tăng gấp đôi
trong vòng chưa đầy 25 năm nữa Mặc dù tốc độ đô thị hóa khá chậm chạp nhưng Việt Nam vẫn ghi nhận sự dịch chuyển của người di cư, đặc biệt là những người di
cư từ nông thôn ra thành thị Có nhiều yếu tố tác động về mặt kinh tế - xã hội, các yếu tố tự nhiên cũng như yếu tố văn hóa xã hội ngay cả yếu tố mang tính cộng đồng tác động đến sự hình thành luồng di cư này
Di cư nông thôn - đô thị chịu tác động của nhiều yếu tố, để thuận tiện cho việc phân tích và mô hình hoá thì ta chia các yếu tố thành các nhóm yếu tố tác động đến di cư Tuy nhiên, việc phân chia các yếu tố vào các nhóm cụ thể gặp rất nhiều khó khăn do giữa các yếu tố có thể có những mối liên hệ, ràng buộc với nhau rất chặt chẽ, khó có thể phân định rạch ròi yếu tố đó thuộc nhóm tác động nào Vì vậy,
Trang 34khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến di cư nông thôn - đô thị, vấn đề quan trọng
là xác định và đo lường được tác động của các yếu tố đó
Có thể khái quát các nhóm nhân tố có ảnh hưởng đến luồng di cư nông
thôn-đô thị như sau:
- Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện KT-XH của cộng đồng, bao gồm các nhân tố kinh tế, xã hội, đặc trưng của dân cư…
- Nhóm nhân tố thuộc cá nhân người di cư, như tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, việc làm … của người di cư nông thôn-đô thị
1.4.1 Nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội của cộng đồng
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và các ngành công nghiệp, dịch vụ đã làm cho quá trình đô thị hóa diễn ra rộng khắp trên quy mô toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị ngày càng cao, mức độ tập trung công nghiệp, dịch vụ cao độ, mức sống nâng cao, đời sống văn minh hiện đại Chính cuộc sống cao hơn về vật chất lẫn tinh thần ở đô thị đã tạo ra sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với
cư dân nông thôn, thúc đẩy họ rời bỏ quê hương di chuyển ra đô thị có mức sống nâng cao, đời sống văn minh hiện đại Bên cạnh đó, Gia tăng mật độ dân số và hoạt động kinh tế ở các đô thị là một trong những đặc điểm nổi bật nhất của phát triển kinh tế Thu nhập có chiều hướng tăng lên cùng với mật độ đô thị, đặc biệt khi kết hợp với gia tăng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào các hoạt động
kinh tế và tạo việc làm
Lý thuyết di cư của Lewis (1954) trong tác phẩm “Sự phát triển kinh tế đối với việc cung cấp không giới hạn về lao động”2 và liệt kê một số lý do di chuyển của dân cư từ nông thôn ra đô thị đã được phân tích, trong đó lý do kinh tế đóng vai trò chủ đạo Sự phát triển của khu vực công nghiệp quyết định quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thu hút lao động dư thừa do khu vực nông nghiệp tạo nên, và khả năng đó lại phụ thuộc vào tốc độ tích lũy vốn của khu vực
2
Lewis 1954 Economic Development with Unlimited Suplies of Labour.
Trang 35công nghiệp Theo lý thuyết này Lewis cho rằng, công nghiệp hóa đã kéo theo làn sóng di cư lao động từ nông thôn ra đô thị là điều tất yếu Nguyên nhân chủ yếu của làn sóng di cư này là: tăng trưởng kinh tế và sự mở rộng của khu vực công nghiệp đòi hỏi phải có thêm lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu lao động của các khu
công nghiệp (Theo A Lewis, nhà kinh tế học người Mỹ gốc Jamaica)
Sự tăng trưởng kinh tế cao, cùng với sự phát triển kinh tế của khu vực tư nhân hiện nay đòi hỏi nhiều lao động giản đơn, nặng nhọc, cần nhiều người phục vụ và người buôn bán nhỏ, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày ở đô thị Đây cũng
là một trong những sức hút về “cung - cầu” lao động ở thành phố tới dòng người lao động ngoại tỉnh đổ về các thành phố lớn ngày càng nhiều Điều kiện kiếm tiền ở thành phố thuận lợi nhiều so với nông thôn hiện nay là một lực hút quan trọng để người nông dân rời bỏ quê hương lên thành phố tìm và làm việc
