Hơn thế, trong bối cảnh hội nhập quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp nhưhiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thứcnan giải ảnh hưởng bất lợi từ cuộc khủng
Trang 11.3 Các công trình nghiên cứu về vấn đề chủ động, tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
18
1.4 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà
nước Việt Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
23
Chương 2: CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM – TÍNH TẤT YẾU VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
28
2.1 Tính tất yếu của chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế ở Việt Nam hiện nay
28
2.2 Vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế - Một số vấn đề lý luận cơ bản
48
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG CHỦ
ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ –
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
68
3.1 Thực trạng vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ động và
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
68
3.2 Một số vấn đề đặt ra hiện nay đối với việc phát huy vai trò của
Nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
101
Chương 4: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
113
4.1 Quan điểm định hướng phát huy vai trò của Nhà nước Việt
Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
113
4.2 Một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của Nhà nước
trong việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở
Việt Nam hiện nay
119
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
Trang 2ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC : Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình DươngASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM : Diễn đàn họp tác Á – Âu
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
EU : Liên minh Châu Âu
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
IMF : Quĩ Tiền tệ thế giới
LHQ : Liên hợp quốc
ODA : Viện trợ phát triển chính thức
USD : Đơn vị tiền tệ Mỹ (Đô la Mỹ)
WB : Ngân hàng Thế giới
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập quốc tế ngày nay đã trở thành xu thế tất yếu khách quan củatiến trình phát triển nhân loại, trong đó, hội nhập kinh tế quốc tế là nội dungcốt lõi, căn bản, cơ sở nền tảng của toàn bộ tiến trình hội nhập
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt đem lại cho các quốc gianhững cơ hội tốt cho thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng mặt khác cũng khiếncác quốc gia phải đối mặt với muôn vàn rủi ro, thách thức Tuy nhiên, mỗiquốc gia khi tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế không phải đều cùngnhận được những cơ hội hay phải gánh chịu những rủi ro, thách thức ngangnhau Thực tế cho thấy, hiệu quả tiến trình hội nhập phụ thuộc rất lớn vào nănglực nhận thức và hành động của mỗi quốc gia Quốc gia nào chủ động và tíchcực trong hội nhập, có những chính sách hội nhập đúng đắn, phương thức hộinhập phù hợp… sẽ tận dụng, khai thác được nhiều hơn những cơ may, vận hội,đồng thời dễ dàng vượt qua những trở ngại, thách thức, giảm thiểu những tổnthất, gặt hái những thành tựu phát triển ngay cả trong những điều kiện khókhăn nhất Ngược lại, những quốc gia nào còn do dự, lúng túng, không nhanhnhạy nắm bắt thời cơ, linh hoạt ứng phó trước những biến động của tiến trìnhhội nhập… sẽ phải hứng chịu nhiều tổn thất, thiệt hại, thậm chí có thể đẩy nềnkinh tế rơi vào khủng hoảng, suy thoái nặng nề
Đối với các nước có nền kinh tế phát triển chưa cao như Việt Nam, hộinhập kinh tế quốc tế là lựa chọn tốt nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, rútngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước, nâng cao vị thế kinh tế và năng lựccạnh tranh quốc gia Để đảm bảo hiệu quả tiến trình hội nhập, nhanh chóng gặthái những thành tựu phát triển kinh tế to lớn, việc chủ động và tích cực trong hộinhập có ý nghĩa vô cùng quan trọng Chủ động và tích cực hội nhập không chỉgiúp chúng ta nắm bắt, tận dụng tối đa những cơ hội, kết hợp tốt các nguồn lựccho thúc đẩy kinh tế phát triển; ứng phó hiệu quả hơn trước những tác động, ảnhhưởng bất lợi từ tiến trình hội nhập; né tránh, hạn chế đến mức thấp nhất nhữngtác động xấu từ tiến trình hội nhập, mà hơn thế còn có thể tìm kiếm được những
Trang 4cơ hội trong thách thức, thậm chí có thể “xoay chuyển” những tình huống bấtlợi, biến những khó khăn, thách thức thành động lực phát triển.
Để chủ động và tích cực hội nhập đòi hỏi sự nỗ lực kết hợp, tham gia củanhiều chủ thể, trong đó nhà nước là chủ thể quan trọng nhất, có vai trò to lớn,trực tiếp điều hành, chỉ đạo, định hướng, dẫn dắt toàn bộ tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế ở nước ta
Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã đề ra nhiều chính sách địnhhướng đúng đắn, đồng thời chỉ đạo triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy nềnkinh tế hội nhập ngày càng mạnh mẽ vào thể chế kinh tế khu vực và thế giới.Nhờ đó chúng ta đã khai thác được nhiều giá trị từ tiến trình hội nhập chothúc đẩy kinh tế phát triển, đem lại cho nền kinh tế Việt Nam những bướckhởi sắc tốt đẹp với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều năm, nănglực cạnh tranh và vị thế kinh tế của đất nước trên trường quốc tế không ngừngđược cải thiện và nâng cao Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, hiệu quả tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đến nay vẫn chưa thực sự như mongđợi Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng vàlợi thế của đất nước Nhiều nguồn lực của nền kinh tế chưa được khai thác,phát huy tốt Nền kinh tế cũng chưa tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ từ bênngoài cho việc giải quyết, ứng phó hiệu quả trước những khó khăn, thách thức
và biến động phức tạp của tiến trình hội nhập
Một trong những nguyên nhân căn bản của thực trạng đó là do Nhà nướcchưa thực sự phát huy tốt vai trò của mình trong chủ động và tích cực chỉ đạo,điều hành tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; năng lực quản lý, điều tiết kinh tế
vĩ mô của Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém; hệ thống pháp luật, bộmáy hành chính Nhà nước chưa đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của tiến trìnhhội nhập và yêu cầu phát triển đất nước, v.v…
Vì vậy, việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác được nhiều hơn nữa những lợi ích to lớn
từ hội nhập cho thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển đất nước vẫn lànội dung cần chú trọng trong tiến trình hội nhập ở nước ta thời gian tới
Trang 5Hơn thế, trong bối cảnh hội nhập quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp nhưhiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thứcnan giải (ảnh hưởng bất lợi từ cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế, mất ổn địnhchính trị diễn ra ở nhiều quốc gia; đối phó với những âm mưu chống phá từ cáclực lượng thù địch và những toan tính xâm lược, chèn ép nước ta trên nhiềulĩnh vực ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc;…), Nhà nước càng cần phảiphát huy hơn nữa vai trò của mình trong chủ động và tích cực hội nhập; chỉ đạokhai thác, kết hợp tối đa nội lực và ngoại lực nhằm củng cố và tăng cường sứcmạnh, tiềm lực kinh tế đất nước, nâng cao khả năng ứng phó, giải quyết hiệuquả trước những tác động, ảnh hưởng bất lợi từ tiến trình hội nhập, đảm bảođộc lập tự chủ về kinh tế, giảm thiểu sự lệ thuộc nặng nề vào các quốc gia lớn,đồng thời tranh thủ tối đa mọi sự hỗ trợ, ủng hộ của cộng đồng quốc tế chothực hiện mục tiêu vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giữ vững ổnđịnh chính trị, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.
Thực tiễn đã và đang đặt ra yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu vấn đề vai tròcủa nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để từ đó rút ra những bàihọc cần thiết nâng cao vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc chủ động vàtích cực hội nhập vào thể chế kinh tế toàn cầu nhằm gặt hái những thành tựu hộinhập kinh tế quốc tế cao nhất cho công cuộc phát triển đất nước Đó là lý do tác
giả luận án chọn vấn đề “Vai trò của nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.2 Nhiê ̣m vụ nghiên cứu
- Làm rõ lý luận về vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 6- Phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời phát hiện những vấn đề đang đặt rađối với việc phát huy vai trò đó của Nhà nước hiện nay
- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò củanhà nước Việt Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu về vai trò của Nhà nước Việt Nam với
tư cách là bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng trong chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu, khảo sát vấn đề vai trò của Nhà nước Việt Namtrong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn đất nước mởrộng hội nhập từ năm 2000 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 C ơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm lý luận của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đặc biệt là các quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về vấn đề hội nhập, vai trò của nhà nước trong bối cảnh hộinhập nói chung, vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế nói riêng, đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiêncứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã công bố liên quan tới đề tài
4.2 Ph ương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít, đặc biệt là cácphương pháp lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quáthoá, đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như điều tra, thống kê xãhội học… để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án phân tích, làm rõ sự cần thiết phải chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Trang 7- Phân tích dưới góc độ triết học vai trò của Nhà nước Việt Nam trongviệc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đánh giá thực trạng, đồng thời đề xuất quan điểm và một số giải pháp
cơ bản góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cựchội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Những vấn đề mà luận án đề cập, giải quyết góp phần thiết thực vào việcluận giải và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của Nhànước Việt Nam hiện nay trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
- Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục
vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về các vấn đề liên quan đến chủ động,tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như vai trò của Nhà nước trong chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu thành 4 chương, 10 tiết
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng ngày nay đã
là xu thế tất yếu của nhân loại và trở thành vấn đề quen thuộc không chỉ tronggiới các học giả, các nhà khoa học mà cả trong đời sống xã hội Do đó, cũng dễhiểu vì sao có khá nhiều các công trình, bài viết quan tâm tìm hiểu, nghiên cứuxoay quanh chủ đề này
Trước hết, có thể thấy, nhiều học giả đã tập trung nghiên cứu, đưa ra cácquan niệm khác nhau về khái niệm hội nhập
Trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam của Hội đồng Quốc gia chỉ đạo
biên soạn từ điển bách khoa, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm 2002, kháiniệm hội nhập được giải thích một cách ngắn gọn là sự liên kết các nền kinh tếvới nhau Các nền kinh tế khác nhau thực hiện sự hội nhập thông qua hoạt độngmậu dịch và hợp tác chính sách và biện pháp kinh tế [69, tr.384]
Các tác giả cuốn Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá – Vấn đề và giải pháp, Bộ Ngoại giao, Vụ hợp tác quốc tế đa phương, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 cho rằng, có thể tiếp cận về hội nhập theo ba cách:
cách thứ nhất, theo chủ nghĩa liên bang, tức là xem hội nhập là sản phẩm cuối
cùng chứ không phải là một quá trình, với quan tâm chủ yếu dành cho thể chế,
hướng tới sự hình thành một nhà nước liên bang kiểu Hoa Kỳ và Thụy Sỹ; cách tiếp cận thứ hai, xem hội nhập trước hết thể hiện ở sự liên kết giữa các quốc gia
thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, thư tín, thông tin, dulịch, di trú, đào tạo trong một cộng đồng an ninh hợp nhất như Hoa Kỳ, hay
cộng đồng an ninh đa nguyên như Liên minh châu Âu (EU); cách tiếp cận thứ
ba, của những người theo phái tân chức năng, xem hội nhập dưới góc độ là hành
vi mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác giữa các chủ thể với nhau trong việchoạch định chính sách [29, tr.53-54]
Theo tác giả Nguyễn Vũ Tùng trong bài viết “Quan hệ giữa độc lập tự chủ
và hội nhập quốc tế” đăng trên Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới, số 2, năm
Trang 92009, hội nhập chính là quá trình chủ động tham gia ngày càng sâu rộng vào đờisống mọi mặt (kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội) của quan hệ quốc tế Tác giảcũng nhấn mạnh, ở mức độ trừu tượng hơn, hội nhập còn là quá trình chấp nhậnnhững qui tắc ứng xử mới đối với hành vi quốc gia trong thời kỳ toàn cầu hoá vàhậu chiến tranh lạnh Hội nhập là một tiến trình chủ quan, phụ thuộc vào sự lựachọn của từng nước [122].
