1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế xã hội và thực tiễn áp dụng đề án 79, huyện mường nhé, tỉnh điện biên

89 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế xã hội và thực tiễn áp dụng đề án 79, huyện Mường, tỉnh Điện Biên
Tác giả Vũ Đại Thắng
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VŨ ĐẠI THẮNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỀ ÁN 79, HUYỆN M

Trang 1

VŨ ĐẠI THẮNG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ -

XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỀ ÁN 79,

HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

MÃ NGÀNH: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ TRỌNG LÂM

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện

và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Người cam đoan

Vũ Đại Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin được chân thành cảm ơn các cán bộ, giảng viên đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS: Vũ Trọng Lâm là giáo viên trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Em xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ủy ban nhân dân huyện Mường Nhé, ttỉnh Điện Biên, đã tạo điều kiện cho em thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn

Dù đã hết sức cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô

để luận văn được hoàn thiện hơn!

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN i

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5

1.1 Những vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 5

1.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 5

1.1.2 Cơ sở chính trị - pháp lý của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 6

1.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 8

1.2.1 Giai đoạn Luật đất đai năm 1993 8

1.2.2 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003 10

1.2.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay 14

1.3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 14

1.3.2 Quy định của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 16

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI ĐỀ ÁN 79,

HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 20

2.1 Khái quát về Đề án 79 20

2.1.1 Căn cứ pháp lý 20

2.1.2 Mục tiêu tổng quát 21

2.1.3 Mục tiêu cụ thể 21

2.2 Tình hình triển khai thực hiện Đề án 79 tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 23

2.2.1 Tình hình triển khai quán triệt thực hiện Đề án 79 23

2.2.2 Công tác tuyên truyền, vận động thực hiện Đề án 79 24

2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 28

2.3.1 Thực tiễn bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 28

2.3.2 Đánh giá thực tiễn bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại Đề án 79 trên địa bàn huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 30

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TẠI ĐỀ ÁN 79, HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 44

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 44

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội 45

Trang 6

3.2.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về xác định giá đất, giá tài sản 45 3.2.2 Giải pháp về hoàn thiện chính sách pháp luật về tạo việc làm

chuyển đổi nghề nghiệp 45 3.2.3 Giải pháp về tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai 46 3.2.4 Giải pháp về việc tổ chức thực hiện 46

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 48

3.3.1 Định hướng thực hiện Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong thời gian tới 48 3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 60

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê số dân di cư tự do đến địa bàn huyện Mường Nhé sau ngày 30-4-2011 31 Bảng 2.2: So sánh kết quả thực hiện với mục tiêu của Đề án 34 Bảng 3.1: So sánh thay đổi các phương án bố trí, sắp xếp dân cư 58

Trang 8

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

***********************

VŨ ĐẠI THẮNG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH

QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ -

XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỀ ÁN 79, HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2018

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, huyện Mường Nhé luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ cũng như UBND tỉnh Điện Biên trong công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện

Tổng diện tích tự nhiên của huyện Mường Nhé là: 156.908,11 ha (chiếm 16,46% diện tích của tỉnh) bao gồm 11 đơn vị hành chính xã là: Quảng Lâm, Nậm

Kè, Pá Mỳ, Huổi Lếch, Mường Toong, Mường Nhé, Nậm Vì, Chung Chải, Leng Su Sìn, Sen Thượng và Sín Thầu Là huyện duy nhất có chung đường biên giới với hai nước Trung Quốc là 40,861 km và CHDCND Lào là 74,4 km Phía Bắc và Tây Bắc giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, phía Nam và Tây Nam giáp với tỉnh Phong Sa

Lỳ của nước CHDCND Lào, phía Đông Bắc giáp với huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, phía Đông và phía Đông Nam giáp với huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

Huyện Mường Nhé là một huyện nghèo, vùng sâu, vùng xa, khó khăn nhất của tỉnh Điện Biên, trình độ dân trí không đồng đều, tình hình xâm canh, xâm cư, di

cư tự do còn diễn biến hết sức phức tạp, tập quán canh tác luân canh nên rất khó khăn trong công tác xác định ranh giới thửa đất, chủ sử dụng, nguồn gốc đất đai, đặc biệt là tình trạng tranh chấp, mua bán và chuyển nhượng ngầm trái phép phức tạp, làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý đất đai và trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Xuất phát từ tính cấp

thiết của thực tiễn đặt ra, tác giả đã lựa chọn đề tài: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và thực tiễn áp dụng tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đến nay, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả, nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận

và pháp lý về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, từ đó

đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về lĩnh vực này tại Đề

án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là pháp luật về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và thực tiễn áp dụng pháp luật về lĩnh vực này tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu luận văn dựa trên lý luận Mác -

Lê nin với phép biện chứng khoa học duy vật biện chứng lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai

Trang 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội, đánh giá thực trạng pháp luật qua thực tiễn Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, đề ra định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Luận văn là tài liệu tham khảo cho UBND và các ngành liên quan của huyện Mường Nhé trong việc thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi

Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi

Nhà nước thu hồi đất tại Đề án 79 huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

và nâng cao hiệu quả áp dụng tại Đề án 79 huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH

CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG

AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 Những vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

1.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

Theo từ điển tiếng Việt thì: "Bồi thường hay đền bù có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác”

Trang 12

iv

“Tái định cư là những chính sách, biện pháp của Nhà nước nhằm thông qua các hoạt động hỗ trợ để giúp đỡ những người bị thu hồi đất ở nằm trong diện phải di dời khi có dự án đầu tư, đến nơi ở mới được ổn định đời sống, ổn định sản xuất để phát triển kinh tế-xã hội”

1.1.2 Cơ sở chính trị - pháp lý của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh

tế-xã hội

1.1.2.1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu

Theo Điều 53, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác

và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

Mọi tài sản, tư liệu sản xuất do Nhà nước đại diện cho dân là chủ sở hữu đều được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích chung của toàn thể nhân dân Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Nhà nước thay mặt toàn dân quản lý và phân bổ đất đai, đảm bảo điều tiết quá trình phân phối công bằng, ngăn ngừa khả năng số ít chiếm dụng phần lớn đất đai, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận bình đẳng và trực tiếp với đất đai

1.1.2.2 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn luôn xác định mục tiêu cao nhất của mình là vì con người; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà mọi quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan nhà nước do mình trực tiếp bầu ra;

1.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

1.2.1 Giai đoạn Luật đất đai năm 1993

Trang 13

1.2.2 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003

1.2.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay

1.3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

1.3.1 Quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt là Điều 74 và Điều 88 Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện

1.3.2 Quy định của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

- Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI ĐỀ ÁN 79,

HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 2.1 Khái quát về Đề án 79

2.1.1 Căn cứ pháp lý

Đề án Sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đến năm 2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 79/QĐ-TTg ngày 12-01-2012

2.1.2 Mục tiêu tổng quát

- Xây dựng huyện Mường Nhé ổn định về định canh, định cư, không còn hộ

du canh, du cư, bảo đảm người dân có đủ đất sản xuất, có nhà ở, có đủ nước sinh hoạt và sản xuất;

Trang 14

vi

- Phấn đấu toàn vùng Đề án không có hộ đói, giảm nghèo nhanh và bền vững Xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu, công trình công cộng tại các

xã, bản phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân;

- Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững chắc, bảo đảm sự ổn định chính trị,

xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc

2.1.3 Mục tiêu cụ thể

- Bố trí sắp xếp, ổn định đời sống cho 10.876 hộ với 62.020 khẩu, thuộc 153 bản và 14 nhóm dân cư hiện có, đến hết năm 2015 toàn vùng Đề án có 11.931 hộ với trên 6,7 vạn người bố trí tại 210 bản được định canh, định cư (bao gồm: 153 bản hiện có, 10 bản được chia ách hành chính để quản lý, 47 bản thành lập mới sau khi bố trí, sắp xếp các hộ dân);

- Phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho nhân dân, phấn đấu nâng giá trị thu nhập bình quân đầu người đạt 550.000 đồng/người/tháng vào năm 2015;

- Giảm số hộ nghèo từ 77,87% năm 2011 xuống còn 52,87% vào năm 2015, mỗi năm giảm bình quân 5% hộ nghèo, tương đương với 543 hộ/năm;

2.2 Tình hình triển khai thực hiện Đề án 79 tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

2.2.1 Tình hình triển khai quán triệt thực hiện Đề án 79

Ngay sau khi Đề án 79 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án, ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo; quyết định giao nhiệm vụ chủ đầu tư cho 10 đơn vị thực hiện bố trí, sắp xếp dân cư thành lập các bản mới, tổ chức hội nghị quán triệt những nội dung của Đề án tới các thành viên Ban chỉ đạo của tỉnh và các sở, ban ngành có liên quan; giao nhiệm vụ cho các sở, ngành xây dựng những quy định cụ thể hướng dẫn thực hiện chính sách đặc thù của Đề án, xây dựng kế hoạch tiến độ

và phân kỳ đầu tư gắn với nhu cầu vốn để thực hiện Đề án

2.2.2 Công tác tuyên truyền, vận động thực hiện Đề án 79

Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban chỉ đạo thực hiện Đề án 79 của tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành xây dựng, ban hành Kế hoạch tuyên truyền, đề cương tuyên truyền,

Trang 15

làm cơ sở để tổ chức các hội nghị quán triệt những mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án 79 tới các thành viên Ban chỉ đạo của tỉnh, các sở, ban ngành liên quan và Ủy ban nhân dân huyện Mường Nhé

2.2.2.1 Tuyên truyền vận động và rà soát các hộ dân đăng ký chuyển đến các điểm bản thành lập mới

Từ khi được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ bố trí, sắp xếp dân cư ở các điểm bản thành lập mới, các chủ đầu tư thường xuyên phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện Mường Nhé và Ủy ban nhân dân các xã trong vùng Đề án,

tổ chức tuyên truyền, vận động để người dân DCTD tiếp tục đăng ký di chuyển đến vùng quy hoạch, người dân sở tại nhường đất để thực hiện các phương án bố trí, sắp xếp dân cư bằng nhiều hình thức

