1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội ở việt nam giai đoạn 1986 2001 thực trạng và giải pháp

90 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1986 - 2001: Thực trạng và giải pháp
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Quý
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Lịch sử kinh tế quốc dân
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ban hành chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở nước ta hơn 50 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đã có tác dụng thiết thực, làm cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên, nhữ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Qưốc DÂN

Chuyên ngành: Lịch sử kinh tế quốc dân

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Quý

HÀ NỘI 12 -2002

Trang 2

1.2.1 Hoạt động BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức 13

CHƯƠNG 2 Đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở Việt Nam giai đoạn 1986 -20011 22

2.1 Khái quát sự hình thành, phát triển chính sách và tổ chức

quản lý hoạt động BHXH ở Việt nam giai đoạn 1945 -1985 22 2.1.1 Sự hình thành và phát triển chính sách BHXH 22

2.3 Đánh giá chung hoạt động BHXH giai đoạn

Trang 3

CHƯƠNG 3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách và

tổ chúc quản lý hoạt động BHXH ở nước ta hiện nay 70

3.1 Những quan điểm chủ yếu khi xây dựng chính sách BHXH 70 3.1.1 Chính sách BHXH phải thể hiện đường lối đổi mới 70 3.1.2 Chính sách BHXH phải phù hợp với điều kiện KT-XH 71 3.1.3 Nhà nước thống nhất ban hành, quản lý chính sách BHXH 71

3.1.5 Hoàn thiện cơ chế hoạt động và tổ chức quản lý BHXH 72

3.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách và

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Bảo hiểm xã hội ( BHXH ) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động, nhằm đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết Chính sách BHXH đã được thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập nước, hơn 50 năm qua, trong quá trình tổ chức thực hiện, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện qua từng thời kỳ phát triển của đất nước Mở đầu cho chính sách BHXH ở nước

ta là Sắc lệnh số 54/SL ngày 1/11/1945 của Chính phủ ấn định những điều kiện cho công chức về hưu Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo và tổ chức thực hiện BHXH đối với người lao động Cụ thể là: Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 của Hội đồng Chính phủ ( nay là Chính phủ ) về cơ bản, Điều lệ này được áp dụng đến hết năm 1994 Nhìn chung trong giai đoạn này, hoạt động BHXH diễn ra trong cơ chế tập trung, bao cấp Những quy định thời gian, mức đóng BHXH; điều kiện và mức được hưởng của từng chế độ, mới quan tâm tới quyền lợi của người lao động, chưa tính đến khả năng cân bằng thu, chi BHXH, cũng như việc hình thành quỹ BHXH độc lập Vì vậy, kinh phí chi trả các chế độ BHXH cho người lao động hầu hết

do Ngân sách Nhà nước bao cấp; năm cao nhất lên đến 98% ( 1987 ) về tổ chức quản lý hoạt động BHXH bị phân tán, do nhiều cơ quan khác nhau đảm nhận, nên hiệu quả quản lý thấp.

Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng ( 12/ 1986 ), thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã bắt đầu quá trình chuyển từ kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường Nhiều điểm, nhiều nội dung trong các chế độ, chính sách BHXH ban hành trước đây không còn phù họp Để khắc phục tình trạng này và cụ

Trang 5

thể hoá các quy định về BHXH trong Bộ Luật lao động, ngày 26/1/1995 Chính phủ ra Nghị định số 12/CP ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội áp dụng đối với công chức, công nhân viên Nhà nước và mọi người lao động theo loại hình BHXH bắt buộc và Nghị định số 45/CP ngày 1 ^/ 7 / 1995 ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với s ĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ

s ĩ quan, binh s ĩ quân đội và công an nhân dân Đây là sự thay đổi quan trọng trong quá tr ì nh phát tr iển, hoàn thiện chính sách BHXH ở nước ta phù

hợp với cơ chế thị trường và được Tổ chức lao động quốc tế ( ILO ) đánh giá cao.

Việc ban hành chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở nước ta hơn 50 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đã có tác dụng thiết thực, làm cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên, những người phục vụ trong lực lượng vũ trang gắn bó với cách mạng, với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu tr o ng sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu đã đạt được, vẫn còn những hạn chế, cần sớm được khắc phục cả về nội dung chính sách cũng như cơ chế, tổ chức quản lý hoạt động BHXH Đây là những đòi hỏi cấp thiết đặt ra cần phải nghiên cứu để góp phần hoàn thiện chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở nước ta hiện nay.

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu của đề tài.

Chính sách BHXH liên quan đến quyền và nghĩa vụ của của hàng

tr i ệu người lao động; do vậy BHXH cũng là một tr o ng những lĩnh vực được nhiều người quan tâm tâm nhất Những nội dung về quyền, nghĩa vụ của người lao động; về tổ chức, cơ chế hoạt động và quản lý quỹ BHXH trong thời kỳ đổi mới đã được đưa ra trao đổi, bàn luận nhiều trong các cuộc hội thảo, hội nghị Trên các giác độ khác nhau những người tham gia đã đưa ra các quan điểm và chủ trương khác nhau Chẳng hạn: đứng trên giác độ bảo

vệ quyền lợi của người lao động; các ý kiến thường chỉ đưa ra yêu cầu thụ hưởng ngày càng tốt hon từ quỹ BHXH, mà chưa quan tâm đúng mức đến

Trang 6

nghĩa vụ đóng góp; hoặc về vấn đề tuổi nghỉ hưu của lao động nữ đã xuất hiện các quan điểm như: giữ nguyên như hiện nay; tăng tuổi nghỉ hưu của

nữ lên ngang với nam giới; giảm tuổi nghỉ hưu của lao động nữ Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về kết quả đạt được của chính sách BHXH trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới; những hạn chế, nguyên nhân và giải pháp khắc phục, nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở Việt Nam hiện nay

Từ các lý do trên, tôi đã chọn đề tài:

" Đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1986 - 2001 Thực trạng và giải pháp "

2 Mục đích nghiên cứu.

Từ nghiên cứu thực trạng đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH để rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và những bài học kinh nghiệm, là cơ sở góp phần tiếp tục hoàn thiện chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở nướcta hiện nay.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

- Luận văn lấy quá trình đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở nước ta làm đối tượng nghiên cứu.

- Phạm vi nghiên cứu: BHXH là vấn đề lớn có thể xem xét trên nhiều khía cạnh Trong phạm vi này, Luận văn chủ yếu tập trung vào vấn đề chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH trong giai đoạn 1986 - 2001.

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật lịch sử và duy vật biện chứng.

- Kết hợp chặt chẽ giữa giữa phương pháp lịch sử và lôgic.

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích thống kê, điều tra xã hội học, phương pháp so sánh

5 Những đóng góp khoa học và thực tiễn của Luận văn.

- Góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về BHXH và những kinh nghiệm thực tiễn của một số nước.

Trang 7

- Làm rõ thực trạng đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở nước ta, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm.

- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở nước ta.

6 Kết cấu của Luận văn: ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của một

1.1 Một sô lý luận chung về BHXH.

1.1.1 Tính tất yếu của BHXH.

Cũng như các chính sách kinh tế - xã hội khác, sự hình thành chính sách xã hội luôn bắt nguồn từ những vấn đề do thực tiễn đặt ra Thời cổ đại,

để đảm bảo cuộc sống và chống chọi với thiên nhiên, con người thường phải

tự lực là chính và có thêm sự giúp đỡ, tương trợ nhau những lúc gặp khó khăn, rủi ro Sự tương trợ lúc này chỉ mang tính tự phát, theo bản năng và trong một cộng đồng nhỏ, thường là trong một gia đình, hoặc một nhóm gia đình.

Xã hội loài người phát triển, khi chuyển sang giai đoạn có phân công lao động, sản xuất xã hội lúc này đã phát triển, quan hệ tác động lẫn nhau giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng cũng phát triển hơn Tôn giáo bắt đầu xuất hiện, các thánh địa, nhà thờ, trại bảo dưỡng được thiết lập nhằm đạt được các mục đích chung của từng tổ chức, trong đó luôn có mục đích từ

Trang 8

thiện, trợ giúp các tín đồ khi gặp khó khăn, rủi ro H ì nh thức tương trợ lẫn nhau thời kỳ này đã mang tính tổ chức và có những quy định cụ thể hơn.

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XVIII, lực lượng sản xuất đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố phát tr i ển của một ngành công nghiệp, lúc này hàng loạt người dân ở các vùng nông thôn vì các lý do khác nhau đã di cư ra thành thị để kiếm việc làm và dần trở thành công nhân Với mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao động, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, t ì nh đoàn kết tương thân giữa những người làm thuê nảy nở dần ở một số nước Châu Âu, những quỹ tương trợ đã được thành lập, tại nước Anh, năm 1793 có Hội bằng hữu giúp đỡ hội viên khi bị

ốm đau, thương tật trong quá trình sản xuất.

Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp, lúc này số công nhân công nghiệp đông dần lên, giai cấp công nhân công nghiệp gồm những nông dân thoát ly từ nông nghiệp, nông thôn, từ sản xuất tự cung tự cấp, nay trở thành người làm công ăn lương, chỉ dựa vào tiền lương làm nguồn sống chủ yếu,

có việc làm mới có lương để sống, cho dù đó chỉ là những đồng lương ít ỏi, nếu ốm đau, tai nạn mất việc làm , thì cuộc sống của họ lập tức bị đe doạ.

Nhằm giảm thiểu nỗi lo âu đó, nhiều hình thức trợ giúp xã hội đã nối tiếp nhau ra đời Bên cạnh những Hội tương tế còn có những Quỹ tiết k i ệm được Nhà nước khuyến khích thành lập Những quy định bắt buộc người sử dụng lao động phải chu cấp cho người lao động thuộc quyền quản lý khi bị

ốm đau,tai nạn lao động, mất việc làm Những tổ chức Bảo hiểm xã hội của tư nhân, Bảo hiểm sinh mạng và chi phí tang lễ cũng xuất hiện ngày càng nhiều Giai cấp công nhân càng đông đảo, nhiều sức ép đòi hỏi phải bảo vệ quyền lợi của người lao động đã tác động ảnh hưởng lớn đến đời sống chính tr ị , xã hội của các quốc gia, Chính phủ các nước, nhất là các nước công nghiệp, buộc họ không thể không quan tâm đến t ì nh cảnh của người lao động, phải từng bước cải thiện điều kiện lao động, rút ngắn thời gian làm việc tr o ng ngày, có chế độ và hình thức thích họp hơn để tỏ ra có chăm sóc đến người làm công ăn lương Điển hình, năm 1850, dưới thời

Trang 9

Thủ tướng Bismark, nhiều bang của nước Đức đã giúp các địa phương thành lập quỹ bảo hiểm ốm đau do người công nhân phải đóng tiền để được trợ giúp lúc rủi ro Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc chính là bắt nguồn từ đây và người được bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm.

Sáng kiến về đóng phí bảo hiểm của Chính quyền Bismark đã được nhiều nước Châu Âu tiếp nhận từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX, sau đó liên tiếp các nước Châu Mỹ La Tinh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Canada đều áp dụng.

Trên cơ sở thực tiễn áp dụng các cơ chế đa dạng bảo vệ người lao động, giảm thiểu những khó khăn, rủi ro; tháng 4 - 1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO ) đã thông qua Công ước số 102 về an toàn xã hội ( quy phạm tối thiểu ), trong đó BHXH là một cơ chế chủ yếu.

1.1.2 Khái niệm BHXH.

Qua quá trình hình thành chính sách BHXH, chúng ta nhận thấy, lúc khỏi đầu, BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, dần dần do nhu cầu thực tiễn, các quy định, chính sách BHXH lần lượt ra đời ở các quốc gia khác nhau Việc ra đời các luật BHXH một mặt nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhưng mặt khác nó cũng mang lại lọi ích cho giới chủ Chính lợi ích hai mặt này đã góp phần không nhỏ để chính sách BHXH nhanh chóng được thực hiện ở các quốc gia Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất

về BHXH, ở nước ta, căn cứ vào tính chất, mục đích của BHXH, Từ điển bách khoa Việt Nam đã định nghĩa:

" Bảo hiểm xã hội là sự đảm hảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của cấc bên tham gia BHXH, có sự hảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm

an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần hảo đảm an toàn xã hội "

Qua khái niệm BHXH, ta thấy nổi lên hai điểm:

Trang 10

- BHXH được thực hiện theo quy định của pháp luật, nếu trước kia BHXH được hình thành một cách tự phát, thì sau này sự tự phát đó đã được thay thế bằng những chính sách, những quy định cụ thể của mỗi nước, những chính sách, những quy định này là tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của mỗi nước ở từng thời kỳ.

- Nguồn tài chính để thực hiện BHXH là sự đóng góp bắt buộc của người được bảo hiểm, người sử dụng lao động và sự bảo trợ của Nhà nước

Cả hai nguồn hình thành này là hết sức quan tr ọ ng, nếu sự đóng góp bắt buộc của người lao động và chủ sử dụng lao động tạo nên quỹ BHXH thì sự bảo trợ của Nhà nước tr o ng các trường hợp tỷ lệ lạm phát lên cao, sức mua của đồng tiền bị giảm sút cũng không kém phần quan trợng để bảo toàn quỹ.

1.13 2 Phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người lao động tham gia BHXH, quá tr ì nh này diễn ra theo hai cách:

+ Thứ nhất là phân phối lại thu nhập theo chiều ngang giữa những người lao động trẻ, khoẻ và những người lao động già yếu; giữa người lao động đang làm việc với những người lao động đã nghỉ hưu, giữa những người độc thân và những người lao động có thân nhân phải nuôi dưỡng; giữa một bên là người lao động thường xuyên đóng BHXH nhưng chưa gặp rủi ro nên chưa hưởng, một bên là những người có đóng BHXH nhưng gặp

Trang 11

rủi ro như ốm đau; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được trợ cấp trước,

lúc này số tiền đóng BHXH của mọi người được chuyển giao cho một số ít

người gặp rủi ro.

+ Thứ hai, là sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc, quá trình

phân phối này được thực hiện giữa người có thu nhập cao và người có thu

nhập thấp Thông thường những người có thu nhập cao, mức đóng phí

BHXH của họ cũng cao, trong khi đó, điều kiện ăn uống, sinh hoạt của họ

đầy đủ hơn những người có thu nhập thấp, do vậy họ ít bị ốm đau hoặc các

rủi ro khác so với những người có thu nhập thấp Sự chuyển giao tiền và sức

mua của tầng lớp có thu nhập cao sang tầng lớp có thu nhập thấp thông qua

phân phối lại theo chiều dọc là một mục tiêu quan trọng của chính sách

kinh tế - xã hội hiện đại.

1.1.3.3 Gắn lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động

với Nhà nước, điều này càng đặc biệt quan trọng trong điều kiện kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Vì trên thực tế, nếu

người lao động được bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra, họ sẽ yên

tâm trong lao động, sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cho

xã hội Ngược lại, người sử dụng lao động có phải bỏ ra một khoản phí

đóng BHXH cho người lao động, thì bù lại họ nhận được những sản phẩm

có chất lượng cao, giá thành rẻ từ người lao động Mặt khác, nếu không có

sự can thiệp, quản lý của Nhà nước thông qua chính sách BHXH, thì trong

nhiều trường hợp, người lao động bị đẩy ra khỏi cơ quan, doanh nghiệp mà

không nhận được một sự bảo vệ quyền lợi nào Vì vậy, thông qua chính

sách BHXH, mối quan hệ người sử dụng lao động, người lao động và Nhà

nước càng thêm chặt chẽ, gắn bó hơn.

1.1.3.4 Đảm bảo an toàn xã hội, gắn bó người lao động với xã hội

Dưới bất cứ một xã hội nào cũng vậy, người lao động khó tránh khỏi những

rủi ro trong quá trình lao động và chính lúc này, nguồn thu nhập của họ bị

mất hoặc bị giảm sút, cần phải được sự trợ giúp Nếu trước đây, sự trợ giúp

này mang tính tự phát, thì khi xã hội ngày càng phát triển, việc trợ giúp này

Trang 12

đã dần được cụ thể hoá bằng các chế độ, chính sách cụ thể và do một hay một số tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm, nhằm đảm bảo sự an toàn cho người lao động và gia đình họ Chính sự đảm bảo này đã gắn bó người lao động với xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của người lao động với xã hội.

1.1.4 Nguyên t ắc hoạ t động IÌ I IXH

1.1.4.1 , BHXH hoạt động theo nguyên tắc đóng, hưởng, chia sẻ ri u ro; lấy số ' đông, bù số ' ít, lấy của người đang làm việc trả cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH Đối với nước ta, khi nền kinh tế ' chuyển từ cơ chế tập

tr u ng bao cấp sang cơ chế thị trường thì nguyên tắc này là hết sức cần thiết,

vì chỉ có như vậy mới thực sự hình thành được quỹ BHXH, giảm "g ánh nặng" cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động tham gia BHXH.

1.1.4.2 , Mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tố i thiểu cho người hưởng BHXH Việc quy định mức hưởng phải thấp hơn tiền lương là nguyên tắc bắt buộc của tất cả các nước, song thấp bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi nước ở các thời kỳ khác nhau Nước ta quy định không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

1.1.4.3 , Quỹ BHXH phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong chính sách BHXH của các nước và càng đặc biệt nổi bật lên trong điều kiện của nước ta, bởi vì nếu không thực hiện như vậy, quỹ BHXH lại nhanh chóng trở về thời kỳ trước năm 1995, nghĩa là chỉ tồn tại trên danh nghĩa Nguyên tắc tự chủ tài chính mặc dù hết sức quan trọng, nhưng về thực chất cũng chỉ là tương đối và khi áp dụng thì bị giới hạn trong hai quy tắc chủ yếu:

+ Thứ nhất: Các nguồn của quỹ BHXH chỉ được sử dụng vào những

mục đích do luật định như: chi các loại trợ cấp do luật định, phòng ngừa rủi

ro và những chi phí quản lý cần thiết khác, nghĩa là tránh bị phân tán, sử

Trang 13

dụng vào những mục đích khác, dù các mục đích đó có chính đáng hoặc

cấp bách đến đâu Quy tắc này có tính mệnh lệnh, không có gì phải bàn cãi.