Trong cuốn Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới do GS.TS Nguyễn Xuân Thắng chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, năm 2011, các tác giả cho rằng, khái niệm hội nhập là một cách diễn đạtkhác về toàn cầu hoá Nếu toàn cầu hoá (nhìn từ góc độ thể chế) là quá trình tạo
ra khung khổ phát triển chung, lôi cuốn các quốc gia đi theo thì hội nhập quốc tế
tự nó là quá trình hoá thân một cách chủ động của mỗi nước, mỗi khu vực vàotrong các thực thể khu vực, toàn cầu để một mặt, thể hiện được vị thế và tính tựcường quốc gia, dân tộc, và mặt khác, tham gia loại trừ những khác biệt để mình
là một bộ phận hợp thành trong các chỉnh thể khu vực và toàn cầu đó Hội nhậpquốc tế là quá trình liên kết có mục tiêu, định hướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp
độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi nước Hội nhập quốc tế là quá trình chủquan do hai xu thế khách quan là toàn cầu hoá và cuộc cách mạng khoa học côngnghệ mới qui định [109, tr.49, 50]
Tác giả Hoàng Anh Tuấn với bài viết Môi trường quốc tế và chiến lược ngoại giao của Việt Nam đăng trên Báo Thế giới và Việt Nam, http://www.tgvn.com.vn,
ngày 16/12/2013 đã đưa ra quan niệm, hội nhập quốc tế là tiến trình các nước chủđộng tăng cường các hoạt động gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ chung về lợiích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chung trongkhuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế [121]
Theo tác giả Đặng Đình Quý trong bài viết Bàn thêm về khái niệm “hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới, đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử,
http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 4/12/2012, hội nhập quốc tế là hình thứcphát triển cao của hợp tác quốc tế, là quá trình chủ động chấp nhận, áp dụng vàtham gia xây dựng các luật lệ và chuẩn mực quốc tế nhằm phục vụ tối đa lợi íchquốc gia, dân tộc Tác giả còn phân tích rõ, từ góc độ nhà nước, hội nhập quốc tế
Trang 10là quá trình một quốc gia tham gia các hoạt động chung của cộng đồng quốc tếtheo các nguyên tắc, chuẩn mực mà cộng đồng quốc tế thừa nhận Hội nhậpquốc tế là yêu cầu có tính khách quan do tác động của quá trình toàn cầu hóangày càng sâu rộng, nhưng việc lựa chọn lĩnh vực, mức độ và lộ trình hội nhậplại là quyết định chủ quan của từng quốc gia phù hợp với lợi ích và hoàn cảnh cụthể Bên cạnh đó, từ thực tiễn và lý luận về hội nhập quốc tế trên thế giới, tác giả
đã khái quát một số điểm chung nổi bật về hội nhập quốc tế như: hội nhập quốc
tế bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, nhưng không giới hạn ở đó, mà có thể diễn ra trênnhiều lĩnh vực; hội nhập quốc tế là quá trình không có giới hạn về thời gian; hộinhập quốc tế không chỉ diễn ra thông qua việc tham gia các cơ chế hợp tác đaphương mà còn trên nhiều bình diện; bản chất của hội nhập quốc tế là quá trìnhxây dựng và áp dụng các luật lệ và chuẩn mực chung [100]
Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm trong
bài viết Bàn về hội nhập quốc tế đăng trên Báo Thế giới và Việt Nam,
http://www.tgvn.com.vn ngày 16/12/2013 cho rằng, hội nhập quốc tế thực chất
là hợp tác kinh tế nhưng ở trình độ cao hơn, đáp ứng những đòi hỏi chặt chẽhơn như gắn kết với nhau, chia sẻ với nhau lợi ích, nguồn lực, quyền lực; tuânthủ các quy tắc chung, luật chơi và chuẩn mực chung theo một quá trình pháttriển liên tục từ thấp đến cao, với những hình thức đa dạng, phong phú, phùhợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực hoặc từng cơ chế hội nhập Theoông, hội nhập bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từ đó mở rộng sang các lĩnh vực kháccủa đời sống xã hội Cũng có một số trường hợp hội nhập không bắt đầu từkinh tế, mà bắt đầu từ chính trị hay văn hóa như trường hợp các nước gia nhậpLHQ, hay trường hợp Việt Nam gia nhập ASEAN, nhưng trong quá trình pháttriển, kinh tế vẫn chiếm vị trí trọng tâm Hội nhập quốc tế diễn ra không chỉtrên cấp độ toàn cầu, mà còn ở nhiều cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao dướidanh nghĩa "liên kết" hoặc "nhất thể hóa" như liên kết tiểu khu vực, liên kếtkhu vực, liên kết liên khu vực, liên kết liên châu lục, liên kết trên bình diệnsong phương hoặc đa phương [33]
Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hội nhập quốc tế, song từ quanniệm của các học giả có thể thấy, hội nhập quốc tế là quá trình các nước gia tăng
Trang 11các hoạt động gắn kết, hợp tác với nhau trên những lĩnh vực cụ thể theo nhữngnguyên tắc nhất định, phù hợp với mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia.
Ngoài việc đưa ra các quan niệm về hội nhập quốc tế, các tác giả cũng tậptrung phân tích một số đặc điểm, cũng như những tác động của quá trình hộinhập quốc tế đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội toàn cầu nóichung, đồng thời chỉ ra những thời cơ, thách thức, cũng như những yêu cầu, đòihỏi của quá trình hội nhập đối với Việt Nam nói riêng
Bên cạnh các nghiên cứu về chủ đề hội nhập quốc tế, nhiều học giả đã dành
sự quan tâm, tìm hiểu sâu hơn về vấn đề hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hộinhập kinh tế quốc tế) trên tinh thần xác định đây là lĩnh vực, nội dung trọng tâmcủa toàn bộ tiến trình hội nhập
Trong cuốn Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam do GS.TS Nguyễn Xuân Thắng
chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2007, trước hết, các tác giả tậptrung phân tích khái niệm toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế Trên cơ sởtrình bày khái quát và có hệ thống các quan niệm khác nhau về toàn cầu hoákinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, các tác giả đã đưa ra quan niệm tương đốiphổ quát và sát thực với diễn tiến của xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và tiến trìnhhội nhập kinh tế quốc tế Theo các tác giả, hội nhập kinh tế quốc tế chỉ là cáchtiếp cận khác của toàn cầu hoá kinh tế, nhìn toàn cầu hoá kinh tế từ góc độ thamgia liên kết của các chủ thể kinh tế vào một chỉnh thể kinh tế thị trường toàn cầu.Hội nhập kinh tế quốc tế tự nó là một quá trình “hoá thân” của mỗi quốc gia, khuvực vào trong các thực thể khu vực, toàn cầu; là quá trình liên kết kinh tế có mụctiêu, định hướng cụ thể của mỗi quốc gia; là tiến trình nhất thể hoá nền kinh tếthế giới… [108, tr.21-23] Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉ ra những đặc trưng,biểu hiện mới của toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế; những tácđộng và đặc biệt là các hệ luỵ của toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc
tế đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung, đến quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam nói riêng Các tác giả tiếp tục đi sâu phântích quá trình Việt Nam tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá kinh tế và thúc đẩyhội nhập kinh tế quốc tế, trong đó tập trung nhiều vào ba lĩnh vực mà nước ta đạt
Trang 12được những thành tựu đáng kể là thu hút FDI, thương mại quốc tế và vấn đề đổimới và phát triển hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Từ đó, các tác giả đề xuất hệthống giải pháp mang tính chiến lược cho quá trình phát triển công nghiệp hoárút ngắn của Việt Nam từ góc độ xem xét những tác động của tiến trình toàn cầuhoá, hội nhập kinh tế quốc tế trên ba đột phá chính: tiếp cận và triển khai chiếnlược thích ứng với tự do hoá và phát triển bền vững; điều chỉnh cơ cấu kinh tế;xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường.