2.2.2.2 Tuyên truyền, vận động để người dân sở tại nhường đất thành lập các bản mới

Đến năm 2015, các hộ dân sở tại đã nhất trí nhường đất để bố trí, sắp xếp dân cư tại 21 bản, không phải tuyên truyền nhường đất do bố trí di chuyển trong nội xã 3 bản (Cà Là Pá, Cà Là Pá 1, Lỳ Mà Tá 2) đạt 88,46% so với kế hoạch cần tuyên truyền

2.2.2.3 Kết quả tập huấn bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, bản

Bồi dưỡng, tập huấn cho 735 lượt người, đạt 71,7% so với mục tiêu đề ra (bồi dưỡng, tập huấn cho 498 lượt người bằng nguồn vốn của Đề án và cho 237 lượt người bằng nguồn vốn lồng ghép khác)

2.2.2.4 Kết quả phân bổ và thực hiện vốn đầu tư phát triển của Đề án

a) Tình hình thực hiện, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư phát triển

Tổng nguồn vốn bố trí cho triển khai thực hiện đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng giai đoạn 2011 đến năm 2015 là 903 tỷ đồng, trong đó vốn Đề án là 888 tỷ đồng, đạt 96,8% so với tổng nguồn vốn đầu tư phát triển được duyệt

b) Tình hình giao và thực hiện kế hoạch vốn sự nghiệp

Tổng nguồn vốn sự nghiệp được Trung ương phân bổ để thực hiện Đề án từ năm 2012 - 2015 là: 210 tỷ đồng; trong đó: Năm 2012 là 30 tỷ đồng, năm 2013 là 30 tỷ đồng, năm 2014 là 50 tỷ đồng, năm 2015 là 50 tỷ đồng, năm 2016 là 50 tỷ đồng

Trang 16

viii

2.2.2.5 Kết quả chuẩn bị đầu tư và đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu

a/ Đối với các bản ổn định tại chỗ và các điểm bản thành lập mới đã được phê duyệt theo Quyết định 141/QĐ-TTg

Tổng số dự án được phê duyệt quyết định đầu tư là: 74 dự án trong đó có 55 dự

án hoàn thành; 19 dự án đang triển khai thực hiện, dự kiến hoàn thành năm 2016

b/ Đối với 29 điểm bản thành lập mới theo Quyết định 79/QĐ-TTg

Tổng số dự án đã được phê duyệt quyết định đầu tư là 62 dự án; trong đó: có

18 dự án hoàn thành, 44 dự án đang triển khai thực hiện

2.2.2.6 Kết quả hỗ trợ đời sống và hỗ trợ phát triển sản xuất

a/ Đối với các điểm bố trí sắp xếp dân cư theo Quyết định 141/QĐ-TTg:

Đã thực hiện hỗ trợ 163 con dê cái sinh sản cho 163 hộ; hỗ trợ 3.303 kg giống Ngô LVN10 để trồng trên diện tích 194,3 ha

b/ Đối với 29 điểm bản thành lập mới theo Quyết định 79/QĐ-TTg:

Đã thực hiện hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ làm nhà, hỗ trợ dụng cụ sản xuất cho

419 hộ đã thực hiện di chuyển Hiện nay, các đơn vị chủ đầu tư đang tiếp tục thực hiện hỗ trợ đời sống hỗ trợ sản xuất cho các điểm bản thành lập mới theo tiến độ di chuyển các hộ dân

2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

2.3.1 Thực tiễn bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và tình hình thực tế của huyện Mường Nhé, Ủy ban nhân dân đã cho chủ trương điều chỉnh lại quy hoạch của một số điểm bản mới

Kết quả xây phương án bố trí, sắp xếp dân cư

Tính đến năm 2015, đã xây dựng, phê duyệt 38/41 phương án bố trí sắp xếp,

ổn định dân cư, đạt 93% so với kế hoạch

Thực hiện di chuyển dân đến nơi ở mới theo quy hoạch

Tính đến hết năm 2015, đã thực hiện di chuyển và bố trí, sắp xếp ổn định cho

860 hộ để thành lập 29 bản mới, bố trí xen ghép và ổn định tại chỗ cho 6 bản

Trang 17

2.3.2 Đánh giá thực tiễn bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại Đề án 79 trên địa bàn huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

2.3.2.1 Kết quả đạt được

Về thực hiện mục tiêu tổng quát

Qua 4 năm thực hiện sắp xếp, ổn định dân cư trên địa bàn Đề án (bao gồm 11

xã của huyện Mường Nhé và 10 xã của huyện Nậm Pồ mới chia tách, sau đây gọi tắt là vùng Đề án) đã tương đối ổn định

Về thực hiện các mục tiêu cụ thể

- Đã bố trí sắp xếp ổn định tại chỗ cho 8.454 hộ, thuộc 128 bản; đã tổ chức

hỗ trợ cho đồng bào phát triển sản xuất, ổn định đời sống; Mục tiêu giảm nghèo có chuyển biến tích cực, khoảng cách giữa vùng Đề án và chung toàn tỉnh được thu hẹp dần; Tập trung đầu tư có trọng điểm các công trình hạ tầng cơ sở nhằm góp phần phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