+ Thứ ha i : Các nguồn dự trữ của quỹ phải được đưa vào đầu tư để

bảo toàn giá trị và tăng tr ư ởng quỹ Việc đầu tư của quỹ phải đảm bảo các

yêu cầu sau:

* An toàn: Mục đích của quỹ BHXH là đảm bảo chi trả lương hưu

và trợ cấ p BHXH cho người lao động Vì vậy, quỹ BHXH dù có đầu tư vào

lĩnh vực nào cũng phải đảm bảo an toàn cho khoản đầu tư đó Đảm bảo an

toàn không phải chỉ là bảo toàn được vốn đầu tư về danh nghĩa, mà còn là

bảo toàn được cả giá tr i thực tế của đầu tư, điều này càng đặc biệt quan

trọng trong các thời kỳ có lạm phát, giá sinh hoạt tăng lên khiến sức mua bị

giảm sút và phải điều chỉnh lại lương hưu Nói cách khác để đảm bảo an

toàn cho quỹ BHXH thì phải lựa chọn lĩnh vực đầu tư để giảm thiểu rủi ro.

* Hiệu quả: Hiệu quả của đầu tư (lãi đầu tư ) là sự tăng lên toàn bộ

giá tr ị đầu tư được tính trong một giai đoạn nhất định, thường là một năm

Lãi đầu tư làm tăng thu cho quỹ BHXH, đồng thời cho phép hạ tỷ lệ đóng

góp hoặc ít nhất cũng không làm tăng tỷ lệ đóng góp của người lao động và

người sử dụng lao động.

* Khả năng thanh toán, hay tính lưu chuyển của vốn: yêu cầu này

trực tiếp liên quan đến dự kiến lưu chuyển tiền mặt trong thu, chi của mỗi

loại chế độ BHXH Bất kỳ một vố n đầu tư nào từ nguồn dự trữ của quỹ

BHXH, đều phải sẩn sàng đổi thành tiền mặt và có thể rút được tiền một

cách nhanh chóng, tránh cho những khoản đầu tư vướng vào những vấn đề

tồn khoản.

* Có ích cho kinh tê ' và xã hội , là một quỹ tài chính để thực hiện

chính sách xã hội, do đó tr o ng quá tr ì nh đầu tư phải lưu ý đến việc nâng cao

phúc lợi cho dân cư, phải ra sức cải thiện chất lượng chung cho cuộc sống

của đất nước.

1.1.5 Quy đị nh củ a T ổ ca ức Lao c ộng Q uốc Cnự L ct) v ề h ệ t hêc hệ

chính sách BHXH

Trang 14

Trong bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948, Điều 22 có viết:

" Mọi người với tư cách là thành viên trong xã hội đều có quyền BHXH Quyền BHXH được xây dựng trên cơ sở thoả mãn các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội Tất cả các quyền này là yếu tố không thể thiếu được đối với nhân phẩm cũng như đối với sự phát triển tự do của nhân cách mỗi cá nhân, nhờ nỗ lực của quốc gia và nỗ lực hợp tác quốc tế, trong đó bao gồm

cả tổ chức và nguồn lực của mỗi quốc gia1'.

Thông điệp trên đây của Liên hiệp quốc đã khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của chính sách BHXH là không thể thiếu được trong mỗi quốc gia và trong cộng đồng quốc tế Sau Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên hợp quốc, là Công ước số 102 quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội có hiệu lực thi hành từ 27/4/1952 đã đưa ra 9 chế độ BHXH, bao gồm:

- Trợ cấp tuổi già

- Trợ cấp thất nghiệp

- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trang 15

về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm quản lý trên cơ sở đóng góp của các

tổ chức, cá nhân góp phần cho quá trình tái sản xuất diễn ra bình thường và đảm bảo đời sống của người tham gia khi bị thiệt hại.

Giữa BHXH và Bảo hiểm thương mại có những điểm giống và khác nhau chủ yếu sau:

- Điểm giống nhau: đối tượng được bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm; lấy số đông bù số ít, chia sẻ rủi ro; mục đích của cả hai loại hình bảo hiểm là góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho người tham gia và an toàn

xã hội.

- Điểm khác nhau: chủ yếu nhất là ở tính chất và phương thức hoạt động Tính chất kinh doanh và phương thức hoạt động của bảo hiểm thương mại thể hiện rất rõ, lãi suất được tính vào cơ cấu chi phí toàn phần của mỗi nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể Ngoài ra bảo hiểm thương mại còn có thể tham gia tái bảo hiểm với các công ty bảo hiểm của các nước trên thế giới để duy trì hiệu quả hoạt động và tránh những rủi ro lớn về quan hệ bảo hiểm chỉ phát sinh và tồn tại trong một khoảng thời gian xác định và chủ yếu là tự nguyện Trong thời gian xác định đó nếu đối tượng được bảo hiểm không gặp rủi ro, thì phần đóng góp của đối tượng hoàn toàn thuộc về công ty bảo hiểm ( trừ loại hình bảo hiểm nhân thọ ) Trong khí đó BHXH không được tính lãi trong cơ cấu chi phí toàn phần và chỉ được phép sử dụng phần tiền nhàn rỗi tương đối của quỹ để đầu tư nhằm tăng thêm khả năng tài chính của quỹ trong việc chi trả các chế độ BHXH Quan hệ BHXH là quan hệ lâu dài theo nguyên tắc đóng, hưởng; đóng trước hưởng sau, tương đối ổn định

Trang 16

và chủ yếu là bắt buộc dựa trên quan hệ lao động và quan hệ phân phối Quỹ tài chính của BHXH được tồn tích và sử dụng liên tục qua các thế hệ dưới sự bảo trợ chặt chẽ của Nhà nước.

1.2 Kinh nghiệm thực tiễn của một sô nước về hoạt động BHXH Tính đến năm 1993, có 163 nước thực hiện chính sách BHXH, trong

đó số các nước thực hiện chế độ hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản

là nhiều nhất (155 nước, chiếm 95% ), ít nhất là chế độ trợ cấp thất nghiệp ( 63 nước, chiếm 38,6% ) Việc thực hiện một hoặc một số chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH do Tổ chức Lao động quốc tế quy định là tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước Tuy nhiên, xu hướng chung là các nước đều cố gắng thực hiện ngày càng đầy đủ hơn các chế độ đã được quy định trong Công ước số 102 về an toàn xã hội Đối với nước ta, mặc dù chưa tham gia Công ước 102, nhưng trên thực tế chúng ta

đã thực hiện 5/9 chế độ theo quy định của ILO, ngoài ra, do đặc thù của đất nước, chúng ta còn mở rộng thêm chế độ mất sức lao động và thực hiện nó suốt từ năm 1962 - 1993 Để thấy được một cách khái quát hoạt động BHXH trên thế giới, chúng ta có thể điểm qua hoạt động BHXH của một số nước sau:

1.2.1 Hoạt động BHXH của Cộng ỉioà Liên bang Đức.

So với các nước trên thế giới, Cộng hoà Liên bang Đức là nước có lịch sử ra đời và phát triển BHXH sớm nhất Ngay từ năm 1850, dưới thời Thủ tướng Bismark, Điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời và thực hiện ở nước Đức Cho đến nay, chính sách BHXH ở Đức bao gồm các chế độ cụ thể sau:

- Bảo hiểm thất nghiệp.

- Bảo hiểm y tế.

- Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ cho người già và người tàn tật.

- Bảo hiểm ốm đau.

- Bảo hiểm tai nạn lao động.

- Bảo hiểm hưu trí.

Trang 17

Hoạt động BHXH ở Cộng hoà Liên bang Đức thực hiện theo 3 trụ cột chính là:

lý Dưới đây chúng ta có thể thông qua hoạt động của Quỹ hưu trí viên chức Liên bang để hình dung ra phần nào hoạt động BHXH ở Cộng hoà Liên bang Đức.