Tác giả Nguyễn Thị Hiền, trong cuốn Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002 cũng tập trung nghiên
cứu những vấn đề lý luận cơ bản của hội nhập kinh tế quốc tế, đưa ra quan niệmriêng về vấn đề hội nhập trên cơ sở khái quát các quan niệm khác nhau về hộinhập kinh tế quốc tế Từ đó, tác giả tiếp tục phân tích quá trình hội nhập kinh tếkhu vực của các nước ASEAN, triển vọng hội nhập kinh tế khu vực và một sốkinh nghiệm hội nhập của các nước này Những nội dung nghiên cứu của tác giả
có giá trị nhất định cả về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho công cuộc hộinhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng ở nước ta
Trong cuốn Phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế do PGS.TS Nguyễn Văn Nam chủ biên, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, năm 2006, trước khi đi vào những nội dung nghiên cứu chính, các tácgiả cũng tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về toàn cầu hoá, hội nhậpkinh tế quốc tế Cũng như nhiều học giả khác, các tác giả của công trình này quanniệm, hội nhập thực chất là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, khuvực hoá Hội nhập kinh tế quốc tế chính là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế
và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực
tự do hoá và mở cửa trên các cấp độ [87, tr.19, 20] Tiếp đó, các tác giả phân tíchvấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trongbối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định, chỉ có phát triển kinh
tế thị trường, Việt Nam mới khai thác được các nguồn lực để xây dựng chủ nghĩa
xã hội, mới hội nhập được với nền kinh tế thế giới hiện đại, tránh tụt hậu và đưađất nước phát triển với nhịp độ nhanh hơn, tiến tới phồn thịnh và phát triển bềnvững Các tác giả cũng dành thời gian phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia
Trang 13như Trung Quốc, Thái Lan và một số nước Đông Âu nhằm rút ra những bài họccho Việt Nam trong việc chuyển đổi nền kinh tế tham gia hội nhập Trên cơ sởđánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế của Việt Nam trong chính sáchhội nhập kinh tế quốc tế, các tác giả đưa ra những quan điểm, giải pháp mang tínhđịnh hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta như xây dựng đồng bộ các yếu tốthị trường, cải cách doanh nghiệp nhà nước, nâng cao năng lực cạnh tranh,…Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong bài viết “Nâng cao khả năng cạnh
tranh để hội nhập thành công” đăng trong sách Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Lao động, Hà Nội, năm 2006 cho
rằng, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là quá trình gắn kết nền kinh tế của nướcmình với nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào sự phân công lao động quốc
tế, gia nhập các tổ chức kinh tế đa phương, chấp nhận tuân thủ những qui địnhchung được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các nước thànhviên của các tổ chức ấy Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của quá trình hộinhập, tác giả khẳng định sự cần thiết phải tiến hành hội nhập của nền kinh tế nước
ta, đồng thời nêu ra những nguyên tắc cần thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế ở Việt Nam trong đó chú trọng nhiều đến nâng cao khả năng cạnh tranh củanền kinh tế, thể hiện trên ba góc độ có liên quan mật thiết với nhau như: khả năngcạnh tranh của các mặt hàng và các loại hình dịch vụ, khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của quốc gia (môi trường cạnh tranh) [73]
Từ những quan niệm khác nhau của các học giả, có thể hiểu, về thực chất, hộinhập kinh tế quốc tế chính là quá trình các quốc gia tự nguyện tham gia, gắn kết nềnkinh tế trong nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiệc
mở cửa và thúc đẩy tự do hoá kinh tế theo những mục tiêu nhất định, ở những phạm
vi, cấp độ khác nhau dựa trên những điều kiện cụ thể của từng quốc gia
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TOÀN CẦU HOÁ, HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Những năm qua, một chủ đề cũng thu hút sự quan tâm của đông đảo cácnhà nghiên cứu trong và ngoài nước là về vai trò của nhà nước trong bối cảnhtoàn cầu hoá, hội nhập quốc tế
Trang 14Các công trình nghiên cứu của các học giả quốc tế tập trung chủ yếu phântích, nhận định về sự thay đổi, “biến dạng” của nhà nước trong kỷ nguyên toàncầu hoá, hội nhập quốc tế.
Trong các công trình như “Quá trình toàn cầu hóa và Nhà nước: Cái mới
trong việc điều chỉnh kinh tế ở các nước phát triển” của Osadchaja I, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003; “Toàn cầu hoá kinh tế và chức năng của nhà nước”của Lei Da, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 2003; Toàn cầu hoá: Những xu hướng biến đổi lớn do TS Phạm Thái Việt chủ biên, Viện Thông tin KHXH, Hà Nội, 2004; Toàn cầu hóa và sự tồn vong của nhà nước của Nguyễn Vân Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới tác động của toàn cầu hóa của Phạm Thái
Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, các tác giả đã cho thấy những quanđiểm không thống nhất, thậm chí là trái ngược nhau của nhiều học giả quốc tếkhi bàn luận về vai trò và xu hướng biến đổi của nhà nước trong thời đại mới.Tựu chung lại có thể thấy hai luồng ý kiến khác nhau:
Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng, tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá, hộinhập quốc tế, vai trò của nhà nước ở các quốc gia sẽ giảm đi và ngày càng trởnên không còn cần thiết nữa Theo các học giả, quyền lực nhà nước đang bị phânmảnh Sự tiêu vong của nhà nước là tất yếu để thay bằng phương thức cai trị mớitương hợp hơn Bởi lẽ, tiến trình toàn cầu hoá gắn liền với cơ chế mở cửa, tự dohoá trên nhiều lĩnh vực với sự hoạt động và gia tăng mạnh mẽ các qui luật kháchquan của kinh tế thị trường, các qui tắc, hiệp ước, điều lệ quốc tế, cùng với sựchi phối, điều hành của các định chế, tổ chức tài chính kinh tế quốc tế lớn buộccác quốc gia phải tuân thủ, chấp hành khi gia nhập “cuộc chơi toàn cầu” Quátrình đó tự nó tất yếu sẽ thu hẹp vai trò của nhà nước Nhà nước sẽ dần mất đinăng lực điều hành, quản lý xã hội hoặc không có khả năng tác động hữu hiệuđến sự phát triển kinh tế xã hội trong kỷ nguyên toàn cầu hoá Quyền lực tưởngchừng là cố hữu, độc tôn của nhà nước trong lịch sử (tổ chức, quản lý, chỉ đạo,điều hành, quyết định mọi vấn đề của đời sống kinh tế - xã hội) sẽ ngày càng bịcác nhân tố mới của toàn cầu hóa (các tổ chức, định chế toàn cầu, các công tyxuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ) cạnh tranh, lấn át, v.v…
Trang 15Luồng ý kiến thứ hai khẳng định, mặc dù đang phải chịu áp lực nặng nề từnhững tác động của tiến trình toàn cầu hoá, hội nhập, song nhà nước vẫn có vaitrò quan trọng đối với các quốc gia Các học giả cũng chỉ ra những thách thứcđối với vai trò của nhà nước trong điều kiện toàn cầu hóa khiến cho chức năngcủa nhà nước dường như không còn quan trọng nữa đồng thời khẳng định, trong
kỷ nguyên toàn cầu hoá, vai trò của nhà nước có thể có những biến đổi những
nó vẫn là phương thức cai trị chính yếu, bởi lẽ, toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, đikèm với nó là hàng loạt những vấn đề phức tạp nảy sinh như khủng hoảng, suythoái kinh tế, phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường… mà bảnthân cơ chế tự điều tiết của thị trường toàn cầu không thể hoặc không “quantâm” giải quyết, đòi hỏi nhà nước ở các quốc gia phải đứng ra can thiệp, điềuhành Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận khả năng chia sẻ quyền lựccủa nhà nước cho các lực lượng toàn cầu mới như các định chế, thể chế quốc tế,các tập đoàn xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, đồng thời chỉ ra yêu cầuphải điều chỉnh vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước thông qua các công cụquản lý vĩ mô, tăng cường năng lực kinh tế của nhà nước, bổ sung các phươngpháp, phương tiện, chức năng mới của nhà nước cho phù hợp với bối cảnh thờiđại mới nhằm thích ứng với những biến động của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập.Trong khi các học giả nước ngoài quan tâm nhiều vào việc đưa ra nhữngquan điểm trái chiều về vai trò của nhà nước trong xu thế hội nhập thì các họcgiả trong nước phần lớn đều thừa nhận và khẳng định vai trò quan trọng, cầnthiết của nhà nước nói chung, Nhà nước Việt Nam nói riêng đối với toàn bộ quátrình vận động, phát triển của nền kinh tế Các công trình chủ yếu tập trung phântích vai trò của Nhà nước đối với việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển; vai trò củaNhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường; hay vai trò của Nhà nước trong bốicảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế; lý giải sự cần thiết phải phát huy vai tròquản lý, điều hành của Nhà nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặcbiệt đối với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; chỉ ra sự thay đổi vai trò của Nhà nước
từ khi đất nước thực hiện đổi mới mô hình phát triển kinh tế, đồng thời khẳngđịnh vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước cần phải được điều chỉnh, đổi mớicho phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong xu thế thời đại mới
Trang 16Trong cuốn Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam do GS.TS Lương Xuân Quỳ (chủ biên), Nxb Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2006, các tác giả đã tập trung phân tích cơ sở lý luận và kinh nghiệmquốc tế về vai trò quản lý nhà nước về kinh tế; đánh giá thực trạng những thànhtựu cũng như những hạn chế của quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta trongkhoảng mười năm kể từ đổi mới năm 1986; từ đó, các tác giả đề xuất quan điểmđịnh hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và nângcao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta trong thời gian tiếp theo
Tác giả Phạm Ngọc Quang với bài viết “Vai trò của Nhà nước trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” đăng trên
Tạp chí Cộng sản, số 8, năm 2009 đã khẳng định, phát huy vai trò của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện naychính là cách thiết thực góp phần bảo đảm công bằng xã hội, vì sự phát triển dânchủ, văn minh của đất nước, đồng thời vẫn giữ được bản sắc chính trị - xã hộicủa dân tộc trong thời kỳ hội nhập Tác giả nhấn mạnh, ở Việt Nam hiện nay, vaitrò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến củaquá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình phát triển nềnkinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm sự
ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế; cân đối, hài hòa các quan hệnhu cầu, lợi ích giữa người và người; tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hànhđộng vì mục tiêu phát triển của đất nước Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời củaviệc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô doNhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất tạo ra sự tăng trưởng kinh tế
và sự đồng thuận xã hội Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, Nhà nước có vaitrò quan trọng trong việc chỉ đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu to lớn của đấtnước: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trong bài viết “Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 9,
năm 2000, tác giả Chu Văn Cấp đã phân tích, chỉ ra vai trò của Nhà nước trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: Nhà nước tạo môi
Trang 17trường hoạt động hiệu quả cho các cá nhân, doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế; Nhà nước tạo môi trường ổn định về kinh tế - xã hội; Nhà nước soạnthảo kế hoạch, quy hoạch, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và banhành chính sách, pháp luật, tạo hành lang thực hiện các kế hoạch, quy hoạchđó,… Tác giả đồng thời đưa ra những kiến nghị nâng cao hơn nữa vai trò củaNhà nước trong chỉ đạo phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.