2.3.2.2 Những khó khăn, hạn chế

Những khó khăn, vướng mắc

- Điều kiện đất sản xuất ở một số điểm bản rất khó khăn, chủ yếu là làm nương trên đất dốc nhanh bạc màu, trình độ dân trí còn hạn chế, không đồng đều, tập quán canh tác lạc hậu; tình trạng dân DCTD, tuyên truyền đạo trái phép vẫn tiếp tục tái diễn;

- Một số chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và phát triển sản xuất, chi phí quản lý tổ chức thực hiện đã được phê duyệt trong tổng vốn của Đề án, nhưng chưa được quy định cụ thể, ảnh hưởng đến việc tuyên truyền, vận động và thực hiện di chuyển dân đến nơi ở mới

- Một số chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và phát triển sản xuất chưa thống nhất được nguồn vốn để thực hiện

Những hạn chế và nguyên nhân

Về công tác tuyên truyền, xây dựng phương án sắp xếp ổn định dân cư:

Về tiến độ đo đạc quy chủ, lập phương án hỗ trợ, bồi thường giải phóng mặt bằng

Về thực hiện di chuyển dân đến nơi ở mới

Trang 18

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, việc thực hiện điều chỉnh, bổ sung Đề

án Sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên là cần thiết để hoàn thành những mục tiêu

đề ra, giúp nhân dân vùng Đề án phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng -

an ninh vùng Đề án đến năm 2020

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TẠI ĐỀ ÁN 79, HUYỆN MƯỜNG NHÉ,

TỈNH ĐIỆN BIÊN 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội phải phù hợp với quan điểm, cương lĩnh, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng; bảo đảm ổn định chính trị -

xã hội; phù hợp với đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-

xã hội

Trang 19

3.2.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về xác định giá đất, giá tài sản

Khi xác định giá bồi thường, ngoài căn cứ vào khung giá của nhà nước, khung giá do UBND tỉnh quy định phải căn cứ vào giá chuyển nhượng trên thị trường bằng cách mỗi dự án cần có Ban định giá riêng hoặc thuê tổ chức định giá độc lập để tiến hành xác định giá đất, giá tài sản bồi thường

3.2.2 Giải pháp về hoàn thiện chính sách pháp luật về tạo việc làm chuyển đổi nghề nghiệp

Cơ quan ban ngành, chính quyền địa phương cần tiến hành điều tra, khaỏ sát tình hình lao động, nhu cầu học nghề, trình độ lao động… qua đó có chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp hợp lý, cụ thể, mang tính chiến lược, phù hợp với tình hình thực tế nhằm giải quyết việc làm cho lao động ổn định, lâu dài, bền vững tạo

sự đồng thuận nhất trí cao trong nhân dân

3.2.3 Giải pháp về tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai

Chỉ đạo tăng cường công tác quản lý đất đai, nhất là công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đảm bảo 100% thửa đất được đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cập nhật chỉnh lý các biến động kịp thời

3.2.4 Giải pháp về việc tổ chức thực hiện

UBND huyện, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường GPMB huyện cần có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, chủ đầu tư để kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để đẩy nhanh tiến độ GPMB và giúp người dân sớm ổn định cuộc sống cũng như ổn định sản xuất

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

3.3.1 Định hướng thực hiện Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong thời gian tới

Cần điều chỉnh, bổ sung Đề án 79 sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế

- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên nhằm hoàn thành những mục tiêu đề ra, giúp nhân dân vùng Đề án 79 phát triển kinh tế -

xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh đến năm 2020

Trang 20

xii

3.3.1.1 Điều chỉnh mục tiêu của Đề án

Điều chỉnh mục tiêu tổng quát

Kéo dài thời gian thực hiện Đề án Sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế

- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đến năm

2020, nhằm thực hiện hoàn thành những mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt

Điều chỉnh mục tiêu cụ thể

Bố trí sắp xếp, ổn định đời sống cho 12.205 hộ với 68.318 nhân khẩu, thuộc

171 bản và 14 nhóm dân cư hiện có, đến hết năm 2020 toàn vùng Đề án có 13.434 hộ với trên 7,4 vạn người thuộc 219 bản được định canh định cư

Phát triển sản xuất, phấn đấu, nâng giá trị thu nhập bình quân đạt 765.000 đồng/người/tháng vào năm 2020

Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 75,09% năm 2015 xuống còn 55,09% vào năm 2020

3.3.1.2 Điều chỉnh về phương án quy hoạch bố trí, sắp xếp ổn định dân cư 3.3.1.3 Điều chỉnh phương án bố trí cho những hộ đã có đất sản xuất cần bố trí đất ở

3.3.1.4 Điều chỉnh phương án bố trí những hộ chưa có đất sản xuất và đất ở

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

3.3.2.1 Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân thực hiện Đề án 79 3.2.2.2 Điều chỉnh một số cơ chế chính sách thực hiện Đề án 79