Đa phần, người di cư lao động xuất thân từ nông thôn, công việc trước khi di
cư của họ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Ngoài các mùa vụ chính trong năm, vào những lúc nông nhàn, người dân thiếu việc làm và không tạo ra thu nhập Đời sống ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngày càng được nâng cao, song các mức thu nhập từ hoạt động nông nghiệp lại không thể đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu đó Do vậy, việc tìm kiếm cơ hội việc làm mới để thay đổi thu nhập nhằm thỏa mãn các điều kiện sống ngày càng được nâng cao của người dân là một nhu cầu cấp thiết
Yếu tố thu nhập và điều kiện sống ở khu vực thành thị cũng là một trong những lực hút thúc đẩy luồng di cư nông thôn - đô thị Thu nhập thấp là lực đẩy ở nông thôn và thu nhập cao hơn là lực hút ở thành thị Môi trường công việc đa dạng,
có nhiều doanh nghiệp tư nhân, nhà máy, xí nghiệp cần tuyển dụng lao động phổ thông vào làm việc, mức lương chi trả cao hơn là động lực cho nhiều người lao động từ nông thôn lên thành phố để tìm kiếm việc làm So với thu nhập trước kia ở quê hương, số tiền lương mà các doanh nghiệp nơi họ làm việc là điều hấp dẫn không thể phủ định được Mặt khác, nâng cao mức sống cũng là yếu tố tác động tích cực đến quyết định di cư của người lao động nông thôn Nhiều lao động có trình độ,
Trang 36mức lương ở địa phương khá cao nhưng vẫn muốn ra sống thành phố với lý do mức sống cao hơn, tiếp cận nhiều dịch vụ tốt hơn, nhiều cơ hội tốt hơn về giáo dục, chăm sóc y tế so với nông thôn
Như vậy, có nhiều nhân tố tác động đến di cư nông thôn – đô thị, trong luận văn này phân tích các nhân tố chủ yếu như: Thu nhập, việc làm, vốn đầu tư, mật độ dân số, mức sinh
1.4.1.1 Nhân tố về việc làm và thu nhập
Các yếu tố về kinh tế xã hội của cộng đồng có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự dịch chuyển của người di cư nói chung và di cư nông thôn - đô thị nói riêng Trước khi quyết định di chuyển đến nơi ở mới người di cư có thể có nhận định về những điều kiện tốt hơn cho bản thân, như yếu tố về thu nhập, yếu tố phát triển của cộng đồng dân cư, về môi trường sống sẽ thay đổi Dựa trên những điều kiện của nơi ở mới giúp người di cư có những hoạt động kinh tế tại nơi đây Theo lý
thuyết "lực đẩy- lực hút" thì di cư là kết quả tương tác giữa lực hút ở nơi đến và lực
đẩy ở nơi đi Các cuộc điều tra di cư gần đây cho thấy: Yếu tố cơ bản tạo nên “lực hút” hay “lực đẩy” ở Việt Nam là việc làm và thu nhập “Việc làm được tạo ra nhờ vốn đầu tư Nhưng vốn đầu tư được tập trung cao độ vào một số vùng/địa phương nhất định Chẳng hạn, trong tổng số vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài (lũy
kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2010) là 194.572,2 triệu USD, riêng 5 tỉnh/thành phố nhập cư mạnh nhất giai đoạn 2004-2009 đã chiếm 107.759, triệu
USD, tức 55,4%” (Số liệu của TCTK Niên giám Thống kê năm 2010 NXB Thống
kê Hà Nội, 2011)
Nhân tố này trong luận văn sử dụng chỉ tiêu: “ Tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên
có việc làm” và “Thu nhập bình quân đầu người” Nhiều lý thuyết trên thế giới đã khẳng định nhân tố này như:
“Lý thuyết về đô thị hóa”: Lý thuyết này nhấn mạnh mối quan hệ giữa đô thị
hóa và thu nhập bình quân Theo đó, những người dân nông thôn quyết định ra đi
bởi họ bị việc làm với đồng lương cao ở thành phố hấp dẫn thu hút Họ sẵn sàng
Trang 37chấp nhận rủi ro hay bị thất nghiệp ngay tại thị trường lao động ở thành phố trong thời gian chờ đợi cơ hội thu nhập và việc làm với mức lương cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn.