Luận án Tiến sĩ Triết học của Lê Thị Hồng về Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay,
Học viện CTQG Hồ Chí Minh, năm 2001 đã tập trung nghiên cứu vai trò củaNhà nước Việt Nam đối với quá trình phát triển kinh tế nói chung, trong quản lý,định hướng, điều tiết nền kinh tế thị trường đảm bảo định hướng xã hội chủnghĩa từ khi tiến hành đổi mới đến những năm đầu thế kỷ XXI nói riêng Tác giảcho rằng, “Nhà nước – nhân tố chính trị cơ bản trực tiếp định hướng XHCN sựphát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay” [70, tr.77-80], hoạt động cơ bản của Nhànước là nhằm giữ vững định hướng XHCN đối với nền kinh tế thị trường ở nước
ta Trên cơ sở làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với vai trò địnhhướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, tác giả đã đềxuất các giải pháp phát huy vai trò này của Nhà nước: Hoàn thiện và nâng caohiệu lực các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước; nâng cao vai trò củakinh tế Nhà nước như là tiền đề vật chất để Nhà nước giữ vững định hướng xãhội chủ nghĩa phát triển nền kinh tế Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa;nâng cao năng lực, phẩm chất của các cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế nhằmđáp ứng yêu cầu định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong cuốn Thể chế kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam do GS.TSKH Lương Xuân Quỳ và GS.TS
Đỗ Đức Bình đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, các tác giả
đã phân tích những vấn đề lý luận quan trọng về vai trò của Nhà nước Việt Namđối với sự phát triển nền kinh tế đất nước khi bước vào xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa như: Nhà nước can thiệp, điều tiết, quản lýnền kinh tế như thế nào; Nhà nước cần phải làm gì để hoàn thành chức năngquản lý kinh tế thị trường; những công cụ nào có thể và cần phải được sử dụng
Trang 18để Nhà nước hoàn thành được chức năng quản lý điều tiết nền kinh tế Các tácgiả cũng đánh giá vai trò của Nhà nước ta đối với sự phát triển kinh tế đất nướchiện nay, đó là vai trò quản lý, điều tiết kinh tế chứ không can thiệp, điều khiểnthị trường, đồng thời cho rằng nhờ có vai trò kinh tế của Nhà nước mà nền kinh
tế nước ta đã có sự tăng trưởng nổi bật, các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bảnđược giữ ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế.Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của Nhà nước trong việc thựchiện vai trò quản lý, chỉ đạo, điều hành kinh tế ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiệnnhững mục tiêu đã đề ra của đất nước Từ đó, các tác giả đề xuất một số quanđiểm và các giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước phù hợp với đặcthù nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.Tác giả Nguyễn Văn Mạnh với bài viết “Nhận thức mới về vai trò, chứcnăng của Nhà nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và mở cửa” đăng trong sách Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986 - 2005, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 đã phân tích,
chỉ ra vai trò, chức năng chủ yếu của Nhà nước Việt Nam hiện nay: tạo môitrường pháp lý và khuôn khổ, giới hạn cho các hoạt động kinh tế; thực hiện chứcnăng quản lý kinh tế vĩ mô; bảo đảm quốc phòng, an ninh, cung cấp các dịch vụhàng hóa công cộng; xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo côngbằng xã hội; đối ngoại phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnhviệc khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Nhà nước, bao phủ toàn diệncác mặt, các lĩnh vực trong sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, tác giả cũng lưu
ý, Nhà nước chỉ nên phát huy vai trò quản lý, điều hành vĩ mô chứ không canthiệp trực tiếp vào sự vận động khách quan của nền kinh tế trên các lĩnh vực
Trong luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò Nhà nước đối với việc xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
của Trần Thị Thu Hường, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh, 2011, trên cơ sởchỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập đến sự pháttriển của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, phân tích một số vấn
đề lý luận căn bản về vai trò của Nhà nước đối với việc xây dựng nền kinh tế độclập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đánh giá thực trạng
Trang 19những tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đến sự phát triển kinh tế vànguy cơ đe dọa việc phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam hiệnnay, đồng thời đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của Nhà nước trong việcđảm bảo xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả với nền kinh tếthế giới như: coi trọng việc xây dựng, hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô củaNhà nước nhằm khai thác các nguồn lực trong nước và quốc tế; đổi mới tổ chức
và hoạt động của bộ máy Nhà nước; nâng cao vai trò kinh tế của Nhà nước…
Tác giả Vy Thị Hương Lan với luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế,
Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012 đã tập trung phân tích nhữngvấn đề lý luận xung quanh vai trò của nhà nước đối với việc thực hiện công bằng
xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế; đánh giá những thành tựu và một số hạnchế của Nhà nước Việt Nam đối với việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta.Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò củaNhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ hộinhập quốc tế như: nâng cao vai trò quản lý điều tiết của Nhà nước đối với nềnkinh tế; hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực hiện công bằng xã hội; tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội để thực hiện công bằng xãhội; tăng cường hiệu quả của công tác phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong
bộ máy Nhà nước
Thông qua những công trình nghiên cứu của các học giả có thể thấy, Nhànước Việt Nam vẫn có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, điều tiết, quản lýtoàn bộ nền kinh tế; là nhân tố lãnh đạo quan trọng góp phần thực hiện thắng lợinhững nhiệm vụ phát triển đất nước theo định hướng của Đảng và ý chí của nhândân Trong bối cảnh thời đại mới, thời đại kinh tế thị trường, toàn cầu hoá, hộinhập quốc tế thì vai trò ấy của Nhà nước càng phải được tăng cường và phát huy
để có thể đảm trách nhiều nhiệm vụ hơn, đối phó, giải quyết nhiều vấn đề nangiải của đời sống kinh tế, chính, trị, văn hoá, xã hội hơn
Tuy nhiên, các học giả cũng nhận thấy, so với yêu cầu phát triển của đấtnước trong bối cảnh mới, vai trò quản lý, điều hành nền kinh tế của Nhà nướcViệt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém như: hệ thống luật pháp còn thiếu và
Trang 20chưa đồng bộ so với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường; một số chính sáchban hành chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu phát triển kinh tế với cácmục tiêu bảo đảm công bằng xã hội; sự quản lý của Nhà nước ở một số lĩnh vựccòn lúng túng, chưa hiệu quả… Đây chính là một trong những nguyên nhân khiếncho tốc độ phát triển của nền kinh tế nước ta còn thấp và chưa tương xứng vớitiềm năng, lợi thế của đất nước; nhiều mục tiêu lớn của nền kinh tế chưa đượchoàn thành theo đúng yêu cầu đề ra, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo tầng lớpnhân dân Đó là lý do các công trình tập trung đưa ra những kiến nghị quan trọngnhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong tổ chức điều hành nền kinh tế pháttriển hơn nữa phù hợp với xu thế vận động, phát triển chung của kinh tế toàn cầu.
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, kể từ Đại hội IX, theo tinh thần chỉđạo của Đảng về thúc đẩy nền kinh tế chủ động, tích cực hội nhập mạnh mẽvào thể chế kinh tế toàn cầu, đã có nhiều các công trình, bài viết của các nhàkhoa học, các nhà nghiên cứu và cả những nhà hoạch định chính sách quantâm phân tích, lý giải các vấn đề xung quanh chủ đề này
Trong cuốn Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2006, tác giả Lương Văn Tự với bài viết “Chủ động hội nhập kinh tế, những thànhtựu quan trọng” đã phân tích, đánh giá một cách khái quát những thành tựu màViệt Nam đã đạt được trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế, mở rộng quan hệkinh tế thương mại với các quốc gia như gia tăng quan hệ kinh tế thương mại, kimngạch xuất khẩu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế; thu hút được nhiềunguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý; thúc đẩy các doanh nghiệp trong nướcphát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế…, đồng thời cũng chỉ
ra những hạn chế của nền kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giớinhư chỉ số năng lực cạnh tranh còn thấp, kim ngạch xuất khẩu chưa cao… Từ đó,tác giả cũng đưa ra quan điểm cần phải thực hiện đổi mới hơn nữa để nền kinh tếkhông bị tụt hậu, vững vàng cạnh tranh và phát triển trong hội nhập
Tác giả Nguyễn Thanh với bài viết “Vấn đề chủ động và tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế ở Việt Nam hiện nay” đăng
Trang 21trên Tạp chí Triết học, số 8(195), 2007 đã tập trung phân tích và khẳng định tính
đúng đắn trong quan điểm của Đảng ta về chủ trương chủ động và hơn nữa, tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một
xu thế khách quan, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Bài viết cũng khẳng định, để thực hiệnthắng lợi chủ trương này, một mặt, chúng ta cần phải chủ động và tích cực hộinhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và songphương; đồng thời thực hiện hội nhập có trọng điểm, theo lộ trình phù hợp vớichiến lược phát triển đất nước Mặt khác, chúng ta phải bảo đảm xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ, đồng thời, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải gắnliền với chủ trương chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp nội lựcvới ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp theo phương châm lấy nội lực làm cái có
ý nghĩa quyết định, lấy ngoại lực làm cái có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triểnđất nước theo những mục tiêu đã đề ra
Cuốn sách Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do GS.TS Hoàng Ngọc Hoà chủ biên, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007 đã phân tích một số vấn đề lý luận về hội nhậpkinh tế quốc tế, những nội dung, đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế, đồngthời khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với các nướcđang phát triển trong đó có Việt Nam, nhất là khi chúng ta đang thực hiện xâydựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các tác giả cũng phântích chủ trương đúng đắn của Đảng về vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tếgắn liền với công cuộc đổi mới nền kinh tế, nhờ đó, nền kinh tế đã hội nhập ngàycàng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thu được nhiều thành tựu kinh tế quantrọng Bên cạnh đó, các tác giả cũng tập trung đánh giá những tác động của quátrình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đến công cuộc phát triển kinh tế thịtrường định hướng XHCN ở Việt Nam, chỉ ra những thành tựu và hạn chế yếukém của quá trình đó, từ đó đề xuất những quan điểm, giải pháp cơ bản nhằmđẩy mạnh tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế góp phần phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như xây dựng chiến lượctổng thể về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng, phát triển, hoàn thiện
Trang 22hệ thống thị trường, nâng cao hiệu quả đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh củanền kinh tế Ngoài những nội dung cơ bản có giá trị tham khảo tốt nói trên, cáctác giả cuốn sách cũng bước đầu đưa ra quan niệm khái quát về vấn đề chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là sự chủ động mởcửa nền kinh tế phù hợp với xu thế vận động khách quan của kinh tế thế giới vàđiều kiện cụ thể cùng với sự nỗ lực phát triển về mọi mặt để tận dụng thời cơ,vận hội nhằm thu hút, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong pháttriển kinh tế [65, tr.143].