Quỹ hưu trí viên chức Liên bang là 1 trong 27 tổ chức hoạt động trên lĩnh vực bảo đảm chế độ hưu trí cho người lao động ở Cộng hoà Liên bang Đức Cơ quan quản lý cao nhất của nó là gồm một Hội đồng gồm 60 người, trong đó có 30 người của giới chủ và 30 người của tổ chức công đoàn đại diện cho người lao động Hội đồng này bổ nhiệm Ban điều hành, từ Ban điều hành sẽ quyết định tuyển chọn cán bộ, công nhân viên chức làm việc cho tổ chức ( năm 2001, tổ chức này có 27.000 cán bộ, công chức ) Hoạt động tài chính trong năm của Quỹ hưu trí viên chức Liên bang diễn ra như sau:

Vào mùa hè hàng năm, các chuyên gia của Chính phú Liên bang, Tổ chức BHXH, Tổng cục Thống kê dự kiến nhu cầu tài chính của năm tới theo

Trang 18

phương pháp ước tính: căn cứ vào những số liệu của Tổng cục Thống kê có liên quan đến số người lao động đang làm việc, số ' người đang nhận lương hưu, ước tính số người sẽ tham gia BHXH và nhận lương hưu vào năm tới, cũng như những số liệu về thất nghiệp, ốm đau, tử vong xảy ra và các số liệu kinh tế quốc dân v ĩ mô khác để ước tính tỷ lệ thu, chi tài chính cho năm tới Trên cơ sở này, vào mùa thu, Chính phủ Liên bang sẽ đưa ra quyết định chính thức về tỷ lệ thu, chi tài chính trong năm tới là bao nhiêu bằng một Nghị định có hiệu lực pháp luật Đến đây, công việc của Quỹ hưu trí viên chức Liên bang mới thực sự bắt đầu, từ thu phí BHXH đến chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu theo quy định của Chính phủ.

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, ngoài các tổ chức quản lý hoạt động BHXH của Nhà nước, còn có các tổ chức của tư nhân, xí nghiệp đứng ra thực hiện các chế độ BHXH Điểm đặc biệt của hoạt động BHXH ở Cộng hoà Liên bang Đức là quỹ BHXH thông thường chỉ đủ dùng để chi trả cho các đối tượng hưởng BHXH trong năm; chi cho hoạt động của bộ máy quản

lý và một khoản để dự trữ gọi là dự trữ trần Do sự ổn định của nền kinh tế

và sức mua của đồng t i ền, nên khoản dự trữ trần thường là chỉ đủ để chi cho các đối tượng do quỹ đảm bảo trong một tháng, từ năm 2001 rút xuống chỉ còn 0,8 tháng Vì vậy khái niệm quỹ BHXH không tồn tại ở Cộng hoà Liên bang Đức.

Cộng hoà Liên bang Đức không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm thu, chi cho một chế độ nhất định Điểm đáng lưu ý về chính sách BHXH ở Cộng hoà Liên bang Đức là những người được gọi là Công chức Nhà nước ( những người được đề cử vào bộ máy quản lý Nhà nước ) không phải là đối tượng đóng BHXH, nhưng họ được nhận lương hưu khi hết tuổi lao động, khoản này Nhà nước lấy từ nguồn thu thuế để trả Hiện nay, tuổi nghỉ hưu của người lao động ở Cộng hoà Liên bang Đức đối với nam là 65 tuổi, nữ là 55 tuổi.

1.2.2 Hoạ t độn g BHXH c ủa T há i Lan

Trang 19

Cho đến nay, Thái Lan vẫn còn hai Luật An sinh xã hội (tức BHXH) đang cùng có hiệu lực Một đạo luật ban hành năm 1990, và một Đạo Luật ban hành năm 1994 (sửa đổi, bổ sung một số điều trong Đạo Luật năm

1990 và được gọi chính thức là Luật An sinh xã hội thứ 2).

Về các chế độ BHXH, Điều 54, Luật An sinh xã hội năm 1990 quy định 7 chế độ gồm:

- Chế độ hưởng về thương tật hoặc ốm đau.

Trang 20

Biếu số 1.1 MỨC ĐÓNG GÓP

( Nguồn: Luật An sinh xã hội của Thái Lan )

Việc quy định người tham gia BHXH không thống nhất ở các chế

độ, cụ thể: đối với các chế độ trợ cấp mất khả năng lao động, hưu trí, tử tuất

ốm đau và thai sản, những người bắt buộc phải tham gia là những người làm việc trong các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên, còn đối với chế độ tai nạn lao động là những người làm việc trong các ngành công nghiệp hoặc các hãng thương mại có từ 10 lao động trở lên, các ngành khác không bắt

Trang 21

buộc Tuổi nghỉ hưu ở Thái Lan quy định chung cho cả nam và nữ đối với các viên chức chính phủ từ Trung ương đến địa phương; với quân đội, cảnh sát là 60 tuổi; các đối tượng khác là 55 tuổi Điểm đáng lưu ý ở đây là, Luật

An sinh xã hội không áp dụng đối với các quan chức Chính phủ và các viên chức thường xuyên, các viên chức tạm tuyển làm việc theo ngày và theo giờ của chính quyền Trung ương, chính quyền tỉnh và chính quyền địa phương; trừ các viên chức tạm tuyển làm việc theo tháng Các đối tượng này được điều chỉnh bằng một đạo luật khác, theo đó họ chỉ phải đóng 3% tiền lương tháng để nhận được chi phí điều trị khi ốm đau và lương hưu do Chính phủ đảm bảo sau khi đã đủ các điều kiện về tuổi đời và thời gian phục vụ.

Về tổ chức quản lý hoạt động BHXH: Với các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thuộc khu vực tư nhân, do cơ quan An sinh xã hội thuộc Bộ Lao động và Phúc lợi đảm nhận Các quan chức chính phủ do quỹ hưu trí quốc gia đảm bảo.

1.2.3 H oạ t động B H XH của Trung Quốc.

Ngay sau khi thành lập nước, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành một loạt những biện pháp có hiệu quả giải quyết thành công tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng do Chính quyền Tru n g Quốc cũ để lại và đảm bảo cuộc sống cơ bản cho người dân Để tăng cường phát tr i ển kinh tế và ổn định xã hội, dần dần nâng cao mức sống và lợi ích an toàn xã hội của công dân nói chung, Chính phủ Trung Quốc đã rấ ' t cố gắng thiết lập một hệ thống

an toàn xã hội vững chắc và phù họp với kinh tế thị tr ư ờng Xã hội chủ nghĩa Sau những năm t ì m tòi và thực hiện, một hệ thống an toàn xã hội về

cơ bản đã được thiết lập, chủ yếu bao gồm BHXH, cứu trợ xã hội, phúc lợi

xã hội và trợ giúp xã hội; trong đó chính sách BHXH giữ một vai trò quan trọng.

Về cải cách hệ thống BHXH, ngày 5/7/1994, uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thông qua Luật Lao động và có hiệu lực từ 1 / 1 / 1995, trong đó có chương IX quy định về bảo hiểm và phúc lợi xã hội, gồm 7 điều Điều 73 quy định 5 chế độ BHXH là: Him tr í , bệnh

Trang 22

tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp và sinh đẻ Luật chỉ quy định những nguyên tắc chung nhất, còn quy định cụ thể thì giao cho chính quyền các tỉnh, khu tự tr ị , thành phố trực thuộc Trung ương đề ra những biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Các chế độ BHXH nói trên chỉ áp dụng ở khu vực thành thị và ở các doanh nghiệp Đến nay, các địa phương ở Trung Quốc đã cụ thể hoá các chế độ, trong đó có 2 chế độ là hưu trí ( nay là dưỡng lão ) và bảo hiểm thất nghiệp đã được xây dựng thành Điều lệ Các chế độ khác về cơ bản còn là các quy định tạm thời nhưng hiệu lực cũng khá cao về nguyên tắc, mỗi chế

độ có một quỹ ri êng Nguồn quỹ gồm hai khoản: Một khoản do chủ sử dụng lao động nộp và một khoản do người lao động đóng Riêng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động thì do chủ doanh nghiệp đóng, người lao động không phải đóng Chỉ khi nào mất cân đối thu, chi do các nguyên nhân bất khả kháng, Nhà nước mới hỗ trợ từ Ngân sách cho các quỹ, còn bình thường các doanh nghiệp và người lao động phải tự đảm bảo Nói chung, các quỹ đều được chia làm hai phần: Phần thứ nhất được đưa vào tài khoản cá nhân gồm

toàn bộ số tiền do người lao động đóng và một phần do chủ sử dụng lao động đóng; Phần thứ hai là số tiền do chủ doanh nghiệp đóng sau khi đã

tr í ch một phần đưa vào tài khoản cá nhân của người lao động, đây là phần quỹ chi chung trong những trường hợp cần thiết.