3.3.2.3 Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Thực hiện lồng ghép nguồn vốn của các Chương trình, Dự án, đưa vào sản xuất các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật: mô hình trồng cây công nghiệp ngắn ngày, mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, từ đó nâng cao nhận thức và trình độ của người dân

3.3.2.4 Củng cố bộ máy quản lý các cấp, đào tạo nâng cao năng lực cho cán

bộ, công chức, viên chức

Tăng cường cán bộ của các cấp, các ngành tỉnh, huyện, các đội công tác của các lực lượng vũ trang giúp đỡ xã, bán xây dựng, củng cố nâng cao chất lượng hoạt

Trang 21

động của hệ thống chính trị từ huyện đến xã, bản; phối hợp cùng với nhân dân các dân tộc tăng cường phòng chống các tệ nạn xã hội, phối hợp chặt chẽ trong việc vận động đồng bào các dân tộc thực hiện có hiệu quả Đề án Đẩy mạnh việc quản lý hộ tịch, hộ khẩu quản lý chặt chẽ số hộ đi và đến trên địa bàn

KẾT LUẬN

Thực hiện Quyết định số 79/QĐ-TTg ngày 12-01-2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án sắp xếp, ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đến năm 2015; cấp ủy, chính quyền các cấp của tỉnh Điện Biên đã tích cực, chủ động phối hợp trong việc sắp xếp, di chuyển dân theo quy hoạch, kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện nên bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực, tạo được sự đồng thuận của nhân dân

Qua 3 năm tổ chức triển khai thực hiện Đề án, do các nguyên nhân khách quan, chủ quan nên tiến độ thực hiện các mục tiêu của Đề án còn chưa đạt yêu cầu

đề ra; mặt khác, chính sách hỗ trợ đối với phát triển sản xuất phải kéo dài thời gian sau triển khai 4 - 5 năm, hỗ trợ trồng cây cao su phải kéo dài 6 - 7 năm Vì vậy, đến năm 2015 không thể hoàn thành tiến độ, kế hoạch của Đề án đã đề ra, cần điều chỉnh việc thực hiện Đề án đến năm 2020 nhằm hoàn thành những mục tiêu đề ra

Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về giao đất, đánh giá thực trạng thực hiện Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, đề

ra định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giao đất tại Đề án 79 huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Trang 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

***********************

VŨ ĐẠI THẮNG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ -

XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỀ ÁN 79, HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

MÃ NGÀNH: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ TRỌNG LÂM

HÀ NỘI - 2018

Trang 23

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, huyện Mường Nhé luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ cũng như UBND tỉnh Điện Biên trong công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện

Tổng diện tích tự nhiên của huyện Mường Nhé là: 156.908,11 ha (chiếm 16,46% diện tích của tỉnh) bao gồm 11 đơn vị hành chính xã là: Quảng Lâm, Nậm

Kè, Pá Mỳ, Huổi Lếch, Mường Toong, Mường Nhé, Nậm Vì, Chung Chải, Leng Su Sìn, Sen Thượng và Sín Thầu Là huyện duy nhất có chung đường biên giới với hai nước Trung Quốc là 40,861 km và CHDCND Lào là 74,4 km Phía Bắc và Tây Bắc giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, phía Nam và Tây Nam giáp với tỉnh Phong Sa

Lỳ của nước CHDCND Lào, phía Đông Bắc giáp với huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, phía Đông và phía Đông Nam giáp với huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

Huyện Mường Nhé là một huyện nghèo, vùng sâu, vùng xa, khó khăn nhất của tỉnh Điện Biên, trình độ dân trí không đồng đều, tình hình xâm canh, xâm cư, di

cư tự do còn diễn biến hết sức phức tạp, tập quán canh tác luân canh nên rất khó khăn trong công tác xác định ranh giới thửa đất, chủ sử dụng, nguồn gốc đất đai, đặc biệt là tình trạng tranh chấp, mua bán và chuyển nhượng ngầm trái phép phức tạp, làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý đất đai và trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Xuất phát từ tính cấp

thiết của thực tiễn đặt ra, em mạnh dạn lựa chọn đề tài: Pháp luật về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và thực tiễn áp dụng tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đến nay, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả, nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau Có thể đề cập đến một số công trình, bài báo tiêu biểu cụ thể như:

Trang 24

- Lê Ngọc Thanh: “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trườngsố 11 (73), tháng 6-2009

Nhìn chung, các công trình trên đã nghiên cứu về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở mức độ và phạm vi khác nhau Tuy nhiên, các công trình khoa học trên chưa đi sâu nghiên cứu về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn cấp huyện, đặc biệt là đi sâu nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư tại Đề án 79 trên địa bàn huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Đề tài luận văn thạc sĩ của em tiếp cận vấn đề từ tổng quan chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Đề án 79, huyện Mường Nhé nhằm nhận diện những bất cập của thực trạng thi hành pháp luật, trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về lĩnh vực này tại Đề án 79 huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận

quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, từ đó

Trang 25

đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà

nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và những

giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về lĩnh vực này tại Đề

án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Phân tích cơ sở lý luận và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại

Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

- Đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về lĩnh vực này tại Đề án 79 huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội và thực tiễn áp dụng pháp luật về lĩnh vực này tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu luận văn dựa trên lý luận Mác -

Lê nin với phép biện chứng khoa học duy vật biện chứng lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai

Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn cụ thể như sau:

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, tổng hợp số liệu, dữ liệu thu thập được tại UBND tỉnh Điện Biên, Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Điện Biên, UBND huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên), Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng nhà đất, Phòng Nông nghiệp huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên), các chủ đầu tư và các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên)

Trang 26

4

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy định của pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa phù hợp giữa quy định của pháp

thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

- Phương pháp thu thập thông tin, kế thừa các nghiên cứu, các tài liệu đã có: Luận văn đã tiếp cận, kế thừa các thông tin, tài liệu tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2013 của Sở Tài nguyên và Môi trường, các kết quả của các công trình khoa

định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời làm rõ hạn chế, bất cập của pháp luật về lĩnh vực này, từ đó đề

nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội, đánh giá thực trạng pháp luật qua thực tiễn Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, đề ra định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luậttại Đề án 79, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Luận văn là tài liệu tham khảo cho UBND và các ngành liên quan của huyện

nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

Nhà nước thu hồi đất tại Đề án 79 huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Trang 27

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG,

HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

VÌ MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG AN NINH, PHÁT TRIỂN

Theo quy định tại “Khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai 2013: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”

Theo quy định tại “Khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai 2013: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”

Bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng trong tình hình hiện nay không chỉ đơn thuần là bồi thường trả lại về giá trị vật chất mà còn đảm bảo lợi ích chính đáng cho những người dân bị Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích lợi ích công cộng Đó là việc Nhà nước đảm bảo cho họ có một cuộc sống mới ổn định, một điều kiện sống tốt hơn hoặc bằng điều kiện sống nơi ở cũ, hỗ trợ ổn định đời sống

và ổn định sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm…để họ yên tâm sản xuất, làm việc và cống hiến cho xã hội góp phần đưa đất nước phát triển trên những cơ

sở vững chắc, ổn định và tiến vững trên con đường hội nhập toàn cầu

“Tái định cư là những chính sách, biện pháp của Nhà nước nhằm thông qua các hoạt động hỗ trợ để giúp đỡ những người bị thu hồi đất ở nằm trong diện phải di

Trang 28

- Bồi thường bằng giao đất ở mới

- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở

Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng để thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước ta

khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

1.1.2 Cơ sở chính trị - pháp lý của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

1.1.2.1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu

“ Theo Điều 53, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác

và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Trước hết phải khẳng định, đất đai là lãnh thổ thiêng liêng của quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước Vì vậy, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

Việt Nam là một nước nông nghiệp, phần lớn dân số là nông dân, nguồn sống chủ yếu từ đất đai Sở hữu toàn dân tức là mỗi người dân đều có quyền, còn Nhà nước chỉ là đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý về đất đai, bảo đảm sử

Trang 29

dụng hợp lý, có hiệu quả Đồng thời, việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay còn tránh được những hậu quả do chế độ sở hữu tư nhân đất đai gây ra, xóa bỏ tình trạng dùng độc quyền sở hữu đất đai với mục đích bóc lột người sử dụng đất

Không những vậy, quy định đất đai là sở hữu toàn dân là cần thiết vì đất đai gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha ta Đất đai là xương máu của nhiều thế hệ Quy định này cũng là sự khẳng định và ghi nhận thành quả cách mạng về đất đai của dân tộc ta

Trên thực tế, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai hiện hành đã bảo đảm cho người sử dụng đất đai, chủ yếu là nông dân có các quyền cần thiết như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, được bồi thường, được lựa chọn hình thức sử dụng đất, quyền sử dụng đất lâu dài, quyền cải tạo, bồi bổ đất đai để khai thác có hiệu quả cho cuộc sống…

Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là nguồn lực quan trọng để phục vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Có thể nói, thể chế hóa việc sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp đã nhận được sự đồng tình, nhất trí cao trong nhân dân Còn việc quy định Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai và thống nhất quản lý cũng xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Mọi tài sản, tư liệu sản xuất do Nhà nước đại diện cho dân là chủ sở hữu đều được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích chung của toàn thể nhân dân Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Nhà nước thay mặt toàn dân quản lý và phân bổ đất đai, đảm bảo điều tiết quá trình phân phối công bằng, ngăn ngừa khả năng số

ít chiếm dụng phần lớn đất đai, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận bình đẳng

và trực tiếp với đất đai

Trang 30

hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là Nhà nước mà ở đó các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thống nhất và có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền đó; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do một đảng duy nhất lãnh đạo - Đảng Cộng sản Việt Nam Mặt khác để thực hiện thành công nghị quyết của Đảng là đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp thì ngoài chính sách đại đoàn kết dân tộc, khuyến khích và tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế phát triển Hiến pháp nước ta đã nghị nhận quyền tự do kinh doanh của mọi công dân và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