Tác giả Trần Minh Châu với bài viết “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tựchủ đồng thời tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần đại
hội XI của Đảng” đăng trong cuốn Văn kiện ĐH XI của Đảng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, 2013 đã khẳng định, xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là nộidung chỉ đạo trọng tâm của Đảng trong cả Cương lĩnh 2011 lẫn trong Chiến lược2011-2020; đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với tích cực vàchủ động hội nhập kinh tế quốc tế tại Đại hội XI không những là cần thiết màcòn bao hàm cả sự phát triển về lý luận và nhận thức Tác giả cũng chỉ rõ mốiquan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động, tích cực hộinhập quốc tế, trong đó hội nhập quốc tế tạo nguồn lực và môi trường để tăngtiềm lực cho nền kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập quốc tế là cách thức thực hiệnđộc lập tự chủ tốt nhất trong điều kiện toàn cầu hóa Sau khi đưa ra những quanđiểm của Đảng về kết hợp giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủđộng, tích cực hội nhập quốc tế, tác giả cũng nhận định, việc xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ trong điều kiện một nước nghèo, ít nhiều còn chậm phát triểnnhư Việt Nam là công việc khó khăn và phức tạp, đặc biệt là trong một thế giớitoàn cầu hóa, hội nhập quốc tế với tốc độ nhanh như hiện nay Tuy nhiên, theotác giả, trong khó khăn, thách thức ấy cũng tiềm ẩn rất nhiều cơ hội để nước ta
có thể tranh thủ tận dụng, khai thác ngoại lực kết hợp phát huy cao độ nội lựcnhằm gặt hái nhiều thành công trên con đường xây dựng nền kinh tế độc lập, tựchủ đi đôi với hội nhập quốc tế
Trang 23Ở một số công trình, mặc dù nội dung chủ yếu không phải là nghiên cứu,bàn luận về chủ động, tích cực hội nhập, song, trong quá trình giải quyết nhữngnội dung nghiên cứu của mình, các tác giả cũng có những nhận định, phân tíchliên quan đến vấn đề chủ động, tích cực hội nhập.
Trong cuốn sách Đổi mới và phát triển ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận
và thực tiễn do GS.TS Nguyễn Phú Trọng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2006, khi đề cập đến vấn đề “đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới” của ViệtNam, các tác giả đã dành một mục để phân tích về vấn đề chủ động và tích cựchội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta Theo các tác giả, nền kinh tế Việt Nam khởisắc được như hiện nay là nhờ mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tếquốc tế là cơ hội để chấn hưng đất nước Các tác giả cũng tập trung phân tíchquá trình đổi mới nhận thức và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta;chỉ ra những cơ hội và thách thức của nền kinh tế trong quá trình hội nhập, đồngthời khẳng định, vấn đề đối với nước ta là phải biết tận dụng thời cơ, vượt quathách thức, chủ động và tích cực hơn nữa trong hội nhập Các tác giả cũng đưa raquan niệm riêng về vấn đề chủ động, tích cực hội nhập như: chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế là ta tự quyết định đường lối phát triển kinh tế xã hội, nắm vữngcác qui luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy năng lực nộisinh, vận dụng các luật chơi của các thể chế kinh tế – thương mại, dự báo nhữngtình huống thuận lợi, khó khăn khi hội nhập…; tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
là khẩn trương chuẩn bị các điều kiện, xây dựng các kế hoạch hội nhập, đẩynhanh quá trình đổi mới các yếu tố của nền kinh tế (cơ cấu, cơ chế quản lý kinh
tế, pháp luật…) [123, tr.250-263]
Luận án Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế của Vy Thị Hương Lan, Học viện CTHC-QG Hồ
Chí Minh, 2012, khi phân tích bối cảnh thời đại hiện nay để làm cơ sở cho việc
lý giải các nội dung nghiên cứu chính của mình, tác giả cũng chỉ ra đặc điểm, nộidung của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, nêu lên những khókhăn, thách thức mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt, đồng thời khẳngđịnh cần phải có những biện pháp hội nhập mang lại hiệu quả cao hơn Tác giảcũng đưa ra quan niệm về sự chủ động và tích cực trong hội nhập như: chủ động
Trang 24hội nhập quốc tế là hoàn toàn chủ động quyết định đường lối, chính sách pháttriển kinh tế - xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tếnói riêng ngoài ra còn phát triển quan hệ với thế giới các lĩnh vực văn hóa, y tế,giáo dục…; tích cực hội nhập quốc tế là khẩn trương xây dựng lộ trình, kếhoạch, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, hoàn chỉnh
hệ thống pháp luật, xóa bỏ sự duy trì quá lâu các chính sách bảo hộ của Nhànước, khắc phục nhanh tình trạng trông chờ, ỷ lại sự bao cấp của Nhà nước; tíchcực hội nhập nhưng phải thận trọng, vững chắc… [74, tr.83]
Trong bài Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để tạo chuyển biến cơ bản trong giáo dục Việt Nam, đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử
http://tapchicongsan.org.vn, ngày 13/8/2012, tác giả Nguyễn Thường Lạng trướckhi đi vào nội dung nghiên cứu chính về vấn đề đổi mới giáo dục Việt Nam theo
xu hướng chung của thế giới trong bối cảnh hội nhập đã dành một mục để phântích một số vấn đề lý luận chung về chủ động và tích cực hội nhập Theo tác giả:tính chủ động trong hội nhập là trạng thái của chủ thể tiếp nhận tác động của hộinhập để vận động với lộ trình tối ưu theo mục tiêu đặt ra, thể hiện ở việc chủ thểxác định rõ ràng, phù hợp và đúng thời điểm mục tiêu cần đạt được, dự báotrước tình hình, tự chủ, độc lập trong suy nghĩ và hành động, lường trước đượccác loại rủi ro trong hội nhập để phòng ngừa, né tránh…; còn tính tích cực tronghội nhập là khía cạnh thể hiện khả năng tạo ra những tác động tích cực và lâu dàitrong quá trình hội nhập của các chủ thể quốc gia, ngành, tổ chức, cơ sở hoặc cánhân, triệt để tiếp nhận và khai thác tác động tích cực đồng thời với việc sànglọc, loại bỏ các tác động tiêu cực của hội nhập, tiếp cận kịp thời và nhanh chóngcác nguồn lực, dồn hết “tâm trí và sức lực” đạt mục tiêu đặt ra, nắm bắt nhanhnhạy các cơ hội xuất hiện, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm… Bên cạnh đó, tác giảcũng cho rằng, giữa tính chủ động và tích cực trong hội nhập có mối quan hệ qua
lại và bổ sung cho nhau Sự tương tác qua lại giữa chúng tạo nên trạng thái của
chủ thể và định vị giá trị của chủ thể trong hệ thống giá trị của hội nhập trong đóchủ động là điều kiện cần để định hình nhanh chóng và đúng mục tiêu cần đạtđược trong sự ràng buộc của vị thế và quan hệ, còn tích cực là điều kiện đủ đểđạt được mục tiêu Tính chủ động phản ánh tổng thể mức độ nhận thức về lợi ích
Trang 25thu được từ hội nhập, còn tính tích cực phản ánh năng lực hành động của các chủthể để triệt để khai thác các khoản lợi ích được nhận thức, và để sự chủ độngđược hiện thực hoá [76].
Ngoài ra, cũng có nhiều công trình, bài viết tập trung phân tích quan điểm,định hướng của Đảng về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, vấn đề chủđộng, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng ở nước ta qua các kỳ đại hội,khẳng định tính đúng đắn, phù hợp của những quan điểm đó với bối cảnh thờiđại và thực tiễn đất nước nhằm quán triệt sâu rộng định hướng của Đảng về thúcđẩy nền kinh tế chủ động và tích cực hội nhập ngày càng mạnh mẽ và hiệu quảhơn vào nền kinh tế thế giới
1.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.4.1 Những giá trị tham khảo từ các công trình nghiên cứu
Một là, các công trình đã có những nghiên cứu đa dạng, dưới nhiều góc
độ khác nhau xung quanh chủ đề hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế,
từ khái niệm, đặc trưng, bản chất, biểu hiện, đến những tác động, ảnh hưởngcủa tiến trình này đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung, đến quá trình vậnđộng, phát triển ở từng quốc gia nói riêng Đây là những tư liệu có giá trịtham khảo tốt để tác giả kế thừa, khái quát, làm cơ sở về mặt lý luận cho việctriển khai, phân tích các nội dung nghiên cứu của luận án
Hai là, các công trình cũng đã tập trung tìm hiểu về vai trò của nhà nước
trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế dưới những cách tiếp cậnkhác nhau, đưa ra những nhận định, đánh giá về xu hướng biến đổi của vai trònhà nước dưới tác động, ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá, hội nhập Bêncạnh đó, nhiều học giả đã có những nghiên cứu, phân tích về vai trò của Nhànước Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập, cũng như chỉ ra một sốvấn đề thực tiễn hội nhập đang đặt ra đối với Nhà nước, những khó khăn,thách thức Nhà nước sẽ phải đối mặt trong quá trình lãnh đạo, quản lý nềnkinh tế nói chung, ở những lĩnh vực, ngành nghề cụ thể nói riêng, v.v… Trên
cơ sở những nghiên cứu của các học giả, luận án tiếp tục đi sâu những phân
Trang 26tích, lý giải dưới góc độ triết học về tính tất yếu của vai trò Nhà nước ViệtNam với tư cách là bộ phận quan trọng trong kiến trúc thượng tầng, có vai trò,
vị trí to lớn trong hệ thống chính trị ở nước ta, trực tiếp điều hành, dẫn dắt, chỉđạo toàn bộ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, trong chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng
Ba là, một số công trình nghiên cứu của các học giả đã bước đầu có
những bàn luận xung quanh khái niệm chủ động, tích cực hội nhập quốc tếnói chung, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng Từ nhữngquan niệm dù còn khá ít ỏi của các học giả, tác giả luận án sẽ kế thừa và đưa
ra quan niệm riêng về chủ động và tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế ởViệt Nam để làm cơ sở lý luận cho việc phân tích vai trò và những biểu hiệncủa vai trò Nhà nước Việt Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tếquốc tế cũng như giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo của luận án
Bốn là, nhiều công trình cũng đã tập trung nghiên cứu, phân tích và
khẳng định tính đúng đắn trong các quan điểm định hướng của Đảng về vấn
đề hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta nói chung, về thúc đẩy nền kinh tế chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng; tìm hiểu, đánh giá thựctrạng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta những năm qua, nhữngthành tựu đã đạt được trong quá trình hội nhập cho thúc đẩy kinh tế phát triển,cũng như những khó khăn, thách thức mà nền kinh tế nước ta đã và đang phảiđối mặt giải quyết trong quá trình hội nhập Đây cũng là những tư liệu tốt đểluận án dựa vào đó nhận định, đánh giá về vai trò của Nhà nước Việt Namtrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ ra những hạn chế, yếu kém củaNhà nước trong quản lý, điều tiết nền kinh tế Trên cơ sở đó luận án mới có thể