Ta có thể hiểu được hoạt động BHXH ở Trung Quốc qua một chế độ

cụ thể: chẳng hạn chế độ hưu trí ( chế độ dưỡng lão ) Vói nguyên tắc như trên, thành phố Thượng Hải quy định cụ thể như sau:

- Mức đóng vào quỹ: Hàng tháng chủ doanh đóng 22,5% tiền lương của người lao động, người lao động đóng 6% tiền lương của mình Như vậy, trong tài khoản ri êng ( tài khoản cá nhân ) của mỗi người lao động có 6%

do họ đóng và 5% được tr í ch từ 22,5% do chủ doanh nghiệp đóng, tất cả là 11% Khoản sử dụng chung còn lại là 17,5% (22,5% - 5%) Người lao động khi về hưu hàng tháng được hưởng như sau: 20% mức lương trung bình trong cả thời gian làm việc, cộng với 1 / 120 số tiền có tr o ng tài khoản cá

Trang 23

nhân ( dự kiến người về hưu hưởng trung bình khoảng 10 năm, tức 120 tháng ) Nếu những người "tiếp nối" giữa hai chế độ ( trước cải cách và từ cải cách trở đi ) thì cộng thêm phần quá độ, vì chế độ hiện hành mới có từ sau năm 1992 trở lại đây Trường hợp người về hưu chết, nhưng tiền trong tài khoản cá nhân vẫn còn, thì vợ, chồng, con cái ( người thừa kế ) được hưởng; nghĩa là, tiền còn trong tài khoản cá nhân, thì họ và gia đình họ sẽ được hưởng hết.

Sau nhiều năm thực hiện chương trình Bảo hiểm tuổi già ( hưu trí), ở Trung Quốc, các cán bộ, công nhân việc chức tham gia đã tăng từ 86,7 triệu người vào năm 1977 đến 108,02 triệu người vào năm 2001 Vì vậy, con số những người được nhận lương hưu cơ bản cũng tăng lên từ 25,33 triệu đến 33,81 triệu, với mức lương hưu cơ bản trung bình hàng tháng của từng người tăng từ 430 tệ lên 556 tệ ( khoảng 950.000 Việt Nam đồng ) vào các năm tương ứng.

Từ năm 1991, Trung Quốc bắt đầu triển khai hệ thống Bảo hiểm tuổi già ở một số vùng nông thôn, với nguyên tắc cơ bản là tiền đóng BHXH chủ yếu do người lao động phải tự đóng, ngoài ra được phụ thêm bằng quỹ vốn chung của tập thể và được hỗ trợ bởi các chính sách khác của Chính phủ Tuổi nghỉ hưu ở Trung Quốc tương tự ở nước ta, nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; riêng công nhân thì nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi.

- Vê tổ chức quản lý hoạt động BHXH, từ năm 1949 các chế độ

BHXH bị phân tán và do nhiều cơ quan của Chính phủ đảm nhiệm, chỉ từ năm 1998 trở lại đây mới thành lập Bộ Lao động và An sinh xã hội để quản

lý chế độ, chính sách BHXH, còn việc thực hiện cụ thể lại do từng địa phương thực hiện.

Qua kinh nghiệm thực tiễn hoạt động BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức, Thái Lan và Trung Quốc, có thè rút ra một số nhận xét sau:

- Các nước luôn cố gắng thực hiện ngày càng nhiều và tốt hơn các chê độ BHXH nhằm đáp ứng những yêu cầu thiết yếu của người lao động khi gặp rủi ro, bị giảm hoặc mất thu nhập.

Trang 24

- Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, các nước có những quy định cụ thể khác nhau về mức đóng, điều kiện được hưởng và mức hưởng.

- Tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở các nước khác nhau cũng khác nhau, không có mô hình chung cho các nước; thông thường mỗi chế độ BHXH đều do một tổ chức thực hiện, ít có tổ chức thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ khác nhau.

- Riêng đối với Trung Quốc, mặc dù mới chỉ áp dụng một số chế độ BHXH ở khu vực thành thị và các doanh nghiệp, nhưng chính sách BHXH của họ đã thể hiện rõ một số mặt tích cực sau:

+ Đối với người lao động từ khi bắt đầu đi làm cho đến một thời gian nào đó, họ hoàn toàn có thể biết được mình có bao nhiêu tiền trong tài khoản cá nhân của họ về BHXH Số tiền đó dù tr ư ớc, dù sau ( nhất là trong tài khoản dưỡng lão ) họ hoàn toàn được hưởng, nên tự họ có sự điều chỉnh,

sử dụng thế nào cho có hiệu quả nhất, do đó cơ bản tránh được t ì nh trạng phân bì người đóng ít hưởng nhiều, đóng nhiều hưởng ít hoặc không hưởng Người lao động biết được, ngoài số tiền do họ đóng thuộc sở hữu cá nhân của họ, họ còn được hưởng một phần từ đơn vị sử dụng lao động và từ quỹ chung, nên họ hăng say làm việc và đóng góp, hiện tượng chậm nộp hoặc trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH là rất hãn hữu.

+ Về chi trả, vì mỗi người đã có một tài khoản cá nhân, nên khi đủ các điều kiện để được hưởng BHXH, họ chỉ việc đến Ngân hàng hoặc Bưu điện để nhận tiền Nói cách khác, Ngân hàng và bưu điện chịu trách nhiệm chi trả các khoản BHXH, không cần đến một hệ thống chi trả đông người, nhiều biên chế, khó bảo đảm an toàn tiền mặt.

+ Mặc dù giao quyền trực tiếp cho các địa phương chủ động thực hiện chính sách BHXH, nhưng Nhà nước vẫn có vai trò rất quan trọng trong quản lý hoạt động BHXH, thông qua việc định hướng, xây dựng pháp luật, chính sách, khi cần thiết mới hỗ trợ từ Ngân sách cho các quỹ Đồng thời, thực hiện nghiêm ngặt việc thanh tra, kiểm tra.

Trang 25

Với cách quy định mức nộp, mức hưởng, tài khoản cá nhân, quỹ sử dụng chung như đã trình bày, Nhà nước, chủ doanh nghiệp và người lao động đều thấy khá rõ phần nào thuộc về ai, nên đã cơ bản khắc phục được tình trạng sử dụng sai mục đích, lẫn lộn giữa các quỹ của chế độ này sang quỹ của chế độ khác, hoặc bị thất thoát.

CHƯƠNG 2ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH VÀ Tổ CHỨC QUẢN LÝ

HOẠT ĐỘNG BHXH ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 2001

So với các lĩnh vực khác, hoạt động BHXH ở Việt Nam có những đặc thù riêng Vì vậy, để hiểu được quá trình đổi mới chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH giai đoạn 1986 - 2001, trước hết cần nắm được những nét chung về hoạt động BHXH giai đoạn trước 1986.

2.1 Khái quát sự hình thành, phát triển chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985.

Chính sách BHXH thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập nước Tuy nhiên, do những điều kiện khó khăn về tài chính và trình độ

tổ chức thực hiện, nên lúc đó chính sách BHXH mới chỉ là những quy định riêng biệt cho một số chế độ cụ thể nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn Chỉ đến khi Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH tạm thời về các chế độ BHXH theo Nghị định số 218/CP ngày 27/2/1961, chính sách BHXH mới được thực hiện một cách tương đối đồng bộ và cơ bản đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của người lao động khi gặp những rủi ro, khó khăn trong quá trình làm việc.

2.1.1 Sự hình thành và phát triển chính sách BHXH.

2.1.1.1 Giai đoạn 1945 -1961.

Do tính chất quan trọng của chính sách BHXH đối với người lao động, nên ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù phải giải quyết rất nhiều công việc hệ trọng liên quan trực

Trang 26

tiếp đến vận mệnh của đất nước, Chính phủ cách mạng đã áp dụng chế độ hưu trí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã làm việc dưới thời Pháp, sau đó theo kháng chiến nay đã già yếu Sau cách mạng tháng Tám thành công, do điều kiện kinh tế rấ t khó khăn, nên chế độ này chỉ được thực hiện đến năm 1949.

Năm 1950, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành quy chế công chức và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chế công nhân Theo các sắc lệnh trên, quyền lợi công chức, công nhân về chế độ hưu trí như sau:

- Điều 42, Sắc lệnh số 76/SL ghi rõ: " công chức của ngạch thuộc hạng thường trú được về hưu khi đủ 30 năm công tác hay đủ 55 tuổi; đối vói công chức thuộc hạng lưu động được nghỉ hưu khi đủ 50 tuổi hay 25 năm làm việc".

- Điều 42, Sắc lệnh số 77/SL ghi: "c ông nhân làm việc được 30 năm hoặc đủ 55 tuổi được về hưu".

Nhưng cũng do tình hình kinh tế, tài chính của Nhà nước giai đoạn này khó khăn, nên những quy định tr ê n cũng chỉ được thực hiện cho những công chức già yếu về nghỉ chỉ được hưởng trợ cấp 1 lần vói mức 1 năm công tác được 1 tháng lương và phụ cấp, nhưng tối đa không quá 6 tháng lương ( Điều 35, sắc lệnh số 77/SL ).

Đối với những người mất sức lao động sau ngày hoà bình lập lại (7/1954), công nhân viên chức mất sức lao động do ốm yếu được trợ cấp một lần theo Nghị định số 594/NĐ ngày 11 / 12 / 1957 của Chính phủ với mức bằng 100.000 đồng nếu tham gia kháng chiến, bằng 1 tháng lương đối với công chức lưu dung.