1.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

1.2.1 Giai đoạn Luật đất đai năm 1993

Khi Hiến pháp 1992 ra đời thay thế Hiến pháp 1980 đã quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” Tại Điều 17 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Và Điều 18 quy định: “Các tổ chức

và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền

sử dụng đất theo quy định của pháp luật” Đặc biệt, tại Điều 23 quy định : “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng

Trang 31

dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định” Những quy định trên đã tạo điều kiện củng

cố quyền hạn riêng của Nhà nước trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi ích quốc gia

Luật Đất đai năm 1993 đã có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 là văn kiện chính sách quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và đền bù thiệt hại của Nhà nước Luật Đất đai quy định các loại đất sử dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất và quyền sở hữu nhà GCNQSDĐ làm căn cứ cho quyền được đền bù khi Nhà nước thu hồi đất Sau khi Luật Đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai như đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, khung giá các loại đất nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản đó

Năm 1998, Luật Đất đai sửa đổi một số điều của Luật đất đai năm 1993 được

ra đời Về cơ bản Luật đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng cơ bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp với thực tế Vấn đề định giá đất và công tác đền bù thiệt hại chưa được đề cập nhiều dù hiện nay vấn đề GPMB đang là việc làm hết sức nóng cần giải quyết Thực tế hiện nay công tác GPMB diễn ra quá chậm và các chính sách chưa rõ ràng

“Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ tài chính đã tiến hành dự thảo lần thứ nhất về việc sửa đổi bổ sung Nghị định 22/CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Trong đó, một số điều cơ bản đã được đề nghị sửa đổi như xác định mức đất để tính đền bù, giá đền bù, lập khu tái định cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cư, Hội đồng đền bù GPMB và thẩm định phương án đền bù GPMB”

Năm 2001, Luật Đất đai sửa đổi được ban hành, cơ bản các nội dung về thu hồi, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không có gì thay đổi so với Luật Đất đai

1993, sửa đổi năm 1998 và cụ thể là “Nghị định 22/1998/ NĐ-CP ngày 24/4/1998

Trang 32

10

của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”

1.2.2 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003

Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định rất chi tiết và kèm theo các văn bản dưới luật được ban hành, hướng dẫn thực hiện:

“Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai”

“Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất”

“Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung các loại giá đất”

“Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất”

“Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”

“Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP”

“Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số Điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần”

“Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”

Trang 33

“Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP”

“Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền

sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai”

“Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 của Bộ Tài nguyên Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày

25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai”

“Thông tư liên tịch số 14/2008/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ”

“Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư”

“Thông tư liên tịch số 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08/11/2010 của BTNMT hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành bảng giá đất và điều chỉnh bảng giá đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh, TP trực thuộc TW”

“Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BTNMT-BNV ngày 02/02/2010 hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Sở TNMT và phòng TNMT về công tác định giá đất”

Các Nghị định và Thông tư trên đã quy định cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau:

- Quy định những trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế, trách nhiệm của UBND các cấp đối với những trường hợp nhà đầu tư thoả thuận với người sử dụng đất

Trang 34

12

- Quy định phạm vi, loại đất để tính bồi thường:

+ Quy định về giải quyết các trường hợp đang sử dụng đất nhưng không có một trong các loại giấy tờ về đất đai

+ Phạm vi, giới hạn đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao liền kề với đất ở để được hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất

- Quy định về giá đất, phương pháp xác định giá đất:

+ Xác định lại giá đất cho phù hợp với thị trường đối với trường hợp giá đất

do UBND cấp tỉnh quy định và công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường

+ Quy định mở rộng khung giá, nâng mức giá tối đa của khung giá một số loại đất như: đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn tăng thêm 50%

- Quy định về hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất:

+ Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có mức sống thuộc diện hộ nghèo thì được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo

+ Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng cách giao đất để làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp

- Quy định hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi được giao đất TĐC mà có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ tiền sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

“Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 13/9/2009 đã quy định nhiều chính sách nhằm giải quyết các vướng mắc trong bồi thường giải phóng mặt bằng trong đó tập trung nâng cao mức hỗ trợ cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi như: đất vườn, ao xen kẽ khu dân cư hoặc trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, việc bên ngoài được thu hồi theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ thêm 30 - 70% giá đất ở trong khu vực; đất nông nghiệp xen

kẽ khu dân cư được hỗ trợ thêm 20 - 50% giá trị đất ở trong khu vực Ngoài ra nông

Trang 35

dân bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ chuyển nghề bằng 1,5 - 5 lần đất nông nghiệp đồng thời, Nghị định cũng quy định việc lập Quỹ phát triển đất trên cơ sở trích từ 30

- 50% nguồn thu hàng năm từ tiền sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phát triển khu tái định cư nhằm đảm bảo vai trò của Nhà nước trong việc ổn định xã hội thông qua chính sách điều tiết tài nguyên đất đai sẽ góp phần làm hài hoà các lợi ích giữa Nhà nước và các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai Nhà nước có thể chủ động mua lại diện tích đất của các doanh nghiệp thuộc diện phải được di dời ra khỏi các đô thị do quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường để bổ sung vào quỹ đất phục vụ mục tiêu chính sách xã hội”