“Lý thuyết kinh tế về di cư”: Tiếp cận tư tưởng của kinh tế học, lý thuyết kinh tế về di cư xem xét quá trình di cư từ hai phía là cung và cầu về lao động – việc làm Hướng tiếp cận lý thuyết này cho rằng sự tồn tại nhu cầu lao động dịch vụ
là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng khả năng cung cấp lao động và dịch vụ thông qua di cư Todaro (1971) đã phát triển lý thuyết kinh tế về di cư và giải thích theo
sự chênh lệch về tiền lương và cơ hội việc làm giữa hai khu vực nông thôn và đô thị Con người ta về cơ bản sẽ có xu hướng chuyển đến những nơi có điều kiện kinh
tế tốt hơn Theo Todaro, nơi nào có điều kiện kinh tế tốt hơn sẽ khiến cho di cư chuyển về nơi đó mạnh hơn
Lý thuyết di cư nông thôn - thành thị của Todaro: Lý thuyết của Todaro chỉ
ra rằng giữa nông thôn và thành thị luôn có những chênh lệch về tiền lương Chính
sự khác biệt này đóng vai trò thúc đẩy sự di cư Để có thể tham gia vào thị trường lao động ở đô thị, người lao động chấp nhận tất cả các công việc có thể làm được dù
là nặng nhọc, ngắn hạn, không ổn định Những người di cư tiềm năng sẽ tính toán
và tiếp tục di cư khi mà tiền lương của họ mong đợi ở thành thị vượt qua thu nhập
cơ bản của nông nghiệp
Như vậy, người di cư khi quyết định rời khỏi khu vực nông thôn ra thành thị thường đạt đến mục tiêu tìm đến nơi với những điều kiện thuận lợi hơn hoặc nơi dễ tìm kiếm việc làm để tạo thu nhập cao hơn Đối với những khu vực có thu nhập bình quân đầu người cao sẽ thu hút nhập cư, làm giảm xuất cư Sự chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, là nguyên nhân có sức hút di cư từ nông thôn ra thành thị Cuộc sống của đa số người nông dân, đặc biệt các hộ thuần nông vả các vùng sản xuất gặp khó khăn thu nhập thấp và cuộc sống gặp nhiều khó khăn Tình trạng nghèo, đói, cơ sơ phúc lợi yếu kém, đời sống văn hóa tinh thần thiếu so với thành thị Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, chi phi sản xuất cao và
Trang 38nhiều rủi ro Chênh lệch thu nhập và mức sống đã tạo nên lực đẩy chủ yếu dòng người di cư vào thành thị
Lao động di cư đang đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình đô thị hóa
Họ là lực lượng lao động rất tiềm tàng cho các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ hay các cơ sở sản xuất hộ gia đình ở khu vực đô thị vì nó giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa giá rẻ Trong nhiều trường hợp, lao động di
cư thậm chí còn là lực lượng tiềm tàng tham gia vào cho đội ngũ công nhân xây dựng của các tập đoàn xây dựng lớn ở các thành phố
Hầu hết lao động di cư từ nông thôn ra thành phố đã đạt được mục tiêu tìm kiếm việc làm, tăng thêm thu nhập, giúp đỡ tiền bạc cho gia đình để cải thiện đời sống hoặc đầu tư vào sản xuất Thông qua đó, họ đã góp phần làm giảm sức ép về lao động dư thừa, về thiếu việc làm cũng như góp phần vào công cuộc giảm nghèo ở quê hương
1.4.1.2 Nhân tố về vốn đầu tư toàn xã hội
Vốn đầu tư toàn xã hội là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định di
cư từ nông thôn ra các đô thị Những nơi được tập trung vốn đầu tư lớn cũng là tiền đề thu hút lao động đến tìm kiếm và làm việc nhiều hơn Hiện nay nguồn vốn toàn xã hội thường tập trung tại các địa phương có các đô thị phát triển hơn nên đây cũng là nhân tố tạo ra sức hút đối với người di cư đến các đô thị Vốn đầu tư toàn xã hội được chia ra theo loại hình các doanh nghiệp của từng địa phương bao gồm: Vốn đầu tư cho doanh nghiệp Nhà nước, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước và vốn đầu tư cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Nhân tố này được Bảngthị bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau
Luận văn sử dụng chỉ tiêu liên quan đến vốn bình quân đầu người làm nhân tố phân tích ảnh hưởng của nó đến di cư nông thôn - đô thị Bởi lẽ, trên thực tế đã minh chứng, những khu vực đô thị nào nhận được sự đầu tư của các nguồn vốn đầu tư vào sẽ thúc đẩy nhiều yếu tố khác phát triển theo Ví như, lực hút của vốn
Trang 39đầu tư vào khu đô thị của địa phương nào thì địa phương đó sẽ thu hút được lực lượng lao động, tạo được việc làm mới, các khu công nghiệp, nhà máy xí nghiệp mọc lên là tiền đề để lao động từ nông thôn dịch chuyển ra thành thị để làm việc và sinh sống