Nhìn lại chính sách BHXH ban hành giai đoạn này thấy rằng: Do các chính sách được xây dựng và đưa vào thực hiện ngay sau khi dành được độc lập và sau ngày hoà bình lập lại, trong hoàn cảnh kháng chiến, kinh tế nước nhà còn nhiều khó khăn, nên chưa bao quát hết những rủi ro, khó khăn mà người lao động phải gánh chịu Mặt khác ngay khi đã có chế độ, chính sách

Trang 27

BHXH nhưng cũng không được thực hiện đầy đủ, chỉ mới thực hiện được một số chế độ cơ bản với mức trợ cấp thấp nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho công nhân, viên chức Nhà nước Mức hưởng còn mang tính bình quân với tinh thần "đồng cam, cộng khổ", chưa có tính lâu dài Các khoản chi về hưu trí, mất sức lao động còn lẫn lộn với tiền lương, nên khó khăn cho việc hạch toán quỹ; chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện, 100% nguồn chi lấy từ Ngân sách nhà nước Tuy nhiên, Chính sách BHXH ban hành trong giai đoạn này cũng đã giải quyết được những khó khăn trước mắt cho công nhân, viên chức khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động.

2.1.12 Giai đoạn 1962 -1985.

Sau khi hoàn thành kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Miền Bắc bước vào kế hoạch dài hạn 5 năm lần thứ nhất, lực lượng công nhân viên chức lúc này càng ngày càng được tuyển dụng đông hơn để phục vụ cho yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam Trước tình hình này, Nhà nước thấy cần thiết phải bổ sung chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình và đáp ứng được mục tiêu không ngừng cải thiện đời sống cho công nhân viên chức Vì vậy, ngày 27/12/1961, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH tạm thời về các chế độ BHXH cho cán bộ, công nhân viên kèm theo Nghị định số 218/CP Điều lệ này có hiệu lực thi hành từ 1/1/1962 và Nghị định số 161/CP ngày 30/ 10/ 1964 ban hành Điều lệ BHXH tạm thời đối với quân nhân; trong đó quy định:

- Đối tượng tham gia BHXH là công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang.

- Nguồn để chi trả các chế độ BHXH nằm trong Ngân sách nhà nước

và được hình thành trên cơ sở đóng góp một phần của của xí nghiệp, còn lại

do Ngân sách nhà nước cấp Mức đóng góp của các xí nghiệp thời kỳ này quy định là 4,7% so với tổng quỹ lương, trong đó 1% để chi cho 3 chế độ BHXH do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản lý ( hưu trí, mất sức

Trang 28

lao động, tử tuất ) và 3,7% để chi cho 3 chế độ do Tổng Liên đoàn Lao động quản lý ( ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) Đối với phần từ Ngân sách nhà nước, hàng năm do Quốc hội thông qua.

- Áp dụng 6 chế độ BHXH gồm: hưu trí; mất sức lao động; tử tuất;

ốm đau; thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp).

Tiếp đến ngày 18 / 9/ 1985, cùng với việc cải tiến chế độ tiền lương, Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ ) đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT bổ sung, sửa đổi chế độ BHXH cho công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang với các sửa đổi, bổ sung quan trọng là:

+ Đối tượng tham gia BHXH là công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang Lực lượng tham gia BHXH ở thời điểm năm 1985 khoảng trên 3 triệu người, chiếm 12% lực lượng lao động xã hội ( bao gồm cả những người đang làm việc và những người đã nghỉ làm việc để hưởng các chế độ BHXH ) Còn lại 88% lao động làm việc ở các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ ngoài quốc doanh chưa được tham gia.

+ Nguồn tài chính để thực hiện chính sách BHXH một phần do các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng, phần còn lại do Ngân sách nhà nước cấp Mức đóng góp theo quy định được nâng lên 13% so với tổng quỹ lương của

xí nghiệp ( Nghị định 218/CP quy định là 4,7% ) Mặc dù Nghị định số 236/HĐBT quy định khá chặt chẽ trách nhiệm đóng góp của đơn vị, doanh nghiệp, nhưng thời gian này do các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, mà chủ yếu là do các doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn, làm

ăn thua lỗ, cộng với cơ chế hoạt động BHXH bao cấp, không rõ ràng nên tỷ

lệ tham gia và số tiền thu được từ các đơn vị, các doanh nghiệp giai đoạn này rất thấp; số thu được chỉ đảm bảo một phần rất nhỏ trong số phải chi ra cho các chế độ BHXH, dẫn đến t ì nh trạng Ngân sách nhà nước phải cấp bù ngày càng lớn.

Cũng theo Nghị định số 236/HĐBT, những lao động làm việc tr o ng điều kiện nặng nhọc, các vùng xa xôi, hẻo lánh, hải đảo và lực lượng vũ trang chiến đấu ở chiến trường được quy đổi, thời gian công tác 1 năm làm

Trang 29

việc thực tế được tính thành 1 năm 2 tháng, 1 năm 4 tháng hoặc 1 năm 6 tháng tuỳ theo điều kiện và môi trường làm việc của từng trường hợp cụ thể.

2.1.2 T ổ c hứ c q u ản lý hoạ t động BHXH.

Đây là giai đoạn tổ chức quản lý BHXH, không ổn định và do một số

Bộ, Ngành khác nhau đảm nhiệm ( Bộ Nội vụ, Bộ Lao động Thương binh

và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam ), nhưng nhìn chung lại là do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý hoạt động BHXH.

- Theo Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH, thì Bộ Nội vụ được giao nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH thuộc khu vực hành chính sự nghiệp; Bộ Lao động ( nay là Bộ Lao động - Thương binh và Xã h ội ) được giao quản lý hoạt động BHXH khu vực sản xuất.

- Theo Nghị định số ' 236/HĐBT, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

có nhiệm vụ xây dựng và tr ì nh Chính phủ ban hành chính sách BHXH, cờn

tổ chức thực hiện chính sách BHXH được giao cho hai cơ quan:

+ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội được giao quản lý 8% để chi trả 3 chế độ dài hạn ( hưu tr í , mất sức lao động và tử tu ^t ); số tiền này được thu thông qua cơ quan tài chính và thu ế bằng cách khi cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các đơn vị, cơ quan tài chính sẽ trừ lại phần tiền đóng BHXH của các đơn vị hành chính sự nghiệp; cờn lại các đơn vị sản xuất kinh doanh khác do hệ thố n g thu ế thu hộ.

+ 5% do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý để chi cho 3 chế độ ngắn hạn ( ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) Phương thức thu 5% này được thực hiện bằng cách Tổng Liên đoàn lao động uỷ quyền cho các đơn vị tự thu, tự chi; số cờn lại không chi hết, các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm nộp lên công đoàn cấp trên để chi cho hoạt động của bộ máy quản lý, những nơi chi nhiều hơn được cấp bù.

Điều đáng lưu ý ở đây là số thu ở thời kỳ này chỉ tính trên tổng quỹ lương của đơn vị, chứ không căn cứ vào danh sách và mức lương của từng người lao động Dưới đây là tình hình thu, chi quỹ BHXH do Tổng Liên

Trang 30

đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, quản lý; xem biểu 2.1 và 2.2:

Biểu số 2.1 TÌNH HÌNH THU, CHI BHXH DO TổNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG

VIỆT NAM QUẢN LÝ TỪNÃM 1962 ĐÊN 1985

( chi các chế độ ngắn hạn )

ị Nguồn : Báo cáo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam )

Trang 31

Biểu số 2.2

TÌNH HÌNH THU, CHI BHXH DO BỘ LAO ĐỘNG THƯONG BINH VÀ XÃ

HỘI QUẢN LÝ TỪNĂM 1964 ĐEN 1985

( chỉ các chế độ dài hạn )

( Nguồn : Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hộ i ).

V - 7/77 % thu BHXH so với chi BHXH % Ngân sách Nhà nước

+ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện cơ chế uỷ quyền cho các đơn vị sử dụng lao động tự thu, tự chi các chế độ BHXH ngắn hạn; tiền thu BHXH do Tổng Liên đoàn lao động quản lý chỉ được phản ánh trên danh nghĩa, còn thực tế t i ền vẫn nằm lại đơn vị sử dụng lao động để chi trả cho người lao động.

+ Số thu và chi cho các chế độ BHXH ngắn hạn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng thu và tổng chi BHXH.

Trang 32

Nhìn vào biểu số 3 thấy t ì nh hình ngược lại, tiền thu BHXH đạt rất

thấp; nguyên nhân của tình hình này là:

+ Hoạt động BHXH diễn ra trong cơ chế tập trung, bao câp, đơn vị sử

dụng lao động đóng BHXH cũng được, không đóng cũng không bị xử lý;

mặt khác tr o ng quá tr ì nh sản xuất kinh doanh, không ít các doanh nghiệp

gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ, Nhà nước liên tục phải bù lỗ, nên không có

khả năng đóng BHXH Vì vậy, để đảm bảo chi trả cho các chế độ BHXH

dài hạn, Ngân sách Nhà nước phải cấp bù ngày càng tăng, năm cao nhất

lên đến 97% ( năm 1985 ).