Việc thực hiện thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích như xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ; đối với các dự án sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng giá trị chuyển quyền sử dụng đất của tổ chức, gia đình, cá nhân mà Nhà nước không thực hiện thủ tục thu hồi đất, khuyến khích các nhà đầu

tư thoả thuận với người có đất

Về chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định như sau:

- Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi

- Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi

- Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề

và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất

- Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư

Như vậy chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai năm

2003 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc còn tồn tại

Trang 36

14

1.2.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay

Hiện nay, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng được áp dụng theo Luật đất đai năm 2013 và được cụ thể hoá tại các Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013; Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất; Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 sửa đổi,

bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai

Về cơ bản Luật Đất đai năm 2013, quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất kế thừa một số văn bản luật cũ Tuy nhiên, có rất nhiều điều chỉnh, bổ sung một số nội dung cho phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện

phát triển kinh tế của đất nước

1.3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-

Trang 37

“Điều 74 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường

2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất

3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật”

“Điều 88 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất

1 Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất

bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường

2 Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại.”

Luật bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu

hồi đất quy định tại “Điều 75, cụ thể: (i) Bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (ii) trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”

Thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: Đất nông nghiệp, đất

ở, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất

Luật Đất đai năm 2013 quy định việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó, trừ trường hợp đất nông nghiệp có nguồn gốc do Nhà nước giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân

Trang 38

16

Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, cho một số trường hợp không được bồi thường về đất

Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà

nước thu hồi đất quy định tại “khoản 1 Điều 54 bao gồm:

- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân;

- Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

- Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

- Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối”

Đối với người dân mất đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ, UBND cấp tỉnh phải có phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho người dân Với những người dân bị thu hồi đất, mục tiêu an sinh phải đặt lên cao nhất Việc bồi thường bằng tiền được xác định theo giá đất cụ thể của loại đất thu

hồi do UBND câp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi

1.3.2 Quy định của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế-xã hội

Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

“Khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét

hỗ trợ; Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật”

Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

mà không có đất nông nghiệp để bồi thường

Trang 39

+ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo,chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm

+ Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ

sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh

Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở như sau: Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm

Về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Nhằm khắc phục tình trạng một số khu tái định cư chất lượng còn thấp, không đồng bộ về hạ tầng, chưa đảm bảo có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định mới như sau:

+ Bổ sung quy định cụ thể về lập và thực hiện dự án tái định cư theo hướng: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất Quy định khu tái định

cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Quy định việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư

+ Sửa đổi và bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất ở

mà phải di chuyển chỗ ở

+ Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Ưu tiên vị trí thuận lợi

Trang 40

-Về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước

Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ nguyên tắc định giá đất phải theo mục

đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá, theo thời hạn sử dụng đất; bổ sung quy định về cơ quan xây dựng, cơ quan thẩm định giá đất, vị trí của tư vấn giá đất trong việc xác định giá đất, thẩm định giá đất và việc thuê tư vấn để xác định giá đất cụ thể Luật quy định khung giá đất do Chính phủ ban hành, định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng; bỏ quy định việc công bố bảng giá đất vào ngày 01/01 hàng năm, thay vào đó, bảng giá đất được xây dựng định kỳ 5 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ Bảng giá đất chỉ áp dụng đối với một số trường hợp thay cho việc áp dụng cho tất cả các mục đích như quy định hiện hành

Luật đã tiếp cận và thể hiện đầy đủ về vấn đề tài chính đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đảm

Ngày đăng: 21/02/2023, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai, Hà Nội, tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
2. Doãn Hồng Nhung (2017), Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn tại Thành phố Thái Bình, Chuyên đề kết quả nghiên cứu, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn tại Thành phố Thái Bình
Tác giả: Doãn Hồng Nhung
Năm: 2017
3. Lê Ngọc Thanh (2009), “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 11 (73), tháng 6-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”, "Tạp chí Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Lê Ngọc Thanh
Năm: 2009
4. Nguyễn Thị Dung (2014), “Giá đất trong Luật Đất đai năm 2013”, Tạp chí Luật học, đặc san Luật Đất đai số 11/2014, tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá đất trong Luật Đất đai năm 2013”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 2014
5. Nguyễn Thị Thu Hiền (2012), Pháp luật về giao đất, thu hồi đất đối với doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về giao đất, thu hồi đất đối với doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2012
6. Nguyễn Văn Hùng (2008), Đánh giá việc thực hiện chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc thực hiện chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2008
7. Nguyễn Vinh Diện (2006), “Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Nguyễn Vinh Diện
Năm: 2006
9. Tổng cục Địa chính (2006), “Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách quản lý và sử dụng hợp lý quỹ đất đai” Đề tài độc lập cấp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách quản lý và sử dụng hợp lý quỹ đất đai”
Tác giả: Tổng cục Địa chính
Năm: 2006
8. Thủ tướng chỉnh phủ (2012), Quyết định số 79/QĐ-TTg phê duyệt đề án sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh điện biên đến năm 2015 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w