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):Vấn đề tạo việc làm thông qua đầu
tư trực tiếp nước ngoài cũng là một yếu tố quan trọng đối với thị trường lao động ở Việt Nam Một nghiên cứu về đóng góp của FDI cho nền kinh tế và việc làm ở Thái Lan chỉ ra rằng, đóng góp của các công ty nước ngoài đối với nước nhận đầu
tư thể hiện ở việc nâng cao thu nhập quốc dân, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước và tiết kiệm ngoại tệ Về vấn
đề tạo việc làm, FDI không chỉ tạo việc làm trực tiếp mà còn tạo ra việc làm gián tiếp Thực tế nghiên cứu chỉ ra rằng, đóng góp của FDI trong tạo việc làm, đặc biệt
là các việc làm trực tiếp là không đáng kể, chỉ chiếm 3% tổng lực lượng lao động trên toàn thế giới Trong khi đó, FDI lại được nhận định là tạo ra nhiều nguồn việc làm gián tiếp, tùy thuộc vào từng ngành, từng lĩnh vực
1.4.1.3 Nhân tố về giáo dục
Một lý do khác là di cư của thanh niên để đi học chuyên nghiệp (Đại học, Cao đẳng, các trường dạy nghề,…) Môi trường sinh sống và lao động ở thành phố
là điều kiện thuận lợi để lớp người di cư trẻ tuổi có thể học được nhiều điều bổ ích,
mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao tay nghề và phấn đấu để đạt được những mơ ước của mình Khu vực thành thị luôn có môi trường và điều kiện phát triển giáo dục tốt hơn ở nông thôn, vì vậy, nơi đây sẽ thu hút được ngươi dân đưa con em ra theo học
ở nơi đây
Trong vòng 20 năm qua, ở hầu hết các nước đang phát triển, dân số có khuynh hướng tập trung vào các đô thị, tạo nên sự phân bố không đồng đều giữa các vùng, các khu vực, gây ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển Một trong những nhân tố quan trọng của sự tăng trưởng đô thị là sự di cư từ nông thôn ra thành thị Trong quá trình đô thị hóa, các biến động kinh tế như cơ hội tìm việc làm, sự chênh
Trang 40lệch về điều kiện văn hoá, xã hội (giáo dục, y tế, thông tin liên lạc, điều kiện làm việc và nghỉ ngơi) đã kích thích việc di cư từ nông thôn ra thành thị với hy vọng tìm được việc làm và điều kiện sống tốt hơn Dòng di cư từ nông thôn ra thành thị tăng tạo nên sức ép về mọi mặt đối với các đô thị
Trình độ học vấn của người lao động: Đây là một yếu tố góp phần ảnh
hưởng đến bất bình đẳng về tạo việc làm giữa nông thôn và đô thị Trình độ học vấn của cư dân đô thị thường cao hơn so với nông thôn bởi vì ở đô thị có điều kiện cơ
sở vật chất, giao thông thuận tiện hơn, người dân đô thị dễ dàng tiếp cận với giáo dục hơn so với người dân nông thôn Chính vì thực tế là người dân đô thị có trình
độ học vấn cao hơn so với người lao động nông thôn nên để có nguồn nhân lực cao thì các nhà tuyển dụng thường tập trung ở đô thị Ngoài ra các chính sách việc làm cũng có thể bị thiên lệch, chú trọng phát triển việc làm dành cho những đối tượng này hơn Theo nghiên cứu của Bùi Quang Bình (2010) thì chất lượng thấp của lao động nông thôn thể hiện qua tỷ lệ không biết chữ với 4,8%, tốt nghiệp PTCS là 34,6% và tốt nghiệp PTTH là 11,2% Tác giả cũng cho biết, nếu đánh giá trình độ học vấn bình quân theo giới tính và nông thôn – đô thị có thể thấy số năm học văn hóa trung bình của người dân ở khu vực nông thôn thấp hơn thành thị, của phụ nữ thấp hơn nam giới Tác giả nhận định, năng suất lao động sẽ tăng nếu người dân nông thôn có trình độ học vấn tương ứng ở một mức độ nhất định nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông, mức tăng này sẽ là 11% Như vậy, trình độ học vấn cho phép người lao động khả năng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh Với chất lượng của nguồn nhân lực nông thôn như vậy sẽ hạn chế họ trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khả năng tự tạo việc làm cho bản thân Mặt khác, trong những năm qua, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động nông thôn lại thay đổi không đáng kể, tình trạng thu nhập thấp và thiếu việc làm ở nông thôn, trong lúc đó, thu nhập cao hơn ở các đô thị đã gia tăng sự dịch chuyển lao động, nhất là những lao động kỹ thuật từ nông thôn tới thành thị, và làm cho tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo giảm từ 6,9% xuống còn 5,9% (Trích “Xã hội học, số 1 (121), 2013,
Đô thị - nông thôn và một số vấn đề về việc làm hiện nay ở nước ta)