+ Cơ quan quản lý hoạt động BHXH không phải là đơn vị trực tiếp

thu BHXH, mà do cơ quan tài chính, thuế thu hộ; nhiệm vụ này chỉ là phần

việc làm kết họp chứ không phải là nhiệm vụ chính, do vậy không thể nào

có kết quả cao được.

+ Về phương thức đóng, các đơn vị sử dụng lao động phải nộp vào cơ

quan tài chính hoặc thuế, không được quản lý để chi như phương thức tự

thu, tự chi cho các chế độ BHXH ngắn hạn Vì vậy nhiều đơn vị, doanh

nghiệp viện dẫn lý do này, lý do khác để né tránh.

2.1.3 Đánh g iá chu n g c hí nh sá ch v à tổ chức quản l ý hoạt động

BHXH giai đngn trướs 1986

Nhìn lại chính sách BHXH đã ban hành và tổ chức quản lý hoạt động

BHXH giai đoạn trước 1986, có thể rút ra một số nhận xét sau:

2.1.3.1 N h ữ n g húế quả đạ t được :

- Mặc dù trong điều kiện đất nước mới dành được độc lập, sau đó lại

bước ngay vào cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ, nhưng Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đời sống của cán bộ,

công nhân viên và lực lưọng vũ trang; đã kịp thời xây dựng và ban hành các

chính sách BHXH cho người lao động khi tuổi già; mất sức lao động; ốm

đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc chết Chính sách

BHXH đã có tác dụng tích cực, làm cho đội ngũ công nhân viên chức gắn

bó với cách mạng, với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu

Trang 33

trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong sản xuất xây dựng đất nước.

- Chính sách BHXH đã phần nào đảm bảo được yêu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần cho người lao động và gia đình họ khi gặp khó khăn, rủi ro, thu nhập bị giảm sút hoặc không có thu nhập, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và đảm bảo an toàn xã hội.

- Kết quả thực hiện chính sách BHXH đối với cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang giai đoạn trước 1986 là cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc đổi mới chính sách BHXH sau này, đặc biệt là việc xây dựng chương XII về BHXH trong Bộ luật Lao động và Điều lệ BHXH ban hành ngày 26/1/1995 và ngày 15/ 7/ 1995 kèm theo Nghị định số 12/CP và

- Thứ hai, thiết kế chính sách BHXH còn mang nặng tính bao cấp, không coi trọng công tác thu BHXH để đảm bảo nguồn tài chính cho chi trả; không quan tâm đến mối quan hệ gắn kết giữa tính kinh tế và tính xã hội của chính sách, đó là khi người lao động gặp rủi ro phải được trợ cấp, còn tính kinh tế của BHXH là phân phối lại thu nhập của người lao động bằng cách quy định cho người lao động và đơn vị sử dụng lao động phải đóng BHXH để có nguồn tài chính trợ cấp cho những rủi ro đó Việc thiết

kế chính sách BHXH như trên, cũng tạo ra nhận thức ỷ lại của người lao động, nguồn tài chính để chi trả phần lớn lấy từ Ngân sách nhà nước, quyền lợi và trách nhiệm các bên tham gia BHXH chưa rõ, chưa được thiết lập đầy

Trang 34

đủ Người hưởng các chế độ BHXH, trước hết là hưu trí đời sống phần lớn rất khó khăn.

- Thứ ba, chính sách BHXH làm thay các chính sách xã hội khác như chính sách ưu đãi người có công, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, chính sách tinh giản biên chê; lấy thời gian công tác quy đổi để hưởng BHXH ( về lý thuyết, thời gian công tác là biểu hiện mặt vật chất mà người lao động đóng góp cho xã hội, đó là thời gian thực sự làm ra của cải vật chất cho xã hội, nên việc quy đổi hệ số ' 4, 6 hoặc 8 tháng bằng một năm làm việc là không phù hợp Chính quy định này đã dẫn đến một số trường hợp thời gian công tác của cán bộ, công nhân viên chức ngang bằng với tuổi đời của họ ); trước khi về hưu được nâng một hoặc hai bậc lương, tỷ lệ hưởng BHXH quá cao so với mức đóng BHXH Những bất cập trên dẫn đến t ì nh trạng người nghỉ hưu chưa đến tuổi quy định ngày càng tăng, nhiều trường hợp về hưu mói chỉ ở độ tuổi từ 40 - 45 tuổi Đối với các trường hợp nghỉ mất sức lao động chỉ có khoảng 10% là thực sự ốm yếu, giảm khả năng lao động, số cờn lại là do " cơ chế giám định " quyế t định Thực tế không ít người mới chỉ suy giảm dưói 10% khả năng lao động, nhưng vì chính sách quy định nếu suy giảm 61% trở lên sẽ được hưởng trợ cấp mất sức lao động, nên đã nảy sinh không ít các hiện tượng tiêu cực trong quá tr ì nh giám định sức khoẻ của người lao động.

- Thứ tư, tổ chức quản lý hoạt động BHXH phân tán, mang tính hành chính, vừa đảm nhận chức năng chức năng quản lý Nhà nước vừa tổ chức thực hiện cụ thể, có sự tham gia của tổ chức công đoàn, đã làm hạn chế hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách BHXH.

2.1.3 3 , Nguyên nhân:

- Nước ta cờn nghèo, lại chịu hậu quả của các cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài ; sự bao vây, cấm vận, phá hoại của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch Tuy nhiên, nguyên nhân chính lại thuộc về chủ quan, với việc duy trì quá lâu cơ chê ' kế hoạch hoá tập trung bao cấp, chúng ta không những không khuyến khích được người lao động và các đơn vị sản xuất phát huy

Trang 35

tính năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh mà ngược lại còn gây ra tâm lý dựa vào Nhà nước, chỉ quan tâm đến quyền lợi được hưởng mà quên

đi trách nhiệm đóng góp đối với Nhà nước.

- Trong cơ chế tập tr u ng bao cấp, chúng ta mới chỉ chấp nhận thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, còn các thành phần kinh tế khác không được chấp nhận Quan điểm này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng, hoạch định chính sách BHXH ở giai đoạn này, dẫn đến hệ quả là chỉ những đối tượng là cán bộ, công nhân viên chức thuộc khu vực Nhà nước ( thuộc biên chế Nhà nước ) và lực lượng vũ trang mới được hưởng quyền lợi BHXH, còn các đối tượng khác không được tham gia và hưởng quyền lợi BHXH.

độ BHXH ( bỏ chế độ mất sức lao động mà Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đã quy định ); mức đóng BHXH tăng lên, tr o ng đó quy định người lao động phải đóng BHXH về tổ chức quản lý hoạt động BHXH do một cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện Từ Nghị định này, cơ chế hoạt động BHXH đã được chế định tr o ng chương XII của Bộ luật Lao động do Quốc hội khoá IX thông qua ngày 23/6/1994 và được cụ thể hoá trong Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12 / CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15 / 7/ 1995 của Chính phủ Từ đây, chính sách BHXH

Trang 36

và tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở Việt Nam đã chính thức mở ra một trang mới trong lịch sử hình thành và phát tr i ển.

2.2 2 Hoạ t đ ộng BHXH giai đoạn 1986 -1 944.

2.22 1 Đối tượng tham gia BHXH quy định mở rộng hơn so với trước đây, bao gồm cả những người làm việc hưởng lương hoặc tiền công ở những doanh nghiệp có sử dụng lao động từ 10 lao động trở lên, không phân biệt khu vực Nhà nước hay khu vực ngoài quố c doanh Tuy nhiên, trên thực tế số lao động tăng không đáng kể, tính đến cuối năm 1994 mới có trên 2 tr i ệu lao động tham gia BHXH.

2.22 2. Không thực hiện chế độ mất sức lao động, đồng thời tăng mức đóng BHXH lên 20% ( bao gồm người sử dụng lao động hàng tháng đóng vào quỹ BHXH bằng 15% tổng quỹ tiền lương, người lao động đóng bằng 5% tiền lương) Quy định mức đóng như tr ê n, nhưng chỉ có đơn vị sử dụng lao động đóng là chủ yếu, phần lớn người lao động chưa đóng BHXH Nguyên nhân có nhiều, tr o ng đó nguyên nhân cơ bản nhất là chưa có cơ chế

cụ thể để thực hiện Chính vì vậy, nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH chủ yếu vẫn do Ngân sách Nhà nước bao cấp.