đề xuất những quan điểm, giải pháp mang tính định hướng cho việc nâng caohơn nữa vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế ở nước ta ngày càng hiệu quả hơn
1.4.2 Những vấn đề luận án sẽ tiếp tục triển khai nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu có thể thấy, trong thời gian qua,khá nhiều học giả đã quan tâm nghiên cứu, luận bàn xung quanh chủ đề hộinhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, cũng như vai trò
Trang 27của nhà nước trong quá trình hội nhập với những giá trị tham khảo đã đượcghi nhận Tuy nhiên, cho đến nay, dưới góc độ triết học, không có nhiều côngtrình tập trung phân tích, nghiên cứu sâu về mặt lý luận vấn đề chủ động vàtích cực trong hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng,
lý giải sự cần thiết hay yêu cầu phải kết hợp chủ động và tích cực trong quátrình hội nhập ở nước ta Đặc biệt, chưa có các công trình nghiên cứu lớn, haycác luận văn, luận án… hướng vào luận bàn trực tiếp, phân tích, tìm hiểu, làm
rõ vấn đề vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập nói chunghay vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tếnói riêng Những nghiên cứu hiện nay về vai trò của Nhà nước Việt Namcũng chủ yếu đề cập, phân tích vai trò chỉ đạo, thực hiện các chức năng nóichung của Nhà nước, vai trò điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong bốicảnh hội nhập, hay, vai trò của Nhà nước trong quản lý chỉ đạo những lĩnhvực cụ thể như bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, thực hiện chức năng xã hội, v.v…
Trong khi đó, vấn đề chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là chủtrương, định hướng lớn của Đảng, là nội dung trọng tâm, nhiệm vụ căn bản củacông cuộc phát triển đất nước hiện nay nhằm tạo cơ sở nền tảng kinh tế vữngchắc, đưa nước ta hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng, toàn diện và hiệu quả vào thểchế kinh tế thế giới, chủ động và tích cực gặt hái nhiều hơn nữa những thànhtựu quan trọng cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện năng lực cạnh tranhcủa nền kinh tế, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thựchiện mục tiêu đưa nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững trong những nămtiếp theo Nhà nước Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc triển khai, chỉđạo thực hiện các chủ trương, định hướng đó của Đảng trong thực tiễn
Vì vậy, rất cần thiết phải có nhiều hơn nữa các công trình nghiên cứuchuyên sâu về vấn đề chủ động, tích cực hội nhập nói chung, chủ động và tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, cũng như vai trò của Nhà nước trongchủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế… này làm cơ sở lý luận dẫndắt, định hướng cho hoạt động thực tiễn ở nước ta trong quá trình đẩy mạnhhội nhập sâu rộng vào thể chế kinh tế toàn cầu như hiện nay
Trang 28Với mong muốn đó, trên cơ sở kế thừa những giá trị của các công trình,bài viết đã công bố, luận án sẽ tiếp tục triển khai nghiên cứu các nội dung sau:
Thứ nhất, hệ thống hoá các quan niệm về hội nhập kinh tế quốc tế; đưa ra
quan niệm riêng về chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời phântích tính tất yếu phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Thứ hai, phân tích, làm rõ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ ba, đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời chỉ ra một số vấn đề thựctiễn đang đặt ra đối với Nhà nước hiện nay
Thứ tư, đề xuất quan điểm và một số giải pháp mang tính định hướng
phát huy vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ động và tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế kinh tế đất nước,góp phần to lớn vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam giàu,mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 29Tiểu kết chương 1
Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày nay đã trở thành xu thế tất yếu củanhân loại, do đó, những năm qua đã có rất nhiều học giả trong và ngoài nướcquan tâm tìm hiểu xung quanh chủ đề này Các công trình nghiên cứu đã tậptrung phân tích, lý giải hàng loạt các vấn đề liên quan đến chủ đề hội nhậpdưới các cách tiếp cận khác nhau như: đưa ra những quan niệm đa dạng vềkhái niệm hội nhập, hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích những tác động, ảnhhưởng của tiến trình hội nhập đến sự phát triển của kinh tế toàn cầu cũng nhưđối với các quốc gia; bàn luận về vai trò và xu hướng biến đổi của nhà nướctrong hội nhập; phân tích những chủ trương của Đảng về vấn đề hội nhập;đánh giá vai trò của Nhà nước Việt Nam trong điều hành, quản lý nền kinh tếtrong điều kiện hiện nay; v.v… Trên cơ sở những nghiên cứu của các học giả,luận án khái quát, tổng hợp, chắt lọc để thu nhận những giá trị về mặt khoahọc phục vụ cho việc triển khai các nội dung của đề tài
Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương đúng đắn củaĐảng nhằm thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững Tuynhiên, có thể thấy, cho đến nay, dưới góc độ triết học, những công trìnhnghiên cứu chuyên sâu, phân tích, làm rõ về mặt lý luận vấn đề chủ động vàtích cực hội nhập ở nước ta, đặc biệt là về vai trò của Nhà nước Việt Namtrong việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế còn rất ít ỏi Điềunày sẽ có ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai thực hiện chủ trương, định hướnglớn của Đảng về đẩy mạnh chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng vàtoàn diện ở nước ta trong thời gian tới Vì vậy, cần thiết phải có nhiều hơnnữa các công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này làm cơ sở cho việchoạch định các chính sách và triển khai chỉ đạo thực tiễn tiến trình hội nhậpcho phù hợp, đúng đắn, mang lại hiệu quả cao, gặt hái nhiều hơn nữa nhữngthành tựu phát triển kinh tế lớn hơn
Trang 30Chương 2CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM – TÍNH TẤT YẾU VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
2.1 TÍNH TẤT YẾU CỦA CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế trong thế giới đương đại
2.1.1.1 Quan niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Trong nhiều năm qua, xung quanh chủ đề hội nhập quốc tế nói chung, hộinhập kinh tế quốc tế nói riêng đã có không ít các công trình nghiên cứu của cáchọc giả Do những cách tiếp cận khác nhau mà nhiều học giả đã có những cáchhiểu không giống nhau về vấn đề này
Trước hết, về hội nhập quốc tế, đã có nhiều quan niệm khác nhau được đưa
ra như: hội nhập quốc tế đơn giản là sự tham gia vào quá trình quốc tế hoá, toàncầu hoá; hội nhập quốc tế là sự liên kết các quốc gia thông qua việc phát triểngiao lưu thương mại, đầu tư, thông tin, du lịch… từ đó hình thành các cộng đồng
an ninh (hợp nhất hay liên bang); hội nhập quốc tế chính là hiện tượng (hoặchành vi) các nước mở rộng và làm sâu sắc hoá quan hệ hợp tác với nhau trên cơ
sở phân công lao động quốc tế có chủ đích [108, tr.22]; hội nhập quốc tế là tiếntrình các nước chủ động tăng cường các hoạt động gắn kết họ với nhau dựa trên
sự chia sẻ chung về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủcác luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế [121];hay, hội nhập quốc tế là hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế, là quá trìnhchủ động chấp nhận, áp dụng và tham gia xây dựng các luật lệ và chuẩn mựcquốc tế nhằm phục vụ tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc [100];…
Trên cơ sở quan niệm của các học giả có thể rút ra một số nhận định sau:
Thứ nhất, hội nhập quốc tế được hiểu là một quá trình vận động của xã hội.
Quá trình này là kết quả của sự mở rộng giao lưu hợp tác không ngừng của cácquốc gia trên nhiều lĩnh vực nhờ những thành tựu phát triển của khoa học côngnghệ hiện đại, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của quá trìnhphân công lao động và chuyên môn hoá ngày càng cao trong nền sản xuất toàn cầu
Trang 31Thứ hai, hội nhập quốc tế thực chất là việc các quốc gia tự giác tham gia
ngày càng sâu rộng vào mọi mặt của quan hệ quốc tế Mỗi quốc gia tuỳ thuộcnhững điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… của mình, thực hiện các hoạt động
mở rộng hợp tác, liên kết, tăng cường sự gắn kết với các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới theo những cách thức, lộ trình khác nhau nhằm đạt những mụctiêu và lợi ích cụ thể của từng quốc gia
Thứ ba, hội nhập quốc tế khác với hợp tác quốc tế thông thường bởi sự chia
sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia Các quốc gia tham gia vào tiếntrình hội nhập tiến hành ký kết hợp tác, gia nhập vào các tổ chức, hiệp hội quốc
tế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của mỗi nước Trong quá trình đó,các chủ thể hội nhập phải đóng góp xây dựng và cam kết tuân thủ nghiêm ngặt
“luật chơi” chung trong khuôn khổ các qui tắc, hiệp ước, luật lệ,… của các tổchức, hiệp hội… khu vực và quốc tế Các định chế đó thường do các quốc gia cótiềm lực kinh tế phát triển lớn mạnh đề ra, chi phối hoặc thậm chí áp đặt, buộccác thành viên tham gia tiến trình hội nhập phải tuân theo
Thứ tư, hội nhập quốc tế có thể diễn ra trong từng lĩnh vực (kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội…), hoặc bao trùm toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hộivới tính chất, qui mô, phạm vi và hình thức đa dạng khác nhau, trong đó hộinhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế diễn ra mạnh mẽ và được nhiều quốc giaquan tâm, coi trọng nhất; là trọng tâm, đòn bẩy thúc đẩy các lĩnh vực khác.Ngược lại hội nhập trên các lĩnh vực lại tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hội nhậpkinh tế phát triển và thành công hơn
Khái quát lại, có thể hiểu, hội nhập quốc tế là quá trình các nước tự giác
tăng cường các hoạt động gắn kết, hợp tác với nhau dựa trên cơ sở sự chia sẻ vềlợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, công nghệ…và tuân thủ các luật chơi chungtrong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế
Trong hội nhập quốc tế thì hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung cốt lõi, là
hạt nhân quan trọng nhất, là cơ sở nền tảng của toàn bộ tiến trình hội nhập Đếnnay, các học giả cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hội nhập kinh tếquốc tế: hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết mang tính thể chế giữacác nền kinh tế lại với nhau [100]; hội nhập kinh tế quốc tế là việc các quốc gia
Trang 32thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia các định chế kinh tế quốc tế,
tự do hoá thương mại, đầu tư, tự do di chuyển vốn, tiền tệ…hình thành một thịtrường thế giới thống nhất [4, tr.303]; hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình nhấtthể hoá nền kinh tế thế giới, xoá bỏ những khác biệt và phân biệt về kinh tế[109, tr.49]; hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn nền kinh tế và thị trườngtừng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua mở cửa và thúc đẩy tự
do hóa nền kinh tế mỗi nước, thực hiện thuận lợi hóa thương mại, đầu tư và cácyếu tố sản xuất [19]; hay, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình liên kết kinh tế
có mục tiêu, định hướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp độ cũng như điều kiện cụthể của mỗi nước [108, tr.23]; v.v…
Mặc dù được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau song về cơ bản, quanniệm của các học giả đều thống nhất, hội nhập kinh tế quốc tế chính là quátrình tự giác gắn kết nền kinh tế giữa các quốc gia với nhau Từ các quan niệm
đó của các học giả, có thể hiểu, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc
gia tự nguyện tham gia, gắn kết nền kinh tế trong nước với kinh tế khu vực vàthế giới thông qua các nỗ lực thực hiệc mở cửa và thúc đẩy tự do hoá kinh tế(thương mại, tài chính, dịch vụ,…), xoá bỏ các rào cản, giảm thiểu sự khác biệt
và trở thành bộ phận hợp thành của nền kinh tế toàn cầu nhằm tranh thủ cácnhân tố và điều kiện cho phát triển kinh tế theo những mục tiêu, lộ trình, cáchthức hội nhập cụ thể ở những phạm vi, cấp độ khác nhau dựa trên những điềukiện thực tế của từng quốc gia
Trên cơ sở cách hiểu đó, có thể thấy, nội dung chủ yếu của quá trình hộinhập kinh tế quốc tế được thể hiện:
Một là, các quốc gia tự giác mở rộng quan hệ hợp tác, liên kết kinh tế quốc
tế, gắn kết nền kinh tế và thị trường nước mình với thị trường khu vực và thếgiới, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế thông qua việc đàmphán, gia nhập và tuân thủ các định chế, tổ chức kinh tế quốc tế; ký kết và cùngcác quốc gia tham gia xây dựng các “luật chơi chung”, các thể chế kinh tế khuvực và toàn cầu, đồng thời cùng các nước cam kết thực hiện các nguyên tắc, hiệpước, luật lệ, qui định chung được hình thành trong quá trình liên kết, hợp tác đótrên nguyên tắc tự do hoá, giảm thiểu những khác biệt và sự phân biệt đối xử vìmục tiêu hợp tác bình đẳng và lợi ích phát triển chung cho mọi quốc gia
Trang 33Hai là, các quốc gia thực hiện các biện pháp đổi mới, điều chỉnh cơ chế,
chính sách trong nước như tiến hành cải cách thể chế kinh tế theo hướng thịtrường, thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy những thế mạnh của nềnkinh tế, điều chỉnh các chính sách, công cụ quản lý kinh tế vĩ mô,… theo hướngthích ứng tốt nhất với những qui định, cam kết, thông lệ quốc tế nhằm nỗ lựcthực hiện mở cửa, thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế, thực hiện gắn kết, gia nhậpnhanh chóng, sâu sắc và hiệu quả vào nền kinh tế thế giới theo những mục tiêu
và điều kiện cụ thể của từng quốc gia
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia có thể thực hiện ởnhiều cấp độ: đơn phương, song phương hay đa phương:
- Cấp độ đơn phương: mỗi nước tự giác thực hiện các biện pháp đổi mới,
cải cách, điều chỉnh trong nước theo hướng mở cửa, tự do hoá kinh tế trên cơ sởlấy những tiêu chí phát triển quốc tế làm chuẩn mực vì mục tiêu phát triển riêngcủa mình chứ chưa phải do sự ràng buộc, qui định, cam kết thực hiện với cácđịnh chế, tổ chức kinh tế tài chính quốc tế mà họ tham gia Điều này thể hiệntính năng động của nền kinh tế, hấp dẫn đầu tư nước ngoài và tạo những tiền đềquan trọng cho các quốc gia hội nhập sâu rộng ở các cấp độ tiếp theo
- Cấp độ song phương: hai nước tiến hành đàm phán, ký kết hiệp định, thiết
lập quan hệ kinh tế trên cơ sở những nguyên tắc tự do thương mại Hiện nay hìnhthức liên kết song phương này song hành cùng với xu hướng hợp tác liên kết kinh tếtheo khu vực, vùng (liên kết của các nước có lãnh thổ cận kề, gần nhau) phát triểnkhá mạnh, trở thành phổ biến ở hầu hết các khu vực trên thế giới, nhất là khu vựcĐông và Đông Nam Á Trên thực tế, những cam kết song phương này thường rất
dễ thông qua (do chỉ đàm phán hai nước) song, quan trọng là nó không đi ngược màcòn bổ sung cho các nguyên tắc của tự do hoá đa phương, đồng thời là cơ sở thúcđẩy mở cửa thị trường sớm và cam kết tự do hoá toàn diện hơn
- Cấp độ đa phương: nhiều quốc gia cùng nhau đàm phán, trao đổi, thành
lập hoặc tham gia vào các định chế, tổ chức kinh tế khu vực (bao gồm các nướcthành viên trong một khu vực địa lý giới hạn) và toàn cầu (bao gồm các thànhviên từ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới) theo những nguyên tắc, tiêu chícủa từng hiệp định đã được các bên cam kết Nhìn chung, hiện nay các định chế,
Trang 34tổ chức kinh tế khu vực hay toàn cầu thường vận hành trên cơ sở các nguyên tắcnền tảng của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) [65, tr.63, 64].
Cấp độ hội nhập phụ thuộc vào sự phát triển và chiều sâu những quan hệhợp tác quốc tế và mục tiêu tự do hoá của các quốc gia trong khuôn khổ thế chếkhu vực và toàn cầu
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng có thể diễn ra dưới nhiều hình thức hay còngọi là những mô hình hội nhập kinh tế quốc tế khác nhau như:
- Hình thức khu vực/hiệp định thương mại ưu đãi: đây là hình thức liên kết
kinh tế trong đó các quốc gia tham gia hiệp định dành các ưu đãi về thuế quan vàphi thuế quan cho hàng hóa của nhau, tạo thành các khu vực thương mại ưu đãivùng Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫncòn, nhưng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định
- Hình thức khu vực/hiệp định thương mại tự do: ở hình thức này, các nước
ký kết cam kết cắt giảm, bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan cho tất cảhoặc gần như tất cả hàng hóa của nhau Việc cắt giảm, xoá bỏ các rào cản đó chỉthực hiện trong thương mại nội khối còn đối với các nước ngoại khối thì cácthành viên vẫn duy trì hệ thống thuế quan độc lập của mình Do xóa bỏ gần nhưhoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quan, nên việc đàm phán để thành lậpmột hiệp định thương mại tự do rất mất thời gian và qua nhiều vòng thương thảo
- Hình thức liên minh thuế quan: là hình thức kết hợp giữa hình thức khu vực
thương mại tự do giữa các nước thành viên với việc thực hiện chính sách thuế quanthống nhất của các nước thành viên đối với hàng hóa từ các nước ngoài khu vực
- Hình thức thị trường chung: hình thức này có đầy đủ các yếu tố của liên
minh thuế quan nhưng cộng thêm cả yếu tố tự do di chuyển các yếu tố sản xuất(vốn, kỹ thuật, công nghệ, lao động,…) giữa các nước thành viên
- Hình thức hiệp định đối tác kinh tế: đây là hình thức hội nhập kinh tế sâu
hơn hình thức hiệp định thương mại tự do Ở hình thức này, ngoài việc tự do hóathương mại hàng hóa thông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan cònbao gồm cả tự do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữacác nước ký kết hiệp định
Trang 35- Hình thức liên minh kinh tế, tiền tệ: là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở
một thị trường chung giữa các nền kinh tế với việc phối hợp chính sách kinh tếgiữa các thành viên và sử dụng một đơn vị tiền tệ chung Với hình thức này, cácnước thành viên sẽ phải từ bỏ quyền thực thi chính sách tiền tệ riêng của mình,
mà thay vào đó là một chính sách tiền tệ chung của toàn khối do một ngân hàngtrung ương chung của khối đó thực hiện
Mỗi hình thức hội nhập đều có những yêu cầu đòi hỏi và những điều kiệnchặt chẽ nhất định buộc các thành viên tham gia phải tuân thủ, đáp ứng
Các quốc gia trên cơ sở những điều kiện cụ thể của mình có thể lựa chọnnhững hình thức và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp nhằm thực hiệnhiệu quả những mục tiêu đã đề ra
Khái quát lại, tuy có nhiều cách tiếp cận, phân tích khác nhau, song nhìnchung, các học giả, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra được những đặc trưng bảnchất, những nội dung căn bản của khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thờicũng cho thấy tính đa dạng, phong phú về mức độ, hình thức, phạm vi, cấp độcủa tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở các quốc gia
2.1.1.2 Xu th ế khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế trong thế giới đương đại
Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nóiriêng ngày nay đã trở thành xu thế phát triển tất yếu đối với mọi quốc giatrong tiến trình phát triển chung của nhân loại Trên thực tế, các quốc gia dùlớn hay nhỏ, dù phát triển hay chưa phát triển, dù giống hay khác nhau về chế
độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội, dù tự giác hay không tự giác, sớm haymuộn đều bị cuốn hút vào vòng xoáy của xu thế toàn cầu hoá, hội nhập, trướchết là trong lĩnh vực kinh tế
Vấn đề này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập, dự báo sớm từ nhữngthập niên giữa thế kỷ XIX khi phân tích sự phát triển kinh tế hàng hoá trongchủ nghĩa tư bản, rằng, “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới” [81,Tr.77]; và, dưới sự bành trướng, khống chế, chi phối của chủ nghĩa tư bản thì:
Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộcvốn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự
Trang 36phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc… Tính chất hẹp hòi, phiếndiện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa [81, Tr 80-81].Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phươngtiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến
cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh Giá rẻ củanhững sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cảnhững bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bàingoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục Nó buộc tất
cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếukhông sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi
là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản Nói tóm lại, nó tạo racho nó một thế giới theo hình dạng của nó [81,Tr 81]
Đúng như dự đoán của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, sự phát triển mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất với hàng loạt những phát minh khoa học lớn và nhữngthành tựu phát triển vượt bậc về công nghệ, thông tin (trong lĩnh vực điện tử, tinhọc, viễn thông, tự động hoá, mạng Internet…) đã làm thay đổi hoàn toàn nền sảnxuất toàn cầu, thúc đẩy phân công lao động và sự chuyên môn hoá sản xuất quốc tếsâu sắc, gia tăng xu thế quốc tế hoá các hoạt động kinh tế, hình thành các mối quan