Biểu số 2.3

(chi các chế độ ngắn hạ n)

( Nguồn; Báo cáo của Tổnạ Liên đoàn Lao động Việt Nam )

Trang 37

Biểu số 2.4 TÌNH HÌNH THU, CHI BHXH DO BỘ LAO ĐỘNG THƯONG BINH

( Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao động Thương bỉnh và Xã hộ i )

2.22 3 Quy định thành lập tổ chức BHXH Việt Nam để quản lý thố n g nhất hoạt động BHXH, nhưng chưa thành lập được, việc tổ chức quản

lý hoạt động BHXH vẫn do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thực hiện.

Tóm lại: Đây là thời kỳ nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến sôi động theo đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, nhưng việc chuyển đổi của chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH còn chậm,

sự chuyển biến mới chỉ được thể hiện trên tư duy, còn về cơ chế thực hiện

cụ thể lại mới chủ yếu dừng lại trên văn bản, trên chính sách Vì vậy, kết quả hoạt động BHXH giai đoạn này vẫn chưa có gì khả quan.

2.2.3 Ho ạt đ ộng BHXH g i a i đ oạạ 1 995 - 2 201.

Đây là giai đoạn chính sách và tổ chức quản lý hoạt động BHXH có những đổi mới thực sự từ cơ chế tập trung, bao cấp không đóng BHXH vẫn được hưởng BHXH, sang hoạt động theo nguyên tắc đóng, hưởng, có chia

sẻ rủi ro Về tổ chức quản lý hoạt động BHXH từ chỗ phân tán do các cơ quan khác nhau đảm nhận, nay tập trung thống nhấ ' t vào một đầu mối là BHXH Việt Nam.

Trang 38

2.2.3.I.Những đổi mới chung về chính sách BHXH.

Thực hiện Bộ luật Lao động được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 28/6/1994 có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH đối với cán bộ, công chức, công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 về cơ bản những thay đổi của chính sách BHXH trong thời kỳ này là những nội dung đã được quy định trong Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 Chỉ có điều khác là những nội dung thay đổi đó được cụ thể hoá trong Điều lệ BHXH thay cho Điều

lệ tạm thời về các chế độ BHXH ban hành từ năm 1960 và được triển khai thực hiện trên thực tế chứ không phải chỉ được thể hiện trên hệ thống văn bản Những đổi mới cơ bản về chính sách BHXH thời kỳ này tập trung trong các quy định của Điều lệ BHXH, dưới đây là một số nội dung đổi mới chủ yếu.

- Quy định người sử dụng lao động và người lao động phải đóng BHXH ( người sử dụng lao động đóng bằng 15% tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị; trong đó 10% để chi các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí; tử tuất) Đây là điểm đổi mới rất quan trọng trong chính sách BHXH so với trước đây ( trước đây chỉ quy định người sử dụng lao động phải đóng BHXH, còn người lao động không phải đóng ).

Trên cơ sở quy định đóng BHXH, chính sách BHXH thời kỳ này đã xác lập rõ cơ chế hình thành và sử dụng quỹ BHXH; theo đó quỹ BHXH do BHXH Việt Nam quản lý chỉ chịu trách nhiệm chi trả các chế độ BHXH cho người lao động từ 1995 trở đi, còn NSNN đảm bảo chi trả cho các đối tượng đã nghỉ làm việc để hưởng BHXH trước 1995.

- Đối tượng và phạm vi tham gia BHXH được mở rộng: Nếu trước đây chỉ có cán bộ, công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang được tham gia BHXH, thì nay đã được mở rộng tới tất cả các doanh nghiệp thuộc

Trang 39

các thành phần kinh tế có sử dụng từ 10 lao động trở lên; tới cán bộ xã, phường, thị trấn và lao động làm việc trong các cơ sở Y tế, Giáo dục, Văn hoá và Thể thao ngoài công lập.

- Quy định lại chỉ còn 5 chế độ BHXH là trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và tử tuất ( bỏ chế

- Đối với lao động làm việc trong điều kiện bình thường, được hưởng trợ cấp ốm đau:

+ 30 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm;

+ 40 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm;

+ 50 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên;

- Đối với người lao động làm các nghề hoặc công việc nặng nhọc; độc hại; làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7% ttở lên:

+ 40 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm;

+ 50 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm;

+ 60 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên;

Thời kỳ trước năm 1995, quy định chung cho các loại lao động, mà không phân biệt điều kiện lao động.

Ngoài ra, đối với các bệnh cần điều trị dài ngày theo danh mục do Bộ

Y tế ban hành thì thời gian được hưởng trợ cấp ốm đau tối đa là 180 ngày trong 1 năm, không phân biệt thời gian đã đóng BHXH nhiều hay ít Trường hợp nếu hết thời gian 180 ngày mà còn phải tiếp tục điều trị thì thời gian này vẫn được hưởng trợ cấp ốm đau; tuy nhiên mức hưởng sẽ ít hơn ( 65%

Trang 40

mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH đối với những người đã đóng BHXH dưới 30 năm và 70% đối với những người đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên; nếu ốm trong thời hạn từ 180 ngày trở lại thì được hưởng 75% ).

Chính sách BHXH lần này cũng quy định tăng thêm thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo các mức:

+ 20 ngày trong một năm đối với con dưới 3 tuổi (tăng thêm 5 ngày

so với trước).

+ 15 ngày trong một nãm đối với con từ 3 đến dưới 7 tuổi (tăng thêm

2 ngày so với trước ).

Mức trợ cấp ốm đau bằng 75% mức lương làm căn cứ đóng BHXH trước khi nghỉ ốm Đối với lực lượng vũ trang bằng 100%; trong trường hợp nghỉ để chăm sóc con ốm cũng được hưởng 85%.

Bên cạnh những thay đổi phù hợp với tình hình mới, chế độ trợ cấp

đã điều trị 6 tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng, ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Điểm chưa thống nhất ở đây là Điều lệ BHXH không đề cập đến việc người lao động có thể bị chấm dứt hợp đồng; trong khi đó Bộ Luật lao động lại đề cập đến Trong những trường hợp này, khi bị chấm dứt hợp đồng lao

Ngày đăng: 21/02/2023, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1 992 ( đã sửa đổi, bổ sung ) - Nhà Xuất bản thành phố Hồ Chí Minh 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà Xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
2. Quốc hội, Bộ Luật lao động - Nhà Xuất bản Thống kê, tháng 2/ 1997 3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI - Nhà Xuất bản Sự thật, Hà Nội. 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật lao động
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà Xuất bản Thống kê
Năm: 1997
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX - Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia, tháng 6/ 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ ), Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
6. Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ ), Nghị định số 236 - HĐBT ngày 19/ 8/ 1985 về việc bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 236 - HĐBT ngày 19/ 8/ 1985 về việc bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh và xã hội
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
Năm: 1985
11. Ý kiến của ống Trần Đình Huệ, chuyên gia cao cấp của ILO về an sinh xã hội, về vấn đề tự chủ tài chính của quỹ BHXH ở Việt Nam - Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Huệ
Nhà XB: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 1997
12. Việc cải cách chế độ hưu trí ở một số nước trên thế giới - Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc cải cách chế độ hưu trí ở một số nước trên thế giới - Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam
Năm: 1997
13. Vấn đề cải cách và phát tri ển chế độ hưu trí ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cải cách và phát tri ển chế độ hưu trí ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam
Năm: 1997
17. Luật an sinh xã hội của Thái Lan - Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật an sinh xã hội của Thái Lan - Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam
Năm: 1998
18. Luật BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức- Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức- Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam
Năm: 1998
19. Luật BHXH của Trung Quốc- Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật BHXH của Trung Quốc- Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam
Năm: 2001
20. Luật an sinh xã hội của Mỹ- Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật an sinh xã hội của Mỹ
Nhà XB: BHXH Việt Nam
Năm: 1999
21. Một số báo cáo sơ kết, tổng kết của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về công tác BHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số báo cáo sơ kết, tổng kết của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về công tác BHXH
22. Báo cáo tổng kết các năm từ 1996 - 2001 của BHXH một số tỉnh, thành phố và của BHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết các năm từ 1996 - 2001 của BHXH một số tỉnh, thành phố và của BHXH Việt Nam
Nhà XB: BHXH một số tỉnh, thành phố
Năm: 1996-2001
10. Báo cáo kỹ thuật tóm tắt của ILO nhận xét về dự thảo Luật BHXH của Việt Nam, Kenneth Thompson, tư vấn của ILO - Tài liệu dịch tham khảo của BHXH Việt Nam Link
7. Chính phủ, Nghị định số 43/CP ngày 22/ 6/ 1993 quy định tạm thòi chế độ BHXH Khác
8. Chính phủ, Nghị định số 93/1998/NĐ-CP ngày 12 / 11/1986 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH Khác
9. Khuyến nghị của ILO về sửa đổi, bổ sung chính sách hưu tr í hiện hành ở Việt Nam, Tạp chí Lao động và Xã hội số 10/ 1999 Khác
14. Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Tham luận trong Hội thảo chính sách và pháp luật về BHXH, tháng 9/ 1999 Khác
15. Phạm Chi Lan, Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Tham luận tr o ng Hội thảo chính sách và pháp luật về BHXH, tháng 9/1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w