hệ hợp tác, liên kết xuyên quốc gia với tốc độ ngày càng nhanh chóng và phạm vingày càng mở rộng tạo nên sự gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ giữacác nền kinh tế, giữa các quốc gia, châu lục trên thế giới, hình thành nền kinh tếtoàn cầu với những mối quan hệ, liên kết chằng chịt, phong phú, đa dạng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, quá trình gắnkết, nhất thể hoá nền kinh tế thế giới cũng diễn ra với tốc độ ngày càng nhanhchóng Nền sản xuất thế giới có xu hướng trở thành dây chuyền sản xuất thốngnhất, một “công xưởng sản xuất” toàn cầu mang tính chuyên môn hoá cao độ,trong đó, mỗi khâu, mỗi mắt xích của qui trình sản xuất có quan hệ ràng buộc,liên hệ chặt chẽ và ảnh hưởng to lớn, chi phối lẫn nhau Không gian và khoảngcách địa lý giữa các quốc gia ngày càng thu hẹp, thế giới dường như không cònranh giới, tạo điều kiện cho sự trao đổi hợp tác thương mại giữa các khu vực vàquốc tế phát triển, gia tăng luân chuyển các dòng hàng hoá, dịch vụ, công nghệ,
kỹ thuật, vốn, lao động xuyên quốc gia
Trang 37Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ hệ thống các công ty xuyên quốc gia,
đa quốc gia với mạng lưới các công ty con dầy đặc, rải khắp nhiều quốc gialiên kết thành một mạng kinh doanh toàn cầu, dẫn dắt chi phối mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh trên toàn thế giới cũng không ngừng thúc đẩy gia tăng cáchoạt động thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ… phát triển và lan rộngtrên phạm vi toàn cầu
Cùng với đó, sự hình thành và gia tăng nhanh chóng các định chế, tổ chứckinh tế tài chính quốc tế (như WB, IMF, WTO,…) để quản lý, điều hành toàn
bộ các quá trình liên kết kinh tế quốc tế theo những khung khổ pháp lý, luậtđịnh chung cũng khiến các quốc gia ngày càng phải chịu sự ảnh hưởng, tácđộng, chi phối, ràng buộc nặng nề trong các nguyên tắc toàn cầu
Trong bối cảnh đó, mối quan hệ giữa các nền kinh tế, giữa các quốc gia,dân tộc ngày càng trở nên gắn bó và sự phụ thuộc lẫn nhau cũng ngày càng lớnkhiến cho xu hướng liên kết, hợp tác kinh tế giữa các nền kinh tế trở thành tấtyếu, bất luận qui mô, hình thức, phương thức vận hành, thể chế điều hành củamỗi nền kinh tế là tương đồng hay có sự khác biệt
Trước sức mạnh của làn sóng toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế như vậy, cácquốc gia cũng không thể duy trì một nền kinh tế khép kín, tự cô lập trong một nướchoặc thậm chí trong một nhóm các nước, mà phải thay đổi chính sách mở cửa, hợptác, hội nhập kinh tế quốc tế với các nước, tự giác gắn kết nền kinh tế với các nước
và khu vực, tăng cường các hoạt động liên kết, trao đổi, xúc tiến thương mại, xoá bỏcác rào cản, giảm thiểu sự khác biệt và trở thành bộ phận hợp thành của nền kinh tếtoàn cầu nhằm tranh thủ các nhân tố và điều kiện cho phát triển kinh tế theo nhữngcách thức, mục tiêu, lộ trình phù hợp với điều kiện, bối cảnh từng nước
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế có thể mang đến cho các quốc gia rấtnhiều những lợi ích như: tạo cơ hội cho các chủ thể kinh tế các nước mở rộngthị trường, phát triển các đối tác quốc tế, thu hút đầu tư, tiếp cận đa dạng cácnguồn lực từ bên ngoài, học hỏi kinh nghiệm, trình độ quản lý tổ chức sản xuất,kinh doanh, thúc đẩy phát triển thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế để từ
đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia, nâng caohiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh
Trang 38nghiệp nội địa; gia tăng cơ hội nâng cao trình độ và chất lượng nguồn nhân lực
và nền khoa học công nghệ quốc gia thông qua các chương trình hợp tác pháttriển giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ từ cácnước tiên tiến; tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hànghóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh;gia tăng cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cho người lao động; v.v…
Mỗi quốc gia, tuỳ theo năng lực, điều kiện và mục tiêu của mình có thểtiếp nhận những giá trị khác nhau từ tiến trình hội nhập Những quốc gia lớn,
có nền kinh tế phát triển thông qua hội nhập có thể mở rộng hơn nữa thịtrường, địa bàn, qui mô sản xuất, gia tăng đầu tư, tìm kiếm thêm nhiều thịtrường tiêu thụ sản phẩm, tranh thủ khai thác tài nguyên, tận dụng nguồn nhânlực giá rẻ từ các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc chưa phát triển Họmong muốn và tăng cường khích lệ, thúc đẩy các quốc gia nhanh chóng thayđổi chính sách kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác, liên kết với bên ngoài, thamgia hội nhập sâu rộng vào tiến trình hợp tác kinh tế quốc tế thông qua việc kýkết các dự án, chương trình hợp tác, liên kết sản xuất, trao đổi xúc tiến thươngmại Ngược lại, các nước kém phát triển hoặc chưa phát triển nếu tham gia hộinhập, gắn kết nền kinh tế trong nước với kinh tế khu vực và thế giới có thểtranh thủ được nhiều nguồn lợi từ bên ngoài như hỗ trợ về vốn; tiếp nhậnchuyển giao, ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới; kinhnghiệm tổ chức quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh hiệu quả vì mục tiêuđẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo cách thức “đi tắt, đón đầu”
Tuy nhiên, hội nhập quốc tế không phải chỉ là “cỗ xe màu hồng” luônmang đến những điều tốt đẹp Bên cạnh vô số những cơ may đó, tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế cũng khiến các quốc gia phải đối mặt với muôn vàn nhữngkhó khăn, thách thức (đặc biệt các quốc gia có nền kinh tế nhỏ bé, kém pháttriển) như dễ bị thua thiệt, tổn thất nặng nề trong cơ chế cạnh tranh gay gắt,khốc liệt của thương trường quốc tế; phải chấp nhận, hứng chịu nhiều thiệt thòithậm chí là bất công từ những định chế kinh tế tài chính quốc tế (thường do cácquốc gia lớn, có nền kinh tế phát triển đề ra, chi phối, áp đặt theo hướng có lợicho họ); gia tăng sự phụ thuộc vào các quốc gia lớn và thị trường bên ngoài
Trang 39khiến nền kinh tế của các quốc gia dễ chịu nhiều tổn thương bởi những ảnhhưởng, tác động từ những cuộc khủng hoảng, suy thoái của các nền kinh tế lớnhay trước những diễn biến bất ổn khó lường của kinh tế toàn cầu; nguy cơ cạnkiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường trong quá trình đẩy mạnh hợp tác, liênkết kinh tế quốc tế;v.v…
Hội nhập kinh tế quốc tế, như vậy, vừa là thời cơ, vừa là thách thức, vừachứa đựng những cơ may, thuận lợi nhưng cũng đưa đến những rủi ro, khó khănkhôn lường Có lẽ điều đó đã khiến một số quốc gia còn e ngại, chần chừ chưadám mạnh bạo, quyết tâm đẩy mạnh hội nhập sâu rộng và mạnh mẽ vào thể chếkinh tế toàn cầu Thực tế cho thấy, mặc dù hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình
có tính hai mặt như vậy, song việc khai thác, tận dụng được nhiều hay ít những
cơ may, hạn chế được đến mức độ nào những rủi ro, thách thức từ hội nhập, đưanền kinh tế phát triển ra sao lại phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức và hành độngcủa từng quốc gia Đã có nhiều quốc gia đạt được những thành tựu to lớn, cóđược những bứt phá ngoạn mục trên con đường phát triển kinh tế, tạo dụng được
vị thế quốc tế đáng nể do biết tranh thủ tận dụng tốt những cơ may, vận hội từtiến trình hội nhập, ứng phó, xử lý tốt trước những tác động bất lợi hay nhữngbiến động của kinh tế thế giới (như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo…)
Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là lựa chọn tối ưu đốivới hầu hết các quốc gia trên thế giới nếu không muốn bị tụt hậu, bị đẩy ra ngoàiquĩ đạo phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu Việc “quay lưng”, “tẩy chay”,không tham gia tiến trình hội nhập, cố tình đi ngược xu hướng chung của thời đại
sẽ khiến các quốc gia không những bị cô lập, tự tước đi những cơ may, vận hộitiếp nhận các nguồn lực cho thúc đẩy phát triển kinh tế, đẩy nền kinh tế nhanhchóng rơi vào tình trạng trì trệ, tụt hậu sâu so với tiến trình phát triển chung củanhân loại, mà hơn thế còn mất đi những điều kiện, khả năng ứng phó hiệu quảtrước những tác động, ảnh hưởng bất lợi từ tiến trình hội nhập quốc tế, không tạođược tiềm lực để có thể “chèo chống”, đối phó, giải quyết hàng loạt những vấn đềtoàn cầu đang hàng ngày hàng giờ nảy sinh, lan tràn, ảnh hưởng đến mọi quốc gianhư ô nhiễm môi trường, dịch bệnh lây lan, di dân tự do, khủng bố quốc tế… cho
dù quốc gia đó có tham gia tiến trình hội nhập hay không
Trang 40Do vậy, dù muốn hay không, dù thừa nhận hay không thừa nhận, dù chấpnhận hay phản đối, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là xu thế tất yếu của kinh tế thếgiới đương đại Và, đối với các quốc gia, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là một yêucầu khách quan, một đòi hỏi không thể né tránh, một xu thế tất yếu trong tiếntrình phát triển Thực tế cho thấy, đến nay, hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đã
và đang tích cực tham gia vào quá trình này, nỗ lực triển khai các chính sách hộinhập nhằm đạt được hiệu quả hội nhập cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất chothúc đẩy phát triển kinh tế
2.1.2 Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế - đòi hỏi tất yếu đối với sự phát triển ở Việt Nam
2.1.2.1 Quan niệm về chủ động và tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế
Ở nước ta, thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu xuất hiện từ khoảnggiữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham giaKhu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác.Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hộinhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hộinhập kinh tế quốc tế Bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, thuật ngữ
“chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” mới được nêu trong văn kiện, và, phải đếnĐại hội X (1996) cả hai thuật ngữ chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tếmới chính thức được sử dụng trong các Văn kiện của Đại hội
Trên thực tế, các cụm từ “chủ động hội nhập”, “tích cực hội nhập”, “chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế”, hay, “tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” thời giangần đây cũng đã được nhiều học giả sử dụng trong các bài viết, hay xuất hiện trêncác phương tiện truyền thông, báo chí…, song, không nhiều các công trình chútrọng phân tích, đưa ra định nghĩa riêng về các khái niệm này
Theo từ điển Tiếng Việt:
Chủ động là ở trạng thái làm chủ được hành động của mình không để bịtình thế hay đối phương chi phối; trái với bị động[136, tr.168]
Tích cực là có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sựphát triển; hay, tỏ ra chủ động, có những hành động nhằm tạo ra sự biến